1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thực trạng hoạt động quản lí danh mục đầu tư tại công ty chứng khoán ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam

93 761 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng hoạt động quản lí danh mục đầu tư tại công ty chứng khoán Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
Trường học Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM
Chuyên ngành Quản trị Tài chính và Đầu tư
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LUẬN văn thực trạng hoạt động quản lí danh mục đầu tư tại công ty chứng khoán ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam

Trang 2

Chương i : Tổng quan về nghiệp vụ quản lí danh mục đầu tư chứng khoán của Công ty chứng

khoán 1.1 Khái niệm và vai trò của nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán của

công ty chứng khoán:

1.1.1 Khái niệm danh mục đầu tư:

Danh mục tài sản đầu tư: là tập hợp tất cả các tài sản đầu tư mà một cá nhân hay một

tổ chức nắm giữ vào một thời điểm nhất định

Để làm rõ khái niệm về danh mục tài sản đầu tư chúng ta cần làm rõ: tài sản đầu tư là gì?

Bất kỳ những gì có giá trị trong giao dịch mà người ta sở hữu đều là tài sản Tài sản được phân ra thành hai loại tài sản chủ yếu là tài sản hữu hình và tài sản tài chính

Tài sản hữu hình:

Là những tài sản như nhà cửa, đất đai, địaốc…Đây cũng là tài sản được các nhà đầu

tư lớn quan tâm

Tài sản tài chính:

Tài sản tài chính bao gồm tiền, đá quý, kim loại quý và chứng khoán Chứng khoán bao gồm các dạng chính là chứng khoán nợ, chứng khoán vốn và chứng khoán phái sinh

Chứng khoán vốn:

Tiêu biểu cho chứng khoán nợ là cổ phiếu Cổ phiếu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi

sổ xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của cổ đông đối với tài sản và những khoản thu nhập trong tương lai của công ty phát hành

Trong đó cổ đông là nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu của công ty, họ có thể mua bán, chuyển nhượng cổ phiếu Cổ phiếu có thể chia làm nhiều loại nhưng xét ở giác độ nhà đầu

tư thì cổ phiếu thường có những đặc điểm chính như sau:

 Không có thời gian đáo hạn

Trang 3

 Cổ phiếu có nhiều ưu điểm như: đem lại quyền kiểm soát công ty cho cổ đông, tính thanh khoản cao, có khả năng tạo thu nhập cao từ sự tăng giá và cổ tức, thường được

ưu đãi về thuế đối với khoản thu nhập từ cổ phiếu

 Tuy nhiên cũng tiềm rất nhiều rủi ro: có thu nhập không ổn định do giá và cổ tức biến động mạnh, rủi ro thanh toán trong trường hợp công ty phá sản, rủi ro ngoại hối

Từng cổ phiếu riêng lẻ có thể rủi ro cao hơn trái phiếu nhưng khi kết hợp nhiều loại

cổ phiếu trong cùng một danh mục thì lại có thể giảm thiểu, thậm chí loại bỏ rủi ro phi

hệ thống rủi ro

Chứng khoán nợ:

Trái phiếu là một dạng điển hình của chứng khoán nợ, người nắm giữ trái phiếu gọi

là trái chủ Trái chủ có đóng vai trò là người cho vay và có quyền đòi nợ hợp pháp đối với chủ thể phát hành khi đến hạn

Có rất nhiềutiêu thức phân loại trái phiếu nên cũng có rất nhiều loại trái phiếu, như: trái phiếu ghi danh, trái phiếu vô danh; trái phiếu có thể chuyển đổi, trái phiếu không thể chuyển đổi; trái phiếu đảm bảo và không đảm bảo; trái phiếu chính phủ, trái phiếu công trình… Đứng về phía nhà quản lý danh mục đầu tư cần quan tâm đến một số đặc điểm sau của trái phiếu:

- Ưu điểm: trái chủ có thu nhập từ giá và trái tức, đây là những yếu tố ít thay đổi nên trái phiếu tạo ra thu nhập ổn định, ít rủi ro

- Hạn chế: trái phiếu đa số có mệnh giá lớn, đặc biệt trong phát hành trái phiếu thường có hình thức đấu thầu trái phiếu đòi hỏi nhà đầu tư khi tham gia mua trái phiếu thường phải có số vốn đủ lớn Ngoài ra trái phiếu còn hàm chứa một số: rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro kỳ hạn, rủi ro ngoại hối, rủi ro phá sản

Chứng khoán phái sinh:

Chứng khoán phái sinh là sản phẩm tài chính của thị trường chứng khoán bậc cao được phát sinh từ chứng khoán gốc Các nhà đầu tư chuyên nghiệp thường sử dụng chứng

Trang 4

khoán phái sinh đề đầu cơ hoặc phòng ngừa rủi ro cho danh mục chứng khoán gốc Hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai là hình thức đặc thù của loại chứng khoán này

1.1.2 Khái niệm nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư của công ty chứng khoán:

a)Khái niệm quản lý danh mục đầu tư:

Quản lý danh mục đầu tư: là việc xây dựng một danh mục các loại tài sản đầu tư,

thực hiện theo dõi và điều chỉnh các danh mục này nhằm đáp ứng tốt nhất mục tiêu của nhà đầu tư

Với mỗi nhà đầu tư khác nhau lại có những mục tiêu không giống nhau, nhưng nhìn chung luôn phải cân nhắc một số vấn đề rủi ro và lợi suất đầu tư, thời hạn đầu tư…Có nhà đầu tư đặt vấn đề rủi ro cao hơn lợi suất họ sẽ đặt ra mục tiêu tối đa hoá lợi suất ứng với mức rủi ro có thể chấp nhận Nhà đầu tư khác lại đặt coi trọng lợi suất hơn rủi ro và họ sẽ đặt mục tiêu tối thiểu hoá rủi ro ứng với mức lợi suất nhất định Quản lý danh mục đầu tư tốt sẽ giúp họ đạt được những mục tiêu đó

b) Khái niệm quản lý danh mục đầu tư của công ty chứng khoán

Đối tượng áp dụng nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư là các chủ thể đầu tư Có nhiều chủ thể đầu tư, bao gồm: các nhà đầu tư cá nhân, các quỹ đầu tư chứng khoán và các công ty quản lý quỹ; các công ty bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ; các Ngân hàng thương mại, các Công ty chứng khoán với mục đích là tự doanh và cung cấp dịch vụ quản lý danh mục đầu tư Các công ty chứng khoán cũng thực hiện việc quản lý danh mục đầu tư với hai mục đích này

Khi thực hiện nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư cho khách hàng, đối với các công

ty quản lý quỹ danh mục đầu tư có thể bao gồm tất cả các loại tài sản (như đã trình bày ở

mục 1.1.1) Tuy nhiên đối với các công ty chứng khoán danh mục đầu tư chỉ gồm các loại

chứng khoán mà thôi

Trong bài viết này, đối tượng nghiên cứu là nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán của công ty chứng khoán nên sau đây cụm từ quản lý danh mục đầu tư với cụm từ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán sẽ được dùng tương đương nhau Và nghiệp

Trang 5

1.1.3.Vai trò nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư của công ty chứng khoán

1.1.3.1.Đối với nhà đầu tư:

Mỗi chứng khoán luôn chứa đựng rủi ro mang tính chất cá biệt của công ty hay rủi ro phi hệ thống Những rủi ro này chỉ có thể loại giảm thiểu thậm chí loại bỏ nếu như thực hiện

đa dạng hoá đầu tư hiệu quả Tuy nhiên để thực hiện đa dạng hóa đầu tư hiệu quả không phải chuyện đơn giản, công việc này đòi hỏi người quản lý phải nắm vững các lý thuyết cơ bản về quản lý danh mục đầu tư, vốn đã vô cùng phức tạp, ngoài ra còn phải có khả năng nắm bắt, kinh nghiệm phân tích xử lý thông tin và ra quyết định đầu tư đúng đắn Một nhà đầu tư thông thường khó có thể hội tụ đủ những đòi hỏi trên để thực hiện tốt việc quản lý danh mục đầu tư Công ty chứng khoán với đội ngũ các chuyên gia chuyên thực hiện nghiệp

vụ này mới có thể đem lại hiệu quả cao nhất cho nhà đầu tư dù họ chưa đủ kiến thức, kinh nghiệm, thời gian để trực tiếp tham gia kinh doanh trên thị trường chứng khoán vẫn có tham gia một cách gián tiếp qua nghiệp vụ này

Hơn nữa việc đa dạng hoá danh mục đầu tư còn đòi hỏi một lượng vốn đủ lớn mà nhà đầu tư nhỏ lẻ với số vốn ít ỏi không thể thực hiện được Các công ty chứng khoán với nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư có thể tập hợp các nguồn vốn nhỏ lẻ để tận dụng lợi thế

về quy mô

Một lợi ích khác phải kể đến là: so với các quỹ và công ty quản lý quỹ khi thực hiện nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư công ty chứng khoán còn có một số lợi thế khác như sau:

Trang 6

- Khi khách hàng ký hợp đồng quản lý danh mục đầu tư với công ty chứng khoán họ

sẽ không phải trả phí giao dịch Trong trường hợp giao dịch với khối lượng lớn thì điều này sẽ đem lại một lợi ích không nhỏ cho nhà đầu tư

- Trong trường hợp công ty chứng khoán mua chứng khoán cho tài khoản uỷ thác của khách hàng thì khách hàng vẫn trực tiếp là người sở hữu chứng khoán đó cho nên khách hàng sẽ được hưởng quyền lợi trực tiếp từ các chứng khoán đó đặc biệt là quyền biểu quyết, tham gia hội đồng quản trị công ty…

1.1.3.2 Đối với thị trường chứng khoán:

Người dân nào khi có tiền nhàn rỗi họ cũng muốn tìm cách cho khoản tiền sinh lợi Tuy nhiên nhiều khi họ vẫn phải để trong két hoặc gửi ngân hàng với mức lãi suất không đáng kể mà không tham gia thị trường chứng khoán mặc dù họ không tìm ra bất kỳ một hình thức đầu tư nào khác Có rất nhiều lý do khiến họ không trực tiếp tham gia thị trường chứng khoán như: không đủ kinh nghiệm, kiến thức, lượng vốn nhàn rỗi không đủ lớn… Công ty chứng khoán với tư cách là nhà cung cấp dịch vụ quản lý danh mục đầu tư sẽ phải tìm cách giải quyết những vấn đề trên mà nhà đầu tư gặp phải cũng như thoả mãn tốt nhất nhu cầu của họ Trong nỗ lực đó công ty chứng khoán đồng thời cũng đã thu hút nhà đầu tư tham gia thị trường giúp thị trường chứng khoán thực hiện được vai trò là một kênh huy động vốn quan trọng cho nền kinh tế

Khi các nhà đầu tư cá nhân tham gia đầu thị trường chứng khoán nhiều khi không đủ điều kiện đánh giá đúng giá trị thực tế của chứng khoán hay của các công ty phát hành Nhiều khi các công ty làm ăn tốt, có những dự án có khả năng sinh lời cao trong tương lai thì việc huy động vốn qua thị trường chứng khoán lại gặp khó khăn Các công ty chứng khoán có cả một chuyên gia tài chính chuyên làm những công việc này có thể đánh giá một cách chính xác hơn, làm cho giá chứng khoán phản ánh đúng giá trị thực của nó hay giá trị thực của công ty Những công ty làm ăn không tốt giá chứng khoán sẽ giảm, còn đối với những công ty làm ăn tốt giá chứng khoán sẽ tăng Như vậy công ty chứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư sẽ giúp cho thị trường chứng khoán trở thành một

"phong vũ biểu của nền kinh tế"

Trang 7

Công ty chứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư sẽ nâng cao vai trò của các tổ chức tài chính trung gian đối với thị trường chứng khoán Điều này sẽ giúp nâng cao chất lượng thị trường, tạo ra một thị trường chứng khoán phát triển ổn định

1.2 Cơ sở lý thuyết của nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư:

1.2.1 Lý thuyết thị trường có hiệu quả:

Lý thuyết thị trường có hiệu quả được bắt nguồn từ kết quả nghiên cứu của Maurice Kendall năm 1953, ông cho rằng giá cổ phiếu thay đổi ngẫu nhiên, không có quy luật và không thể dự đoán được

Trên cơ sở này, người ta đưa ra Giả thuyết thị trường hiệu quả (Efficient Market Hypothesis - EMH) như sau: thị trường hiệu quả là thị trường mà tại đó giá chứng khoán đã ngay lập tức phản ánh toàn bộ thông tin trên thị trường Do đó giá chứng khoán thay đổi ngẫu nhiên không thể dự đoán được

Không thể dự đoán được giá chứng khoán vì giá chứng khoán phụ thuộc các thông tin mới trên thị trường Các thông tin mới này cũng không thể dự đoán được, vì nếu có thể

dự đoán được thì ngay lập tức đã được phản ánh trên thị trường Do vậy giá chứng khoán biến động dựa vào các thông tin mới (không dự đoán được) cũng biến động theo chiều hướng không dự đoán được

Thông thường, dựa trên sự khác nhau của khái niệm “tất cả thông tin” trên thị trường được phản ánh vào giá chứng khoán, người ta phân ra ba cấp độ của EMH

EMH cấp thấp: giả định rằng thông tin trong quá khứ về giao dịch của thị trường

như khối lượng giao dịch, giá cả chứng khoán được công bố rộng rãi và không mất tiền mua Nếu những số liệu này có thể đưa ra các dấu hiệu tin cậy về xu thế giá chứng khoán

trong tương lai, thì tất cả các nhà đầu tư đã sử dụng dấu hiệu này Do đó giá cả chứng khoán

đã phản ánh đầy đủ, kịp thời các thông tin trong quá khứ về giao dịch của thị trường Khi tồn tại EMH cấp độ này thì việc phân tích kỹ thuật trở nên vô hiệu hóa

EMH cấp trung: khi thị trường ở mức độ hiệu quả này, tất cả các thôngtin liên quan

đến triển vọng phát triển công ty luôn được phản ánh đầy đủ, kịp thời qua các nguồn thông

Trang 8

tin công cộng như internet, báo chí, ti vi, đài phát thanh…Do đó giá cả chứng khoán cũng phản ánh đầy đủ và kịp thời những thông tin này

EMH cấp cao: mọi thông tin liên quan đến công ty bao gồm thông tin trong quá

khứ, hiện tại và ảnh hưởng đến triển vọng phát triển trong tương lai của công ty đều được công khai và ngay lập tức được phản ánh qua thị giá chứng khoán Đây là cấp độ hiệu quả lý tưởng và chắc là không bao giờ có được

1.2.2 Rủi ro và doanh lợi trong đầu tư chứng khoán và lý thuyết hạn chế rủi ro phi hệ thống nhờ đa dạng hoá danh mục đầu tư:

Vấn đề cơ bản nhất của lý thuyết đầu tư theo danh mục là tất cả nhà đầu tư đều mong muốn đạt được mức lợi suất đầu tư tối đa ứng với mỗi mức rủi ro của danh mục Lý thuyết này cũng giả định rằng các nhà đầu tư về cơ bản là ngại rủi ro, có nghĩa rằng nếu phải lựa chọn giữa hai loại tài sản cùng đem lại một mức lợi suất đầu tư như nhau thì họ sẽ chọn loại tài sản có rủi ro thấp hơn Tuy nhiên, mỗi người lại có một mức độ chấp nhận rủi ro khác nhau so với lợi suất đầu tư mà họ có thể nhận được

1.2.2.1.Mức ngại rủi ro và hàm hữu dụng:

Trên thị trường chứng khoán, việc tồn tại nhiều loại hình đầu tư cũng như nhiều nhà đầu tư là điều tất yếu Do vậy, cũng có nhiều quan điểm khác nhau về rủi ro và mức độ chấp nhận rủi ro Khi phân tích đầu tư các nhà đầu tư đều căn cứ vào mức độ chấp nhận rủi ro hay mức ngại rủi ro của mình làm cơ sở Qua đó, khi phân tích danh mục đầu tư, các nhà

đắp được những rủi ro có liên quan

Phân tích vấn đề này, các nhà kinh tế đã chứng minh bằng cách định lượng hoá qua hàm hữu dụng biểu thị mối quan hệ giữa rủi ro, lợi suất kỳ vọng và mức ngại rủi ro của từng nhà đầu tư

Công thức biểu thị mối quan hệ trên bằng hàm hữu dụng:

U = E(r) + 0.5*A*

ä2

Trang 9

Phương trình trên cũng cho thấy, giá trị hữu dụng sẽ tăng nếu lợi suất mong đợi tăng

và giảm nếu rủi ro tăng

chuẩn để đánh giá danh mục đầu tư Một danh mục đầu tư chỉ được coi là hấp dẫn nếu giá trị hữu dụng (U) của nó lớn hơn lãi suất phi rủi ro ( thông thường người ta coi lãi suất tín phiếu kho bạc của Chính phủ là lãi suất phi rủi ro để so sánh)

Trên thị trường chứng khoán, nhà đầu tư chia làm 3 loại:

+ Nhà đầu tư ngại rủi ro (A>0): Đây là loại nhà đầu tư luôn cân nhắc mối qua hệ giữa lợi nhuận và rủi ro trong tổng thể giá trị hữu dụng

+ Nhà đầu tư trung dung với rủi ro (A=0): Đây là loại nhà đầu tư chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà không quan tâm đến rủi ro

+ Nhà đầu tư thích rủi ro (A<0): Đây là loại nhà đầu tư xem rủi ro như là một sự tưởng thưởng cho quyết định mạo hiểm của mình

1.2.2.2.Lợi suất và rủi ro của danh mục đầu tư:

a/Lợi suất danh mục: Lợi suất đầu tư ước tính của một danh mục đầu tư là bình

quân gia quyền (theo tỷ trọng vốn đầu tư vào từng loại tài sản, ký hiệu W) của lợi suất thu

được từ mỗi chứng khoán trong danh mục đầu tư đó

n

i

r wiE( )

Trang 10

Giả sử một danh mục có hai chứng khoán với tỷ trọng của mỗi loại trong danh mục đầu tư là 0.5 (w= 0,5) và lợi suất ước tính tương ứng là 10,5% và 5% thì lợi suất ước tính của toàn danh mục đầu tư là:

b/ Rủi ro danh mục đầu tư và đa dạng hoá danh mục đầu tư:

- Rủi ro của danh mục đầu tư:

Khi phân tích một danh mục đầu tư, ta phải quan tâm đến rủi ro của cả danh mục chứ không chỉ đơn thuần quan tâm tới rủi ro của một loại chứng khoán

Trong mỗi môn học khác nhau lại có cách hiểu khác nhau về rủi ro Còn trong đầu tư chứng khoán rủi ro là khả năng (hay xác suất) xảy ra những kết quả đầu tư ngoài dự kiến

Như vậy, rủi ro của danh mục đầu tư là khả năng làm cho mức sinh lời thực tế trong tương

lai của danh mục đầu tư khác với mức sinh lời dự kiến ban đầu

- Đa dạng hoá danh mục đầu tư:

Một trong những phương pháp cơ bản kiểm soát rủi ro là “đa dạng hóa đầu tư” Theo

đó, việc đầu tư nên được thực hiện qua nhiều loại tài sản khác nhau tạo thành một danh mục đầu tư sao cho tổng mức rủi ro trên toàn bộ danh mục sẽ được giới hạn nhỏ lại

Điều này có thể thực hiện được là do mỗi một chứng khoán đều tiềm ẩn hai loại rủi ro: rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống Rủi ro hệ thống là yếu tố do thị trường gây ra làm ảnh hưởng đến tất cả các chứng khoán có trên thị trường Do vậy, rủi ro hệ thống là yếu tố không thể loại bỏ bằng đa dạng hóa Ngược lại, rủi ro phi hệ thống khi xảy ra chỉ tác động tới một công ty một nhóm công ty thuộc một số ngành nào đó Trong một số trường hợp rủi

ro phi hệ thống có xu hướng trái ngược nhau nên khi một chứng khoán được đưa vào một danh mục đầu tư thì rủi ro của nó sẽ tương tác với các chứng khoán làm giảm rủi ro của cả danh mục Hãy xét một ví dụ đơn giản về trường hợp hai công ty, một sản xuất kem trống nắng và một sản xuất áo mưa Mùa hè nhiều mưa sẽ làm giảm thu nhập của công ty sản xuất kem trống nắng nhưng làm tăng thu nhập cho công ty sản xuất áo mưa Khi đó cổ phần của công ty sản xuất áo mưa sẽ là món “bảo hiểm khí hậu” đối với các cổ đông của công ty sản xuất kem trống nắng

Trang 11

Mức độ rủi ro của toàn danh mục cao hay thấp sẽ tuỳ thuộc vào sự tương tác giữa các chứng khoán trong danh mục Nếu trong danh mục càng có nhiều chứng khoán thì sự tương tác bù trừ càng lớn và càng có nhiều khả năng giảm thiểu rủi ro Biện pháp này được gọi là

đa dạng hoá danh mục đầu tư Hình vẽ sau đây thể hiện quan hệ tương tác bù trừ này

Với cùng một khoản vốn nhất định nhà đầu tư có thể có rất nhiều cách kết hợp các loại tài sản đầu tư để tạo nên những danh mục đầu tư có tỷ lệ lợi tức kỳ vọng và độ lệch

Rủi ro

Rủi ro không

hệ thống

Rủi ro

hệ

Rủi ro không hệ

Trang 12

chuẩn khác nhau Và theo Markowitz, tập hợp tất cả các danh mục khi biểu diễn trên đồ thị

sẽ tạo thành một hình như sau:

Đồ thị 1.2: Đường cong hiệu quả Markowitz

Vì các nhà đầu tư đều muốn tăng doanh lợi kỳ vọng và giảm thiểu rủi ro nên họ chỉ quan tâm đến những danh mục nằm trên đường cong in đậm XAB (không tính đến đoạn BY

doanh lợi kỳ vọng cao hơn) Markowitz gọi đường cong này là đường hiệu quả và những danh mục nằm trên đường cong này gọi là danh mục hiệu quả Đây là một lập luận quan đặt nền móng cho các lý thuyết về quản lý danh mục đầu tư khác

1.2.4 Mô hình CAPM:

Một trong những nguyên lý cơ bản của lĩnh vực tài chính là xác định mối quan hệ giữa rủi ro và thu nhâp kỳ vọng của tài sản Trong nghiên cứu mối quan hệ này không thể không nhắc đến mô hình định giá tài sản vốn CAPM Mô hình này được xây dựng bởi Wiliam Sharpe, John Lintner và Jan Mossin vào những năm 1960 trên nền tảng lý thuyết danh mục hiệu quả Markowitz

B

A

r r

Độ lệch chuẩn

Trang 13

Đây là một mô hình khá phức tạp nên muốn hiểu cặn kẽ về nó chúng ta phải lần lượt tiếp cận với một số vấn đề lý thuyết liên quan:

1.2.4.1 Các giả định của mô hình CAPM

- Các nhà đầu tư chỉ xem xét danh mục qua một thời kỳ

- Các nhà đầu tư đều ngại rủi ro, tức là luôn muốn lợi nhuận cao hơn với cùng một mức rủi ro và rủi ro thấp hơn với cùng một mức lợi nhuận

-Các tài sản trong thị trường có thể được phân chia vô hạn Đây là cơ sở cho việc xây dựng một danh mục thị trường hoàn hảo

- Tồn tại một mức lãi suất phi rủi ro mà tại đó mọi nhà đầu tư có thể vay hoặc cho vay không hạn mức

- Không có phí và thuế giao dịch

- Thông tin đồng đều đến mọi nhà đầu tư Do đó, họ có kỳ vọng đồng nhất, tức là có cùng nhận thức về lợi nhuận kỳ vọng, độ lệch chuẩn và hiệp phương sai của mọi chứng khoán

1.2.4.1.Danh mục đầu tư thị trường (Market Porfolio):

Danh mục đầu tư thị trường là một danh mục đầu tư bao gồm tất cả những tài sản có nguy cơ rủi ro trên thị trường như cổ phiếu, trái phiếu…và mỗi tài sản trong danh mục này chiếm một tỷ lệ đúng bằng tỷ lệ của tài sản đó trong tổng giá trị của toàn bộ thị trường

Để đơn giản hoá, người ta đồng nhất khái niệm tài sản rủi ro với cổ phiếu là một Tỷ lệ của mỗi cổ phiếu trong danh mục đầu tư thị trường được xác định bằng cách lấy tổng giá trị thị trường của cổ phiếu đó chia cho tổng giá trị thị trường của tất cả các cổ phiếu đang được giao dịch trên thị trường

1.2.4.2 Đường thị trường vốn (The Capital Market Line - CML):

Một câu hỏi đặt ra là khi đã tạo được danh mục đầu tư cổ phiếu hiệu quả liệu còn có cách nào tạo ra một danh mục có lợi suất cao hơn không? Câu trả lời là có nếu như trên thị

không hạn chế ở mức lãi suất này Lúc này nhà đầu tư sẽ kết hợp giữa tài sản phi rủi ro và

Trang 14

danh mục rủi ro hiệu quả đã xét Và có một điều thú vị xảy ra là đường biểu diễn mối quan

hệ giữa doanh lợi và rủi ro trong mô hình Markowitz sẽ trở thành một đường tuyến tính thay

vì là đường cong hiệu quả như ban đầu Đường tuyến tính này gọi là đường thị trường vốn CML

Đồ thị 1.6: Đồ thị đường CML

Như vậy rõ ràng danh mục hỗn hợp có khả năng sinh lời cao hơn danh mục cổ phiếu ( danh mục rủi ro)

Đến đây chắc hẳn không ít người còn chưa khỏi ngạc nhiên là tại sao danh mục hỗn hợp lại có được đường hiệu quả kỳ diệu như vậy? Tại sao nó lại là đường tuyến tính?

Ta sẽ có công thức tính phương sai của danh mục gồm hai tài sàn:

M

A

Độ lệch chuẩn

Markowitz

r r

Trang 15

nghĩa là đường hiệu quả của danh mục hỗn hợp là đường tuyến tính

1.2.4.3 Đường thị trường chứng khoán (SML):

Đường CML chỉ giúp ta lựa chọn danh mục hiệu quả nhất trong các danh mục hiệu quả Tuy nhiên để xây dựng được danh mục hiệu quả trước tiên chúng ta phải lựa chọn được các chứng khoán riêng lẻ cho danh mục đầu tư Do đó, các nhà nghiên cứu đã xây dựng đường thị trường chứng khoán SML (Securities market line)

Đồ thị 1.4: Đồ thị biểu diễn đường SML

Trang 16

Các nhà nghiên cứu xây dựng mô hình CAPM với nội dung được lượng hoá bởi công thức:

Trong đó: E(R i ) : Lợi suất kỳ vọng của chứng khoán i

E ( R M ) :Lợi suất kỳ vọng của danh mục thị trường

R f : lãi suất phi rủi ro

 i : Hệ số rủi ro hệ thống của chứng khoán i

- Như vậy mô hình CAMP đã cung cấp cho chúng ta cách xác định lợi suất kỳ vọng

khoán riêng lẻ Một chứng khoán chỉ được chọn khi có mức đền bù là dương

- SML không chỉ có ý nghĩa khi chúng với việc lựa chọn các chứng khoán riêng lẻ

mà còn cung cấp cho chúng ta cơ sở đánh giá các danh mục đã được định giá đúng hay chưa:

+ Các danh mục được định giá đúng luôn nằm trên SML ( =0)

+ Các danh mục được định giá thấp nằm phía trên SML ( > 0)

+ Các danh mục được định giá cao nằm phía dưới SML ( < 0)

E(Ri) = Rf + i(E

( R ) - R 

Trang 17

-Mô hình đơn chỉ số (Single Index Model) của một thị trường phân loại các nguồn gốc rủi ro thành các nhân tố hệ thống (vĩ mô) và các nhân tố riêng (vi mô) Mô hình đơn chỉ

số giả thiết rằng các nhân tố vĩ mô có thể được đại diện bằng chỉ số thị trường Mô hình này giảm được công việc tính toán đầu vào trong quy trình lựa chọn chứng khoán vào danh mục đầu tư theo mô hình Markowitz, góp phần chuyên môn hoá lao động trong phân tích chứng khoán Mô hình đơn chỉ số được tính toán bằng cách áp dụng phân tích hồi quy đối với chênh lệch lợi tức của một chứng khoán với lợi tức của thị trường Hệ số hồi quy của phép hồi quy này chính là Hệ số bê-ta của một tài sản trong khi số hạng tự do là chỉ số alpha của chứng khoán Đường hồi quy tính được còn đường gọi là Đường đặc trưng chứng khoán (Security Characteristic Line) Hệ số bê-ta của hồi quy tương ứng với hệ số bê-ta của Mô hình CAPM, chỉ khác là trường hợp hồi quy sử dụng lợi tức thực sự, còn CAPM sử dụng lợi tức kỳ vọng Mô hình CAPM cũng coi tổng hệ số alpha của các chứng khoán tính được qua

Mô hình đơn chỉ số sẽ bằng không

-Mô hình đa chỉ số (Multi-factor Model) là sự mở rộng Mô hình đơn chỉ số bằng cách mô hình hoá nhân tố vĩ mô với nhiều chi tiết hơn Các mô hình này sử dụng các chỉ số nhằm cố gắng đại diện cho nhiều yếu tố kinh tế vĩ mô hơn và đôi khi sử dụng cả các chỉ số phản ánh tương quan doanh nghiệp

-Mô hình định giá qua chênh lệch dựa trên giả thiết một cơ hội kiếm chênh lệch giá

mà không hề chịu rủi ro nào xuất hiện khi giá của từ hai chứng khoán trở lên có thể tạo cơ hội cho nhà đầu tư xây dựng một danh mục đầu tư có tổng đầu tư bằng không mà chắc chắn

có lợi nhuận Các nhà đầu tư sẽ muốn có vị thế càng lớn càng tốt trên các danh mục này Sự

Trang 18

xuất hiện của các cơ hội chênh lệch này và số lượng lớn các nhà đầu tư muốn tận dụng cơ hội này sẽ dẫn đến một sức ép lên giá chứng khoán Sức ép này sẽ tiếp tục cho đến khi giá chứng khoán trở về mức không tạo ra cơ hội Khi chứng khoán được định giá sao cho không gây ra cơ hội đầu tư chênh lệch giá, chúng ta nói thị trường đã đạt đến điều kiện không chênh lệch Các danh mục đầu tư được gọi là tốt nếu chúng chứa một lượng lớn các chứng khoán và tỷ trọng của mỗi chứng khoán là nhỏ so với cả danh mục Tỷ trọng của mỗi chứng khoán phải nhỏ đến mức bất kể thay đổi hợp lý nào trong lợi tức của một chứng khoán cũng chỉ có ảnh hưởng không đáng kể đến lợi tức của cả danh mục Trong một thị trường chứng khoán tất cả các danh mục đầu tư được đa dạng hoá tốt cần phải thoả mãn điều kiện tương quan lợi tức - beta của đường thị trường chứng khoán mới có thể đáp ứng được điều kiện không chênh lệch Giả thiết thị trường chứng khoán chỉ có một yếu tố tác động có thể tạo ra dạng thức đơn giản của lý thuyết định giá qua chênh lệch không đòi hỏi các giả định nghiêm ngặt của mô hình CAPM và danh mục thị trường Lý thuyết định giá qua chênh lệch cũng

có thể được mở rộng sang mô hình nhiều yếu tố để phản ánh được các nguồn gốc rủi ro khác nhau

-Học thuyết về tính ngẫu nhiên (Random Walk)

Một cách khái quát, người ta có thể thấy rằng: bất cứ một thông tin nào được sử dụng

để dự đoán diễn biến của cổ phiếu đã được phản ánh hoàn toàn trong giá của cổ phiếu đó Chừng nào còn có những thông tin khác chỉ ra rằng giá cổ phiếu đang bị đánh giá dưới giá trị, các nhà đầu tư sẽ đổ xô vào việc mua chứng khoán này và ngay lập tức giá cổ phiếu sẽ được đẩy lên ở mức hợp lý mà tại đó lợi suất của nó đúng bằng lợi suất bình thường đủ để

bù đắp cho rủi ro của cổ phiếu đó

Nhưng, giả thiết rằng tất cả những thông tin ta đều có thể tiếp cận được, giá của cổ phiếu chỉ tăng hay giảm khi xuất hiện những thông tin được coi là mới Những thông tin mới là thông tin không thể dự đoán được Nếu là loại thông tin dự đoán được thì dự đoán

đó đã sẵn sàng được phản ánh vào trong giá cổ phiếu ngày hôm nay Vì vậy, giá của cổ phiếu khi nhận được những thông tin mới cũng sẽ thay đổi không thể dự đoán được

Đây chính là cốt lõi của lý luận cho rằng giá của cổ phiếu diễn biến một cách ngẫu

nhiên (Random Walk)

Trang 19

Cần phân biệt tính ngẫu nhiên của việc thay đổi giá với tính không hợp lý trong mức giá Nếu giá được xác lập một cách hợp lý thì chỉ những thông tin mới mới tạo ra thay đổi giá Vì vậy tính ngẫu nhiên sẽ là kết quả tất yếu của giá khi giá này đã bao hàm tất cả những thông tin hiện tại Nếu giá của cổ phiếu có thể dự đoán được thì đây là bằng chứng thị trường không hiệu quả bởi vì các thông tin chưa được phản ánh vào trong giá Vì vậy, một thị trường được coi là hiệu quả nếu giá của cổ phiếu phản ánh tất cả các thông tin hiện có trên thị trường

1.3 Các chiến lược quản lý danh mục đầu tư:

1.3.1.Quản lý danh mục trái phiếu:

1.3.1.1 Chiến lược thụ động:

Quản lý thụ động là chiến lược mua và nắm giữ trái phiếu cho đến khi đáo hạn mà không cần quan tâm đến các biến động lãi suất Theo phương pháp này, tốt nhất là đầu tư vào các danh mục có thành phần trái phiếu tương tự như các chỉ số trên thị trường nhằm thu được kết quả tương tự như của chỉ số đó

Ví dụ trên thị trường Mỹ có một số loại chỉ số trái phiếu như: Gov.Bond Index, Eurdollar Bond Index, Merrill Lynch Domestic Market Index (5000) v.v

bỏ rủi ro lãi suất

Rủi ro về lãi suất bao gồm rủi ro về giá và rủi ro về tái đầu tư:

Rủi ro về giá: Là rủi ro khi nhà đầu tư bán trái phiếu trước khi đáo hạn mà lãi suất thị trường tại thơìi điểm đó có sự thay đổi so với lãi suất trái phiếu khi mua vào Lúc

Trang 20

Tại thời điểm cuối năm thứ nhất nếu lãi suất thị trường không thay đổi:

P1 = 100/1.1 + (100 + 1000)/1.12 = 1000USD

Khi lãi suất thị trường tăng lên 12%, giá trái phiếu là:

P1 = 100/1.12 + (100 + 1000)/1.122 =966.199USD

Như vậy, nhà đầu tư đã gặp rủi ro khi bán trái phiếu trước hạn

Rủi ro về tái đầu tư: Khi nhà đầu tư bán trái phiếu trước hạn, họ sẽ đứng trước các thách thức là sẽ tái đầu tư với lãi suất nào để đến khi đáo hạn vẫn đảm bảo lợi suất mong đợi E(r) Khoản tái đầu tư lúc này gồm các khoản lãi Coupon và khoản tiền thu được từ bán trái phiếu

Nếu lãi suất thị trường tăng so với lãi suất ban đầu, khoản thu từ tái đầu tư sẽ tăng và ngược lại

Qua phân tích hai loại rủi ro trên ta thấy rủi ro về giá luôn mang lại tác động ngược chiều so với rủi ro tái đầu tư Như vậy, để triệt tiêu rủi ro ta cần đưa ra giải pháp làm trung hoà tác động của hai loại rủi ro trên, đảm bảo mức lợi suất kỳ vọng

Một số phương pháp chủ yếu được áp dụng:

a) Để thực hiện được mục tiêu trên, người ta đưa ra chiến lược quản lý rủi ro bằng Duration

Duration là thời gian đáo hạn bình quân gia quyền của các dòng tiền thu được từ các trái phiếu

Công thức Duration được thiết lập như sau:

Duration =

P

r

M n r

c t

n

t

n t

 1 (1 )  (1 )

Trang 21

Qua công thức trên ta có nhận xét:

- Duration là khoảng thời gian trung bình cần thiết để người nắm giữ trái phiếu có thể nhận dược toàn bộ gốc và lãi

- Duration là thời điểm trong toàn bộ quãng đời của trái phiếu mà tại đó lợi tức của trái phiếu không thay đổi mặc dù có sự tác động của lãi suất thị trường (r)

Từ đặc điểm trên của Duration người ta đã đưa ra phương pháp loại bỏ rủi ro lãi suất cho danh mục trái phiếu như sau:

Giả định tất cả các lãi suất đều thay đổi một lượng như nhau, một danh mục đầu tư trái phiếu sẽ loại bỏ hoàn toàn rủi ro lãi suất khi thời gian đáo hạn bình quân của danh mục đầu

tư bằng với thời gian nắm giữ mong muốn (kỳ đầu tư)

Dưới đây là một ví dụ cụ thể:

Một nhà đầu tư có 2 triệu USD, đầu tư vào hai trái phiếu A và B, kỳ đầu tư 2.5 năm

Mệnh giá cả hai loại là 1000USD

Cần phải mua mỗi loại bao nhiêu để đảm bảo trung hoà lãi suất (C: lãi suất trái phiếu, M: thời gian đáo hạn còn lại)

Giải:

Trang 22

- Trái phiếu A:

Trang 23

Số tiền đầu tư vào trái phiếu A là: 0.71*2167980 = 1539266 USD

Số tiền đầu tư vào trái phiếu B là: 0.29*2167980 = 628714 USD

Số trái phiếu A cần đầu tư là: 1539266/983.76 = 1565 A

Số trái phiếu B cần đầu tư là: 628714/1032.3 = 609 B

Ta nhận thấy:

Danh mục đầu tư ban đầu: 1348.5 A và 672.6 B

Danh mục cần đầu tư mới: 1565 A và 609 B

Như vậy cần bán 63.6 trái phiếu B cộng thêm với tiền lãi Coupon để mua 216.1 trái phiếu A thì sẽ loại bỏ được rủi ro lãi suất cho danh mục gồm hai trái phiếu A, B

b) Chiến lược dự đoán mức biến động lãi suất hay còn gọi chiến lược đường cong lãi suất:

Nguyên tắc chung của chiến lược này là: Nếu nhà quản lý dự đoán lãi suất sẽ biến

động mạnh thì chọn đầu tư vào danh mục có độ lồi cao hơn, nếu dự đoán lãi suất ổn định thì chọn danh mục có độ lồi thấp

Trang 24

ở đây độ lồi của trái phiếu được tính bằng cách lấy đạo hàm bậc hai của hàm số P theo y sau đó chia kết quả cho P

Công thức:

M n n y

C t t P

dy

P d

n n

t

t

1)

1(

)1()

1(

)1(1

2 1

2 2

B

A

Trang 25

Trái phiếu B có độ lồi lớn hơn trái phiếu A Cho dù lãi suất thị trường tăng hay giảm thì trái phiếu B vẫn có giá cao hơn trái phiếu A Có nghĩ là khi lãi suất tăng, thiệt vốn trên B nhỏ hơn thiệt vốn trên A, còn khi lãi suất giảm, lợi vốn trên B cũng cao hơn lợi vốn trên A

Do đó, thị trường sẽ đặt giá cho độ lồi của trái phiếu B và nhà đầu tư phải chấp nhận một lãi suất thấp hơn để có được một độ lồi lớn hơn Mức độ được chấp nhận lớn đến mức nào tuỳ thuộc dự đoán của nhà đầu tư rằng lãi suất sẽ thay đổi nhiều hay ít

1.3.1.2 Chiến lược bán chủ động:

Trên thực tế nhà đầu tư thường sử dụng chiến lược quản lý bán chủ động bằng cách kết hợp hai chiến lược trên Sử dụng phương pháp thụ động để xây dựng nên một danh mục

đa dạng hoá, sau đó dùng chiến lược chủ động để thay đổi các cơ cấu các loại trái phiếu

trong danh mục để đạt mức sinh lời cao hơn thị trường

2.3.2.Quản lý danh mục đầu tư cổ phiếu:

Không giống như quản lý danh mục trái phiếu đơn thuần, ở đây chỉ có hai chiến lược quản lý chủ động và thụ động mà không có chiến lược kết hợp giữa thụ động và chủ động Tuy rằng trên thực tế tồn tại một dạng kết hợp như vậy, song thực chất nó vẫn mang nội dung của quản lý chủ động vì mục đích của chiến lược này là tìm ra những lĩnh vực hoặc chứng khoán bị đánh giá thấp

2.3.2.1.Chiến lược quản lý thụ động:

Cũng như đối với danh mục trái phiếu, chiến lược này tạo ra danh mục cổ phiếu có

số lượng và chủng loại gần giống với một chỉ số chuẩn nào đó nhằm thu được mức lợi suất đầu tư tương đương với lợi suất của chỉ số đó Ví dụ một số loại chỉ số phổ biến nhất được

áp dụng ở thị trường Mỹ là S&P 500; Wilshine 5000; Russell 2000 Nhưng có một điểm cần lưu ý ở đây là đối với cổ phiếu không có hiện tượng đáo hạn còn đối với trái phiếu thì lại hoàn toàn khác Mỗi trái phiếu chỉ có một khoảng thời gian tồn tại nhất định, vì vậy chúng ta cần quan tâm đến điều này để kịp thời thực hiện cơ cấu lại danh mục mới có thể đạt mức lợi suất tương đương với chỉ số chuẩn

Trang 26

2.3.2.2.Chiến lược quản lý chủ động:

Mục tiêu của chiến lược này là nhằm thu được lợi suất đầu tư cao hơn lợi suất của danh mục thụ động chuẩn hoặc thu được mức lợi nhuận trên trung bình ứng với một mức rủi

ro nhất định

Quy trình quản lý danh mục đầu tư chủ động như sau:

 Xác định mục tiêu của khách hàng đặt ra: khách hàng đầu tư có thể đưa ra các yêu

cầu cụ thể cho khoản đầu tư của mình, chẳng hạn đặt ra mục tiêu chỉ đầu tư vào loại

cổ phiếu công ty nhỏ; với hệ số P/E thấp và ứng với một mức rủi ro nào đó, chẳng hạn cao hơn, bằng hoặc thấp hơn mức rủi ro của danh mục thị trường

 Lập ra một danh mục chuẩn (hay còn gọi danh mục "thông thường") để làm căn cứ

so sánh cho danh mục chủ động trên đây Chẳng hạn, ứng với các yêu cầu trên đây thì danh mục chuẩn bao gồm tất cả các loại cổ phiếu của công ty nhỏ (như trên thị trường Mỹ thì đó là những công ty có vốn tính theo giá thị trường dưới $500 triệu), với hệ số P/E thấp (dưới 80% hệ số P/E của các công ty thuộc chỉ số S&P), với tỷ trọng vốn đều nhau

 Xây dựng một chiến lược và kết cấu danh mục đầu tư tối ưu thoả mãn nhu cầu người đầu tư theo quy trình sau:

a/ Thực hiện phân tích những ngành và công ty riêng lẻ thoả mãn mục tiêu đặt ra, (ví

dụ những công ty nhỏ thuộc ngành viễn thông), để tìm ra những cơ hội đầu tư tốt nhất

Về mặt kỹ thuật, để thực hiện việc lựa chọn cổ phiếu, người ta có thể áp dụng một số biện pháp như lập danh sách theo chỉ tiêu hoặc đánh giá theo định lượng

Phương pháp lập danh sách đơn thuần là việc liệt kê tất cả các chỉ tiêu cần được thoả mãn (kể cả chỉ tiêu do người đầu tư đặt ra và chỉ tiêu phân tích) và đưa vào máy tính để lập nên danh sách những cổ phiếu thoả mãn các chỉ tiêu đó Các chỉ tiêu đặt ra có thể là chỉ tiêu

về vốn; hệ số P/E; ngành nghề; hệ số thu nhập trên vốn cổ đông (ROE); tỷ lệ chia cổ tức, cổ tức ổn định hay tăng trưởng

Phương pháp định lượng được thực hiện theo nhiều cách Thứ nhất, nhà quản lý xác định độ nhạy cảm của giá (hay thu nhập) của cổ phiếu tới các yếu tố kinh tế như tỷ giá ngoại

Trang 27

hối, lạm phát, lãi suất hoặc mức chi tiêu của công chúng để làm căn cứ đầu tư Nhà quản lý danh mục có thể dựa trên các thông tin đó cùng với sự phân tích và nhận định về diễn biến tình hình kinh tế để đưa ra các quyết định phù hợp

Chẳng hạn, trong điều kiện kinh tế suy thoái, anh ta có thể mua những cổ phiếu có độ nhạy cảm ít nhất tới các điều kiện thuận lợi của nền kinh tế, hay nói cách khác đó là những

cổ phiếu của công ty có thu nhập thay đổi ngược chiều với xu hướng chung của nền kinh tế Cách thứ hai được gọi là “phương pháp mua vào-bán khống”, theo đó cổ phiếu được phân chia theo nhóm Những cổ phiếu ở nhóm trên cùng thì được mua vào, ở những nhóm cuối thì được bán khống (sold short) Danh mục lập theo phương pháp này có thể sẽ không bị tác động của thị trường nói chung vì giá trị chứng khoán mua vào tương đương với giá trị chứng khoán bán khống Với phương pháp này, người ta hy vọng các cổ phiếu thuộc nhóm

“mua vào” sẽ tăng giá và các cổ phiếu thuộc nhóm “bán khống” sẽ bị giảm giá hoặc khả năng xấu hơn là cả hai nhóm cùng tăng hoặc cùng giảm giá nhưng nhóm “mua vào” cho kết quả tốt hơn nhóm “bán khống”, vì vậy kết quả cuối cùng của danh mục vẫn tốt

b/Tính toán xác định số lượng cổ phiếu trong danh mục sao cho đạt mức đa dạng hoá cao nhất trong phạm vi giới hạn của khoản tiền đầu tư

c/ Sau khi xác định số lượng và chủng loại cổ phiếu cần mua, bước tiếp theo là phân

bổ khoản đầu tư Số tiền đầu tư được phân bổ theo nguyên tắc: những ngành nghề có xu hướng phát triển tốt thì được phân bổ một tỷ trọng lớn hơn, trong đó cần tập trung vào những cổ phiếu có tiềm năng hoặc cổ phiếu tạm thời bị định giá thấp

Tuy nhiên, đối với những nhà quản lý danh mục chuyên nghiệp thì có thể thực hiện phân bổ tiền vào các loại chứng khoán theo nguyên tắc tìm danh mục tối ưu của mô hình Markowitz Phương pháp này được thực hiện thông qua phương pháp lập trình máy tính bậc hai Trước hết, đưa các dữ liệu về các loại cổ phiếu lựa chọn được ở các bước trên đây vào máy tính để lập ra một tập hợp các danh mục hiệu quả (nằm trên đường cong hiệu quả) Tiếp theo, căn cứ theo mục tiêu của người đầu tư để xác định danh mục tối ưu ứng với mục tiêu đó

Trang 28

2.3.2.2.Theo dõi, đánh giá các biến động của cổ phiếu trong danh mục và tái cấu

trúc danh mục:

Có 3 lý do chính để tái cấu trúc danh mục đầu tư Thứ nhất, các nhà quản lý dựa vào

dự đoán tình hình kinh tế vĩ mô và các thay đổi tình hình hoạt động doanh nghiệp để đánh giá sự biến động giá tương quan giữa các loại cổ phiếu thuộc các lĩnh vực ngành nghề khác nhau hoặc cùng một lĩnh vực để rút bớt vốn từ loại cổ phiếu có nguy cơ sụt giá chuyển sang

cổ phiếu khác có tiềm năng hơn Thứ hai, các nhà quản lý thấy cần phải chuyển cổ phiếu từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác nhằm đa dạng hoá và phòng ngừa rủi ro vì loại cổ phiếu đang nắm giữ ban đầu có nguy cơ tăng mức rủi ro Thứ ba, trong quá trình đầu tư, nhà quản

lý phát hiện ra một hoặc một số chứng khoán khác đang tạm thời bị định giá thấp hơn giá trị thực của nó, do vậy phải mua các cổ phiếu này để thay thế cho một số cổ phiếu tương đương (cùng lĩnh vực, cùng độ rủi ro vv ) hiện có trong danh mục, hoặc ngược lại nếu thấy

cổ phiếu trong danh mục bị định giá cao thì có thể bán đi thay thế bằng loại tương đương khác không bị định giá cao

2.3.3.Quản lý danh mục đầu tư hỗn hợp:

ý tưởng về quản lý danh mục hỗn hợp được xây dựng trên nguyên lý mô hình CAPM, cụ thể hơn là nguyên lý của đường thị trường vốn CML Trong đó danh mục được tạo ra từ việc kết hợp giữa danh mục cổ phiếu đạt hiệu quả Markowitz với chứng khoán phi rủi ro được gọi là danh mục đầu tư hỗn hợp Như vậy muốn thực hiện việc đầu tư theo danh mục hỗn hợp trước tiên chúng ta phải tạo ra danh mục cổ phiếu đạt hiệu quả Markowitz Do

đó phương pháp quản lý danh mục tổng thể cũng bao gồm hai phương pháp quản lý thụ động và quản lý chủ động như đối với danh mục cổ phiếu

2.3.3.1.Phương pháp thụ động:

Quản lý danh mục hỗn hợp bằng phương pháp thụ động gồm các bước như sau:

- Trước hết cần lập ra một danh mục cổ phiếu thụ động đảm bảo đạt hiệu quả Markowitz, tức là danh mục cổ phiếu này được đa dạng hoá hoàn toàn và có mức rủi ro

1

S

Trang 29

- Nhà đầu tư cần xác định mục tiêu lợi nhuận và mức độ chấp nhận rủi ro để có chiến lược phân bổ tài sản thích hợp

+Nếu nhà đầu tư mong muốn đạt được mức lợi suất cao hơn và có thể chấp

thêm tiền để đầu tư vào cổ phiếu

có thể giữ nguyên danh mục của mình

2.3.3.2.Phương pháp chủ động:

Quản lý danh mục hỗn hợp chủ động về nội dung cơ bản cũng giống như phương pháp quản lý danh mục cổ phiếu chủ động và cũng lặp lại hai bước cơ bản như trong chiến lược quản lý danh mục đầu tư hỗn hợp thụ động Tuy nhiên sau khi phân bổ tài sản theo mục tiêu, nhà đầu tư vẫn phải thực hiện theo dõi, tái cơ cấu danh mục để có thể đảm bảo đa dạng hoá tối đa Trong chiến lược quản lý danh mục đầu

tư cổ phiếu chủ động cũng phải thực hiện việc tái cơ cấu nhưng quản lý danh mục đầu tư hỗn hợp đòi hỏi một phạm vi rộng hơn Nhà đầu tư không chỉ phân tích đánh giá để tìm ra cơ cấu danh mục cổ phiếu tốt nhất mà còn phải cân nhắc việc chuyển từ chứng khoán rủi ro sang chứng khoán phi rủi ro

1.4 Nội dung nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư tại CTCK:

Quản lý danh mục đầu tư của các công ty chứng khoán thường gồm nội dung sau:

- Tiếp xúc tìm hiểu đặc điểm của khách hàng, để xác định mục tiêu đầu tư, các đặc điểm cần tìm hiểu như:

+ Quy mô vốn đầu tư + Tỷ suất lợi nhuân kỳ vọng + Mức độ rủi ro có thể chấp nhận + Thời hạn đầu tư

Trang 30

+ Và một vài đặc điểm khác: Tuổi, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân

- Phân tích chứng khoán để xác định mức độ rủi ro, doanh lợi kỳ vọng

- Xác định chiến lược quản lý danh mục đầu tư: chủ động, thụ động hay bán chủ động

- Quyết định phân bổ tài sản: dựa vào rủi ro, doanh lợi ước tính của từng chứng khoán

để quyết định lựa chọn chứng khoán nào vào danh mục đầu tư và tỷ trọng của chúng trong danh mục sao cho đáp ứng được mục tiêu đầu tư của khách hàng

- Thực hiện đầu tư: Sau khi xác định được danh mục tối ưu nhất, công ty chứng khoán

sẽ dùng các kỹ năng giao dịch của mình để thực hiện mua chứng khoán theo đúng cơ cấu tài sản của danh mục tối ưu Trong bước này công ty chứng khoán phải tiến hành phân tích kỹ thuật để thực hiện giao dịch vào thời điểm thích hợp nhất

- Theo dõi và tái cơ cấu danh mục để đạt lợi nhuận tối đa

- Thanh lý tài sản, và phân chia lợi nhuận với khách hàng

- Đánh giá kết quả thực hiện

Trang 31

Chương II: Thực trạng hoạt động quản lí danh mục đầu tư tại công ty chứng khoán

Ngân hàng đầu tư và phát triển việt Nam 2.1 Giới thiệu về Công ty chứng khoán Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam:

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển:

2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển:

Những năm 1994-1995: Với tầm nhìn chiến lược về yêu cầu tất yếu của sự ra đời thị trường chứng khoán ở Việt Nam, lãnh đạo Ngân Hàng ĐT&PT Việt Nam đã có những sự chuẩn bị đầu tiên về đội ngũ cán bộ của Ngân Hàng trong lĩnh vực này Với sự hợp tác, giúp

đỡ của Ngân Hàng Nhà Nước, Bộ Tài Chính, bạn bè Quốc Tế, một lớp cán bộ trẻ, có năng lực từ những bộ phận liên quan đã được cử đi đào tạo và nghiên cứu chuyên sâu tại các trường đại học lớn tại Mỹ, úc và Việt Nam

Năm 1997 Phòng chứng khoán của Ngân Hàng ĐT&PT VN được chính thức thành lập, nhằm đáp ứng được yêu cầu cho cán bộ nghiên cứu chuyên sâu định hướng cho yêu cầu hoạt động chứng khoán chuyên nghiệp sau này

Ngày 07/7/ 2002 BSC chính thức khai trương hoạt động theo giấy phép đăng ký kinh doanh số 02/ GP ĐKKD ngày 26/11/1999 do Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà nước cấp Là một trong hai công ty chứng khoán đầu tiên tại Việt Nam và là công ty chứng khoán đầu tiên của toàn hệ thống Ngân Hàng Việt Nam Với số vốn điều lệ ban đầu 55 tỷ sau tăng lên 100 tỷ, BSC luôn được đánh giá là một trong hai công ty có số vốn điều lệ lớn nhất (CTCK NHĐT&PT và CTCK NHNo&PTNT VN) và là định chế trung gian căn bản của thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 32

- Tư vấn đầu tư chứng khoán

- Quản lý danh mục đầu tư

- Bảo lãnh phát hành chứng khoán

- Tự doanh

- Ngoài ra BSC còn cung cấp các dịch vụ khác như:

+Cho vay ứng trước T+3 +Chứng khoán ảo

+Webside on line

2.1.1.3.Mô hình tổ chức:

NHĐT&PT VN tham gia TTCK thông qua việc thành lập công ty con độc lập với hình thức là công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên do NHĐT&PT VN cấp 100%

Trang 33

vốn điều lệ, theo mô hình Chủ tịch và Giám đốc công ty được quy định tại Luật doanh nghiệp

Trang 34

2.1.1.4.Nguồn lực:

a)Về nguồn lực tài chính:

Vốn của Công ty bao gồm:

* Vốn điều lệ: 100 tỷ VND do NHĐT&PT VN cấp 100%

Công ty được huy động vốn dưới mọi hình thức

- Phát hành trái phiếu

- Vay vốn của các tổ chức trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật

- Nhận góp vốn liên kết và các hình thức khác theo quy định của pháp luật

* Vốn khác: là vốn được hình thành trong quá trình thanh toán, tiếp nhận viện trợ Các quỹ hình thành trong quá trình phân phối lợi nhuận:

Trang 35

b) Về yếu tố con người:

Nhân tố con người là một trong những nhân tố đặc biệt quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của TTCK nói chung hay CTCK nói riêng Tính đến tháng 4/2004 BSC có đội ngũ cán bộ gồm 56 người độ tuổi trung bình là 31 tuổi, có trình độ chuyên môn giỏi đa số được đào tạo khá bài bản qua các trường đại học nổi tiếng của Mỹ, úc hoặc qua các khoá học của UBCKNN Với kinh nghiệm, chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp cao, BSC đã đào tạo và xây dựng nên một đội ngũ chuyên viên mạnh trong các lĩnh vực phân tích, tư vấn doanh nghiệp và đầu tư Đây chính là thế mạnh cạnh tranh của BSC

c) Về cơ sở vật chất, kỹ thuật

Công nghệ hiện đại là một trong những điều kiện tiên quyết giúp bảo đảm được các nguyên tắc hoạt động của TTCK Để tạo ra một thị trường công bằng, công khai, hiệu quả, cần phải có hệ thống thu nhập, phân tích, xử lý và công bố thông tin đủ hiện đại Chẳng hạn đối với nghiệp vụ môi giới để có thể triển khai được một cách có hiệu quả cần được sự trợ giúp của công nghệ hiện đại trong việc xử lý lệnh nhanh chóng, chính xác, giúp truyền thông trên diện rộng, kết nối được nhiều văn phòng chi nhánh thành mạng thống nhất, giúp công tác kiểm soát, kiểm tra, phát hiện các vấn đề liên quan đến lợi ích của khách hàng Phần mềm máy tính của Công ty do công ty tin học cung cấp, có ưu điểm là chi phí rẻ song lại gặp khó khăn ở chỗ các công ty phần mềm tin học chưa thông thạo về hoạt động kinh doanh chứng khoán, trong khi hoạt động kinh doanh của công ty lại phát sinh thường xuyên, đòi hỏi phải có những sửa đổi chương trình, do vậy chưa thể thiết kế chương trình ổn định

Như vậy, có thể nói nếu công ty tập trung đầu tư nhiều hơn nữa cho các trang thiết bị

và cơ sở vật chất kỹ thuật thì sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư hơn và nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện nghiệp vụ

Trang 36

2.1.2 Tình hình kinh doanh của BSC từ khi thành lập đến nay

Kết quả kinh doanh cụ thể:

2.1.2.1.Từ 27/7/2000 đến 31/12/2000:

1)Hoạt động môi giới:

toàn thị trường

2)Hoạt động tự doanh chứng khoán: chưa thực hiện

3)Hoạt động lưu ký chứng khoán:

2.1.2.2.Từ 1/1/2001 đến 26/12/2001:

1)Hoạt động môi giới chứng khoán:

1.221 tài khoản, (trong đó tại BSC Hà Nội là: 499 tài khoản)

(trong đó BSC Hà Nội là: 109,508 tỷ VNĐ)

541.007.000 VNĐ)

trong đó BSC tại Hà Nội là 5,92%

Trang 37

2)Hoạt động tự doanh chứng khoán:

là: 915.560.000 VNĐ (trong đó, Trái phiếu là: 2,283 tỷ VNĐ; Cổ phiếu là 340.900.000 VNĐ)

3)Hoạt động lưu ký

biến và đạt được những kết quả đáng khích lệ :

Cổ phần vật tư Sài Gòn trong hơn một năm qua

4)Đã triển khai nhiều nghiệp vụ mới, nhiều tiện ích mới cho các nhà đầu tư và các doanh nghiệp

cho khách hàng

khoán đầu tiên tổ chức được kênh huy động vốn công khai trên thị trường Kết thúc đợt phát hành, BSC đã phát hành được trên 114.000 Cổ phiếu cho công chúng, thu được 1,7 tỷ VNĐ cho doanh nghiệp

2.1.2.2.Từ 1/1/2001 đến 28/12/2002:

1)Môi giới:

đầu tư bao gồm các tổ chức và cá nhân, tăng 48% so với năm 2001

Trang 38

trọng thu phí môi giới giữa Hội sở tại Hà nội và Chi nhánh tại Tp Hồ Chí Minh là 31:69

Do tỷ trọng Cổ phiếu của Savimex trong công ty lớn, chiếm hơn 1/3 thị trường, do đó giao dịch Cổ phiếu Savimex qua công ty chiếm một tỷ trọng không nhỏ trong giao dịch của toàn thị trường về loại Cổ phiếu này, cũng như chiếm ưu thế về thu phí môi giới

lượng và giá trị giao dịch năm 2002 thì tăng hơn 114% Đây là một nỗ lực rất lớn của cán bộ nhân viên trong công ty, đặc biệt là cán bộ trong Tp Hồ Chí Minh (với thị phần gần 9%)

2)Nghiệp vụ bảo lãnh, làm đại lý phát hành và tư vấn:

lãnh, đại lý phát hành và tư vấn năm 2002 gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại Tuy nhiên với

sự nỗ lực của Ban lãnh đạo trong công ty và toàn thể cán bộ trong công ty, năm 2002 có thể coi là thành công đối với việc tiếp thị các doanh nghiệp, khẳng định tính chuyên nghiệp, có bài bản, có hệ thống, có uy tín của công ty trên thị trường Công ty đã ký được 14 hợp đồng đại lý phát hành và tư vấn các loại, trong đó hồ sơ tại Hà Nội là 3 Hợp đồng và Trái phiếu

Hồ Chí Minh là 11 Hợp đồng

tranh rất cao do giá trị hợp đồng và uy tín của doanh nghiệp đã ký như Công ty giống cây trồng Thiên Nam, Công ty Bông Bạch Tuyết, Công ty Vifon

lại các lợi ích khác như số lượng khách hàng lưu ký tại công ty, doanh số hoạt động môi giới, doanh thu thu phí môi giới tăng một cách đáng kể Có thể nói đây là một cách đột phá tạo đà cho việc phát triển năm 2003:

VNĐ

Trang 39

Mặc dù trong năm qua, giá trị thị trường của Cổ phiếu Savimex đã có lúc xuống dưới giá trị thực của Cổ phiếu (theo báo cáo phát triển cơ bản BSC và của Công ty chứng khoán khác, giá trị thực của Savimex là 23.000 - 30.000 VNĐ được tính bằng nhiều phương pháp khác nhau) và với mức cổ tức 16% trả cho các nhà đầu tư, thì chỉ riêng cổ phiếu này mang lại trên 704 triệu VNĐ

4)Các dịch vụ mới:

tác với Ngân hàng INDOVINA để xây dựng quy trình và áp dụng một số sản phẩm dịch vụ tiện ích cho khách hàng như nghiệp vụ cho vay cầm cố chứng khoán, cho vay ứng trước, cho vay bảo chứng nhằm thu hút khách hàng và mở rộng hoạt động

lãi suất cam kết, quỹ lưu ký, đầu tư theo chỉ số VN-INDEX

các báo cáo phát triển cơ bản, phát triển kỹ thuật 19 công ty niêm yết trên thị trường nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ tư vấn, hỗ trợ các nhà đầu tư ra quyết định hợp lý, có kết quả

Trang 40

2.2 Thực trạng hoạt động quản lý danh mục đầu tư tại công ty chứng khoán

NHĐT&PT Việt Nam

2.2.1.Tình hình thực hiện nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư:

Từ những ngày đầu khi mới thành lập, ban lãnh đạo công ty chứng khoán NHĐT&PT Việt Nam đã nhận thấy vai trò to lớn của nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư đối với thị trường, nhà đầu tư và đối với chính công ty chứng khoán cũng như xu hướng phát triển tất yếu của nghiệp vụ này khi thị trường chứng khoán phát triển ở trình độ cao Và coi nghiệp vụ này một nghiệp vụ chiến lược của công ty Ngay lập tức cán bộ phòng môi giới của công ty đã bắt tay nghiên cứu việc triển khai hoạt động này với mục tiêu ban đầu nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, uy tín và danh tiếng cho BSC

2.2.1.1.Nội dung quy trình quản lý danh mục đầu tư tại BSC:

Quy trình nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư tại công ty chứng khoán BSC được

thực hiện theo sơ đồ sau:

Ngày đăng: 05/11/2013, 20:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 1.1 - Luận văn thực trạng hoạt động quản lí danh mục đầu tư tại công ty chứng khoán ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam
th ị 1.1 (Trang 11)
Đồ thị 1.2: Đường cong hiệu quả Markowitz - Luận văn thực trạng hoạt động quản lí danh mục đầu tư tại công ty chứng khoán ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam
th ị 1.2: Đường cong hiệu quả Markowitz (Trang 12)
Đồ thị 1.6: Đồ thị đường CML - Luận văn thực trạng hoạt động quản lí danh mục đầu tư tại công ty chứng khoán ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam
th ị 1.6: Đồ thị đường CML (Trang 14)
Đồ thị 1.4:  Đồ thị biểu diễn đường SML - Luận văn thực trạng hoạt động quản lí danh mục đầu tư tại công ty chứng khoán ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam
th ị 1.4: Đồ thị biểu diễn đường SML (Trang 15)
Đồ thị 1.5: Đồ thị về độ lồi của trái phiếu - Luận văn thực trạng hoạt động quản lí danh mục đầu tư tại công ty chứng khoán ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam
th ị 1.5: Đồ thị về độ lồi của trái phiếu (Trang 24)
Sơ đồ 2.2: Quy trình nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư tại BSC  Bước thực - Luận văn thực trạng hoạt động quản lí danh mục đầu tư tại công ty chứng khoán ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam
Sơ đồ 2.2 Quy trình nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư tại BSC Bước thực (Trang 41)
Đồ thị sau: - Luận văn thực trạng hoạt động quản lí danh mục đầu tư tại công ty chứng khoán ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam
th ị sau: (Trang 49)
Bảng 2.2: Phân loại nhà đầu tư - Luận văn thực trạng hoạt động quản lí danh mục đầu tư tại công ty chứng khoán ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam
Bảng 2.2 Phân loại nhà đầu tư (Trang 53)
Sơ đồ 3.1: quy trình quản lý danh mục đầu tư đề xuất - Luận văn thực trạng hoạt động quản lí danh mục đầu tư tại công ty chứng khoán ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam
Sơ đồ 3.1 quy trình quản lý danh mục đầu tư đề xuất (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w