LỜI NÓI ĐẦULịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử báo chí Việt Nam nói riêngkhông thể tạo dựng và lý giải được nếu như không tham chiếu thường xuyênđến sự phát triển của xã hội, mà trong
Trang 1TIỂU LUẬNMÔN: LỊCH SỬ BÁO CHÍ
TÊN TIỂU LUẬN:
TÌM HIỂU SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TỜ BÁO
“TIẾNG DÂN”
Trang 2MỤC LỤC
Trang
I CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TỜ
3 Các giai đoạn phát triển và đặc điểm của báo “TIẾNG DÂN” 8
III Ý NGHĨA, VAI TRÒ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 17
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử báo chí Việt Nam nói riêngkhông thể tạo dựng và lý giải được nếu như không tham chiếu thường xuyênđến sự phát triển của xã hội, mà trong tất cả các đề tài nghiên cứu về lịch sửthì tờ báo có lẽ là một trong những tài liệu quan trọng, liên quan và gắn bómật thiết đến tình hình chính trị, kinh tế, tổ chức xã hội của một đất nước vàthời đại mà nó phản ánh
Báo chí Việt Nam là một mảng đề tài vô cùng phong phú, đa dạng,rộng lớn, chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, tính chiến đấu và cả tính kinhnghiệm trong nghề làm báo của biết bao thế hệ, là nơi lưu trữ tư liệu hàngngày Các tờ báo là nguồn thông tin dữ liệu đầy đủ nhất, khách quan nhất củalịch sử nói chung, là nhân chứng và là người trong cuộc của đời sống quốc giatrong từng sự kiện, giai đoạn lịch sử Do vậy để đi sâu, nghiên cứu, tìm hiểu
về báo chí cách mạng Việt Nam thì cần phải có một phông kiến thức, tài liệurất rộng lớn nói tới từng chi tiết và cặn kẽ từng nội dung, góc nhỏ của cả mộtquá trình, giai đoạn lịch sử… Nhiều nội dung, bài học quý báu của báo chícách mạng Việt Nam đã trôi theo những biến cố lịch sử và để lại cho các thế
hệ sau này những bài học, mẩu chuyện, tài liệu cổ… đầy tính định hướng vàgiáo dục, nhất là đối với thế hệ những người làm báo trong thời đại ngày nay
Và để giúp cho các bạn có nhu cầu tìm hiểu về lịch sử báo chí Việt Nam đồngthời hiểu rõ hơn phần nào về báo chí cách mạng Việt Nam và những bài học
và ý nghĩa, giá trị mà báo chí đem lại, thì trong bài này tôi xin được giới thiệu
và làm rõ thêm nội dung về sự ra đời và phát triển của một tờ báo, đó là báo
“TIẾNG DÂN” Kính mong thầy cô giáo cùng các bạn đọc có những nộidung ý kiến đóng góp, bổ sung để bài làm được chỉnh chu, hoàn thiện hơn vàtrở thành một nguồn tài liệu cho các bạn học cùng tìm hiểu, nghiên cứu
Trang 4NỘI DUNG
I CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TỜ BÁO “TIẾNG DÂN”
1 Hoàn cảnh ra đời của báo “TIẾNG DÂN”
Trong bối cảnh thực dân Pháp xâm lược, đô hộ và bóc lột nước ta,xuất phát từ lòng yêu nước với ý định xây dựng một tờ báo để làm cơ quanbênh vực cho tiếng nói của nhân dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng, vào khoảngcuối năm 1925, được sự ủng hộ của hai nhóm thanh niên mang trong mình
tư tưởng tiến bộ và lòng yêu nước là Đào Duy Anh và Trần Đình Nam, cụHuỳnh đã nhận đứng ra lập một tờ báo làm cơ quan bênh vực quyền lợi chonhân dân, làm hậu thuẫn cho hoạt động của Viện Dân biểu Báo “TIẾNGDÂN” được manh nha từ đó, và Đào Duy Anh trở thành một trong nhữngngười sáng lập sau cuộc gặp gỡ với Huỳnh Thúc Kháng
(Tòa soạn báo Tiếng dân cũng là trụ sở Công ty Huỳnh Thúc Kháng
Trang 5báo quán - 123 đường Đông Ba, Huế)
Nhân vật đứng chủ cho việc ra đời “TIẾNG DÂN” là cụ Minh ViênHuỳnh Thúc Kháng Việc dự trù ra báo, manh nha năm Bính Dần (1926).Tháng 7 năm ấy, Huỳnh Thúc Kháng trúng cử dân biểu, rồi được hội nghị đầutiên của Hội đồng Nhân dân Đại biểu bầu làm nghị trưởng Sau lần hội nghị
ấy, trong “Huỳnh Thúc Kháng tự truyện” cụ kể “tôi cùng đồng nhân trù
hoạch xin mở một tờ báo, vì xưa nay ở Trung kỳ chưa có tờ báo nào”
Báo “TIẾNG DÂN” ra đời, còn khởi phát từ tình hình nước nhà khithực dân Pháp chơi trò mị dân, cho phép lập Viện Nhân dân đại biểu ở Bắc
kỳ, Trung kỳ để nhân dân thuộc địa có quyền tham dự việc nhà nước, còn ởNam kỳ thì Đảng Lập hiến được Bùi Quang Chiêu lập nên thực hiện chínhsách Pháp Việt đề huề Thế nên khi được cử làm Viện trưởng, Đào Duy Anh
trong hồi ký “Nhớ nghĩ chiều hôm” cho hay “cụ Huỳnh Thúc Kháng đã
nhận đứng ra lập một tờ báo để làm cơ quan bênh vực quyền lợi của nhândân, làm hậu thuẫn cho hoạt động của Viện dân biểu”
Và để làm được ra được báo này, cụ Huỳnh tổ chức công ty chuyêntrách tập cổ Huỳnh Thúc Kháng Trong năm người sáng lập công ty, thìkhông ai có đồng nào để góp cổ phần Thế là những người có nhiều cổ phần,trong đó phần lớn là những người đã tham gia công việc kinh doanh ở PhanThiết, đã cho năm người này mượn cổ phần của họ để có điều kiện hợp pháp
mà đứng chân sáng lập viên Và để làm được ra được báo này, cụ Huỳnh tổchức công ty chuyên trách tập cổ Huỳnh Thúc Kháng Tháng 4 năm ĐinhMão (1927), công ty được thành lập với số vốn quyên được từ cổ đông là bavạn Điều thú vị là, dẫu có ý định ra báo, nhưng các cổ đông lại không biết gì
về những vấn đề xung quanh tờ báo như in ấn, phát hành, thủ tục… và họHuỳnh một tay đứng chủ
Việc chuẩn bị ra báo được cụ Huỳnh tâm sự, ngoài phần vốn đã cónhờ vận động, thì thủ tục với chính quyền lúc ấy cũng có điều thuận lợi: “Vềkhoản cho ra tờ báo ở Trung kỳ, chính phủ Pháp ở Trung kỳ đã chuẩn hứa”
Trang 6Về phần trụ sở của báo, Trần Đình Phiên đến Huế mua căn nhà có lầu ởđường Đông Ba (đường Huỳnh Thúc Kháng hiện nay) Cùng với việc tìm trụ
sở, Huỳnh Thúc Kháng, Đào Duy Anh, Nguyễn Xương Thái ra Hà Nội tìmmua máy in và sách vở tài liệu ra báo Ông Mai Du Lân chủ báo “Thựcnghiệp” mới mua một máy in chưa dùng, nhượng lại cho báo “TIẾNGDÂN” sắp ra Lúc ấy nhà in Nghiêm Hàm vừa phát mãi, Huỳnh Thúc Kháng
thuê luôn ấn công cũ của nhà in Nghiêm Hàm vào Huế làm việc
(Hình ảnh một tờ báo Tiếng Dân)
Sau khi xong xuôi các thủ tục xin phép, ngày 10/8/1927, báo “TIẾNGDÂN” ra mắt số đầu tiên, do Huỳnh Thúc Kháng làm Chủ nhiệm kiêm Chủbút, Trần Đình Phiên làm Quản lý Địa chỉ trụ sở: báo quán - 123 đường Đông
Ba, Huế Trong số đầu tiên của báo, tên báo được in hoa quốc ngữ kèm chữHán và chữ Pháp
Trang 7Trong số đầu tiên của báo, tên báo được in hoa quốc ngữ kèm chữHán và chữ Pháp Trang đầu tiên bên góc trái có bài “Báo Tiếng dân ra đời”của cụ Huỳnh với lời mở đầu là lời rao kèm tiếng khóc rất thú vị (tríchnguyên văn chính tả thời ấy):
“Báo Tiếng Dân ra đời!
Báo Tiếng Dân ra đời!
Báo Trung Kỳ ra đời!
Báo Tiếng Dân ở Kinh đô nước Việt Nam ta mới ra đời!
Muộn màng thay! Tủi buồn thay! Song cũng gắng gượng thay! Ốm đaumang nặng, ngậm đắng nuốt cay đã mấy mươi năm mà nay mới lọt lòng mẹ rathấy chút bóng sáng trong trời đất!
Oe! Oe! Oe! Rời đất một tiếng khóc!”…”
Tôn chỉ, mục đích cho sự ra đời và hoạt động của báo “TIẾNG DÂN”cũng được thể hiện rõ trong lời phi lộ này
2 Nhóm người sáng lập
Nhóm sáng lập công ty cũng là nhóm chủ chốt của tờ báo gồm 5 người:Huỳnh Thúc Kháng là linh hồn của tờ báo; Trần Hoành, tức Cửu Lai, hiệuPhúc Bình, là một bạn tù ở Côn Đảo với cụ Huỳnh, nhận ra giúp cụ làm quảnđốc nhà in Trần Hoành là chiến sĩ Đông Du, đã ba lần vượt ngục, một lần ởnhà lao Nghệ An, hai lần ở Côn Đảo, đều bị bắt lại và được trả tự do một lầnvới cụ Huỳnh; Trần Đình Phiên là một nhà nho từng tham gia phong trào DuyTân ở Phan Thiết khoảng trước năm 1908, là sáng lập viên Hội Liên Thành, đãthôi việc để ra Huế giúp cụ Huỳnh quản lý nhà in và tòa báo; Nguyễn XươngThái, vốn là thư ký Sở Thương Chính Đà Nẵng, cũng bỏ việc để ra giúp cụHuỳnh trong việc văn thư; Đào Duy Anh, giúp cụ Huỳnh trong việc tổ chức bộbiên tập
Nói thêm về Huỳnh Thúc Kháng Ông là một chí sĩ yêu nước nổitiếng hiệu Minh Viên, tự Giới Sanh, sinh ngày 01 tháng 10 năm 1876 tạilàng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, phủ Thăng
Trang 8Bình (nay là xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam) Thân phụ
là cụ Huỳnh Văn Phương (hiệu Tấn Hữu), một nhà nho theo nghiệp đènsách Thân mẫu là bà Nguyễn Thị Tình, người cùng quê, một phụ nữ mựcthước, đảm đang
Huỳnh Thúc Kháng từ nhỏ đã nổi tiếng học giỏi, đỗ đầu cả hai khoa thiHương năm Canh Tý (1900) và thi Hội năm Giáp Thìn (1904) Sau khi đỗTiến sĩ, Ông không ra làm quan mà ở nhà cùng các đồng chí Phan Châu
Trinh, Trần Quý Cáp… là người khởi xướng phong trào Duy Tân ở QuảngNam
(Nhà báo Huỳnh Thúc Kháng)
Trang 9Năm 1908, phong trào kháng thuế nổ ra ở Đại Lộc, sau lan rộng khắptỉnh Quảng Nam rồi lan sang nhiều tỉnh của miền Trung, ông bị thực dânPháp bắt, kết án tử hình sau đổi thành khổ sai chung thân, đày ra Côn Đảo.Năm 1921, sau 13 năm bị tù, ông được thả về đất liền 5 năm sau, ông đượcbầu làm Viện trưởng viện Dân biểu Trung Kỳ
Năm 1946, sau Cách mạng tháng Tám, nhận lời mời của Chủ tịch HồChí Minh, ông tham gia Chính phủ Liên hiệp kháng chiến với chức Bộtrưởng Nội vụ Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm nước Pháp, ông được cửgiữ chức Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Thời gian nàyông còn là chủ tịch Hội Liên hiệp Quốc dân Cuối năm 1946, ông là đặc pháiviên của Chính phủ vào cơ quan Ủy ban Kháng chiến hành chính NamTrung Bộ tại Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi
Tháng 3-1947, ông Huỳnh Thúc Kháng lâm bịnh nặng và qua đời đúngvào ngày 21-4-1947 tại gia đình bà Võ Thị Tuyết thôn Phú Bình, xã HànhPhong, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi
3 Các giai đoạn phát triển và đặc điểm của báo “TIẾNG DÂN”
* Giai đoạn phát triển
Vào thập kỷ 20 đến khoảng giữa thập kỷ 30 của thế kỷ XX, cả nước talúc đó có khoảng 150 tờ báo, tạp chí Báo “TIẾNG DÂN” ra đời từ ngày10/8/1927 và tồn tại, phát triển cho đến ngày 24/4/1943 sau khi đã xuất bảnđược 1766 số Trong 16 năm hoạt động, Báo “TIẾNG DÂN” đã tập hợpđược nhiều trí thức có tinh thần dân tộc trở thành tờ báo có ảnh hưởng rấtlớn đến dư luận xã hội ở miền trung và cả nước; thể hiện tiếng nói của xuhướng chính trị không phục tùng đường lối của thực dân Pháp và Namtriều
Từ đầu cho đến ngày 29/01/1936, báo “TIẾNG DÂN” phát hành tuầnhai kỳ vào thứ Tư và thứ Bảy Từ ngày 01/02/1936 đến 30/12/1939, trong thời
kỳ vận động dân chủ, báo ra mỗi tuần ba số: thứ Ba, thứ Năm và thứ Bảy Từđầu năm 1940 trở về sau báo trở lại mỗi tuần hai số như trước
Trang 10hai trang, nhiều số 4 trang rồi 6 trang Mặc dù ít trang nhưng báo có khuôn khổtương đối rộng (58 x 42cm) nên dung lượng bài báo khá phong phú.
(Báo Tiếng Dân số 08 ngày 03/9/1927)
Trang 11Ngay trên trang đầu các tờ báo, khung ở góc trên cùng bên phảiđều có một câu cách ngôn, danh ngôn hoặc tư tưởng Đông – Tây Cácdanh ngôn này bao giờ cũng phù hợp với mục đích của tờ báo và nhất làphải tùy trường hợp cũng như chủ đề mà các bài viết đang đề cập Giábáo được niêm yết ở khung ở góc trên cùng bên trái trang đầu tờ báo.Phần cuối nội dung báo sẽ đăng những tin bài quảng cáo và tất cả nộidung đều được quản lý và kiểm duyệt kỹ càng.
- Nội dung
Nội dung của một tờ báo gồm các phần: Bình luận tình hình thế giới,trong nước, chuyện đời, vịnh sử, thơ văn, tin tức Có phần dịch thuật tiểu
thuyết cả Trung Hoa lẫn Pháp Ngoài ra còn đăng các truyện dài, tiểu thuyết
có tính cách giáo dục Các nội dung của tờ báo được duy trì từ khi mới ra đờicho đến khi đóng cửa vẫn không thay đổi
(Báo Tiếng dân với chuyên mục “Việc thế giới” và “Việc trong nước”)
Trang 12Trên tất cả các tờ báo “TIẾNG DÂN”, bất cứ số báo nào cũng có nhữngtiếng nói của người dân thấp cổ bé họng Ví như trên số báo ra ngày 14-1-1937,ngoài những bài viết có tính chất khai sáng, bình luận các vấn đề lớn như “NướcPháp với thuộc địa - bao giờ liên lạc với nhau?”, “Luật lao động”, “Thanh niênvới vấn đề cải tạo xã hội”, hai cột tin tức chính là “Việc thế giới” và “Việc trong
nước”, những tin tức ở “Việc trong nước” hầu hết là những sự việc chỉ đọc títtựa thôi đã thấy đầy sức chiến đấu và tinh thần chống tiêu cực như cách nói củabáo chí bây giờ: “Lại bắt dân chịu”, “Ngắn cổ kêu ai”, “Quan đã thấu nỗi khổdân chăng?”, “Dân lấy làm ức cho lý trưởng bị lưu dịch”
(Chuyên mục “Độc giả luận đàn” trên báo Tiếng dân)
Ngoài những nội dung trên, báo “TIẾNG DÂN” cũng đăng tải thơ
về dân sinh, về lòng yêu nước của chủ bút Huỳnh Thúc Kháng và các têntuổi lớn khác như Phan Bội Châu, Đào Duy Anh, Võ Nguyên Giáp…Trong đó, có thể kể đến các sáng tác nổi tiếng của cụ Phan Bội Châu như
Trang 13Điếu Trương Gia Mô Cúc Nông tiên sinh (ngày 4/1/1930), Nghe quốc kêu(24/12/1930), Tết (14/2/1931)… Đồng thời Tiếng Dân còn đề cập kháphong phú đời sống xã hội, từ đời sống thiếu thốn, đày ải của người tùchính trị ở Côn Đảo, Sơn La đến vấn đề tự do ngôn luận Tờ báo còn
có nhiều bài nói lên chính kiến của mình về lịch sử, văn hoá và thơ ca.Các mục văn vần, tự do diễn đàn rất được bạn đọc hoan nghênh “TIẾNGDÂN” còn là diễn đàn tranh luận về nhiều vấn đề bức xúc của xã hội
Dù đồng ý cho cụ Huỳnh ra báo nhưng mỗi số báo “TIẾNG DÂN” cụHuỳnh phải nộp cho Sở Liêm phóng hai bản bằng hai thứ tiếng Việt và Pháp để
họ kiểm duyệt Nếu bài nào bị Sở Liêm phóng đục bỏ thì phải thay thế bằngbài khác “mềm mại” hơn, nhưng tòa soạn của cụ Huỳnh không ngoan ngoãntheo lối ấy Với những bài báo bị đục bỏ Cụ cứ để trống như thế, và ngườiđọc sẽ đọc được “rất nhiều thông tin” từ ô trống trên trang báo ấy bằng cáchtìm cho ra những “trang trắng” bị Sở Liêm phóng đục bỏ trên báo “TIẾNGDÂN” và để tìm ra được những bài viết bị đục bỏ quả là chuyện không dễ
dàng Chỉ có cách là thông qua nhà nghiên cứu Hồ Tấn Phan những tờ
Trang 14báo “TIẾNG DÂN” bản gốc có chữ ký bằng mực tím của cụ Huỳnh và condấu của kho lưu trữ tòa khâm, trong sưu tập của ông Phan còn có một tậpbáo “Tiếng Dân” với những dòng chữ bị đục bỏ bởi kiểm duyệt
(Nội dung đăng trên báo Tiếng dân khi kiểm duyệt bị Sở Liêm phóng đục bỏ)
Trang 15Việc để nguyên những trang báo với ô trống đục bỏ như thế chính là bày
tỏ một thái độ với chế độ cầm quyền cai trị, nhưng chỉ như thế thì hậu thế làmsao biết được Sở Liêm phóng đã đục bỏ những gì? May mắn thay, sau khi pháthành những số báo bị đục bỏ ấy, các thư ký tòa soạn của “TIẾNG DÂN” (vàcũng có thể là chính cụ Huỳnh) đã lấy các số báo lưu lại tòa soạn và lấy bút viếtlên những ô trống bị đục bỏ ấy những câu chữ đã bị cắt bỏ khi kiểm duyệt
(Nội dung trên báo Tiếng dân bị kiểm duyệt đục bỏ được thư ký tòa soạn chép lại và lưu giữ)
Trang 16II PHÂN TÍCH TÁC PHẨM “Tiếng dân”
Tác phẩm “Tiếng dân” đăng trên báo “TIẾNG DÂN” số ra 02 ngày13/8/1927 của Cụ Huỳnh Thúc Kháng với bút danh Mính viên là một trongnhững tác phẩm nổi tiếng của cụ Huỳnh Tác phẩm được trình bày theo dạngkhổ dọc, sử dụng lối hành văn mộc mạc, bao gồm cả chữ hán ngữ và được bố tríngay tại vị trí trung tâm trên trang nhất của số báo thứ 02 cho thấy được vị trí,vai trò, tầm quan trọng và ý nghĩa của tác phẩm Với tiêu đề “Tiếng dân” tác giả
đã phần nào làm cho bạn đọc mường tượng về những nội dung và ý nghĩa màtác giả muốn gửi gắm, trình bày trong tác phẩm đến với bạn đọc
(Tác phẩm Tiếng dân của Huỳnh Thúc Kháng đăng trên báo Tiếng Dân)
Ngay từ phần mở đầu bài viết với nội dung: “Sao gọi là Tiếng dân? Là sự vui, sự buồn, sự thương sự ghét, sự mừng sự giận, sự ham muốn, sự trông mong, tự trong trái tim hai mươi triệu đồng bào, tự nhiên mà phát lộ ra:
Trang 17khi vui thì cười, khi buồn thì khóc, thấy hay thì khen, thấy dở thì chê…” tác
giả đã như muốn khẳng định và nói thay cho hai mươi triệu đồng bào,
những người dân thấp cổ bé họng nhưng mang trong mình dòng máu Việt
Nam với lòng yêu nước và tinh thần bất khuất, ý chí chiến đấu kiên cường,
là tiếng nói mà bấy lâu nay hai mươi triệu đồng bào đồng thanh muốn nói
(Toàn văn nội dung tác phẩm Tiếng dân đăng trên báo Tiếng dân
Số 02 ngày 13/8/1927của nhà báo Huỳnh Thúc Kháng)
Tiếp nối giả viết: “Chính hòa thì dân vui, chính trái thì dân giận (Kỳ dân lạc, kỳ chính hòa, kỳ dân oán, kỳ chính quái) Người xưa muốn biết chính trị một nước ra thế nào thường xem xét những lời ca dao của dân - dan là vì thế Xem vậy thì biết dân là gốc nước, Tiếng dân là quang hệ với việc nước Những bậc thánh hiền, hào kiệt, đương thời đại phong khí chưa khai, giao thông chưa tiện, mà muốn cử động việc gì cũng phải theo xu