BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong các hoạt động y tế, có tính nguy hại, phức tạp, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, đang là mối[.]
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong các hoạt động y tế, có tính nguy hại,phức tạp, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, đang làmối quan tâm của toàn thế giới Hiện nay, chất thải y tế đang trở thành vấn đề môitrường và xã hội cấp bách ở nước ta, nhiều bệnh viện trở thành nguồn gây ô nhiễmcho môi trường dân cư xung quanh, gây dư luận trong cộng đồng Theo đánh giácủa Tổ chức y tế thế giới, năm 2000 trên toàn thế giới có 23 triệu ca nhiễm viêmvirus gan B (32% ca nhiễm mới), 2 triệu ca nhiễm virus viêm gan C (40% ca nhiễmmới) và 260.000 ca nhiễm virus HIV (5% ca nhiễm mới) liên quan đến rác thải y tếnhưng không được kiểm soát
Và theo nghiên cứu điều tra của Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế và ViệnKiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn - Bộ Xây dựng, năm 2009-2010, tổnglượng chất thải rắn y tế trong toàn quốc khoảng 100-140 tấn/ngày, trong đó có 16-
30 tấn/ngày là chất thải rắn y tế nguy hại Lượng chất thải rắn trung bình là 0,86 kg/giường/ngày, trong đó chất thải rắn y tế nguy hại tính trung bình là 0,14-0,2kg/giường/ngày Hầu hết các chất thải rắn y tế là các chất thải sinh học độc hại vàmang tính đặc thù so với các loại chất thải rắn khác Các loại chất thải này nếukhông được phân loại cẩn thận trước khi xả chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽgây ra những nguy hại đáng kể
Thành phố Cần Thơ là thành phố trung tâm của đồng bằng sông Cửu Long(ĐBSCL) với mạng lưới y tế, chăm sóc sức khỏe trải đều từ tuyến thành phố đếntuyến quận/huyện, xã/phường Trong quá trình hoạt động khám chữa bệnh chongười dân, các cơ sở y tế còn thải ra môi trường với một khối lượng lớn chất thải y
tế Lượng chất thải y tế ngày càng tăng dần do sự gia tăng dân số, mức sống, sựnâng cao khám chữa bệnh Đây là một trong những nguy cơ gây ô nhiễm nghiêmtrọng đối với môi trường sống, là nguồn gây ô nhiễm trực tiếp đến sức khỏe cộngđồng Theo kết quả điều tra của Sở Y tế thành phố Cần Thơ tại các cơ sở y tế cógiường bệnh trong 6 tháng đầu năm 2014 khối lượng chất thải y tế nguy hại phátsinh khoảng 9,3 tấn/ngày và trong đó có khoảng 3,2 tấn/ngày là chất thải rắn y tếnguy hại
Trang 2Bên cạnh đó nhận thức của cộng đồng nói chung và nhân viên y tế nói riêng
về nguy cơ tiềm ẩn trong chất thải bệnh viện còn kém, chính vì vậy dòng chất thảibệnh viện đã và đang hoà lẫn vào dòng chất thải khác, đặc biệt là dòng chất thảisinh hoạt Đây là điều hết sức nguy hiểm cho sức khỏe cộng đồng Trong năm 2014
đã có đoàn thanh kiểm tra về công tác bảo vệ môi trường của Bộ Tài Nguyên Môitrường tại các cơ sở đóng trên địa bàn thành phố Cần Thơ, trong đó có cả các cơ sở
y tế Qua công tác thanh kiểm tra cho thấy nhiều cơ sở y tế chưa thực hiện đúng cácqui định về công tác quản chất thải và bảo vệ môi trường tại cơ sở y tế và Bộ Tàinguyên Môi trường cũng đã đưa vào danh sách 07 đơn vị cần xử lý vi phạm, trong
đó có 06 bệnh viện chuyên khoa thành phố và 01 bệnh viện đa khoa quận Điều nàycho thấy địa phương cần tăng cường hơn công tác quản lý chất thải y tế tại các cơ sở
y tế trên địa bàn thành phố
Trong khi đó công tác quản lý chất thải tại hầu hết các bệnh viện chưa thựchiện triệt để từ khâu thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý Sự phân công tráchnhiệm chưa được cụ thể, thiếu nhân viên được đào tạo về quản lý chất thải y tế,thiếu phương tiện vận chuyển, thu gom,… Vì thế các chất thải y tế nguy hại phátsinh từ hoạt động bệnh viện đã và đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng gâyảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của cộng đồng xã hội Qua đó chúng ta có thểthấy kiến thức, thực hành của nhân viên y tế có tác động không nhỏ đề công tácquản lý rác thải y tế nói chung cũng như công tác bảo vệ sức khỏe nhân dân nóiriêng
Việc quản lý chất thải rắn bệnh viện tại thành phố Cần Thơ cũng nằm trongbối cảnh chung, do đó việc cải thiện điều kiện quản lý chất thải bệnh viện tại thànhphố Cần Thơ nhằm chủ động phòng bệnh và bảo vệ môi trường là vấn đề hết sứccấp bách Đến thời điểm hiện nay tại Cần Thơ có nghiên cứu khoa học chính thứcnào mô tả đầy đủ đặc điểm tình hình quản lý chất thải rắn y tế tại các bệnh việntuyến thành phố, trong khi đó đây là những cơ sở làm phát sinh một lượng rất lớnchất thải y tế
Nghiên cứu và đánh giá đúng thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và kiếnthức, thực hành của nhân viên y tế tại các bệnh viện chuyên khoa thành phố là rất
Trang 3cần thiết nhằm cung cấp thêm số liệu về thực trạng quản lý chất thải y tế, trên cơ sở
đó xây dựng giải pháp phù hợp góp phần tăng cường hiệu quả quản lý chất thải y tếtại các bệnh viện trên địa bàn thành phố Cần Thơ
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Thực trạng về quản lý chất thải rắn y tế và kiến thức, thực hành của nhân viên y tế tại các bệnh viện chuyên khoa thành phố Cần Thơ năm 2015”.
Trang 4MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện chuyên khoathành phố Cần Thơ năm 2015
2 Mô tả kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về quản lý chất thải rắn y tếtại các bệnh viện chuyên khoa thành phố Cần Thơ năm 2015
3 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về quản lý chấtthải rắn y tế của nhân viên y tế tại các bệnh viện chuyên khoa thành phố Cần Thơnăm 2015
Trang 5Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái quát chung về chất thải y tế
1.1.1 Chất thải y tế và quản lý chất thải y tế
Chất thải y tế: là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động
khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo Chất thải
y tế có thể ở dạng rắn, lỏng và dạng khí
Chất thải rắn y tế: phần chất thải y tế ở dạng rắn, không có tính chất thải
dạng lỏng và khí, đựơc thu gom và xử lý riêng
Chất thải y tế nguy hại: là chất thải có một trong những thành phần: máu,
dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận hoặc cơ quan của người, động vật, bơm kimtiêm và các vật sắc nhọn, dược phẩm, hóa chất và các chất phóng xạ dùng trong y
tế, mà những chất thải này nếu không được tiêu hủy sẽ gây nguy hại cho môi trường
và sức khỏe con người
Quản lý chất thải y tế: là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu,
thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu tái sử dụng và tái chế, xử lý tiêu hủy chấtthải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện
Quản lý chất thải y tế nguy hại: là các hoạt động liên quan đến việc phòng
ngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng trực tiếp, lưu giữ tạm thời, vậnchuyển và xử lý chất thải nguy hại
1.1.2 Phân loại chất thải y tế
1.1.2.1 Phân lại chất thải y tế theo quy định của Bộ Y tế:
Ở Việt nam, chất thải y tế được phân loại trong quyết định số BYT của Bộ Y tế về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế Căn cứ vào cácđặc điểm lý học, hoá học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y
43/2007/QĐ-tế được phân thành 5 nhóm gồm: chất thải lây nhiễm, chất thải hoá học nguy hại,chất thải phóng xạ, bình chứa áp suất và chất thải sinh hoạt
Trang 6Chất thải lây nhiễm:
Chất thải lâm sàng được chia làm 5 nhóm, mỗi nhóm được xử lý theo nhữngquy định riêng:
Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc
thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền,lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọnkhác sử dụng trong các loại hoạt động y tế
Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm
dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly
Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các
phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm
Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể
người; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm.Nhóm E: Là các mô, cơ quanngười, động vật (dù có bị nhiễm khuẩn hay không)
Chất thải hoá học nguy hại:
Chất thải hoá học bao gồm các chất thải rắn, lỏng và khí Chất thải hoá học
nguy hại bao gồm: Formaldehyt được sử dụng trong khoa giải phẫu bệnh, lọc máu,
ướp xác và dùng để bảo quản các mẫu xét nghiệm ở một số khoa khác; Các hoá chấtquang hoá học có trong dung dịch dùng để cố định và tráng phim; Các dung môigồm các hợp chất halogen như methylen chlorid, chloroform, freons, trichloroethylen, các thuốc mê bốc hơi như halothan, các hợp chất không có khí halogen nhưxylen, axeton, isopropanol, toluen, ethyl axetat và axetonitril; Oxit ethylen: Là chấtđược sử dụng để tiệt khuẩn các thiết bị y tế, phòng phẫu thuật nên được đóng thànhbình và gắn liền với thiết bị tiệt khuẩn Loại chất này có thể gây ra nhiều độc tính và
có thể gây ung thư ở người; các chất hoá học hỗn hợp bao gồm các dung dịch làmsạch và khử khuẩn như phenol, dầu mỡ và dung môi làm vệ sinh
Chất thải phóng xạ:
Chất thải phóng xạ là những chất có hoạt độ riêng giống như các chất phóng
xạ Tại các cơ sở y tế, chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điềutrị và nghiên cứu Chất thải phóng xạ bao gồm chất thải rắn, lỏng và khí
Trang 7Chất thải phóng xạ rắn: gồm các vật liệu sử dụng trong các xét nghiệm, chẩnđoán, điều trị như ống tiêm, bơm tiêm, kim tiêm, kính bảo hộ, giấy thấm, gạc sátkhuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ…
Chất thải lỏng phóng xạ gồm: Dung dịch có chứa nhân phóng xạ phát sinhtrong quá trình chẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người bệnh, các chất bài tiết,nước xúc rửa dụng cụ có chứa nhân phóng xạ
Chất thải khí phóng xạ: Gồm các chất khí trong lâm sàng như 133Xe, các chấtthoát ra từ các kho chứa chất phóng xạ
Bình chứa áp suất :
Gồm các loại bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung và các bình đựng
khí dùng một lần Các bình này dễ gây nổ khi thiêu đốt, vì vậy phải thu gom riêng
Chất thải sinh hoạt :
Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa họcnguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm: Chất thải sinh hoạt phát sinh từ cácbuồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly); Chất thải phát sinh từ các hoạt độngchuyên môn y tế như các chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, cácloại bột bó trong gẫy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinhhọc và các chất hóa học nguy hại; Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính:giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim; Chấtthải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh
1.1.2.2 Phân loại chất thải y tế theo Tổ chức Y tế thế giới:
Theo WHO, chất thải y tế được phân thành hai nhóm chính là chất thải y tếnguy hại và chất thải y tế không nguy hại
Chất thải y tế nguy hại: được phân thành 6 loại như chất thải sắc nhọn, chất
thải lây nhiễm, chất thải giải phẩu, thuốc thải và chất thải gây độc tế bào, chất thảihóa học, chất thải phóng xạ
Chất thải sắc nhọn: Có thể làm rách da, tổn thương da, bao gồm kim tiêm,
dao mổ, bộ tiêm truyền, mảnh thuỷ tinh vỡ,
Chất thải lây nhiễm: Có chứa mầm bệnh như vi khuẩn, vi rút, kí sinh trùng
và nấm với nồng độ và số lượng đủ để gây bệnh dẫn đến dễ lây nhiễm cho nhiều
Trang 8người Loại rác này thường sinh ra từ những nguồn như: Môi trường nuôi cấy mầmbệnh từ phòng thí nghiệm; rác từ phòng mổ, nhất là phòng mổ tử thi các bệnh nhân
bị bệnh nhiễm trùng; rác từ phòng cách ly các bệnh nhân bị bệnh nhiễm trùng; súcvật được tiêm truyền dùng trong phòng thí nghiệm; dụng cụ hoặc vật liệu tiếp xúcvới bệnh nhân truyền nhiễm
Chất thải giải phẫu: Các mô, bộ phận cơ thể, dịch, máu trong cơ thể người Thuốc thải và chất thải gây độc tế bào: Gồm các thuốc quá hạn, thuốc không
dùng đến hoặc các loại vacxin, huyết thanh, kể cả những dụng cụ chai lọ đựngchúng, các loại thuốc chống ung thư kể cả phân, chất nôn, nước tiểu của các bệnhnhân được điều trị bằng những thuốc này
Chất thải hóa học: Có thể dưới dạng đặc, lỏng, khí Sinh ra trong quá trình
chẩn đoán, điều trị, thí nghiệm của bệnh viện, cũng như trong quá trình cọ rửa, tẩy
uế Bao gồm Formaldehyt, hoá chất tráng rửa phim ảnh, dung môi các loại, chất tẩyrửa nền nhà Chúng được xếp vào loại độc hại khi: là chất độc, có tính ăn mòn (pH
< 2 hoặc pH > 12), dễ gây nổ
Chất thải phóng xạ: không thể phát hiện bằng giác quan, chúng thường gây
ảnh hưởng lâu dài, bao gồm các loại tia anpha, bêta, gama, tia X, chúng thường gâyion hoá các chất trong tế bào và gây độc đối với gen
Chất thải y tế không nguy hại: bao gồm các chất thải không gây bất kì tác
hại nào về mặt sinh học, hóa học hay chứa các chất phóng xạ, độc hại
1.1.3 Nguy cơ của chất thải y tế đối với sức khỏe con người
Phơi nhiễm với chất thải y tế nguy hại có thể gây ra bệnh tật hoặc thươngtích Tất cả các cá nhân phơi nhiễm với chất thải nguy hại, cả những người ở tronghay ở ngoài bệnh viện đều có nguy cơ tiềm ẩn Những nhóm có nguy cơ bao gồm:Nhân viên y tế, bác sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên, bệnh nhân, người nhà
và khách thăm nuôi bệnh nhân, công nhân làm việc trong khối hỗ trợ như thu gom, vậnchuyển rác, giặt ủi, công nhân trong cơ sở xử lý và tiêu hủy chất thải (như bãi ráchoặc lò đốt), bao gồm cả những người nhặt rác
1.1.3.1 Nguy cơ của chất thải lây nhiễm
Trang 9Chất thải lây nhiễm luôn chứa ít nhất một loại vi sinh vật gây bệnh Vi sinhvật gây bệnh trong chất thải lây nhiễm có thể xâm nhập vào cơ thể thông qua nhiềuđường: qua vết thương, vết cắt trên da; qua niêm mạc; qua đường hô hấp; quađường tiêu hóa Sự xuất hiện của các loại vi khuẩn kháng kháng sinh và kháng hóachất khử khuẩn có thể liên quan đến thực trạng quản lý chất thải y tế không an toàn.Vật sắc nhọn không chỉ gây ra vết thương trên da, mà còn gây nhiễm trùng vếtthương nếu chúng bị nhiễm bẫn Thương tích do vật sắc nhọn là tai nạn thường gặpnhất trong cơ sở y tế Theo WHO, có mối liên hệ đặc biệt giữa nhiễm HIV, viêmgan B và C với những tổn thương do kim tiêm bị nhiễm bẩn bởi máu, dịch cơ thể,
do sự quản lý yếu chất thải sắc nhọn Một khảo sát của Viện Y học lao động vàmôi trường năm 2006 cho thấy 35% số nhân viên y tế bị thương tích do vật sắcnhọn và 70% trong số họ bị thương tích do vật sắc nhọn trong sự nghiệp Tổnthương do vật sắc nhọn có khả năng lây truyền các bệnh nhiễm trùng nguy hiểm
như HIV, HBV, và HCV Khoảng 80% nhiễm trùng HIV, HBV, HCV nghề nghiệp
là do thương tích do vật sắc nhọn và kim tiêm Việc tái chế hoặc xử lý không antoàn chất thải lây nhiễm, bao gồm cả nhựa và vật sắc nhọn có thể có tác động lâudài tới sức khỏe cộng đồng
1.1.3.2 Nguy cơ của chất thải hóa học nguy hại
Nhiều hóa chất và dược phẩm sử dụng trong cơ sở y tế là chất nguy hại (ví
dụ chất gây độc, ăn mòn, dễ cháy, gây phản ứng, gây sốc, gây độc) nhưng thường ởkhối lượng thấp Phơi nhiễm cấp tính hoặc mãn tính đối với hóa chất qua đường daniêm mạc, qua đường hô hấp, tiêu hóa Tổn thương da, mắt và niêm mạc đường hôhấp có thể gặp khi tiếp xúc với hóa chất gây cháy, gây ăn mòn, gây phản ứng (ví dụformaldehyde và các chất dễ bay hơi khác) Tổn thương thường gặp nhất là bỏng.Các hóa chất khử khuẩn được sử dụng phổ biến trong bệnh viện thường có tính ănmòn Trong quá trình thu gom, vận chuyển và lưu giữ, chất thải nguy hại có thể bị
rò thoát, đổ tràn Việc rơi vãi chất thải lây nhiễm, đặc biệt là chất thải lây nhiễm cónguy cơ cao có thể lan truyền bệnh trong bệnh viện, như có thể gây ra đợt bùng phátnhiễm trùng bệnh viện trong nhân viên và bệnh nhân, hoặc gây ô nhiễm đất và nước
Trang 101.1.3.3 Nguy cơ của chất thải phóng xạ
Cách thức và thời gian tiếp xúc với chất thải phóng xạ quyết định những tácđộng đối với sức khỏe, từ đau đầu, chóng mặt, buồn nôn cho đến các vấn đề độtbiến gen trong dài hạn Tiếp xúc với các chất thải phóng xạ có thể xảy ra trong quátrình chuẩn bị, hoặc điều trị bằng các loại thuốc chức chất phóng xạ Nhiều thuốcđiều trị ung thư là các thuốc gây độc tế bào Chúng có thể gây kích thích hay gâytổn thương cục bộ trên da và mắt, cũng có thể gây chóng mặt, buồn nôn, đau đầu.Nhân viên bệnh viện, đặc biệt là những người chịu trách nhiệm thu gom chất thải,
có thể phơi nhiễm với các thuốc điều trị ung thư qua hít thở hoặc hạt lơ lửng trongkhông khí, hấp thu qua da, tiêu hóa qua thực phẩm vô tình nhiễm bẩn với thuốc gâyđộc tế bào Bất kỳ chất thải phóng xạ nào khi được thải ra môi trường đều có thểgây những hậu quả tai hại về mặt sinh thái
1.1.3.4 Nguy cơ của các bình chứa áp suất
Các bình áp suất đã sử dụng hoặc bị hư hỏng trong quá trình xử dụng có thể
xử lý bằng các phương pháp như trả lại nơi sản xuất, tái sử dụng, chôn lấp thôngthường đối với các bình áp suất có thể tích nhỏ Việc xử lý không đúng hoặc chậmtrễ có thể dẫn dẫn đến các vụ nổ áp lực (bình chứa khí bị nung nóng, đổ ngã, va đập,
ăn mòn, … quá mức quy định), nguy cơ nổ cháy môi chất, rò rỉ môi chất độc trongbình chứa, …
1.1.4 Nguy cơ của chất thải y tế đối với môi trường
Chất thải từ các cơ sở y tế không được xử lý đúng cách sẽ dẫn đến ô nhiễmmôi trường đất, nước, không khí, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người và hệsinh thái Theo báo cáo môi trường Quốc gia năm 2011 thì khối lượng chất thải rắn
y tế nguy hại xử lý không đạt tiêu chuẩn là 32,0%, đây là một con số báo động
1.1.4.1 Nguy cơ đối với môi trường nước
Nguồn nước có thể bị nhiễm bẩn do các chất độc hại có trong chất thải bệnhviện Chúng có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh Chúng có thể chứa kim loại nặng,phần lớn là thủy ngân từ nhiệt kế và bạc từ quá trình tráng rửa phim X quang Một
Trang 11số dược phẩm nhất định, nếu xả thải mà không xử lý có thể gây nhiễm độc nguồnnước cấp Bên cạnh đó, việc xả thải bừa bãi chất thải lâm sàng, ví dụ xả chung chấtthải lây nhiễm vào chất thải thông thường, có thể tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễmnguồn nước do làm tăng BOD
1.1.4.2 Nguy cơ đối với môi trường đất
Tiêu hủy không an toàn chất thải nguy hại như tro lò đốt hay bùn của hệthống xử lý nước thải rất có vấn đề khi các chất gây ô nhiễm từ bãi rác có khả năng
rò thoát ra, gây ô nhiễm đất và nguồn nước, và cuối cùng là tác động tới sức khỏecộng đồng trong dài hạn
1.1.4.3 Nguy cơ đối với môi trường không khí
Nguy cơ ô nhiễm không khí tăng lên khi phần lớn chất thải nguy hại đượcthiêu đốt trong điều kiện không lý tưởng Việc thiêu đốt không đủ nhiệt độ trong khirác thải đưa vào quá nhiều sẽ gây ra nhiều khói đen Việc đốt chất thải y tế đựngtrong túi nilon PVC, cùng với các loại dược phẩm nhất định, có thể tạo ra khí axit,thường là HCl and SO2 Trong quá trình đốt các dẫn xuất halogen (F, Cl, Br, I, …) ởnhiệt độ thấp, thường tạo ra axit như hydrochloride (HCl) Điều đó dẫn đến nguy cơtạo thành đioxin, một loại hóa chất vô cùng độc hại, ngay cả ở nồng độ thấp Cáckim loại nặng, như thủy ngân, có thể phát thải theo khí lò đốt
1.1.5 Chất thải y tế và sự nhạy cảm của cộng đồng
Công chúng và cộng đồng xung quanh bệnh viện rất nhạy cảm với những tácđộng thị giác của chất thải giải phẫu và việc vận hành kém lò đốt có thể dẫn đến xả
ra khí thải gây khó chịu cho nhà dân xung quanh
1.2 Quản lý chất thải rắn y tế tại các cơ sở y tế
1.2.1 Phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu trữ chất thải rắn tại các cơ sở y tế
1.2.1.1 Phân loại và thu gom
Theo quy định của Bộ Y tế:
Người làm phát sinh chất thải phải thực hiện phân loại ngay tại nơi phát sinhchất thải và từng loại chất thải phải đựng trong các túi và thùng có mã màu kèmbiểu tượng theo đúng quy định
Trang 12Về công tác thu gom chất thải rắn trong cơ sở y tế, mỗi khoa, phòng phảiđịnh rõ vị trí đặt thùng đựng chất thải y tế cho từng loại chất thải, nơi phát sinh chấtthải phải có loại thùng thu gom tương ứng
Nơi đặt thùng đựng chất thải phải có hướng dẫn cách phân loại và thu gom Sử dụng thùng đựng chất thải theo đúng tiêu chuẩn quy định và phải được
vệ sinh hàng ngày Túi sạch thu gom chất thải phải luôn có sẵn tại nơi chất thải phátsinh để thay thế cho túi cùng loại đã được thu gom chuyển về nơi lưu giữ tạm thờichất thải của cơ sở y tế Mỗi loại chất thải được thu gom vào các dụng cụ thu gomtheo mã màu quy định:
- Màu vàng đựng chất thải lây nhiễm
- Màu đen đựng chất thải hóa học nguy hại và chất thải phóng xạ
- Màu xanh đựng chất thải thông thường và các bình áp suất nhỏ
- Màu trắng đựng chất thải tái chế
Các CTYT nguy hại không được để lẫn trong chất thải thông thường Nếu vôtình để lẫn chất thải y tế nguy hại vào chất thải thông thường thì hỗn hợp chất thải
đó phải được xử lý và tiêu hủy như chất thải y tế nguy hại
Lượng chất thải chứa trong túi đầy tới 3/4 túi, sau đó buộc cổ túi lại
Tần suất thu gom: Hộ lý hoặc nhân viên được phân công hàng ngày chịutrách nhiệm thu gom các chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường từ nơichất thải phát sinh về nơi tập trung chất thải của khoa ít nhất 1 lần trong ngày và khicần
Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao trước khi thu gom về nơi tập trung chấtthải của CSYT phải được xử lý ban đầu tại nơi phát sinh chất thải
1.2.1.2 Vận chuyển và lưu giữ chất thải rắn trong cơ sở y tế
Chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường phát sinh tại các khoa,phòng phải được vận chuyển riêng về nơi lưu giữ chất thải của cơ sở y tế ít nhất mộtlần một ngày và khi cần
Cơ sở y tế phải quy định đường vận chuyển và giờ vận chuyển chất thải.Tránh vận chuyển chất thải qua các khu vực chăm sóc người bệnh và các khu vựcsạch khác
Trang 13Túi chất thải phải buộc kín miệng và được vận chuyển bằng xe chuyên dụng;không được làm rơi vãi chất thải, nước thải và phát tán mùi hôi trong quá trình vậnchuyển
Chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường phải lưu giữ trong cácbuồng riêng biệt Chất thải để tái sử dụng, tái chế phải được lưu giữ riêng Nơi lưugiữ chất thải tại các cơ sở y tế phải có đủ các điều kiện sau:
- Cách xa nhà ăn, buồng bệnh, lối đi công cộng và khu vực tập trung đôngngười tối thiểu là 10 mét
- Có đường để xe chuyên chở chất thải từ bên ngoài đến
Nhà lưu giữ chất thải phải có mái che, có hàng rào bảo vệ, có cửa và có khóa.Không để súc vật, các loài gậm nhấm và người không có nhiệm vụ tự do xâm nhập.Diện tích lưu giữ phù hợp với lượng chất thải phát sinh của cơ sở y tế Có phươngtiện rửa tay, phương tiện bảo hộ cho nhân viên, có dụng cụ, hóa chất làm vệ sinh
Có hệ thống cống thoát nước, tường và nền chống thấm, thông khí tốt Khuyến khíchcác cơ sở y tế lưu giữ chất thải trong nhà có bảo quản lạnh
Thời gian lưu giữ chất thải y tế nguy hại tại cơ sở y tế: Thời gian lưu giữ chấtthải trong các cơ sở y tế không quá 48 giờ Lưu giữ chất thải trong nhà bảo quảnlạnh hoặc thùng lạnh: thời gian lưu giữ có thể đến 72 giờ Chất thải giải phẫu phảichuyển đi chôn hoặc tiêu hủy hàng ngày Đối với các cơ sở y tế có lượng chất thải y
tế nguy hại phát sinh dưới 5 kg/ngày, thời gian thu gom tối thiểu hai lần trong mộttuần
1.2.2 Vận chuyển chất thải rắn y tế ra ngoài cơ sở y tế
1.2.2.1 Vận chuyển
Các cơ sở y tế ký hợp đồng với cơ sở có tư cách pháp nhân trong việc vậnchuyển và tiêu hủy chất thải Trường hợp địa phương chưa có cơ sở đủ tư cách phápnhân vận chuyển và tiêu hủy chất thải y tế thì cơ sở y tế phải báo cáo với chínhquyền địa phương để giải quyết
Chất thải y tế nguy hại phải được vận chuyển bằng phương tiện chuyên dụngbảo đảm vệ sinh, đáp ứng yêu cầu tại Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ngày 26tháng 12 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn điều kiện hành
Trang 14nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thảinguy hại
Chất thải y tế nguy hại trước khi vận chuyển tới nơi tiêu hủy phải được đónggói trong các thùng để tránh bị bục hoặc vỡ trên đường vận chuyển
Chất thải giải phẫu phải đựng trong hai lượt túi màu vàng, đóng riêng trongthùng hoặc hộp, dán kín nắp và ghi nhãn “Chất thải giải phẫu” trước khi vận chuyển
đi tiêu hủy
1.2.2.2 Hồ sơ theo dõi và vận chuyển chất thải
Mỗi cơ sở y tế phải có hệ thống sổ theo dõi lượng chất thải phát sinh hàngngày; có chứng từ chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường được chuyển đitiêu hủy theo mẫu quy định tại Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ngày 26 tháng 12năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủtục hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại
1.2.3 Các phương pháp xử lý chất thải y tế
1.2.3.1 Phương pháp xử lý ban đầu chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao
Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phải được xử lý an toàn ở gần nơi chấtthải phát sinh Phương pháp xử lý ban đầu chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao có thể
áp dụng một trong các phương pháp sau:
Phương pháp thứ nhất là khử khuẩn bằng hoá chất: Ngâm chất thải có nguy
cơ lây nhiễm cao trong dung dịch Cloramin B 1-2%, Javen 1-2% trong thời gian tốithiểu 30 phút hoặc các hoá chất khử khuẩn khác theo hướng dẫn sử dụng của nhàsản xuất và theo quy định của Bộ Y tế
Phương pháp thứ hai là khử khuẩn bằng hơi nóng: Cho chất thải có nguy cơlây nhiễm cao vào trong máy khử khuẩn bằng hơi nóng và vận hành theo đúnghướng dẫn của nhà sản xuất, hoặc đun sôi liên tục trong thời gian tối thiểu 15 phút.Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao sau khi xử lý ban đầu có thể đem chôn hoặc chovào túi nilon màu vàng để hoà vào chất thải lây nhiễm Trường hợp chất thải nàyđược xử lý ban đầu bằng phương pháp tiệt khuẩn bằng nhiệt ướt, vi sóng hoặc cáccông nghệ hiện đại khác đạt tiêu chuẩn thì sau đó có thể xử lý như chất thải thôngthường và có thể tái chế
Trang 151.2.3.2 Phương pháp xử lý và tiêu huỷ chất thải lây nhiễm
Chất thải lây nhiễm có thể xử lý và tiêu huỷ bằng một trong các phương phápsau:
- Khử khuẩn bằng nhiệt ướt (autoclave)
- Khử khuẩn bằng vi sóng
- Thiêu đốt
- Chôn lấp hợp vệ sinh: Chỉ áp dụng tạm thời đối với các cơ sở y tế các tỉnhmiền núi và trung du chưa có cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại đạt tiêu chuẩn tạiđịa phương Hố chôn lấp tại địa điểm theo quy định của chính quyền và được sựchấp thuận của cơ quan quản lý môi trường tại địa phương Hố chôn lấp phải đápứng các yêu cầu: có hàng rào vây quanh, cách xa giếng nước, xa nhà tối thiểu 100
m, đáy hố cách mức nước bề mặt tối thiểu 1,5 mét, miệng hố nhô cao và che tạmthời để tránh nước mưa, mỗi lần chôn chất thải phải đổ lên trên mặt hố 3 lớp đấtdầy từ 10-25 cm và lớp đất trên cùng dầy 0,5 mét Không chôn chất thải lây nhiễmlẫn với chất thải thông thường Chất thải lây nhiễm phải được khử khuẩn trước khichôn lấp
Trường hợp chất thải lây nhiễm được xử lý bằng phương pháp tiệt khuẩnbằng nhiệt ướt, vi sóng và các công nghệ hiện đại khác đạt tiêu chuẩn thì sau đó cóthể xử lý, tái chế, tiêu huỷ như chất thải thông thường
1.2.3.3 Phương pháp xử lý chất thải sắc nhọn
Có thể áp dụng một trong các phương pháp tiêu huỷ như sau: Thiêu đốt trong
lò đốt chuyên dụng cùng với chất thải lây nhiễm khác hoặc chôn trực tiếp trong các
hố xây xi măng chuyên dùng để chôn vật sắc nhọn: hố có đáy, có thành và có nắpđậy bằng bê tông
1.2.3.4 Phương pháp xử lý chất thải giải phẫu
Trang 16Có thể áp dụng một trong các phương pháp sau: Xử lý và tiêu huỷ giống nhưcác chất thải lây nhiễm đã nêu ở trên; bọc trong hai lớp túi màu vàng, đóng thùng vàđưa đi chôn ở nghĩa trang; hoặc chôn trong hố bê tông có đáy và nắp kín
1.2.3.5 Phương pháp xử lý, tiêu hủy chất thải hoá học
Các phương pháp chung để xử lý, tiêu hủy chất thải hoá học nguy hại: Trả lạinhà cung cấp theo hợp đồng; thiêu đốt trong lò đốt có nhiệt độ cao; phá huỷ bằngphương pháp trung hoà hoặc thuỷ phân kiềm; hoặc trơ hoá trước khi chôn lấp: trộnlẫn chất thải với xi măng và một số vật liệu khác để cố định các chất độc hại cótrong chất thải Tỷ lệ các chất pha trộn như sau: 65% chất thải dược phẩm, hoá học,15% vôi, 15% xi măng, 5% nước, sau khi tạo thành một khối đồng nhất dưới dạngcục thì đem đi chôn
1.2.3.6 Phương pháp xử lý và tiêu hủy chất thải dược phẩm
Có các phương pháp xử lý như thiêu đốt cùng với chất thải lây nhiễm nếu có
lò đốt; chôn lấp tại bãi chôn lấp chất thải nguy hại; trơ hoá; chất thải dược phẩmdạng lỏng được pha loãng và thải vào hệ thống xử lý nước thải của cơ sở y tế
1.2.3.7 Phương pháp xử lý và tiêu hủy chất thải gây độc tế bào
Trả lại nhà cung cấp theo hợp đồng
Thiêu đốt trong lò đốt có nhiệt độ cao (Phụ lục 2: Một số thuốc gây độc tếbào thường sử dụng trong y tế và nhiệt độ tối thiểu để tiêu huỷ chất gây độc tế bào)
Sử dụng một số chất oxy hoá như KMnO4, H2SO4, giáng hoá các chất gâyđộc tế bào thành hợp chất không nguy hại
Trơ hoá sau đó chôn lấp tại bãi chôn lấp chất thải tập trung
1.2.3.8 Phương pháp xử lý và tiêu hủy chất thải chứa kim loại nặng
Trả lại nhà sản xuất để thu hồi kim loại nặng
Tiêu huỷ tại nơi tiêu huỷ an toàn chất thải công nghiệp
Nếu 2 phương pháp trên không thực hiện được, có thể áp dụng phương phápđóng gói kín bằng cách cho chất thải vào các thùng, hộp bằng kim loại hoặc nhựapolyethylen có tỷ trọng cao, sau đó thêm các chất cố định (xi măng, vôi cát), để khô
và đóng kín, sau đó có thể thải ra bãi rác thải chung
1.2.3.9 Phương pháp xử lý và tiêu hủy chất thải phóng xạ
Trang 17CSYT sử dụng các chất phóng xạ, dụng cụ thiết bị liên quan đến chất phóng
xạ phải tuân theo các quy định hiện hành của pháp luật về an toàn bức xạ
Chất thải phóng xạ phải được quản lý bảo đảm an toàn cho con người và môitrường kể từ khi phát sinh cho đến khi được phép thải bỏ như chất thải không nguyhại hoặc chôn cất hoặc tái chế đối với vật thể nhiễm bẩn phóng xạ là kim loại.Nguồn phóng xạ đã qua sửr dụng phải được quản lý bảo đảm an toàn cho con người
và môi trường cho đến khi được chuyển trả cho nhà sản xuất, nhà cung cấp nướcngoài hoặc chôn cất .
1.2.3.10 Phương pháp xử lý và tiêu hủy các bình áp suất
Có thể áp dụng một trong các phương pháp sau: Trả lại nơi sản xuất; tái sửdụng; chôn lấp thông thường đối với các bình áp suất có thể tích nhỏ
Phương tiện bảo hộ lao động thô sơ, phương tiện vận chuyển chất thải từkhoa phòng đến lò đốt chưa đảm bảo, chủ yếu là khiêng và xách bằng tay, chưa có xechuyên dùng Các bệnh viện có trang bị lò đốt phần lớn đều sử dụng lò đốt thủ cônghoặc không đảm bảo các chỉ tiêu về khói thải của lò đốt theo các tiêu chuẩn về môitrường
Trang 18Sơ đồ 1.1 Các khâu trong xử lý chất thải rắn y tế
Mọi chất thải phát sinh trong môi trường bệnh viện cần được quản lý theođúng "Quy chế quản lý chất thải” do Bộ Y Tế ban hành 30/11/2007 nhằm làm giảmthiểu các nguy cơ lây nhiễm sang người bệnh, nhân viên y tế và ra ngoài cộng đồng
từ các chất thải lây nhiễm trong bệnh viện Người làm phát sinh chất thải phải tiếnhành phân loại ngay, thu gom, vận chuyển, xử lý và thải bỏ vào đúng nơi, vào đúngcác phương tiện đã quy định
1.3 Thực trạng về quản lý chất thải y tế trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Thực trạng về quản lý chất thải y tế trên thế giới
Chất thải y tế là các loại chất thải phát sinh ra từ các hoạt động chăm sóc sứckhỏe Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới, ước tính có 80% chất thải ở bệnh việngiống chất thải phát sinh từ hộ gia đình hoặc các loại chất thải đô thị và chúngkhông gây nguy hiểm Còn lại 20% được xem là các loại chất thải truyền nhiễm,độc hại và có thể là chất phóng xạ,… Mỗi năm ước tính có khoảng 16.000 triệubơm kiêm tiêm được quản lý trên toàn thế giới, nhưng không phải bơm kim tiêmnào cũng được xử lý đúng cách
Lượng chất thải y tế phát sinh thì phụ thuộc vào mức thu nhập của quốc gia
và loại trang thiết bị sử dụng Nhìn chung, các nước thu nhập trung bình và thấp cólượng chất thải y tế phát sinh thấp hơn nhiều so với các nước thu nhập cao Theothống kê, một giường bệnh phát sinh 10kg chất thải mỗi ngày ở một bệnh viện tạinước có thu nhập cao Ước tình của WHO, trung bính mỗi ngày mỗi giường bệnhphát sinh 0,5 kg chất thải nguy hại, ở các nước thu nhập thấp thì con số thống kêthấp hơn nhiều, trung bình khoảng 0,2kg/giường/ngày Lượng chất thải y tế phátsinh một giường bệnh mỗi ngày tại Bắc Mỹ từ 7-10kg, Tây Âu là 3-6kg, TrungĐông từ 1,3-3kg, Mỹ Latin từ 3kg, Ấn Độ là 1-2kg, Đông Âu là 1,4-2kg, Đông Á2,5-4kg ở nước thu nhập cao và 1,8-2,2kg ở nước thu nhập trung bình ,
Xuất phát từ thực trạng trên, việc quản lý chất thải y tế được các nhà chínhsách trên toàn thế giới quan tâm Việc quản lý toàn diện các chất thải phát sinh từcác hoạt động chăm sóc sức khỏe đã được WHO khởi xướng phát hành tài liệuhướng dẫn từ năm 1999 Cụ thể, nhiều quốc gia đang xây dựng kế hoạch quản lý
Trang 19chất thải rắn y tế Liên minh về vaccine và tiêm chủng toàn cầu đã kết hợp với tổchức y tế thế giới từ năm 2006 thực hiện một dự án nhằm giúp 72 quốc gia áp dụngcác chính sách, chiến lược và kế hoạch quản lý chất thải phát sinh trong các hoạtđộng chăm sóc sức khỏe
Tại các nước Đông Nam Á, các quốc gia thuộc khu vực này cũng đang đốimặt với các thách thức đáng kể tồn tại liên quan đến việc quản lý thích hợp và xử lýtốt chất thải y tế Lượng chất thải y tế ngày càng tăng liên tục Trước đây, chất thải
y tế đa số được xử lý theo hình thức đốt, hiện nay hệ thống quản lý phát triển toàndiện hơn vì có hệ thống xử lý chất thải y tế Dự án phát triển trong lĩnh vực chất thải
y tế được tập trung tại 3 nước là Lào, Indonesia và Việt Nam
Mặc dù có nhiều chiến lược đưa ra nhằm giải quyết mối nguy hại từ chất thải
y tế và quản lý tốt hơn nhưng việc quản lý chất thải y tế chưa thật sự thành công Lý
do của sự thất bài này là do thiếu nhận thức về nguy cơ sức khỏe liên quan đến chấtthải y tế, chưa đào tạo đầy đủ về quản lý chất thải y tế, thiếu hệ thống quản lý và xử
lý chất thải y tế, thiếu nguồn nhân lực và kinh phí
Một số mối đe dọa sức khỏe cộng đồng do thất bại trong quản lý chất thải y tế
đã xảy ra tại Ấn Độ Trong tháng 3 năm 2009, 240 người ở bang Gujarat, Ấn Độ bịnhiễm viêm gan B do các dịch vụ chăm sóc y tế với ống tiêm đã sử dụng trước đâyqua việc buôn bán chợ đen của chất thải y tế không được kiểm soát Một nghiên cứudịch tễ học lâm sàng năm 2004 được thực hiện ở Ấn Độ cho thấy hơn 30% trong 3-6
tỷ lượt tiêm mỗi năm tại Ấn Độ được thực hiện với thiết bị đã qua sử dụng, chiếmgần 10% việc thực hiện các hoạt động này của các cơ sở y tế trên toàn quốc
Trong tháng mười năm 2008, các sản phẩm phụ của một chiến dịch tiêmphòng đại trà 1,6 triệu vácxin chống bệnh bại liệt đã được thải chung vào rác thải đôthị ở Kabul, Afghanistan, gây thương tật, các bệnh truyền nhiễm cho những ngườinhặt rác tại đây Các điều tra tiếp theo cho thấy Afghanistan thiếu các quy định về antoàn về quản lý chất thải y tế và hơn 60 bệnh viện ở Kabul không có khả năng đốthoặc sử dụng các thiết bị sử lý rác thải y tế thiết yếu khác
Công tác quản lý chất thải y tế tại các quốc gia trên thế giới rất đa dạng Cácyếu tố tạo nên sự khác biệt trong quản lý chất thải rắn y tế đó có thể là sự hỗ trợ
Trang 20kinh phí, công nghệ, vật lực trong quản lý chất thải y tế của một quốc gia, mức độtham gia của các đơn vị hay trong công tác phối hợp thực hiện của cơ quan có liênquan Ở một cấp độ cao hơn đó là sự khác biệt về mặt pháp luật và thực thi phápluật của các đơn vị có liên quan trong công tác quản lý chất thải y tế.
1.3.2 Thực trạng về quản lý chất thải y tế tại Việt Nam
Theo nghiên cứu điều tra mới nhất của Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế vàViện Kiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn - Bộ Xây dựng, năm 2009-2010,tổng lượng CTR y tế trong toàn quốc khoảng 100-140 tấn/ngày, trong đó có 16-30tấn/ngày là CTR y tế nguy hại Lượng CTR trung bình là 0,86 kg/giường/ngày,trong đó CTR y tế nguy hại tính trung bình là 0,14 - 0,2 kg/giường/ngày CTR y tếphát sinh ngày càng gia tăng ở hầu hết các địa phương, xuất phát từ một số nguyênnhân như: gia tăng số lượng cơ sở y tế và tăng số giường bệnh; tăng cường sử dụngcác sản phẩm dùng một lần trong y tế; dân số gia tăng, người dân ngày càng đượctiếp cận nhiều hơn với dịch vụ y tế
Tính riêng cho 36 bệnh viện thuộc Bộ Y tế quản lý, theo khảo sát năm 2009,tổng lượng CTR y tế phát sinh trong 1 ngày là 31,68 tấn, trung bình là 1,53kg/giường/ngày Lượng chất thải phát sinh tính theo giường bệnh cao nhất là bệnhviện Chợ Rẫy 3,72 kg/giường/ngày, thấp nhất là bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồichức năng Trung ương và bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 với 0,01kg/giường/ngày Lượng CTR y tế phát sinh trong ngày khác nhau giữa các bệnhviện tùy thuộc số giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa hay đa khoa, các thủ thuậtchuyên môn được thực hiện tại bệnh viện, số lượng vật tư tiêu hao được sử dụng, …
Trang 21Bảng 1.1 Khối lượng chất thải y tế một số địa phương năm 2009
Số lượng rác thải y tế phát sinh nhiều nhất tại các đô thị loại đặc biệt, ở thànhphố Hồ Chí Minh là 2800 tấn/năm, Hà Nội khoảng 5.000 tấn/năm Điều này có thể
do ở các thành phố này mật độ dân số cao và tập trung các bệnh viện lớn nhất cảnước về số giường bệnh cũng như các kỹ thuật chuyên sâu để giải quyết ca bệnhkhó ở các tuyến dưới chuyển lên Trong báo cáo môi trường Quốc gia năm 2011 của
Bộ Y tế cho thấy khối lượng CTR y tế nguy hại được xử lý đạt tiêu chuẩn chiếm68% tổng lượng phát sinh CTR y tế nguy hại trên toàn quốc CTR y tế xử lý khôngđạt chuẩn (32%) là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏecộng đồng Các thành phố lớn như Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội đã có xí nghiệp xử
lý CTR y tế nguy hại vận hành tốt, tổ chức thu gom và xử lý, tiêu huỷ CTR y tếnguy hại cho toàn bộ cơ sở y tế trên địa bàn CTR y tế nguy hại của các tỉnh, thành
Trang 22phố khác hiện được xử lý và tiêu huỷ với các mức độ khác nhau: một số địa phươngnhư Thái Nguyên, Hải Phòng, Cần Thơ đã tận dụng tốt lò đốt trang bị cho cụm bệnhviện, chủ động chuyển giao lò đốt cho công ty môi trường đô thị tổ chức vận hành
và thu gom xử lý CTR y tế nguy hại cho toàn tỉnh, thành phố; Nghệ An có lò đốt đặttại bệnh viện tỉnh xử lý CTR y tế nguy hại cho các bệnh viện khác thuộc địa bànthành phố, thị xã Một số thành phố lớn đã bố trí lò đốt CTR y tế nguy hại tập trungtại khu xử lý chung của thành phố Tỷ lệ lò đốt CTR y tế phân tán được vận hành tốtchỉ chiếm khoảng xấp xỉ 50% số lò được trang bị, có vùng chỉ đạt 20% Nếu xétmức độ xử lý của các cơ sở y tế theo tuyến trung ương và địa phương, các sở sở trựcthuộc Bộ Y tế có mức độ đầu tư xử lý CTR y tế nguy hại cao hơn hẳn các cơ sởtuyến địa phương Bên cạnh lí do về công nghệ và trình độ quản lý, thì thiếu kinhphí vận hành là yếu tố quan trọng dẫn đến các lò đốt hoạt động phân tán không đạthiệu quả
Theo báo cáo môi trường Quốc gia năm 2011 về thực trạng phân loại, thugom và xử lý chất thải rắn y tế có 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thảitrong đó 91,1% đã sử dụng dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn Tuy nhiên vẫn còn cóhiện tượng phân loại nhầm chất thải, một số loại chất thải thông thường được đưavào chất thải y tế nguy hại gây tốn kém trong việc xử lý Có 63,6% sử dụng túinhựa làm bằng nhựa PE, PP nhưng chỉ có 29,3% sử dụng túi có thành dày theođúng quy chế Chất thải y tế đã được chứa trong các thùng đựng chất thải nhưng cácbệnh viện có các mức độ đáp ứng yêu cầu khác nhau, chỉ có một số ít bệnh viện cóthùng đựng chất thải theo đúng quy chế (bệnh viện trung ương và bệnh viện tỉnh).Hầu hết ở các bệnh viện (90,9%) CTR được thu gom hàng ngày, một số bệnh viện
có diện tích chật hẹp nên gặp khó khăn trong việc thiết kế lối đi riêng để vận chuyểnchất thải Chỉ có 53% số bệnh viện chất thải được vận chuyển trong xe có nắp đậy
Có 53,4% bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải có mái che, trong đó có 45,3% đạt yêucầu theo quy chế quản lý chất thải y tế
Bảng 1.2: Thực trạng các trang thiết bị thu gom lưu giữ CTR y tế tại một số thành phố
Trang 23Phương tiện thu gom chất thải còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạttiêu chuẩn Nguyên nhân do có rất ít nhà sản xuất quan tâm đến mặt hàng này, dovậy mua sắm phương tiện thu gom CTR đúng tiêu chuẩn của các bệnh viện gặp khókhăn Các cơ sở y tế của 5 thành phố điển hình là Hải Phòng, Hà Nội, Huế, ĐàNẵng và thành phố Hồ Chí Minh, hầu hết các bệnh viện sử dụng thùng nhựa cóbánh xe, xe tay, các dụng cụ vận chuyển bằng tay khác Một số khu vực lưu trữCTR trước khi xử lý tại chỗ hoặc tại các khu vực xử lý bên ngoài được trang bị điềuhoà và hệ thống thông gió theo Quy định Nhìn chung các phương tiện vận chuyểnchất thải y tế còn thiếu, đặc biệt là các xe chuyên dụng Hoạt động vận chuyển chấtthải y tế nguy hại từ bệnh viện, cơ sở y tế đến nơi xử lý, chôn lấp hầu hết do Công
ty môi trường đô thị đảm nhiệm, không có các trang thiết bị đảm bảo cho quá trìnhvận chuyển được an toàn
Kết quả nghiên cứu của Hoàng Thị Thúy và Phan Mạnh Tường về thực trạngquản lý chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa Đông Anh, Hà Nội năm 2011 cho thấytại các vị trí quan sát ở các khoa lâm sàng có 12,5% túi đựng chất thải đủ màu sắc,12,5% có phương tiện đựng chất thải theo quy định Kết quả nghiên cứu cũng chothấy hoạt động phân loại chất thải rắn ngay tại nơi phát sinh, phân loại bơm kimtiêm, chất thải lây nhiễm không sắc nhọn, chất thải sinh hoạt đều đạt 100,0%, tuynhiên phân loại các loại chất thải sắc nhọn khác chỉ đạt 19,6%, phân loại chất thảitái chế đạt 7,1% Về việc thu gom chất thải rắn y tế, tất cả các khoa đều có thùngthu gom tương ứng nhưng việc thực hiện thu gom riêng chỉ đạt 66,1% và thu gom
Trang 24đúng lượng chất thải đầy ¾ túi chỉ đạt 70,1% Hầu hết chất thải tại các khoa lâmsàng đều được vận chuyển ≥ 1 lần/ngày nhưng buộc kín miệng túi khi thu gom chỉđạt 53,6%, không làm rơi vãi chất thải chỉ đạt 94,6%, không có xe vận chuyển vàđường quy định riêng Về việc lưu trữ chất thải rắn y tế, 100,0% chất thải được lưutrữ trong phòng riêng biệt tại kho lưu trữ tập trung của bệnh viện, thời gian lưu trữđúng quy định đạt 71,4% Kết quả quan sát khu vực tập trung lưu trữ chất thải củabệnh viện cho thấy khu lưu trữ gần khu vực nhà xe, lối đi của nhân viên, các loàicon trùng, gặm nhấm vẫn có thể xâm nhập vào kho lưu trữ, chưa có phương tiện rửatay cho nhân viên, chưa có nhà bảo quản lạnh
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Dung về thực trạng công tác quản lý chấtthải y tế tại một số bệnh viện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên năm 2011 cho thấy vềcông tác phân loại tại 03 bệnh viện tuyến huyện chỉ đạt tỷ lệ rất thấp từ 35%-40%
so với quy định đề ra So sánh với các bệnh viên tuyến tỉnh thì công tác này ít đượcquan tâm và kết quả thực hiện kém hơn nhiều (Bệnh viện C mức độ chấp hành tínhtrung bình lên đến hơn 70%, …) Về công tác vận chuyển chất thải chỉ có bệnh viện
C là có mức độ tuân thủ tương đối tốt, còn bệnh viện A và bệnh viện Gang Thép và
3 bệnh viện tuyến huyện thì rất kém Về công tác xử lý chất thải rắn kết quả chothấy bệnh viện A và bệnh viện Gang Thép có tình trạng giống nhau, tức là sau khichuyển chất thải cho đơn vị ký hợp đồng, họ phó mặc hết tất cả cho đơn vị này vàkhông còn tiếp tục kiểm soát nữa Còn đối với các bệnh viện tuyến huyện việc xử lýthủ công ngay trong khuân viên bệnh viện đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh môi trường.Đánh giá về công tác lưu giữ chất thải có thể thấy rằng các đơn vị tại địa phươngthường có diện tích mặt bẳng lớn nên việc dành 1 phần diện tích cho việc lưu giữchất thải không phải là khó khăn Việc tuân thủ theo quy định này cũng rất tốt đốivới 3 bệnh viện tuyến tỉnh Còn đối với 3 bệnh viện tuyến huyện là rất kém
Nghiên cứu của Hoàng Thị Liên về thực trạng quản lý chất thải y tế tại bệnhviện đa khoa trung ương Thái Nguyên năm 2009 cho thấy bệnh viện đã thực hiệnviệc thu gom, phân loại chất thải theo quy định nhưng chất lượng thực hiện thu gomcòn hạn chế, phân loại sai mã màu, thường xuyên chứa đầy rác trong các thùng, còn
để lẫn chất thải thông thường với chất thải y tế nguy hại, tỷ lệ điểm đạt/tổng điểm
Trang 25quy chuẩn đạt mức khá (64,3%) Chất thải y tế được vận chuyển, lưu giữ hàng ngàytheo quy định nhưng chưa tốt, còn có một số hạn chế như còn để rơi vãi rác và để rò
rỉ nước rác ra đường khi vận chuyển và bốc mùi hôi, tỷ lệ điểm đạt/tổng điểm quychuẩn đạt mức trung bình (51,9%) Công tác xử lý chất thải y tế của bệnh viện thựchiện tốt, chất thải y tế đã được vận chuyển đi xử lý hợp vệ sinh, tỷ lệ điểm đạt/tổngđiểm quy chuẩn đạt mức 95,7%
Nghiên cứu của Phan Thanh Lam và cộng sự thực trạng quản lý chất thải rắn
y tế tại các trạm y tế thuộc trung tâm y tế huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2013 chothấy công tác quản lý thải rắn y tế tại các khoa, phòng khám, trạm y tế chưa đáp ứngđầy đủ các tiêu chí trong Quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế ban hành theoquyết định số 43/2007/QĐ-BYT Trang thiết bị, phương tiện, dụng cụ chứa đựng,thu gom chất thải rắn y tế được cung ứng đầy đủ nhưng chưa đúng theo tiêu chuẩnquy định của Bộ Y tế như túi đựng chất thải đủ màu sắc theo quy định đạt 25,0%,thùng thu gom có nắp đóng mở bằng đạp chat đạt 68,2%, thùng thu gom đủ màu sắctheo quy định đạt 9,1%, mặt ngoài thùng có biểu tượng chỉ loại chất thải đạt 63,6%.Tất cả các trạm y tế có đủ dụng cụ đựng chất thải sắc nhọn đạt tiêu chuẩn Các chấtthải rắn y tế đều được phân loại ngay tại nguồn phát sinh, phân loại đúng chất thảilây nhiễm không sắc nhọn đạt 77,3%, bơm kim tiêm đạt 97,7%, chất thải thôngthường đạt 95,5%, chất thải tái chế đạt 13,6%, chất thải hóa học dược phẩm đạt9,1% Tỷ lệ phân loại các chất thải thấp có thể do Trung tâm cung ứng chưa đủ túinilon và thùng rác đúng quy định Thu gom chất riêng các loại chất thải đạt 59%, đã
có bảng hướng dẫn tại nơi thu gom Vận chuyển chất thải đúng tần suất đạt 63,6%,
có quy định đường vận chuyển đạt 45,5% Các đơn vị đều có nơi lưu giữ riêng chấtthải nhưng đều không đạt tiêu chuẩn Thời gian lưu giữ tại nơi tập trung chưa đảmbảo đúng quy định là 40,9% Xử lý, tiêu hủy chất thải lây nhiễm không sắc nhọn,chất thải sắc nhọn và chất thải thông thường thực hiện tốt Xử lý đúng chất thải hóahọc, dược phẩm chưa cao
1.4 Các nghiên cứu kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan về quản lý chất thải y tế
Trang 26Theo nghiên cứu của Suwarna Madhukumar, tại Bangalore năm 2011 kiếnthức về quản lý chất thải y tế của y tá nhìn chung tốt hơn so với các nhân viên khác(bác sĩ, thực tập sinh, y tá kỹ thuật viên và các nhân viên khác), cụ thể, kiến thứcđúng về phân loại và xử lý chất thải y tế chính xác, y tá chiếm 81,9%; bác sĩ là76,8%, 38,5% là thực tập sinh; 27,3% kỹ thuật viên có kiến thức đúng Đa số cáccán bộ y tế có kiến thức đúng về các vấn đề sức khỏe gây ra bởi chất thải y tế, trong
đó cao nhất là y tá với 38,8% 32,9% không biết các quy định của pháp luật về chấtthải y tế Kiến thức đúng liên quan đến màu sắc trong phân loại chất thải y tế tạinguồn là 96,1%, 88,8% đối tượng có nhận thức đúng về quản lý và xử lý đúng cáchđối với chất thải lỏng Về thái độ, 82% đồng ý việc quản lý đúng cách chất thải y tế
là có lợi, 63,6% cam kết là họ sẽ hợp tác trong quản lý chất thải y tế toàn diện,91,5% y tá có thái độ tốt trong phân loại, xử lý và thực hiện theo quy định quản lýchất thải y tế Về thực hành, y tá có thực hành quản lý chất thải y tế tốt nhất Tạicác tỉnh Free State Đông Bắc, Nam Phi, 10 bệnh viện được chọn để khảo sát thựctrạng quản lý chất thải y tế, thông qua khảo sát trên 138 nhân viên y tế trong 6tháng Nhìn chung, các nhân viên y tế không thực hiện đúng quy định hướng dẫn,quản lý chất thải y tế không được ưu tiên quan tâm tại các bệnh viện này, ngân sáchdành cho quản lý chất thải y tế không đủ Những kết quả này đề ra một yêu cầu cấpthiết là cần tăng cường nhận thức của cán bộ quản lý tốt hơn là đào tạo cho các nhân
Trang 27viên Bởi vì các nhà lãnh đạo có quyền quyết định các chính sách và chiến lược ưutiên tại cơ sở của họ quản lý
Một khảo sát của WHO đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành về quản lýchất thải y tế của các nhà cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, khảo sát trên
110 bác sĩ, 151 y tá và 89 nhà quản lý y tế Kết quả ghi nhận các nhà quản lý cóhiểu biết về chính sách của bệnh viện và hệ thống xử lý chất thải nhưng kém chi tiết
về quy trình xử lý chất thải y tế nhiều hơn bác sĩ và y tá Về thái độ, các quản lý cóthái độ tốt hơn 2 nhóm còn lại Đánh giá thực hành quản lý chất thải y tế trên 2nhóm là y tá và bác sĩ, nhóm y tá có thực hành tốt hơn nhóm bác sĩ, 84% so với67,3% Hình thức đào tạo và thời gian công tác không lien quan đến kiến thức, thái
độ và thực hành quản lý chất thải y tế, ngoại trừ trường hợp so sánh giữa nhóm y tá
có kinh nghiệm làm việc lâu dài so với nhóm y tá ít kinh nghiệm
Kiến thức của sinh viên y khoa về quản lý chất thải y sinh tại Tirupati, quanghiên cứu trên 127 sinh viên học kỳ thứ 7 của trường đại học y Sri Venkateswara,kết quả cho thấy 89,8% sinh viên không nhận thức được các quy định pháp luật đốivới việc quản lý chất thải y sinh, đa số các sinh viên thiếu kiến thức về các loại chấtthải y sinh, chiếm 73,2% và xử lý trong các túi màu, 71,3% Mặc dù nghiên cứu cóđưa ra số liệu thống kê về tình hình nhận thức của sinh viên nhưng vì khảo sát trên
số lượng nhỏ nên có thể chưa đại diện cho quần thể Tương tự, khảo sát khác trên
237 sinh viên y khoa từ 5 trường của đại học Yazd ghi nhận đến 66% sinh viênkhông có bất kỳ hành động nào về phân loại và tái chế chất thải rắn Cũng tiếnhành trên cùng một chủ đề nhưng nghiên cứu trên một đối tượng khác là 256 nhânviên y tế đang làm việc tại các bệnh viện, kết quả ghi nhận kiến thức, thái độ vàthực hành quản lý chất thải y sinh học của các nhân viên y tế chưa cao, cụ thể, kiếnthức thấp chiếm đến 25,9%, trung bình chiếm 31,8%; thái độ tiêu cực là 47,8%; thái
độ tích cực chỉ chiếm 19,9% Về thực hành, thực hành tốt chiếm 30,4%,thấp là52,2% Lý do có thể do mối quan tâm của họ tập trung vào việc chăm sóc sức khỏecho người bệnh
1.4.2 Tại Việt Nam
Trang 28Để thực hiện quy chế quản lý CTYT, bên cạnh yếu tố về công nghệ và cácđiều kiện về cơ sở vật chất thì yếu tố con người rất quan trọng Cho dù hệ thống
xử lý chất thải hiện đại nhưng cán bộ, nhân viên y tế không nhận thức đầy đủ vềtầm quan trọng của công tác quản lý chất thải thì hệ thống đó sẽ hoạt động khônghiệu quả
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Huệ Tiên thực hiện năm 2012, phỏng vấn
166 cán bộ tại 20 Trạm Y tế quận Ninh Kiều và huyện Phong Điền cho thấy: chỉ
có 37,3% được tập huấn về quản lý và xử lý CTYT Kết quả nghiên cứu còn chothấy kiến thức về phân loại CTYT của các cán bộ y tế và các vệ sinh viên cònkém, tỷ lệ biết phân loại CTYT thành 5 nhóm thấp (6,6%), có 2,4% cán bộ khôngbiết loại nào, phần lớn biết về chất thải lây nhiễm và chất thải thông thường(>95%); các loại chất thải khác biết ít hơn (<50%) Khảo sát kiến thức cán bộ vềmàu sắc của các túi/thùng đựng CTRYT cho thấy tỉ lệ cán bộ biết đầy đủ về 4 màuchiếm 14,5% nhưng số người biết phân loại đúng CTYT theo 4 mã màu đó lạithấp hơn chỉ chiếm 10,2% Tỉ lệ cán bộ biết về màu vàng, màu xanh và đúng chấtthải với chúng khá cao (>85%); biết về màu đen và màu trắng ít hơn, trong đó tỉ lệbiết về thùng màu đen chiếm 57,8% nhưng biết đúng CTYT tương ứng với màuđen lại chỉ chiếm phân nữa (28,9%) Kiến thức đúng về quản lý CTYT của cáccán bộ tại 20 TYT cho thấy: tỉ lệ đúng chỉ chiếm khoảng 27,7% trong khi tỉ lệchưa đúng chiếm đến 72,3% Trên 70% cán bộ cho rằng cần quy định thời gianthu gom, đường vận chuyển chất thải, và giờ vận chuyển chất thải Có 99,4% chorằng nên thu gom riêng CTYT nguy hại với chất thải thông thường Tuy nhiên tỉ lệcán bộ hiểu về các loại CTYT và màu sắc của các chất thải như đã phân tích ở trênchiếm tỉ lệ rất thấp Tỷ lệ cán bộ biết về thời gian lưu giữ chất thải chỉ chiếm16,9%; chất thải giải phẫu đựng trong 2 lớp túi màu vàng chiếm 34,3%
Nghiên cứu của Hoàng Thị Thúy, Phan Văn Tường năm 2011 tại bệnh viện
đa khoa Đông Anh cho thấy tỷ lệ nhân viên đạt kiến thức chung về quản lý là86,8%, tuy nhiên kiến thức của nhân viên về các nhóm chất thải, các chất thải lâynhiễm còn rất thấp (27,2% và 54,4%) Tỷ lệ nhân viên đạt thực hành phân loạichất thải là 82,4%, thu gom là 52,6%, vận chuyển là 52,5%, lưu trữ chất thải là
Trang 29100,0% Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thâm niên công tác với kiếnthức về các loại chất thải lây nhiễm (p = 0,04, OR = 2,08, CI = (1,02 – 4,27)).Kiến thức và thực hành về phân loại chất thải có mỗi liên hệ với nhau (p = 0,016,
OR = 2,96, CI = (1,20 – 7,30) Thiếu kinh phí, sự quan tâm, ý thức của cán bộnhân viên, công tác đào tạo, kiểm tra giám sát được coi là yếu tố chính ảnh hưởngđến hoạt động phân loại, thu gom và vận chuyển, lưu trữ chất thải
Nghiên cứu của tác giả Tống Vĩnh Phú và cộng sự về đánh giá nhận thức,thái độ của điều dưỡng đối với việc thu gom, phân loại CTYT tại 6 bệnh việntrong khu vực thành phố Nam Định năm 2008 cho kết quả như sau: tỉ lệ điềudưỡng có kiến thức đúng về định nghĩa CTYT là 50,3%; điều dưỡng có kiến thứcđúng về CTYT nguy hại là 81,5%; điều dưỡng các bệnh viện trả lời đúng về phânloại CTYT và chất thải lâm sàng là 69,7%, về thời gian lưu giữ tối đa CTYT nguyhại trong bệnh viện đạt tỉ lệ 34,29%; kiến thức về phương pháp thiêu huỷ CTYTnguy hại là 3,43% Hơn 90% điều dưỡng của các bệnh viện đánh giá công tácquản lý và xử lý CTYT là rất quan trọng Mức độ quan tâm đến công tác quản lý
và xử lý chất thải, tỉ lệ rất quan tâm là 80% Mức độ tích cực của điều dưỡng trongviệc tham gia lớp tập huấn về quản lý và xử lý chất thải là 83,1%
1.5 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại thành phố Cần Thơ
1.5.1 Thông tin chung về ngành y tế thành phố Cần Thơ
Qua 10 năm trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, Đảng bộ, chínhquyền và nhân dân thành phố Cần Thơ đã gặt hái được nhiều thành tựu lớn laotrong phát triển kinh tế, xã hội Hòa chung niềm vui này, ngành y tế Cần Thơ cũngtừng bước phát triển, đáp ứng hiệu quả nhu cầu khám chữa bệnh của người dânthành phố cũng như các khu vực lân cận Đến nay trên địa bàn Thành phố, cácchương trình mục tiêu quốc gia về y tế được triển khai thực hiện hiệu quả, đảm bảo
sự công bằng trong tiếp cận dịch vụ y tế cho người dân Các chính sách hỗ trợ việnphí cho người nghèo, đối tượng cận nghèo; khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ emdưới 6 tuổi; công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em được đẩy mạnh; góp phầngiảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao sức khỏe nhân dân Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinhdưỡng từ 22,5 % (năm 2004) giảm còn 11,4% (năm 2014); tỷ lệ tiêm chủng đủ 6
Trang 30loại vắc xin cơ bản cho trẻ dưới 1 tuổi hàng năm đều đạt trên 95%; mức giảm sinhnăm 2014 đạt 0,06‰ Công tác y tế dự phòng có hiệu quả, chủ động phòng chốngdịch, xử lý tốt các ổ dịch mới phát sinh, không để dịch bùng phát và lưu hành
Cơ sở vật chất được đầu tư tốt hơn, từng bước hoàn thiện, đã đưa vào hoạtđộng Bệnh viện Ung Bướu, Bệnh viện Truyền máu và Huyết học, Trung tâm phòngchống HIV/AIDS, nâng cấp sữa chữa Bệnh viện Đa khoa Thốt Nốt, Bệnh viện Đakhoa Ô Môn, các Bệnh viện và Trung tâm y tế dự phòng quận huyện được xây dựngmới khang trang: Thới Lai, Cái Răng, Phong Điền, Vĩnh Thạnh, Ninh Kiều ….; vừakhánh thành Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ, Bệnh viện Phụ sản; đang tiếnhành xây dựng Bệnh viện Nhi đồng, Bệnh viện Lao và bệnh phổi, Bệnh viện Tâmthần, Trung tâm kiểm nghiệm thuốc- mỹ phẩm -thực phẩm; đồng thời đang lập dự
án đầu tư Bệnh viện Ung Bướu, …
Công tác khám chữa bệnh trong những năm qua đã đạt được những kết quảđáng kể, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, kỹ thuật cao được áp dụng để chẩnđoán và điều trị, từng bước nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, đáp ứng nhu cầungày càng cao và đa dạng của nhân dân Công suất sử dụng giường bệnh cả 3 tuyếnđều đạt trên 100%
Công tác xã hội hóa y tế cũng được toàn ngành quan tâm Hiện trên địa bànThành phố có 3 bệnh viện ngoài công lập, 1.523 cơ cở y tế hành nghề y dược tưnhân góp phần đáng kể trong công tác khám, điều trị và chăm sóc sức khỏe nhândân Thành phố và khu vực Số đơn vị y tế trên địa bàn thành phố Cần Thơ có: 25bệnh viện, 01 Trung tâm Y tế huyện, 01 Trường Cao đẳng Y tế, 01 công ty dược, 13đơn vị y tế thuộc khối dự phòng, 85 trạm y tế và nhiều phòng khám tư nhân Đónggóp đáng kể cho sự phát triển của thành phố, đặc biệt trong công tác bảo vệ, chămsóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn và các tỉnh lân cận của khu vực Đồng bằng sôngCửu Long
Hệ điều trị trực thuộc Sở Y tế TP Cần Thơ có 18 bệnh viện và 01 Trung tâm
y tế huyện, trong đó:
- 09 bệnh viện đa khoa: 01 bệnh viện đa khoa tuyến thành phố và 07 bệnh viện
đa khoa tuyến quận/huyện: Bệnh viện đa khoa quận Thốt Nốt, quận Ô Môn, quận
Trang 31Bình Thủy, quận Cái Răng, huyện Vĩnh Thạnh, huyện Phong Điền, huyện Thới Lai
và 01 Trung tâm Y tế huyện Cờ Đỏ
- 10 bệnh viện chuyên khoa: Bệnh viện Nhi Đồng, Bệnh viện Ung Bướu, Bệnhviện Da Liễu, Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi, Bệnh viện Tâm Thần, Bệnh viện Y học
cổ truyền, Bệnh viện Mắt - Răng Hàm Mặt, Bệnh viện Tai Mũi Họng, Bệnh việnHuyết học - Truyền máu, Bệnh viện Phụ sản
Hệ dự phòng trực thuộc Sở Y tế TP Cần Thơ: Trung tâm YTDP thành phố,Trung tâm Bảo vệ SKLĐ&MT, Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản, Trung tâmPhòng chống HIV/AIDS, Trung tâm Kiểm nghiệm Dược phẩm và Mỹ phẩm, Trungtâm Truyền thông GDSK, Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Chi cục Dân số -KHHGĐ và 08 Trung tâm YTDP quận/huyện
Có 03 bệnh viện tuyến Trung ương đóng trên địa bàn thành phố: Bệnh việ đakhoa Trung ương, Bệnh viện 121-QK9, Bệnh viện Đại học Y Dược Cần Thơ
Cơ sở y tế tư nhân: Bệnh viện Hoàn Mỹ - Cửu Long, Bệnh viện Phụ sảnquốc tế Phương Châu, Bệnh viện đa khoa Thanh Quang
1.5.2 Quản lý chất thải rắn y tế tại thành phố Cần Thơ
Hệ thống chăm sóc sức khỏe tại Cần Thơ trải đều từ tuyến thành phố đếntuyến quận/huyện, xã/phường Trong quá trình hoạt động khám chữa bệnh chongười dân, các cơ sở y tế còn thải ra môi trường với một khối lượng lớn chất thải y
tế Lượng chất thải y tế ngày càng tăng dần do sự gia tăng dân số, mức sống, sựnâng cao khám chữa bệnh Đây là một trong những nguy cơ gây ô nhiễm nghiêmtrọng đối với môi trường sống, là nguồn gây ô nhiễm trực tiếp đến sức khỏe cộngđồng
Bảng 1.3 Lượng rác thải y tế phát sinh tại thành phố Cần Thơ trong 6 tháng đầu năm 2014
Trang 32Thông tin
Đơn vị tính
Bệnh viện tuyến tỉnh
Bệnh viện tuyến huyện
Bệnh viện tư nhân
Tổng cộng
Lượng chất thải rắn thông
thường phát sinh trung bình
Lượng chất thải rắn y tế nguy
hại phát sinh trung bình trong
Những năm qua, công tác quản lý chất thải bệnh viện còn nhiều bất cập Mặc
dù, các bệnh viện đã tổ chức tập huấn, hướng dẫn cho cán bộ, nhưng việc kiểm trachưa thường xuyên Các bệnh viện chưa có phương tiện thu gom và phân loại rácthích hợp để giảm thiểu chi phí, nhân viên thu gom rác chưa có kiến thức cơ bản đểphân loại rác, chưa nhận thức đúng nguy cơ của chất thải bệnh viện Phương tiệnthu gom như túi, thùng đựng chất thải còn thiếu, chưa đồng bộ và chưa đạt tiêuchuẩn Phương tiện vận chuyển chất thải thiếu, đặc biệt là các xe chuyên dụng Vậnchuyển chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường từ bệnh viện, cơ sở y tế đếnnơi xử lý, chôn lấp hầu hết do Công ty môi trường đô thị đảm nhiệm
Trang 331.6 Sơ đồ khung lý thuyết:
- Hệ thống giám sát
- Nhân lực
- Thu gom CTRYT: lượng chất thải trong mỗi túi được thu gom vào đúng các dụng cụ phù hợp theo mã mầu, có nhãn
- Vận chuyển: Tần suất vận chuyển, cách thức vận chuyển
- Lưu giữ: Thời gian lưu giữ, cách thức lưu giữ CTRYT
- Xử lý: Cách thức xử lý đối với CTYT giải phẫu và CTYT thông thường
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Cán bộ, nhân viên y tế trực tiếp tham gia vào hoạt động phân loại, thu gom, vậnchuyển, lưu giữ và xử lý chất thải y tế
Cơ sở vật chất, trang thiết bị dụng cụ phục vụ cho công tác quản lý chất thảirắn y tế bao gồm: dụng cụ phân loại, thu gom, phương tiện vận chuyển, khu vực lưugiữ và xử lý chất thải rắn y tế
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
- Thời gian: Từ tháng 12/2014 – 10/2015
- Đề tài được tiến hành tại ở các khoa lâm sàng và cận lâm sàng của các bệnhviện chuyên khoa thành phố Cần Thơ vì hoạt động của những khoa này làm phátsinh lượng lớn chất thải rắn y tế chủ yếu trong Bệnh viện, có tính đại diện cho việcthực hành về quy chế quản lý chất thải y tế Bộ Y tế
2.3 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu:
2.4.1 Cỡ mẫu cho Mục tiêu 1:
Trên địa bàn thành phố Cần Thơ hiện nay có 10 bệnh viện chuyên khoa(Bệnh viện Ung Bướu, Bệnh viện Da Liễu, Bệnh viện Nhi Đồng, Bệnh viện Lao vàBệnh phổi, Bệnh viện Mắt – Răng Hàm Mặt, Bệnh viện Phụ sản, Bệnh viện TaiMũi Họng, Bệnh viện Y học cổ truyền, Bệnh viện Huyết học – Truyền máu, Bệnhviện Tâm thần) để thực hiện nghiên cứu chúng tôi tiến hành phân nhóm 10 bệnhviện chuyên khoa thành 03 nhóm căn cứ theo thực trạng số lượng rác thải y tế phátsinh trong 6 tháng đầu năm 2014 (Bảng 2.1)
- Nhóm 1: số lượng rác thải y tế phát sinh < 10.000 kg
- Nhóm 2: số lượng rác thải y tế phát sinh từ 10.000 kg đến < 100.000 kg
- Nhóm 2: số lượng rác thải y tế phát sinh ≥ 100.000 kg
Trang 35Bảng 2.1 Lượng rác thải y tế phát sinh tại 10 bệnh viện chuyên khoa thành phố Cần Thơ trong 6 tháng đầu năm 2014
TT Tên Bệnh viện
Đơn vị tính
Lượng RTYT/
6 tháng đầu năm 2014
Phân nhóm/ Lượng RTYT
Ghi chú: (*) số liệu báo cáo Quý 4/2014
Sau khi phân thành 03 nhóm chúng tôi sẽ tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên ởmỗi nhóm 01 bệnh viện để đại diện cho nhóm đó và tiến hành nghiên Việc chọnmẫu nghiên cứu như vậy sẽ giúp chúng tôi vừa đánh giá được thực trạng quản lýchất thải rắn y tế mang tính đại diện cho từng nhóm phát sinh chất thải rắn, cũngnhư đại diện cho các bệnh viện chuyên khoa đóng trên địa bàn thành phố Cần Thơ
và đồng thời cũng phù hợp nguồn lực, thời gian nghiên cứu của nhóm nghiên cứu
Kết quả bốc thăm ngẫu nhiên 01 bệnh viện ở 03 nhóm chúng tôi xác địnhđược 03 bệnh viện được chọn để tiến hành nghiên cứu là:
- Bệnh viện Mắt - Răng Hàm Mặt: 04 khoa lâm sàng và 02 khoa cận lâm
sàng Có 71 nhân viên (Phân loại: 64; Thu gom, vận chuyển: 6; Lưu trữ, xử lý: 1);
- Bệnh viện Da Liễu: 02 khoa lâm sàng và 02 khoa cận lâm sàng Có 63
nhân viên (Phân loại: 57; Thu gom, vận chuyển: 5; Lưu trữ, xử lý: 1)
- Bệnh viện Ung bướu: 06 khoa lâm sàng và 04 khoa cận lâm sàng Có 207
nhân viên (Phân loại: 195; Thu gom, vận chuyển: 11; Lưu trữ, xử lý: 1)
Trang 36 Phương pháp chọn mẫu
Chọn tất cả các khoa lâm sàng và cận lâm sàng tại các bệnh viện chuyênkhoa trên để đánh giá việc thực hiện quản lý chất thải rắn y tế theo quy chế của Bộ
Y tế bằng bảng kiểm quan sát
2.4.2 Cỡ mẫu cho Mục tiêu 2 và 3:
Số cán bộ nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng của 03 bệnhviện chuyên khoa thuộc đối tượng nghiên cứu được tính cỡ mẫu cho nghiên cứu mô
tả cắt ngang theo công thức:
n = Số nhân viên y tế cần điều tra
p = 0,639 là tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức đúng về quản lý chất thải rắn y
tế trong nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Các tại các cơ sở y tế công lập tuyến tỉnhtrên địa bàn thành phố Sóc Trăng năm 2012
Z1 - α/2 = 1,96 là ước lượng khoảng tin cậy dùng trong nghiên cứu, mức tin cậymong muốn là 95% với mức ý nghĩa thống kê α = 0,05
d: Sai số cho phép, ở đây chúng tôi lấy d = 0,05
Thay vào công thức ta có: n = 354,5 ≈ 355
Như vậy, cỡ mẫu trong nghiên cứu là 355 Đồng thời để dự phòng hao hụtchúng tôi lấy thêm 10%, do vậy tổng số mẫu trong nghiên cứu này được làm tròn là
390 nhân viên y tế
Phương pháp chọn mẫu
Qua quá trình thu thập thông tin sơ bộ ở các khoa lâm sàng và cận lâm sàngtại 03 bệnh viện chuyên khoa thuộc đối tượng nghiên cứu cho thấy tổng số cán bộnhân viên y tế là 341 nhân viên Do đó, so với cỡ mẫu được tính theo công thức tính
cỡ mẫu trên thì số lượng đối tượng nghiên cứu tại 03 bệnh viện nhỏ hơn nên họcviên sẽ chọn toàn bộ số nhân viên y tế ở các khoa lâm sàng và cận lâm sàng tại 03
Trang 37bệnh viện trên để tiến hành nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu được phân thành 03nhóm đối tượng nghiên cứu, cụ thể như sau:
- Phát sinh, phân loại chất thải y tế: 316 nhân viên
- Thu gom, vận chuyển chất thải y tế: 22 nhân viên
- Lưu trữ, xử lý: 03 nhân viên
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
Bộ câu hỏi phỏng vấn và bảng kiểm quan sát soạn sẵn
2.5.2 Kỹ thuật thu thập số liệu
Sử dụng bộ câu hỏi để xác định kiến thức của nhân viên về quản lý chất thảirắn y tế theo quy chế của Bộ Y tế
Sử dụng bảng kiểm quan sát kết hợp phỏng vấn để xác định thực trạng cũngnhư kiến thức và thực hành của nhân viên y tế về quản lý chất thải rắn y tế
Việc thu thập số liệu được thực hiện bởi 12 điều tra viên (ĐTV), bao gồm:
01 học viên lớp Cao học Y tế công cộng khoa 17 – Đồng Tháp, 03 cán bộ Khoa Vệsinh lao động – Trung tâm Bảo vệ sức khỏe lao động và Môi trường TP Cần Thơ
và 8 em sinh viên năm 3 lớp Cử nhân Y tế công cộng, Bác sĩ Y học dự phòng thuộcTrường Đại học Y Dược Cần Thơ
2.5.3 Cách thức thu thập số liệu
2.5.3.1 Thu thập thông tin thứ cấp
Các tài liệu liên quan đến nội quy, quy định, văn bản hướng dẫn liên quanđến QLCTYT, các thông tư, nghị định liên quan đến QLCTYT
Sổ sách ghi chép theo dõi về quản lý chất thải 6 tháng cuối năm 2014 và 6tháng đầu năm 2015
Chứng từ chất thải nguy hại (đối với đơn vị thuê vận chuyển xử lý chất thải
ra ngoài để xử lý)
2.5.3.2 Thu thập thông tin sơ cấp
Thu thập thông tin về thực trạng QLCTRYT của các bệnh viện
Quan sát, đánh giá thực trạng trang thiết bị, dụng cụ phục vụ công tác quản
lý chất thải rắn y tế được thực hiện bằng phương pháp quan sát điền vào bảng kiểm
Trang 38Nội dung bảng kiểm được xây dựng dựa trên các nội dung quy định của quy chếquản lý chất thải y tế ban hành kèm theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày30/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Quy trình thu thập như sau: Tổng số điều tra viên 12 ĐTV
Quan sát thực trạng dụng cụ, trang thiết bị quản lý CTRYT tại các vị trí đặttại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng trong 03 bệnh viện chuyên khoa, sử dụng bộcông cụ số 1, tương ứng với Phụ lục 1 12 ĐTV được chia làm 03 nhóm (mỗi nhóm
4 ĐTV) phân công mỗi nhóm thực hiện quan sát 01 bệnh viện trong 03 ngày ĐTVphải quan sát toàn bộ dụng cụ, thùng chứa/đựng CTRYT tại các bệnh viện (nhưtrong buồng bệnh, ngoài hành lang, trong nhà vệ sinh và nơi tập trung chất thải tạicác khoa lâm sàng và cận lâm sàng), bảng hướng dẫn phân loại CTRYT và điền vàobảng kiểm chính xác Tổng số lượt quan sát thực trạng dụng cụ, trang thiết bị quản
lý CTRYT tại các bệnh viện là 9 lượt
Thu thập thông tin về kiến thức của nhân viên y tế
Sử dụng bộ công cụ phỏng vấn bằng nhằm tìm hiểu kiến thức và thực hànhcủa nhân viên y tế về quản lý chất thải rắn, sử dụng bộ công cụ số 6, tương ứng vớiPhụ lục 6 Tổng số phiếu phỏng vấn phát ra là 341 phiếu, trước đó bộ câu hỏi đãđược thử nghiệm nhằm chỉnh sửa lại các câu hỏi phù hợp và dễ hiểu, các điều traviên đã được tập huấn về cách thức thu thập số liệu
Quy trình thu thập số liệu cụ thể như sau: Tổng số điều tra viên 12 ĐTV.Các điều tra viên thực hiện việc thu thập số liệu theo thời gian đã thống nhất
và trao đổi với lãnh đạo bệnh viện, sau đó điều tra viên giải thích rõ mục đích củanghiên cứu, xin ý kiến tham gia chấp thuận của đối tượng nghiên cứu; trình bày câuhỏi, cách lựa chọn và các phương án trả lời cho mỗi câu hỏi, giải đáp thắc mắc củađối tượng nghiên cứu Phiếu phỏng vấn sẽ được kiểm tra đầy đủ các thông tin cầnthu thập nhằm tránh thiếu sót thông tin trước khi kết thúc phỏng vấn
Thu thập thông tin về thực hành của nhân viên y tế
Đánh giá thực hành sẽ phân nhóm đối tượng làm phát sinh, thu gom, vậnchuyển, lưu trữ hay xử lý chất thải rắn y tế Thực hiện quan sát thực hành của nhânviên y tế về phân loại, thu gom, vận chuyển tại các khoa và nơi lưu giữ xử lý
Trang 39CTRYT, mỗi đối tượng nghiên cứu quan sát trong 3 ngày Các ĐTV chọn vị tríquan sát không gây sự chú ý, không làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ hằng ngày củaNVYT.
Quy trình thu thập số liệu cụ thể như sau: Tổng số điều tra viên 12 ĐTV thựchiện quan sát đối tượng nghiên cứu tại 03 bệnh viện trong 03 ngày
- Thực hiện quan sát đánh giá thực hành phân loại chất thải của đối tượngnghiên cứu tại các khoa vào 1 trong 2 thời điểm: buổi sáng từ 8h30-11h, buổi chiều
từ 14h00-16h30, sử dụng bộ công cụ số 2, tương ứng với Phụ lục 2 Tổng số lượtquan sát 948 lượt (3 ngày x 316 nhân viên y tế thuộc đối tượng làm phát sinh rácthải rắn y tế)
- Quan sát thu gom và vận chuyển chất thải tại 1 trong 2 thời điểm đối tượngthu gom, vận chuyển đi các khoa thu gom chất thải: buổi sáng từ 8h30-11h, buổichiều từ 14h00-16h30 (nhưng cũng còn tùy thuộc tình hình thực tế tại mỗi bệnhviện sẽ có qui định thời điểm thu gom, vận chuyển rác thải y tế mà tiến hành quansát), sử dụng bộ công cụ số 3 và 4, tương ứng với Phụ lục 3 và 4 Tổng số lượt quansát 66 lượt (3 ngày x 22 nhân viên y tế thuộc đối tượng thu gom và vận chuyển chấtthải rắn y tế)
- Quan sát nơi lưu giữ chất thải tập trung tại các bệnh viện chuyên khoa và
xử lý chất thải tại khu vực xử lý chất thải, sử dụng bộ công cụ số 5, tương ứng vớiPhụ lục 5 Tổng số lần quan sát là 9 lượt, do mỗi bệnh viện chỉ phân công 1 nhânviên y tế phụ trách kho lưu trữ và xử lý nên tổng số đối tượng là 03 nhân viên cho 3ngày quan sát
Quan sát các đối tượng thực hành sử dụng bộ công cụ quan sát là bảng kiểm
có sự tương đồng mã cá nhân với đối tượng nghiên cứu về kiến thức thực hành sửdụng bộ công cụ là phát vấn tự điền Mục đích: nhằm đánh giá có sự khác biệt haykhông giữa thực hành của đối tượng nghiên cứu qua quan sát trực tiếp với kiến thức
về thực hành của đối tượng nghiên cứu qua bộ câu hỏi phát vấn, kết luận này giúpcho việc tăng độ tin cậy của kết quả nghiên cứu
Trang 402.6 Các biến số nghiên cứu
Bảng 2.2 Nhóm biến số thực trạng QLCTRYT thu thập được do quan sát
STT Biến số Định nghĩa Loại biến thu thập Công cụ
A- DỤNG CỤ, BAO BÌ ĐỰNG, VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI
1 Túi đựng chất thảiriêng
Các túi khác nhau để đựng cácloại chất thải khác nhau theo quyđịnh 43/2007/QĐ-BYT Thứ hạng
Bộ phiếuquan sát
Phân loại Bộ phiếuquan sát
Phân loại Bộ phiếu
quan sát
4 Có dụng cụ đựng
chất thải sắc nhọn
Có hộp đụng chất thải sắc nhọnriêng, không để lẫn với chất thảikhác
Nhị phân Bộ phiếu
quan sát
5 Có phương tiện vận chuyển chất
thải theo quy định
Có xe chuyên dụng vận chuyểnchất thải từ các khoa đến nơi lưugiữ chất thải
Nhị phân Bộ phiếu
quan sát
B - PHÂN LOẠI CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
6 Phân loại chất thải ngay tại nơi
phát sinh
Chất thải sau khi phát sinh đượctiến hành phân loại ngay Nhị phân
Bộ phiếuquan sát
7 Phân loại đúng chất thải sắc nhọn
Các vật sắc nhọn phát sinh trongquá trình thực hiện công việc củaNVYT như ống thuốc tiêm, bơmkim tiêm… được phân loại đúngtại nơi phát sinh
Nhị phân Bộ phiếuquan sát
8 Phân loại đúng chất thải lây
9 Phân loại đúng chất thải phóng xạ Phim chụp được phân loại ngaykhi phát sinh Nhị phân Bộ phiếuquan sát
10 Phân loại đúng chất thải sinh hoạt Chất thải sinh hoạt được phân loạingay khi phát sinh Nhị phân Bộ phiếuquan sát
C - THU GOM CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
11 Có thùng thu gomriêng
Có thùng thu gom các loại chấtthải khác nhau theo quy định43/2007/QĐ-BYT
Phân loại Bộ phiếuquan sát