Trên cơ sở pháp lý này cũng như hiệu quả của áp dụng bảng kiểm trên thế giới, việc triển khai áp dụng BKATPT được coi như một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm giảm thiểu sự cố, sai só
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
Hướng dẫn khoa học:
ThS Phạm Văn Tùng
NAM ĐỊNH, 2022
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện báo cáo chuyên đề, tôi đã nhận được sự hướng dẫn cũng như sự giúp đỡ, động viên của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp tại Bệnh viện Việt Nam- Thụy Điển Uông Bí, gia đình và bạn bè Đến nay, báo cáo chuyên đề đã được hoàn thành
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Quản lý Đào tạo Sau Đại học, các phòng ban và các thầy cô giáo Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã cho tôi kiến thức, những kinh nghiệm quý báu và tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại trường
Với sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới: Ths Phạm Văn Tùng – Trưởng phòng CTCTTT&QLNH, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định là người thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành báo cáo chuyên đề
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Khoa Phẫu thuật - Gây mê Hồi sức và toàn thể nhân viên phòng Quản lý chất lượng, phòng Điều dưỡng, khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn Bệnh viện Việt Nam -Thụy Điển Uông Bí đã quan tâm giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện chuyên đề
Tôi xin chân trọng biết ơn các Thầy, Cô trong Hội đồng đã đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thiện chuyên đề
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện chuyên đề
Xin chân thành cảm ơn
Nam Định, ngày 25 tháng 12 năm 2022
HỌC VIÊN
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan chuyên đề này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, do chính bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Phạm Văn Tùng, tất
cả số liệu trong chuyên đề là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam kết này
Nam Định, ngày 25 tháng 12 năm 2022 HỌC VIÊN
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ v
ĐẶT VẤN ĐỀ Error! Bookmark not defined Chương 1 4
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.2 Cơ sở thực tiễn 12
Chương 2 15
MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 15
2.1 Giới thiệu về Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí 15
2.2 Thực trạng tuân thủ bảng kiểm an toàn phẫu thuật tại Bệnh viện Việt Nam -Thụy Điển Uông Bí năm 2022 17
Chương 3 22
BÀN LUẬN 22
3.1 Thực trạng tuân thủ bảng kiểm an toàn trong phẫu thuật 22
3.2 Những tồn tại và khó khăn 27
KẾT LUẬN 29
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 30 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ATPT An toàn phẫu thuật
ASA Hiệp hội gây mê hồi sức Hoa Kỳ
BKATPT Bảng kiểm an toàn phẫu thuật
NVYT Nhân viên y tế
WHO World Health Organization -Tổ chức Y tế thế giới
iii
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thông tin chung về nhân viên tham gia phẫu thuật 16
Bảng 2.2 Thông tin chung về ca phẫu thuật 16
Bảng 2.3 Tuân thủ quy trình an toàn phẫu thuật ở giai đoạn tiền mê 17
Bảng 2.4 Tuân thủ quy trình an toàn phẫu thuật ở giai đoạn trước rạch da 18
Bảng 2.5 Tuân thủ quy trình an toàn phẫu thuật ở giai đoạn người bệnh rời khỏi phòng phẫu thuật 19
Bảng 2.6 Tỷ lệ tuân thủ quy trình ATPT theo NVYT 20
iv
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH
Biểu đồ Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ tuân thủ quy trình của CBYT……… ……… 20
Hình ảnh
Hình 1.1 Bảng kiểm an toàn phẫu thuật theo WHO 2009 7 Hình 1.2 Bảng kiểm ATPT tại bệnh viện Việt Nam -Thụy Điển Uông Bí 7
v
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày nay, những thành tựu của y học trong việc chẩn đoán, điều trị đã giúp phát hiện sớm và điều trị thành công cho nhiều người bệnh (NB) mắc các bệnh nan y mà trước đây không có khả năng cứu chữa, mang lại cuộc sống và hạnh phúc cho nhiều người và nhiều gia đình Tuy nhiên, theo các chuyên gia y tế thách thức hàng đầu trong lĩnh vực y tế hiện nay là bảo đảm cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe an toàn cho người bệnh Các chuyên gia y tế đã nhận ra một hiện thực là bệnh viện không phải là nơi an toàn cho NB như mong muốn và mâu thuẫn với chính sứ mệnh của nó là bảo vệ sức khỏe và tính mạng của con người Theo Viện nghiên cứu Y học Mỹ và Úccó khoảng 10% người bệnh nội trú nhập viện bị sự cố y khoa, 50% các sự cố y khoa không mong muốn liên quan đến NB có phẫu thuật [2]
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trên toàn thế giới có trên 230 triệu NB được thực hiện phẫu thuật và khoảng 1 triệu NB tử vong, khoảng 7 triệu trường hợp NB bị biến chứng nguy hiểm đến tính mạng do phẫu thuật mỗi năm, trong số đó có tới 50%
NB có thể được cứu sống và không bị biến chứng nếu thực hiện tốt các biện pháp dự phòng an toàn trong phẫu thuật [25] Đối với các nước đang phát triển nguy cơ này cao hơn và WHO cảnh báo cần tập trung các biện pháp tích cực để hạn chế nguy cơ này [2]
An toàn người bệnh trong phẫu thuật là thuật ngữ chỉ việc chăm sóc và điều trị
NB ngoại khoa, liên quan trước, trong và sau phẫu thuật được an toàn và không có biến chứng, không có tai biến (sự cố y khoa) do nhân viên y tế gây lên, an toàn phẫu thuật (ATPT) luôn luôn là tâm điểm của hoạt động cải thiện chất lượng trong chăm sóc sức khỏe WHO đưa ra giải pháp áp dụng bảng kiểm an toàn phẫu thuật (BKATPT) với 10 mục tiêu về ATPT [24]
Tuân thủ quy trình ATPT là một trong những nội dung được WHO quan tâm vì đem lại những lợi ích trong việc giảm tỷ lệ tử vong không đáng có trong phẫu thuật và các biến chứng liên quan Việc hoàn thành đúng các quy trình trong BKATPT là rất quan trọng để giảm thiểu nguy cơ sai sót của phẫu thuật, chủ yếu tập trung vào xác định
NB, vị trí phẫu thuật và phương pháp phẫu thuật Nhiều nghiên cứu cho thấy sử dụng BKATPT mang lại kết quả tích cực như nghiên cứu của Steinar Hangen A (2015) ghi nhận tỷ lệ biến chứng giảm từ 19,9% xuống 11,5% (p<0,05), một nghiên cứu lớn tại 8 bệnh viện của Alexx B.H (2009) cho thấy tuân thủ quy trình ATPT bằng việc sử dụng BKATPT giúp giảm tỷ lệ tử vong từ 1,5% xuống 0,8% (p<0,05) [19]
Trang 10Ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về đánh giá việc sử dụng BKATPT để tuân thủ quy trình an toàn trong phẫu thuật như nghiên cứu của Võ Văn Tuấn (2015), Huỳnh Thanh Phong (2018), Ngô Mai Hương (2017), Trần Thị Thủy (2021) với tỷ lệ tuân thủ các quy trình theo bảng kiểm an toàn phẫu thuật cao trên 80%.[11] [14] [16] [18] Bộ Y
tế đã ban hành nhiều công văn, yêu cầu tuân thủ BKATPT của WHO và Bộ tiêu chí đánh giá an toàn phẫu thuật (2018) để đảm bảo an toàn cho NB trong phẫu thuật Tuy nhiên các bệnh viện lớn ở Việt Nam luôn trong tình trạng quá tải, áp lực công việc rất lớn, đặc biệt tại các khoa Ngoại và khoa Gây mê hồi sức (GMHS) Nhiều tai biến xảy ra do thiếu sót trong công tác chuẩn bị và kiểm soát NB trước, trong và sau phẫu thuật, ví dụ:
Mổ nhầm vị trí, để quên gạc… Những taibiến đó hoàn toàn có thể kiểm soát, giảm thiểu được nếu có một quy trình kiểm soát chặt chẽ [6] Trên cơ sở pháp lý này cũng như hiệu quả của áp dụng bảng kiểm trên thế giới, việc triển khai áp dụng BKATPT được coi như một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm giảm thiểu sự cố, sai sót y khoa liên quan đến phẫu thuật trong điều kiện của Việt Nam hiện nay
Bệnh viện Việt Nam -Thụy Điển Uông Bí là bệnh viện đa khoa hạng I trực Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh quản lý, với nhiệm vụ là tuyến cuối chăm sóc sức khỏe cho người dân Quảng Ninh và các tỉnh lân cận Trung bình mỗi ngày bệnh viện tiếp nhận khoảng trên 1100 lượt NB đến khám, khoảng trên 50 ca phẫu thuật được thực hiện (số liệu báo cáo tổng kết năm 2021) Hiện nay, bệnh viện đang áp dụng BKATPT của WHO [24] Tuy nhiên, từ trước tới nay chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu đầy đủ về vấn
đề này Để có cơ sở khoa học về việc thực hiện BKATPT, giúp cho người quản lý cải thiện những tồn tại, tăng mức độ an toàn cho người bệnh, tôi tiến hành thực hiện chuyên
đề “Thực trạng tuân thủ bảng kiểm an toàn phẫu thuật tại Bệnh viện Việt Nam -Thụy Điển Uông Bí năm 2022” với 2 mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng tuân thủ bảng kiểm an toàn phẫu thuật tại khoa Phẫu thuật gây mê – Hồi sức - Bệnh viện Việt Nam –Thụy Điển Uông Bí năm 2022
2 Đề xuất một số giải pháp để cải thiện tình trạng tuân thủ bảng kiểm an toàn phẫu thuật tại Khoa Phẫu thuật – Gây mê Hồi sức - Bệnh viện Việt Nam –Thụy Điển Uông Bí
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số định nghĩa và khái niệm được sử dụng trong chuyên đề
- Phẫu thuật là một kỹ thuật y tế được thực hiện với mục đích để chẩn đoán bệnh, điều trị, chỉnh hình, ghép tạng, giảm đau… được tiến hành phổ biến trong chăm sóc người bệnh [2]
- An toàn người bệnh là sự phòng ngừa các sai sót có thể gây nguy hại cho người bệnh trong quá trình điều trị và chăm sóc An toàn người bệnh là một chuyên ngành trong lĩnh vực y tế, áp dụng các phương pháp an toàn nhằm hướng đến mục đích xây dựng một hệ thống cung ứng dịch vụ y tế đáng tin cậy Sự phát triển không ngừng các nghiên cứu cũng như báo cáo kết quả ATNB, áp dụng kỹ thuật mới trong điều trị, tăng cường hệ thống báo cáo lỗi y tế, giáo dục phối hợp giữa người bệnh và người cung cấp các dịch vụ y tế góp phần đảm bảo an toàn người bệnh trong chăm sóc và điều trị [2]
- An toàn phẫu thuật là sự phòng ngừa các sai sót có thể gây nguy hại cho người bệnh trước, trong và sau quá trình phẫu thuật [2] An toàn phẫu thuật theo nội dung thông tư 43/2018/TT-BYT là mổ đúng người bệnh, đúng bộ phận, đúng vị trí, đúng quy trình và đúng kỹ thuật [2]
- Sự cố y khoa là các tình huống không mong muốn xảy ra trong quá trình chẩn đoán, chăm sóc và điều trị do các yếu tố khách quan, chủ quan mà không phải do diễn biến bệnh lý hoặc cơ địa người bệnh, tác động sức khỏe, tính mạng của người bệnh…[1]
- Theo WHO: Sự cố không mong muốn là tác hại liên quan đến quản lý y tế (khác với biến chứng do bệnh) bao gồm các lĩnh vực chẩn đoán, điều trị, chăm sóc, sử dụng trang thiết bị y tế để cung cấp dịch vụ y tế Sự cố y khoa có thể phòng ngừa và không thể phòng ngừa …[2]
- Sự cố phẫu thuật là những sự cố xảy ra ở 3 giai đoạn của quá trình phẫu thuật
Có những sự cố xảy ra trong quá trình phẫu thuật là không tránh được, tuy nhiên theo các chuyên gia, đến hơn 50% các trường hợp sự cố là có thể phòng tránh được Theo Thông tư số 43/2018/TT-BYT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ Y tế về hướng dẫn phòng ngừa sự cố y khoa trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì sự cố phẫu thuật là một trong các sự cố nằm trong Danh mục sự cố y khoa nghiêm trọng [2]:
Trang 12Sự cố phẫu thuật Nguyên nhân
1 Phẫu thuật sai vị trí (bộ phận cơ thể)
Là phẫu thuật ở vị trí cơ thể NB không đúng
với những dữ kiện ghi trong hồ sơ bệnh án,
ngoại trừ những tình huống khẩn cấp như:
A Thay đổi vị trí phẫu thuật xảy ra quá trình
phẫu thuật
B Sự thay đổi này được chấp thuận
Do giai đoạn tiền mê không kiểm tra vị trí đánh dấu phẫu thuật, giai đoạn trước khi rạch
da bác sĩ phẫu thuật không xác nhận lại vị trí phẫu thuật dẫn đến phẫu thuật sai vị trí
2 Phẫu thuật sai người bệnh:
Là phẫu thuật trên người bệnh không đúng với
những dữ kiện về nhận diện người bệnh ghi
trong hồ sơ bệnh án
Do giai đoạn tiền mê, giai đoạn trước khi rạch da kíp mổ không kiểm tra các thông tin người bệnh
3 Phẫu thuật sai phương pháp gây tổn thương
nặng:
Là phương pháp phẫu thuật thực hiện không
đúng với kế hoạch phẫu thuật đã đề ra trước đó,
ngoại trừ những tình huống khẩn cấp như:
A Thay đổi phương pháp phẫu thuật xảy ra
trong quá trình phẫu thuật
B Sự thay đổi này được chấp thuận
Do giai đoạn tiền mê, giai đoạn trước khi rạch da kíp mổ không kiểm tra xác nhận phương pháp phẫu thuật sẽ thực hiện với người bệnh
4 Bỏ quên y dụng cụ, vật tư tiêu hao trong cơ thể
người bệnh sau khi kết thúc phẫu thuật hoặc
c Y dụng cụ không có trước phẫu thuật được
chủ ý để lại do có thể nguy hại khi lấy bỏ Ví
dụ: những kim rất nhỏ hoặc những mảnh vỡ ốc
vít
Do giai đoạn trước khi người bệnh rời khởi phòng phẫu thuật, điều dưỡng dụng cụ không xác nhận hoàn tất việc đếm kim, gạc và các dụng cụ phẫu thuật
5 Tử vong xảy ra trong toàn bộ quá trình phẫu
thuật (tiền mê, rạch da, đóng da) hoặc ngay sau
phẫu thuật trên NB có phân loại ASA độ I
Do xảy ra sai sót nghiêm trọng trong 3 giai đoạn của quá trình phẫu thuật
Trang 13- Những sai sót trong phẫu thuật thường gặp trong 4 trường hợp sau [1]:
+ Sai sót trước phẫu thuật: Những sai sót trong phần hành chính (Sai kíp phẫu thuật, sai buồng phẫu thuật, thiếu đối chiếu bảng kiểm trước phẫu thuật, sai NB, sai vị trí phẫu thuật…) Những sai sót này xảy ra khi giai đoạn tiền mê, giai đoạn trước khi rạch da, kíp phẫu thuật không kiểm tra chính xác thông tin hành chính của NB trước khi phẫu thuật
+ Sai sót trong phẫu thuật: Phẫu thuật viên có thể cắt sai hoặc phạm các sai sót khác Những sai sót này xảy ra khi giai đoạn tiền mê, giai đoạn trước khi rạch da, kíp phẫu thuật không kiểm tra xác nhận đúng vị trí phẫu thuật, phương pháp phẫu thuật + Sai sót trong gây mê: Nhiều thuốc gây mê, không đúng liều, theo dõi không đúng giai đoạn, không phát hiện tai biến kịp thời…Những sai sót này xảy ra khi giai đoạn tiền
mê không kiểm tra thuốc và thiết bị gây mê, giai đoạn trước khi rạch da, bác sĩ gây mê không lưu ý các vấn đề đặc biệt về NB (cao tuổi, cao huyết áp, bệnh tim mạch,…) + Sai sót sau phẫu thuật: Biến chứng (Chảy máu, thủng tạng, tổn thương tạng khác…); Nhiễm khuẩn sau phẫu thuật do thầy thuốc; Truyền sai nhóm máu… Những sai sót này xảy ra khi giai đoạn trước khi rạch da, kíp mổ không đánh giá thực hiện kháng sinh dự phòng trước gây mê, điều dưỡng phụ mổ không kiểm tra đảm bảo điều kiện vô trùng của các dụng cụ, phương tiện phẫu thuật; giai đoạn NB rời khỏi phòng phẫu thuật, kíp mổ không xác nhận những vấn đề về hồi sức và chăm sóc NB sau mổ 1.1.2 Bảng kiểm an toàn phẫu thuật
- Tổ chức y tế thế giới (WHO) phát triển BKATPT năm 2009 gồm có 19 mục chia theo 3 giai đoạn chính là tiền mê, trước khi rạch da và trước khi người bệnh rời khỏi phòng phẫu thuật BKATPT được sử dụng trong ca phẫu thuật từ khi đưa NB vào phòng mổ đến khi NB rời phòng phẫu thuật nhằm mục đích giúp cán bộ y tế tuân thủ đúng quy trình an toàn trong phẫu thuật, cải thiện và nâng cao được sự an toàn của NB
và giảm tỷ lệ tử vong không đáng có do phẫu thuật và các biến chứng liên quan [24]
- Tại Việt Nam, công tác quản lý chất lượng bệnh viện nói chung cũng như ATPT
đã được quan tâm và càng được chú trọng hơn trong những năm gần đây Triển khai an toàn trong phẫu thuật là một chương trình mà Bộ Y tế đã đề ra trong Thông tư 19/2013/TT-BYT năm 2013 Bảng kiểm ATPT được coi như là một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm giảm thiểu sự cố, sai sót y khoa liên quan đến phẫu thuật trong điều kiện của Việt Nam hiện nay
Trang 14Hình 1.1 Bảng kiểm an toàn phẫu thuật theo WHO 2009
- Bệnh viện Việt Nam -Thụy Điển Uông Bí là một trong các bệnh viện đầu tiên được Bộ Y tế cho áp dụng thí điểm BKATPT từ năm 2010 dựa trên bảng kiểm của WHO [24] Bệnh viện đã xây dựng bảng kiểm để đánh giá tuân thủ BKATPT và bảng kiểm đánh giá tuân thủ Bộ Tiêu chí đánh giá ATPT và thực hiện đánh giá hàng quý Các tồn tại được phân tích nguyên nhân gốc rễ và có giải pháp cải tiến chất lượng hàng quý
Hình 1.2 Bảng kiểm ATPT tại bệnh viện Việt Nam -Thụy Điển Uông Bí
Trang 15* Các giai đoạn tuân thủ quy trình an toàn phẫu thuật
- Giai đoạn tiền mê: Những biện pháp kiểm tra an toàn phải được thực hiện ngay
từ khi bắt đầu gây mê, đòi hỏi ít nhất phải có mặt của bác sĩ gây mê và điều dưỡng + Người bệnh được xác nhận nhân dạng, vùng phẫu thuật, phương pháp và có cam kết đồng ý thực hiện phẫu thuật hay không?
Việc xác nhận chính xác nhân dạng NB, loại phẫu thuật dự kiến, vùng phẫu thuật
và cam kết đồng ý phẫu thuật của NB là cần thiết để đảm bảo rằng nhóm phẫu thuật không phẫu thuật nhầm NB hoặc thực hiện sai phẫu thuật, các thông tin cần được kiểm tra bằng lời với mỗi thành viên có liên quan trong nhóm phẫu thuật Trước khi gây mê, người phụ trách bảng kiểm sẽ kiểm tra lại với bác sĩ gây mê và NB để xác định nhận dạng, phương pháp và vùng mổ là đúng khi đó NB đồng ý cho tiến hành phẫu thuật Trường hợp NB không thể xác nhận được vì nhiều lý do (người bệnh mê, trẻ em) thì một người nhà người bệnh sẽ chịu trách nhiệm Tình huống cấp cứu mà không có ai giám hộ được, sẽ xin ý kiến lãnh đạo bệnh viện thống nhất để thực hiện bước này + Vùng mổ có được đánh dấu không?
Cần phải xác nhận rằng vùng phẫu thuật đã được đánh dấu Việc đánh dấu vị trí phẫu thuật do BSPT thực hiện (bằng bút dấu) đặc biệt là trường hợp có liên quan đến những vị trí có ở cả hai bên hoặc phối hợp nhiều lớp, tầng Việc đánh dấu cần theo thực hành tại chỗ, việc đánh dấu thống nhất cũng là cơ sở để xác nhận đúng thủ thuật và đúng chỗ cần phẫu thuật
+ Việc kiểm tra máy gây mê và thuốc đã hoàn tất chưa?
Hoàn thành bước này bằng cách hỏi bác sĩ gây mê để xác nhận hoàn thành việc kiểm tra an toàn gây mê, được hiểu là một sự kiểm tra chính thức thiết bị gây mê, mạch, nhịp thở, thuốc và nguy cơ của NB khi gây mê trước mỗi ca phẫu thuật BSPT nên có mặt thời điểm này vì những thông tin trao đổi sẽ giúp biết được diễn biến ca mổ và những nguy cơ có thể xảy ra
+ Có máy đo độ bão hòa oxy trong máu gắn trên người bệnh và hoạt động bình thường không?
Đây cũng là một khâu quan trọng, nên để máy chỗ dễ quan sát thấy của cả nhóm Người phụ trách cũng cần phải xác nhận rằng thiết bị đo độ bão hòa oxy trong máu được gắn trên người bệnh và hoạt động bình thường trước khi tiến hành gây mê Trường hợp bệnh nhân cần phẫu thuật khẩn cấp để cứu tính mạng hoặc giữ các bộ phận của cơ thể,
Trang 16nhưng thiết bị này không có sẵn hoặc có vấn đề thì cả nhóm cần phải thống nhất bỏ qua yêu cầu này và có sự theo dõi chặt chẽ trong suốt quá trình phẫu thuật
+ Người bệnh có tiền sử dị ứng không?
Người phụ trách bảng kiểm và bác sĩ gây mê cần biết: người bệnh có tiền sử dị ứng không và nếu có thì là loại dị ứng gì
+ Người bệnh có biểu hiện khó thở/nguy cơ hít sặc?
Cả nhóm phẫu thuật phải xác nhận bằng lời đã đánh giá khách quan đường thở của người bệnh Nếu kết quả đánh giá đường thở cho thấy nguy cơ khó thở cao, nhóm gây
mê phải sẵn sàng đối phó với nguy cơ về hô hấp, nghĩa là phải điều chỉnh phương pháp gây mê (ví dụ, gây tê vùng nếu có thể) và chuẩn bị sẵn thiết bị cấp cứu
Nguy cơ về khả năng hít thở phải được đánh giá như là một phần của đánh giá đường thở Nếu người bệnh bị chướng bụng do thực quản trào ngược hoặc dạ dày giãn, nhóm gây mê phải chuẩn bị phương án đổi phó với khả năng về hít thở Đối với người bệnh có biểu hiện khó thở hoặc nguy cơ liên quan đến việc hít thở, việc bắt đầu gây mê chỉ được thực hiện khi bác sĩ gây mê xác nhận rằng đã có đủ các thiết bị và sự hỗ trợ cần thiết bên cạnh giường bệnh
+ Người bệnh có nguy cơ mất máu trên 500 ml không (7ml/kg ở trẻ em)? Việc này cần được dự tính trước, đặc biệt lưu ý khả năng mất trên 500ml máu (hoặc tương đương 7ml/kg ở trẻ em) Mất máu nhiều là nguy hiểm đối với những người bệnh phẫu thuật do vậy, trước phẫu thuật cần được tính toán để dự trữ máu BSPT và bác sĩ gây mê cần phải trao đổi về nguy cơ này trước khi ca phẫu thuật được tiến hành Nếu nguy cơ mất máu nhiều hơn 500ml là hiện hữu thì cần phải chuẩn bị ít nhất hai đường truyền tĩnh mạch
- Giai đoạn gây mê và trước khi rạch da
+ Xác nhận tên và vai trò trong ca phẫu thuật của tất cả các thành viên nhóm phẫu thuật
Trước khi rạch da, mỗi thành viên trong nhóm sẽ giới thiệu tên tuổi và vai trò Nếu
là nhóm tham gia phẫu thuật hàng ngày đã quen nhau thì chỉ cần xác nhận nhiệm vụ của mỗi người trong nhóm và đã có mặt đầy đủ
+ Xác nhận tên người bệnh, loại phẫu thuật và vị trí hay vùng phẫu thuật Nhóm phẫu thuật cần dừng lại và xác nhận bằng lời tên của người bệnh, loại phẫu thuật sẽ tiến hành và vùng phẫu thuật, việc định vị người bệnh làm nhằm tránh phẫu
Trang 17thuật nhầm người, nhầm chỗ Nếu người bệnh còn tỉnh táo, tiếp tục xác nhận với người bệnh về những thông tin tương tự
+ Kháng sinh dự phòng có được triển khai trong vòng 60 phút trước khi phẫu thuật?
Mọi người cùng xác nhận việc sử dụng kháng sinh dự phòng trong vòng 60 phút trước mổ Nếu kháng sinh dự phòng chưa được dùng, cần cho ngay trước khi rạch da Trường hợp đã cho người bệnh sử dụng kháng sinh quá 60 phút “ Nhóm phẫu thuật “ có thể cân nhắc để bổ xung nếu cần Trường hợp kháng sinh dự phòng được cho là không phù hợp thì sẽ đánh dấu vào ô “ không áp dụng “ với sự xác nhận của cả nhóm
+ Tiên lượng các biến cố
Cả nhóm cần liên tục trao đổi các thông tin như: Tiên lượng các biến cố, những bước chính và dự tính có xảy ra việc gì bất thường trong mổ? Thời gian phẫu thuật dự kiến? BSPT và Bác sỹ gây mê cần có các chú ý đặc biệt đối với từng ca phẫu thuật ngăn ngừa những biến chứng nguy hiểm cho người bệnh
Đối với bác sĩ phẫu thuật: những bước chính và đột xuất là gì? Thời gian diễn ra bao lâu? Tiên lượng mất máu là bao nhiêu?
Đối với bác sĩ gây mê: có những lo ngại cụ thể nào về người bệnh không?
Đối với nhóm điều dưỡng: đã xác nhận tình trạng vô khuẩn chưa (có các kết quả chỉ số? Có lo ngại hoặc vấn đề gì về trang thiết bị không?
Chẩn đoán hình ảnh thiết yếu có được chuẩn bị không?
Đây cũng là yếu tố quan trọng nhằm đảm bảo cho việc lên kế hoạch chuẩn và tiến hành nhiều loại phẫu thuật bao gồm phẫu thuật chỉnh răng, cột sống và ngực và nhiều phẫu thuật cắt khối u khác Chẩn đoán hình ảnh có trong phòng và được hiển thị liên tục trong suốt quá trình phẫu thuật nếu không sẵn có trong phòng thì cần phải thu xếp để có được BSPT sẽ quyết định liệu có tiến hành mà không có chẩn đoán hình ảnh, nếu như cần nhưng không có sẵn tại chỗ
- Trước khi người bệnh rời phòng mổ
Cả nhóm đánh giá lại cuộc mổ, hoàn thành việc kiểm tra thiết bị sử dụng cho cuộc
mổ, gạc, dán mác bệnh phẩm phẫu thuật Do trong quá trình phẫu thuật có thể thay đổi hoặc mở rộng tùy theo tình trạng tổn thương nên người phụ trách bảng kiểm cần xác nhận với nhóm phẫu thuật xem chính xác là phẫu thuật gì đã được thực hiện Câu hỏi thường đặt ra như “Chúng ta vừa tiến hành phẫu thuật gì ?” hoặc xác nhận “Chúng ta
Trang 18vừa tiến hành phẫu thuật X có đúng không??”
Những biện pháp kiểm tra an toàn này cần phải được hoàn tất trước khi chuyển người bệnh ra khỏi phòng mổ Mục đích là nhằm chuyển tải những thông tin quan trọng cho nhóm chăm sóc hậu phẫu Việc này được thực hiện và phải hoàn thành trước khi BSPT rời phòng mổ Nó có thể diễn ra đồng thời với quá trình đóng vết thương
+ Điều dưỡng dụng cụ xác nhận bằng lời:
Tên của phẫu thuật: Phẫu thuật có thể thay đổi hoặc mở rộng nên người phụ trách bảng kiểm cần phải xác nhận với BSPT và cả nhóm cho chính xác
Hoàn thành việc kiểm tra kim tiêm, gạc và dụng cụ: Điều dưỡng phụ trách vệ sinh, thu dọn cần phải xác nhân bằng lời việc hoàn tất kiểm kê băng gạc, kim tiêm lần cuối Trong những trường hợp phẫu thuật hốc mở, việc kiểm tra dụng cụ vẫn cần phải được xác nhận đã hoàn thành Nếu việc kiểm tra đối chiếu thấy không hợp lý, cả nhóm phải được cảnh báo và phải kiểm tra lại
Dán nhãn bệnh phẩm (đọc to nhãn bệnh phẩm bao gồm cả tên người bệnh) Việc dán nhãn không đúng bệnh phẩm là nguy cơ tiềm ẩn đối với người bệnh, thậm chí mất bệnh phẩm sẽ dẫn đến những sai sót hoặc khó khăn trong việc điều trị về sau Người phụ trách cần xác nhận việc dán nhãn bệnh phẩm thu được trong quá trình phẫu thuật là đúng bằng cách đọc to tên người bệnh, mô tả bệnh phẩm và ghi thông tin người bệnh lên trên
Liệu có vấn đề gì về trang thiết bị cần giải quyết
Nhóm phẫu thuật cũng cần đánh giá lại hoạt động của trang thiết bị, cần phải đảm bảo rằng những vấn đề về trang thiết bị nảy sinh trong quá trình phẫu thuật được cả nhóm phát hiện
Bác sĩ phẫu thuật, gây mê và điều dưỡng đánh giá những lo ngại đối với quá trình hồi phục và xử trí người bệnh
BSPT, gây mê và điều dưỡng cần đánh giá quá trình hồi phục hậu phẫu và kế hoạch
xử trí tập trung cụ thể vào những vấn đề về gây mê hoặc trong khi phẫu thuật có thể ảnh hưởng đến người bệnh Những sự cố trực tiếp gây rủi ro cụ thể cho người bệnh trong quá trình hồi phục và những sự cố gián tiếp có liên quan chặt chẽ Mục đích của bước thực hiện này là nhằm chuyển tải một các hiệu quả và phù hợp những thông tin quan trọng của cả nhóm
Cuối cùng cả nhóm sẽ trao đổi kế hoạch chính và những vấn đề liên quan tới xử lý
Trang 19hậu phẫu và phục hồi của người bệnh trước khi chuyển người bệnh ra khỏi phòng mổ
Do người phụ trách bảng kiểm có quyền dừng không cho tiến hành các bước tiếp theo nếu các bước trước đó chưa được hoàn thành, đảm bảo cho cuộc mổ an toàn nên
họ có thể gặp xung đột với một vài các thành viên khác của nhóm Vì vậy việc lựa chọn người phụ trách bảng kiểm cần phù hợp: có trách nhiệm và cả có tiếng nói đối với mọi người
Tỷ lệ tuân thủ chung được đánh giá khi tất cả các đối tượng tuân thủ cho NB, chỉ cần 01 đối tượng không tuân thủ trên 01 người bệnh thì được gọi là không tuân thủ 1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Bảng kiểm an toàn trong phẫu thuật đã được WHO xây dựng và thực hiện từ năm
2009, đã chứng minh tính hiệu quả của nó trong phòng ngừa các sai sót liên quan đến phẫu thuật Trên thế giới đã có nhiều tổ chức và cá nhân tiến hành nghiên cứu về tính hiệu quả khi sử dụng bảng kiểm an toàn trong phẫu thuật của WHO
Alex B Haynes và cộng sự (2009) đã nghiên cứu thử nghiệm ở 8 bệnh viện trên toàn thế giới, 4 bệnh viện ở những nơi có thu nhập cao và 4 ở những nơi có thu nhập thấp và trung bình Dữ liệu được thu thập từ 7688 người bệnh (3733 trước và 3955 sau thực hiện checklist) từ tháng 10 năm 2007 đến tháng 9 năm 2008 và kết quả đã chứng minh những cải thiện đáng kể về an toàn NB trong phẫu thuật Tỉ lệ biến chứng lớn giảm
từ 11% đến 7% (giảm 36%), tỷ lệ tử vong giảm từ 1,5% đến 0,8% (giảm gần 50%) [19]
Tadesse B Melekie và cộng sự (2015) đã khảo sát 282 ca phẫu thuật từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2013 và áp dụng BKATPT của WHO để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng bảng kiểm Kết quả cho thấy việc tuân thủ các phần trong BKATPT và sự tham gia của thực hiện bảng kiểm của các thành viên kíp mổ là khác nhau Phần có tỉ lệ tuân thủ cao nhất là ID của người bệnh, loại thủ thuật và kháng sinh, kém nhất là vị trí rạch da
và thong tin hình ảnh Cuộc nghiên cứu đã cho thấy cần cải thiện sự tuân thủ và sự tham gia của toàn bộ nhóm phẫu thuật, cần giải quyết khái niệm rủi ro và sựu nhận thức câc phần trong bảng kiểm cho các thành viên trong nhóm [23]
1.2.2 Các nghiên cứu trong nước
Lương Thị Thoa và cộng sự (2018) đã thực hiện nghiên cứu đánh giá sự tuân thủ thực hiện bảng kiểm an toàn phẫu thuật tại khoa Gây mê hồi sức bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên Nhóm nghiên cứu đã kiểm tra việc tuân thủ BKATPT cho 1010
Trang 20ca phẫu thuật theo kế hoạch và cấp cứu thực hiện tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên trong thời gian 1 tháng Nhóm đã đưa ra kết luận: Trong giai đoạn tiền mê,100% người bệnh được xác nhận đúng và có cam đoan đồng ý phẫu thuật, 20% người bênh không được đánh dấu vị trí mổ, 98,5% số ca được gắn thiết bị theo dõi độ bão hòa oxy trong máu Giai đoạn trước khi rạch da: 15,4 % số ca có tiền sử dị ứng, 4% các thành viên trong kíp mổ không giới thiệu tên và nhiệm vụ của mình Việc dùng kháng sinh dự phòng chiếm 79 % Có 96,6% số ca mổ được phẫu thuật viên tiên lượng được những bất thường có thể xảy ra Trước khi rời phòng mổ:việc ghi chép phương pháp phẫu thuật , phương pháp vô cảm được thực hiện đầy đủ 100%, điều dưỡng dụng cụ hoàn thành việc kiểm tra gạc, kim, dụng cụ phẫu thuật trước khi đóng vết mổ là 100% Tuy nhiên, việc đọc to nhãn bệnh phẩm cùng tên người bệnh chỉ đạt 41% [15]
Phạm Ngọc Độ (2020) cũng đã thực hiện nghiên cứu đánh giá sự tuân thủ thực hiện bảng kiểm an toàn phẫu thuật và một số yếu tố liên quan của nhân viên y tế tai bệnh viện Da liễu trung ương từ tháng 3-6/2020 Nhóm đã tiến hành quan sát ngẫu nhiên 217
ca phẫu thuật bằng bảng kiểm đánh giá tuân thủ quy trình ATPT, bảng kiểm được xây dựng trên cơ sở nhân viên y tế có/không thực hiện các mục trong BKATPT Sau đó, nhóm thực hiện qua việc phỏng vấn sâu (PVS) 5 đại diện lãnh đạo bệnh viện, khoa phòng
và tổ chức 4 cuộc thảo luận nhóm (TLN) với nhân viên y tế tại khoa Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ và phục hồi chức năng Kết quả cho thấy tỷ lệ tuân thủ quy trình an toàn phẫu thuật chung là 62,7% Tỷ lệ tuân thủ cao nhất ở giai đoạn trước khi gây mê/tê với 84,8%, thấp nhất là giai đoạn trước khi rạch da với 77,0% Tỷ lệ tuân thủ quy trình an toàn phẫu thuật của nhóm bác sĩ phẫu thuật và bác sĩ/kỹ thuật viên gây mê đều là 81,6%, nhóm điều dưỡng thấp hơn với 69,6% Một số nội dung còn chưa thực hiện tốt, tỷ lệ tuân thủ chưa cao, như đánh giá nguy cơ mất máu ở giai đoạn trước khi gây mê/tê với 47,6%; dự kiến thời gian phẫu thuật và thực hiện hình ảnh chẩn đoán thiết yếu ở giai đoạn trước khi rạch da lần lượt 88,2% và 76,4%; dán nhãn mẫu bệnh phẩm đầy đủ ở giai đoạn trước khi người bệnh rời khỏi phòng phẫu thuật là 80,9%.[8]
Trần Thị Thủy (2021) nghiên cứu 117 người bệnh phẫu thuật tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cho thấy việc áp dụng BKATPT đã kiểm soát tốt các thông tin liên quan đến người bệnh trước, trong và sau phẫu thuật Trước khi gây mê: 100% người bệnh đã được xác nhận đúng và có cam đoan đồng ý phẫu thuật 72,7% chuẩn bị vùng phẫu thuật chưa tốt; 7,8% không xác định đúng phương pháp phẫu thuật 100% số ca phẫu thuật
Trang 21được kiểm tra thuốc, thiết bị gây mê, 100% người bệnh gắn thiết bị theo dõi độ bão hòa oxy trong máu trước gây mê/tê 18% người bệnh không được đánh dấu vùng phẫu thuật Trước khi rạch da: 83,8% các thành viên kíp phẫu thuật không giới thiệu tên và nhiệm
vụ của mình; 61,5% không dự kiến thời gian phẫu thuật Các thông tin người bệnh được xác nhận là 95,7%.Việc dùng kháng sinh dự phòng trước khi phẫu thuật là 89% Trước khi đóng vết mổ và trước khi rời phòng mổ: 2,6% ca mổ có vấn đề về thiết bị Ghi chép phương pháp phẫu thuật, phương pháp vô cảm được thực hiện đầy đủ đạt 100% Điều dưỡng dụng cụ hoàn thành việc kiểm tra gạc, kim, dung cụ trước khi đóng vết mổ đạt 100% Việc dán nhãn bệnh phẩm cùng tên người bệnh là 25% [16]
1.2.3 Các quy định, hướng dẫn về việc thực hiện Bảng kiểm an toàn phẫu thuật
- Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009
- Thông tư số 19/2013/TT-BYT ngày 12/07/2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc Hướng dẫn thực hiện Quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại Bệnh viện;
- Thông tư số 43/2018/TT-BYT ngày 28/12/2018 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc Phòng ngừa sự cố y khoa trong các cơ sở khám chữa bệnh
- Quyết định số 6858/QĐ- BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế ngày 18/11/2016 về việc ban hành Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện
- Quyết định 7482/ QĐ-BYT ngày 18 tháng 12 năm 2018 về việc “Ban hành Bộ tiêu chí chất lượng đánh giá mức độ an toàn phẫu thuật”
- Quyết định số 489/QĐ-VĐ ngày 10/03/2017 của Giám đốc Bệnh viện Việt Nam
- Thụy Điển về việc áp dụng quy trình và bảng kiểm an toàn phẫu thuật
- Cẩm nang thực hành bảng kiểm an toàn phẫu thuật (WHO)