Cơ sở thực tiễn

Một phần của tài liệu THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH TRẦM CẢM TẠI KHOA BÁN CẤP TÍNH NAM BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG I NĂM 2022 (Trang 23 - 27)

2.1. Nghiên cứu về trầm cảm trên thế giới.

Tại Châu Âu số người mắc bệnh trầm cảm và tự tử tăng đột biến vì khủng hoảng, 1/4 dân số Châu Âu tương đương (215 triệu người) sẽ bị rối loạn tâm lý do cuộc sống quá khó khăn.

Theo Scott Patten, nghiên cứu năm 2006 tại Canada cho thấy tỷ lệ trầm cảm chung trong cả cuộc đời là 12,2%. Trầm cảm chủ yếu phổ biến ở phụ nữ (5%) hơn ở nam giới (2,9%). Tỷ lệ mắc trầm cảm cao nhất ở nhóm tuổi từ 15 đến 25 tuổi [21].

Ở Hoa Kỳ, tỷ lệ mắc trầm cảm theo nhiều nghiên cứu vào khoảng 5 - 6%.

Khoảng 80% người bị trầm cảm đã báo cáo bị ảnh hưởng đến khả năng làm việc, duy trì cuộc sống gia đình và các hoạt động xã hội khác của họ. Tổng thiệt hại ước tính khoảng 2/3 trong tổng 80 tỷ USD trong năm 2000 vì khả năng sản xuất kém và hay nghỉ việc. Mỗi năm có trên 300 000 người tự tử trong đó chiếm 60% là người mắc bênh trầm cảm [22].

Elizabeth G. Adams (2019). Trong một phân tích tổng quan để đánh giá việc thực hiện quản lý chăm sóc trong mô hình chăm sóc tích hợp cho thấy các can thiệp quản lý chăm sóc của điều dưỡng thành công bao gồm theo dõi bệnh nhân thường xuyên, kiểm tra triệu chứng, theo dõi điều trị, thiết lập mục tiêu và giáo dục Các kỹ thuật hỗ trợ tâm lý như liệu pháp giải quyết gấn đề, kích hoạt hành vi và phỏng vấn tạo động lực đã rất hữu ích trong việc hỗ trợ việc tham gia vào kế hoạch chăm sóc bệnh nhân và đạt được mục tiêu. Các cơ sở điều trị người bệnh trầm cảm cần cân nhắc việc đào tạo nâng cáo điều dưỡng quản lý để áp dụng mô hình chăm sóc tích hợp nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh trầm cảm và duy trì sức khỏe lâu dài trên người bệnh.

Chantra R. và cộng sự (2019). Khi phân tích tổng quan về hiệu quả của các can thiệp điều dưỡng đối với điều trị trầm cảm kết quả cho thấy hầu hết các nghiên cứu đều sử dụng các biện pháp can thiệp tâm lý (n = 24); một tỷ lệ nhỏ sử dụng liệu pháp nhận thức (n = 5). Thực hành điều dưỡng cũng tập trung vào việc chăm sóc xã hội và các yếu tố ảnh hưởng. Nghiên cứu này đề xuất rằng điều trị trầm cảm nên là một hoạt động tổng hợp bao gồm chăm sóc tâm lý, điều dưỡng, chăm sóc xã hội và cần sự tham gia tích cực của bản thân người bị trầm cảm .

Katon W.J. and et al. (2010). Trong một nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên lâm sàng có đối chứng để đánh giá hiệu quả mô hình chăm sóc phối hợp trên người bệnh trầm cảm và có bệnh mãn tính. Kết quả cho thấy bệnh nhân trong nhóm can thiệp có sự cải thiện tổng thể hơn trong 12 tháng về mức hemoglobin glycated (khác biệt, 0,58%), mức cholesterol LDL (chênh lệch, 6,9 mg/dl, huyết áp tâm thu (chênh lệch, 5,1 mm Hg), và điểm trầm cảm SCL-20 (chênh lệch, 0,40 điểm) (P <0,001).

Bệnh nhân trong nhóm can thiệp cũng có chất lượng cuộc sống tốt hơn (P < 0,001)

và sự hài lòng hơn đối với việc chăm sóc bệnh tiểu đường, bệnh tim mạch vành, hoặc cả hai (P <0,001) và chăm sóc bệnh trầm cảm (P <0,001).

Nghiên cứu ở các nước châu Á - Thái Bình Dương cho thấy: Ở Australia thì tỷ lệ trầm cảm cao hơn một số nước khác (20 - 30% dân số). Ở một số nước châu Á như Trung Quốc, theo tác giả Chen R., tỷ lệ trầm cảm ở người già trên 60 tuổi khu vực nông thôn là 6%, ở khu vực thủ đô là 3,6%.

Hàng năm Trung Quốc có khoảng 300 000 người tự tử (thực tế có thể cao hơn nữa), nữ tự sát nhiều hơn nam theo tỷ lệ 3:1; nông thôn tử tử nhiều hơn thành phố theo tỷ lệ 3:1 [23].

2.2. Nghiên cứu về trầm cảm ở Việt nam

Theo tác giả La Đức Cương có khoảng 12 triệu người ( tương đương 15%

dân số ) đang có vấn đề về rối loạn tâm thần, trong đó phần lớn là bệnh trầm cảm, sau đó là bệnh nặng hơn như Tâm thần phân liệt, nghiện rượu, lạm dụng rượu, ma túy và chậm phát triển trí tuệ. Theo TS. BS Tô Thanh Phương thì có khoảng 15%

dân số nước ta có vấn đề về sức khỏe tâm thần. Phần lớn bệnh nhân trầm cảm nặng thuộc lứa tuổi từ 16 – 35 tuổi [24].

Theo TS. BsTô Thanh Phương thì khoảng 15% dân số nước ta có vấn đề sức khoẻ tâm thần. Phần lớn bệnh nhân trầm cảm nặng thuộc lứa tuổi từ 16-35 tuổi [7].

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Siêm năm 2010 tại xã Quất Động, Thường Tín Hà Tây cho thấy tỷ lệ mắc rối loạn trầm cảm là 8,35% dân số ≥ 15 tuổi. Tỷ lệ NB nữ/nam là 5/1. Tỷ lệ mắc ở độ tuổi 30-59 là 58,21%, từ 60 tuổi trở lên là 36,9%. Tỷ lệ mới mắc là 0,48%. Đại đa số NB (94,24%) mắc bệnh trên 1 năm. Số mắc bệnh trên 4 năm có tỷ lệ 70,3%. Tính chất tiến triển mạn tính rất rõ rệt (93,6% là trầm cảm tái diễn) [15].

Nghiên cứu của Trần Văn Cường (2011), điều tra dịch tễ 10 bệnh tâm thần tại 8 địa điểm của các vùng sinh thái khác nhau, cho kết quả về tỷ lệ mắc các bệnh tâm thần là 12,5%, trong đó rối loạn trầm cảm F 32: 2,4% dân số. Tỷ lệ NB khám tại các cơ sở y tế nhà nước là 31,9%, tại các cơ sở y tế tư nhân là 21,9% và số NB chưa bao giờ đi khám là 68,5%. Thái độ của gia đình, cộng đồng đối với NB còn xa lánh, hắt hủi chiếm 68,5% [16].

Năm 2013, một nghiên cứu điều tra dịch tễ lâm sàng 10 rối loạn tâm thần thường gặp ở cộng đồng thuộc 8 vùng kinh tế - xã hội khác nhau trên cả nước cho thấy tỷ lệ mắc bệnh trầm cảm là 2,45% dân số.

Trầm cảm ở đối tượng đặc biệt như phụ nữ sau sinh, nghiên cứu của tác giả Lương Bạch Lan (2009), tỷ lệ mắc trầm cảm ở các bà mẹ sau sinh là 11,6%, các yếu tố liên quan làm gia tăng tỷ lệ trầm cảm như thời gian nằm viện của con trên 30 ngày, không khỏe khi mang thai, tử vong sơ sinh [17].

Qua đây ta có thể thấy, tỷ lệ mắc trầm cảm ở Việt Nam là khá cao dao động từ 3 -5% tương đương với các nước trên thế giới.

Một phần của tài liệu THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH TRẦM CẢM TẠI KHOA BÁN CẤP TÍNH NAM BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG I NĂM 2022 (Trang 23 - 27)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(43 trang)