Những nguy cơ có thể gặp trong phẫu thuật không an toàn nhưthiếu thông tin và sự kết nối của các thành viên trong nhóm phẫu thuật; không kiểm tra kỹ người bệnh, vùng mổ cũng như phương t
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số định nghĩa và khái niệm sử dụng trong chuyên đề
An toàn người bệnh là việc phòng ngừa các sai sót có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người bệnh trong quá trình điều trị và chăm sóc y tế Đây là một chuyên ngành quan trọng trong lĩnh vực y tế, nhằm áp dụng các phương pháp an toàn để xây dựng hệ thống cung ứng dịch vụ y tế đáng tin cậy và giảm thiểu rủi ro cho bệnh nhân.
An toàn phẫu thuật là yếu tố paramount trong phòng ngừa các sai sót có thể gây nguy hiểm cho người bệnh trước, trong và sau quá trình phẫu thuật Theo Thông tư 43/2018/TT-BYT, ATPT được định nghĩa là thực hiện phẫu thuật đúng người bệnh, đúng bộ phận, đúng vị trí, đúng quy trình và đúng kỹ thuật để đảm bảo hiệu quả điều trị và an toàn tối đa Việc tuân thủ nguyên tắc an toàn phẫu thuật giúp giảm thiểu các rủi ro và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người bệnh.
Phẫu thuật là kỹ thuật y tế phổ biến dùng để chẩn đoán, điều trị và chỉnh hình các bệnh lý, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh.
Sự cố y khoa là các tình huống không mong muốn xảy ra trong quá trình chẩn đoán, chăm sóc và điều trị bệnh, xuất phát từ các yếu tố khách quan, chủ quan hơn là do diễn biến bệnh lý hoặc cơ địa của người bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của họ.
Sự cố phẫu thuật là những sự cố xảy ra trong cả ba giai đoạn của quá trình phẫu thuật Theo Thông tư 43/2018/TT-BYT ngày 26/12/2018 của Bộ Y tế về hướng dẫn phòng ngừa sự cố y khoa trong các cơ sở khám chữa bệnh, sự cố phẫu thuật được xếp vào danh mục các sự cố y khoa nghiêm trọng Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo an toàn trong mọi khâu của quá trình phẫu thuật để giảm thiểu các rủi ro và hậu quả nghiêm trọng cho bệnh nhân.
Sai sót là kết quả của việc thất bại trong việc thực hiện hoặc triển khai kế hoạch đã đề ra, gây ra không đạt được mục tiêu dự kiến Nguyên nhân có thể bắt nguồn từ việc đưa ra kế hoạch sai, hoặc do thực hiện ngược lại với kế hoạch đã lập, dẫn đến các lỗi hoặc sai sót ngoài ý muốn Việc hiểu rõ nguyên nhân của sai sót giúp cải thiện quá trình lập kế hoạch và thực thi, nâng cao hiệu quả công việc.
Những sai sót trong phẫu thuật thường gặp:
+ Sai sót trước phẫu thuật
+ Sai sót trong phẫu thuật
+ Sai sót trong gây mê
+ Sai sót sau phẫu thuật
1.1.2 Bảng kiểm an toàn phẫu thuật
Chương trình ATPT do WHO xây dựng nhằm giảm thiểu các ca biến chứng và tử vong liên quan đến phẫu thuật trên toàn thế giới, góp phần nâng cao an toàn người bệnh Các nguy cơ trong phẫu thuật không an toàn bao gồm thiếu thông tin, sự thiếu kết nối giữa các thành viên trong nhóm mổ, và việc không kiểm tra kỹ người bệnh, vùng mổ hay các phương tiện sử dụng trong quá trình phẫu thuật, những vấn đề này có thể được ngăn chặn nếu tuân thủ các quy trình phù hợp Các chuyên gia như phẫu thuật viên, gây mê hồi sức, điều dưỡng và chuyên gia an toàn người bệnh đã xác định các mục tiêu cơ bản của chương trình ATPT và đưa vào áp dụng bảng kiểm tra an toàn phẫu thuật Kể từ bảng kiểm đầu tiên của WHO được đề xuất năm 2009 và đã qua chỉnh sửa, hiện nay bảng kiểm gồm 16 mục, phù hợp với thực tế và được đa số các chuyên gia ủng hộ, góp phần nâng cao hiệu quả an toàn trong phẫu thuật.
Mục đích cuối cùng của WHO khi xây dựng bảng kiểm ATPT là đảm bảo các nhóm phẫu thuật tuân thủ nhất quán các bước quan trọng để giảm thiểu các rủi ro có thể tránh được, nâng cao an toàn và sức khỏe cho người bệnh Bảng kiểm này hướng dẫn tương tác giữa các thành viên trong quá trình trao đổi bằng lời nói, như một công cụ chứng minh rằng tiêu chuẩn chăm sóc phù hợp đã được áp dụng cho mỗi bệnh nhân.
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Kiểm tra thiết bị đo độ bão hòa oxy trong máu gắn trên người bệnh để đảm bảo hoạt động bình thường là bước quan trọng và nên đặt ở vị trí dễ quan sát Theo khuyến cáo của WHO, việc sử dụng thiết bị này rất cần thiết để đảm bảo an toàn trong quá trình gây mê Trong trường hợp bệnh nhân cần phẫu thuật khẩn cấp để cứu tính mạng, nếu thiết bị gặp sự cố, nhóm y bác sĩ cần thống nhất bỏ qua và tiến hành theo dõi sát sao suốt quá trình phẫu thuật để đảm bảo an toàn tối đa.
Trong quá trình chuẩn bị gây mê, cần lưu ý các yếu tố như tiền sử dị ứng của người bệnh và các biểu hiện khó thở để điều chỉnh phương pháp gây mê phù hợp Việc gây mê chỉ được thực hiện khi bác sĩ gây mê xác nhận đầy đủ các thiết bị cần thiết và sự hỗ trợ phù hợp bên cạnh người bệnh, đặc biệt là đối với những trường hợp có nguy cơ ảnh hưởng đến đường thở hoặc có biểu hiện khó thở.
Việc mất máu trong quá trình phẫu thuật cần được dự tính trước, đặc biệt là khả năng mất trên 500ml máu hoặc tương đương 7ml/kg ở trẻ em Trước phẫu thuật, việc tính toán lượng máu dự trữ là rất quan trọng để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân Trong quá trình phẫu thuật, các bác sĩ phẫu thuật thường xuyên phối hợp với bác sĩ gây mê và nhóm điều dưỡng để chuẩn bị đường truyền truyền máu khi cần thiết, nhằm xử lý kịp thời các tình huống mất máu nhiều.
1.1.2.2 Giai đoạn gây mê và trước khi rạch da
Trước khi rạch da, các thành viên trong nhóm giới thiệu tên, tuổi và vai trò của mình để đảm bảo sự rõ ràng và phối hợp hiệu quả Đối với nhóm thực hiện phẫu thuật hàng ngày, cần xác nhận tất cả thành viên đều có mặt đầy đủ và đều biết rõ nhau để đảm bảo an toàn Mỗi thành viên phải xác nhận rằng họ sẽ thực hiện phẫu thuật cho đúng người bệnh và xác nhận bằng lời nói để tránh nhầm lẫn Cuối cùng, nhóm xác định các điểm chủ yếu trong kế hoạch phẫu thuật dựa trên bảng kiểm tra hướng dẫn, giúp đảm bảo quá trình phẫu thuật diễn ra chính xác và an toàn.
Mọi người cùng xác nhận việc sử dụng kháng sinh dự phòng trong vòng
Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng thực hiện bảng kiểm ATPT
1.2.1.1 Nghiên cứu trên thế giới
Bảng kiểm ATPT do WHO xây dựng từ năm 2009 đã chứng minh hiệu quả trong việc giảm thiểu sai sót trong phẫu thuật, góp phần nâng cao an toàn cho bệnh nhân Các tổ chức và chuyên gia quốc tế đã tiến hành nhiều nghiên cứu để đánh giá tính ứng dụng và lợi ích của bảng kiểm này, khẳng định giá trị của nó trong hệ thống y tế toàn cầu Việc sử dụng bảng kiểm ATPT giúp thúc đẩy quy trình phẫu thuật an toàn hơn, giảm thiểu rủi ro và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.
Alex B Haynes và cộng sự (2009) đã tiến hành nghiên cứu thử nghiệm tại 8 bệnh viện toàn cầu, với sự tham gia của cả bệnh viện ở các khu vực có thu nhập cao và thấp nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc thực hiện Checklist đối với an toàn người bệnh Dữ liệu thu thập từ 7.688 người bệnh trong khoảng thời gian từ tháng 10/2007 đến tháng 9/2008 cho thấy rõ ràng rằng việc áp dụng Checklist đã mang lại những cải thiện đáng kể về an toàn trong phẫu thuật Cụ thể, tỷ lệ biến chứng lớn giảm từ 1,5% xuống còn 0,8%, gần giảm 50%, chứng tỏ hiệu quả của biện pháp này trong nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh.
TadesseB.Melekie và cộng sự (2005) đã khảo sát 282 ca phẫu thuật từ tháng
Đến tháng 3 năm 2013, nghiên cứu đã áp dụng bảng kiểm ATPT của WHO để đánh giá hiệu quả sử dụng, phát hiện sự khác biệt về mức độ tuân thủ và tham gia của các thành viên trong đội mổ Các phần có tỉ lệ tuân thủ cao nhất gồm định danh bệnh nhân, loại thủ thuật và kháng sinh dự phòng, trong khi đó, vị trí rạch da và thông tin hình ảnh có tỉ lệ thấp hơn Nghiên cứu chỉ ra rằng cần nâng cao sự tuân thủ và tham gia của toàn bộ nhóm phẫu thuật, đồng thời chú trọng giải quyết nhận thức về rủi ro và vai trò của từng thành viên trong việc thực hiện bảng kiểm để nâng cao chất lượng an toàn phẫu thuật.
Lương Thị Thoa và cộng sự (2012) đã tiến hành nghiên cứu đánh giá mức độ tuân thủ bảng kiểm ATPT tại khoa Gây mê hồi sức của Bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên Nghiên cứu này nhằm xác định hiệu quả của việc thực hiện các quy trình kiểm tra ATPT trong quá trình phẫu thuật, góp phần nâng cao an toàn và chất lượng dịch vụ y tế Kết quả cho thấy việc tuân thủ bảng kiểm ATPT ảnh hưởng tích cực đến an toàn bệnh nhân, giảm thiểu các rủi ro liên quan đến thủ thuật gây mê hồi sức Đây là những phát hiện quan trọng, góp phần thúc đẩy việc áp dụng và duy trì các quy trình kiểm tra an toàn trong các cơ sở y tế.
Trong vòng 1 tháng, đã thực hiện 1010 ca phẫu thuật theo kế hoạch và cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên Kết quả cho thấy, 100% người bệnh trong giai đoạn tiền mê được xác nhận và cam đoan đồng ý phẫu thuật, tuy nhiên có 20% người bệnh không được đánh dấu vị trí mổ rõ ràng Khoảng 98,5% ca phẫu thuật được gắn thiết bị theo dõi độ bão hòa oxy trong máu, góp phần nâng cao an toàn phẫu thuật Trước khi rạch da, 15,4% ca có tiền sử dị ứng, còn 4% thành viên trong đội ngũ mổ chưa giới thiệu rõ tên và nhiệm vụ của mình Hầu hết các ca phẫu thuật đều sử dụng kháng sinh dự phòng (79,0%), và 96,6% bác sĩ phẫu thuật đã dự đoán trước các bất thường có thể xảy ra Giai đoạn trước khi rời khỏi phòng mổ, tất cả các trường hợp đều ghi chép đầy đủ phương pháp phẫu thuật và vô cảm, cùng với việc hoàn thành kiểm tra dụng cụ, gạc, kim trước khi đóng vết mổ Tuy nhiên, việc đọc to nhãn bệnh phẩm kèm tên người bệnh chỉ đạt tỷ lệ 41,0%, cho thấy vẫn còn những điểm cần cải thiện trong quy trình đảm bảo an toàn và chính xác khi thực hiện phẫu thuật.
Phạm Ngọc Độ (2020) thực hiện nghiên cứu cắt ngang kết hợp định lượng và định tính tại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 3 đến 6/2020 nhằm đánh giá mức độ tuân thủ bảng kiểm an toàn người phẫu thuật (ATPT) và các yếu tố liên quan của nhân viên y tế Kết quả cho thấy tỷ lệ tuân thủ quy trình an toàn phẫu thuật chung là 62,7%, cao nhất ở giai đoạn trước khi gây mê/tê (84,8%) và thấp nhất trước khi rạch da (77,0%) Nhóm bác sĩ phẫu thuật và gây mê đạt tỷ lệ tuân thủ đều là 81,6%, trong khi điều dưỡng thấp hơn mức này là 69,6% Một số nội dung chưa thực hiện tốt, như đánh giá nguy cơ mất máu (47,6%) và dán nhãn mẫu bệnh phẩm đầy đủ (80,9%), đặc biệt là các nội dung có tỷ lệ tuân thủ thấp cần được tăng cường giám sát và tổ chức đào tạo định kỳ để nâng cao an toàn trong phẫu thuật.
Nghiên cứu của Phạm Thanh Thảo và cộng sự (2021) về đánh giá việc tuân thủ bảng kiểm an toàn phẫu thuật tại Khoa phẫu thuật hồi sức bệnh viện Chấn thương chỉnh hình đã thực hiện trên 240 ca mổ, cho thấy tỷ lệ tuân thủ cao trong kiểm tra hồ sơ và người bệnh trước khi tiền mê, như xác định vị trí mổ, xác nhận danh tính, kiểm tra dị ứng thuốc, thức ăn, thiết bị gây mê, và hoạt động của máy SpO2 Tuy nhiên, một số phần không tuân thủ bao gồm việc không đánh dấu vùng mổ (8.33%), chưa kiểm tra nguy cơ khó thở hoặc sặc (2.08%) và mất máu (2.5%) Trong quá trình kiểm tra trước rạch da, các nội dung có tỉ lệ tuân thủ cao là kiểm tra kết quả chẩn đoán hình ảnh, dự đoán mất máu, và đánh giá các vấn đề cần chú ý của người gây mê cùng nhóm điều dưỡng, còn các nội dung chưa tuân thủ gồm tự giới thiệu của thành viên phẫu thuật (12.08%), xác nhận thông tin người bệnh và phương pháp phẫu thuật bằng lời nói (3.33%), và thực hiện kháng sinh dự phòng đúng thời gian (3.75%) Ngoài ra, các nhân viên chưa dự đoán chính xác các bước chính, các bất thường trong phẫu thuật (9.17%), thời gian phẫu thuật (1.25%), và tình trạng vô khuẩn dụng cụ (2.92%) Trước khi đóng vết mổ và rời phòng phẫu thuật, chỉ có ít trường hợp bác sĩ xác nhận bằng lời tên phương pháp phẫu thuật (1.25%) Để nâng cao an toàn người bệnh, đề xuất kiểm tra, giám sát thường xuyên và đột xuất việc áp dụng bảng kiểm, xây dựng bảng tin an toàn cho nhân viên y tế tại khoa, thiết kế poster truyền thông, và tổ chức các lớp tập huấn nâng cao văn hóa an toàn phẫu thuật cho các đối tượng liên quan.
1.2.2 Các quy định, hướng dẫn về việc thực hiện bảng kiểm ATPT
- Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009
Thông tư số 19/2013/TT-BYT ngày 12/7/2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại các bệnh viện Văn bản này quy định rõ các tiêu chuẩn và hướng dẫn cụ thể nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ y tế, nâng cao trải nghiệm bệnh nhân và thực hiện các yêu cầu về an toàn, hiệu quả trong quá trình khám chữa bệnh Thông tư còn thiết lập các quy trình kiểm tra, giám sát và đánh giá chất lượng dịch vụ y tế tại bệnh viện, góp phần nâng cao năng lực thực hành của các cơ sở y tế và đảm bảo sự hài lòng của người bệnh.
- Quyết định số 6858/QĐ-BYT ngày 18/11/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện
- Quyết định 7482/QĐ-BYT ngày 18/12/2018 về việc Ban hành tiêu chí chất lượng đánh giá độ ATPT
- Cẩm nang thực hành bảng kiểm ATPT (WHO) năm 2009
Quyết định số 62/QĐ-TTYT ngày 07/3/2019 của Giám đốc Trung tâm Y tế huyện Thanh Miện ban hành các quy định về thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Trung tâm Y tế Văn bản này nhằm cụ thể hóa các nhiệm vụ chính của trung tâm, đảm bảo hoạt động y tế công cộng hiệu quả và phù hợp với quy định của ngành y tế Quyết định là cơ sở pháp lý để hướng dẫn thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và thúc đẩy công tác phòng và chữa bệnh trong cộng đồng.
MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT
Thông tin chung về TTYT huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương
Trung tâm Y tế huyện Thanh Miện được thành lập năm 2018 từ việc sáp nhập Bệnh viện đa khoa huyện, Trung tâm y tế huyện và Phòng Dân số KHHGĐ huyện, nhằm nâng cao năng lực chăm sóc sức khỏe cộng đồng Với quy mô 190 giường bệnh kế hoạch và 245 giường bệnh thực tế, trung tâm sở hữu 14 khoa/phòng, trong đó có 4 phòng chức năng và 10 khoa chuyên môn Hiện nay, đội ngũ cán bộ nhân viên của Trung tâm Y tế huyện Thanh Miện đã vượt trên 300 người, đảm bảo dịch vụ y tế chất lượng cao cho cộng đồng.
Khoa Ngoại tổng hợp TTYT huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương:
Chuyên môn thực hiện nhiệm vụ khám, tư vấn và điều trị các bệnh ngoại khoa và sản phụ khoa, đảm bảo đáp ứng đầy đủ nhu cầu sức khỏe của bệnh nhân Đồng thời, đội ngũ y bác sĩ tổ chức thực hiện các ca mổ phiên, mổ cấp cứu cho các bệnh ngoài khoa cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và chăm sóc bệnh nhân hiệu quả.
+ Nhân lực khoa gồm 18 công chức viên chức trong đó 05 bác sĩ (01 Thạc sĩ, 01 bác sĩ CKI, 02 bác sĩ GMHS, 01 bác sĩ định hướng ngoại); 13 điều dưỡng
Các cử nhân điều dưỡng và cao đẳng điều dưỡng đã thực hiện nhiệm vụ chăm sóc và điều trị bệnh nhân ngoại khoa, đồng thời đảm nhận công tác quản lý nhóm và hỗ trợ phẫu thuật cho bệnh nhân ngoại khoa và sản phụ khoa.
Khoa có 2 phòng mổ và 2 phòng hậu phẫu, đảm bảo quy trình chăm sóc bệnh nhân chất lượng cao Hàng năm, đội ngũ nhân lực gồm 18 công chức viên chức phối hợp cùng 4 phẫu thuật viên sản phụ khoa thực hiện khoảng 1.200 ca phẫu thuật, bao gồm phẫu thuật cấp cứu và phẫu thuật phiên, góp phần nâng cao khả năng điều trị và chăm sóc sức khỏe sinh sản.
+ Cán bộ nhân viên của khoa luôn là những chiến sĩ thầm lặng trong cuộc chiến giành lại sự sống, sức khỏe cho người bệnh
Từ năm 2019, Trung tâm y tế huyện Thanh Miện đã áp dụng bảng kiểm ATPT theo khuyến cáo của WHO và nhận thấy kết quả tích cực Việc thực hiện bảng kiểm ATPT đem lại hiệu quả cao, đơn giản, dễ thực hiện, góp phần nâng cao tính an toàn và kiểm soát chất lượng phẫu thuật Những kết quả này chứng tỏ rằng việc áp dụng phương pháp này phù hợp, mang lại lợi ích rõ rệt trong công tác đảm bảo an toàn phẫu thuật tại địa phương.
KHUNG LÝ THUYẾT CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC TUÂN THỦ
BẢNG KIỂM AN OÀN PHẪU THUẬT
Đối tượng và phương pháp nhiên cứu
Nhóm yếu tố thuộc về NVYT:
- Kiến thức về thực hành bảng kiểm
- Nhận thức về tuân thủ thực hiện bảng kiểm
Tuân thủ bảng kiểm ATPT
- Tuân thủ thực hiện theo nội dung bảng kiểm
- Tuân thủ việc ghi chép trên bảng kiểm: Giai đoạn tiền mê; giai đoạn trước khi rạch da; giai đoạn trước khi người bệnh rời phòng phẫu thuật
Nhóm yếu tố liên quan đến ca phẫu thuật
- Thời gian hoàn thành bảng kiểm cho phẫu thuật
- Thời gian thực hiện ca phẫu thuật
Nhóm yếu tố thuộc về bệnh viện:
- Sự quan tâm của lãnh đạo bệnh viện/khoa
- Sự quá tải của các ca phẫu thuật tại cùng thời điểm
- Quy trình và công cụ thực hiện
- Tập huấn kiến thức thực hành bảng kiểm
Đối tượng nghiên cứu chính là nhóm phẫu thuật, gồm bác sĩ phẫu thuật, bác sĩ gây mê, kỹ thuật viên và điều dưỡng phòng mổ tại khoa Ngoại - TTYT huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương Hệ thống kiểm tra, giám sát được xây dựng nhằm đảm bảo chất lượng công tác phẫu thuật, nâng cao an toàn cho bệnh nhân Các quy trình kiểm tra minh bạch, liên tục giúp phát hiện và khắc phục kịp thời những sai sót trong quá trình phẫu thuật Việc nghiên cứu này góp phần nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ nhân viên y tế, đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn y tế và tăng cường an toàn trong hoạt động phẫu thuật tại địa phương.
2.2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu Địa điểm nghiên cứu: khoa Ngoại- TTYT huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương Thời gian: từ 01/5/2022 đến 01/7/2022
Sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang
Lấy tất cả 245 ca mổ cấp cứu và mổ phiên đuợc thực hiện tại khoa Ngoại TTYT huyện Thanh Miện trong thời gian 2 tháng
2.2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
- Công cụ thu thập số liệu
+ Thu thập bằng bảng kiểm thiết kế sẵn được xây dựng trên bảng kiểm ATPT của đơn vị
+ Thu thập từ hồ sơ bệnh án của người bệnh
- Quy trình thu thập số liệu
+ Phổ biến mục tiêu nghiên cứu cho nhóm khảo sát
+ Hướng dẫn cách khảo sát bảng kiểm
- Cách thức thu thập số liệu
+ Nhóm khảo sát tiến hành quan sát trực tiếp người bệnh, phẫu thuật viên, bác sĩ gây mê, điều dưỡng
+ Nhóm khảo sát quan sát toàn bộ 1 ca phẫu thuật theo bảng kiểm ATPT và hồ sơ bệnh án của người bệnh
Bảng liệt kê và định nghĩa các biến số chính
STT Chỉ tiêu nghiên cứu Giải thích chỉ tiêu nghiên cứu
1 Xác định đúng người bệnh
Trong quá trình chuẩn bị gây mê, bác sĩ gây mê hoặc kỹ thuật viên/điều dưỡng gây mê cần hỏi kỹ các thông tin cá nhân của bệnh nhân như họ tên, giới tính, ngày tháng năm sinh, đảm bảo khớp với vòng đeo tay và hồ sơ bệnh án để xác định chính xác danh tính, từ đó nâng cao độ chính xác và an toàn trong quá trình gây mê.
Không Thiếu hoặc sai từ một thông tin trở lên
2 Chuẩn bị vùng phẫu thuật (tắm, gội, vệ sinh, băng vùng mổ)
Trước ca mổ, bệnh nhân được tắm bằng xà phòng diệt khuẩn để đảm bảo vệ sinh Vùng mổ được sát khuẩn kỹ bằng Betadin 10% và băng vô khuẩn trước khi phẫu thuật diễn ra Ngoài ra, nếu lông vùng phẫu thuật gây cản trở, bác sĩ sẽ cạo lông để đảm bảo quy trình phẫu thuật an toàn và đạt hiệu quả cao.
- Với phẫu thuật can thiệp vùng sinh dục, tiết niệu thì phải vệ sinh kỹ vùng kín và cả mặt trong và phía trên của hai đùi
- Đối với phẫu thuật mũi, họng thì người bệnh được nhỏ mũi, xúc họng bằng nước muối sinh lý ngay trước khi phẫu thuật, không cần phải tắm
Không Không thực hiện đầy đủ một trong những yêu cầu trên
3 Xác định đúng phương pháp phẫu thuật
Có Bác sĩ gây mê hoặc kỹ thuật viên/điều dưỡng gây mê hỏi người bệnh hoặc người nhà NB (trường hợp NB là trẻ em hoặc
NB bị câm điếc ) Không Bác sĩ gây mê hoặc kỹ thuật viên/điều dưỡng gây mê không hỏi người bệnh hoặc người nhà NB phương pháp phẫu thuật
4 Xác nhận đồng ý phẫu thuật
Bệnh nhân Có Có đã ký bản cam kết đồng ý phẫu thuật sau khi bác sĩ giải thích rõ về quá trình phẫu thuật và các nguy cơ có thể gặp phải Quá trình này đảm bảo sự hiểu biết và đồng thuận của bệnh nhân cũng như người nhà trước khi tiến hành phẫu thuật Việc ký xác nhận đồng ý phẫu thuật là bước quan trọng để tuân thủ quyền lợi và đảm bảo an toàn trong quá trình điều trị.
Không Không có bản cam kết đồng ý phẫu thuật
5 Đánh dấu vị trí mổ, vùng mổ
Phẫu thuật viên chính thường tiến hành đánh dấu vùng mổ trước khi chuyển bệnh nhân (NB) lên phòng phẫu thuật, trừ một số trường hợp đặc biệt như bệnh nhân có vết thương cần mổ hoặc các ca mổ không yêu cầu đánh dấu như mổ ở vị trí đã bị bất động, mổ đứt lìa hoặc mổ dựa trên các vết thương hoặc vết mổ đã cố định bằng nẹp bột hoặc nẹp vải.
Khi đánh dấu vị trí phẫu thuật, cần sử dụng dấu mũi tên hướng rõ vào vùng cần phẫu thuật để đảm bảo dễ nhìn và chính xác Dấu đánh cần rõ ràng, không bị mờ hoặc chất sát khuẩn tẩy nhòa để đảm bảo độ chính xác và an toàn trong quá trình phẫu thuật Tránh sử dụng chữ “x” để đánh dấu vị trí nhằm đảm bảo tính rõ ràng, dễ kiểm tra và giảm thiểu sai sót trong quá trình thực hiện.
Không Không đánh dấu hoặc đánh dấu không đúng yêu cầu
6 Kiểm tra thuốc và thiết bị gây mê
Có - Bác sĩ GMHS chỉ định các thuốc dùng cho NB, điều dưỡng/kỹ thuật viên chuẩn bị đầy đủ thuốc
Các thuốc đã được hút sẵn vào bơm tiêm phải được điều dưỡng hoặc kỹ thuật viên gây mê dán nhãn rõ ràng, xác nhận chính xác và kiểm tra 5 đúng theo quy định để đảm bảo an toàn trong quá trình sử dụng.
+ Điều dưỡng/kỹ thuật viên gây mê chuẩn bị đầy đủ cơ số thuốc và thiết bị cần thiết để xử trí cấp cứu sốc phản vệ
- Điều dưỡng/kỹ thuật viên gây mê kiểm tra đầy đủ và đạt tiêu chuẩn các nội dung sau:
Máy mê kèm thở cần đảm bảo các chức năng tối thiểu phục vụ gây mê, bao gồm khả năng gây mê bằng thuốc mê bay hơi, bình hấp thu CO2, hệ thống thu hồi khí thải, và ít nhất 5 thông số theo dõi như Vt, MV, f, Pmax, FiO2 Thiết bị phải luôn duy trì chế độ báo động phù hợp, có hệ thống điện dự phòng hoạt động tốt, và được kiểm tra và bật vào đầu mỗi ngày để đảm bảo hoạt động ổn định Ngoài ra, cần có quy trình kiểm tra cụ thể cho từng máy đang sử dụng trong quá trình phẫu thuật và theo dõi sau phẫu thuật Dây máy thở kết nối từ máy mê kèm thở đến người bệnh phải đảm bảo vô khuẩn sau mỗi ca mổ để phòng ngừa nhiễm khuẩn.
Máy monitoring theo dõi các chỉ số cơ bản như SPO2, tần số tim, huyết áp và EtCO2, đảm bảo quá trình gây mê hoặc gây tê được giám sát liên tục, giúp bác sĩ phát hiện sớm các biến đổi quan trọng về tình trạng bệnh nhân Trong các trường hợp đặc biệt, cần ghi chép các thông số này tối thiểu để đảm bảo đúng quy trình và an toàn Sử dụng máy monitoring đầy đủ các thông số này là yếu tố thiết yếu giúp nâng cao độ chính xác và an toàn trong phẫu thuật và thủ thuật y tế.
Không -Làm thiếu hoặc kiểm không đạt các nội dung, làm sai chức năng nhiệm vụ
7 -Máy đo độ bão hòa
Oxy được gắn trên người bệnh và hoạt động bình thường
Trong quá trình kiểm tra máy SpO2 được gắn trên người bệnh, điều dưỡng hoặc kỹ thuật viên gây mê cần đảm bảo máy hoạt động bình thường, với chỉ số SpO2 trên 95% Việc kiểm tra này là bước quan trọng để đảm bảo quá trình theo dõi oxy của bệnh nhân diễn ra chính xác và an toàn Nếu điều dưỡng hoặc kỹ thuật viên gây mê không kiểm tra đúng cả hai yếu tố này hoặc bỏ sót bất kỳ bước nào, sẽ dẫn đến thiếu sự đảm bảo về chất lượng theo dõi oxy cho bệnh nhân Chính vì vậy, việc thực hiện đầy đủ và chính xác việc kiểm tra máy SpO2 là yêu cầu cần thiết trong quy trình chăm sóc y tế.
8 Khai thác tiền sử dị ứng
Có -Bác sĩ gây mê/ điều dưỡng gây mê khai thác tiền sử dị ứng thuốc, thức ăn của người bệnh và ghi vào phiếu
+Khai thác trực tiếp với NB tỉnh, trên 18 tuổi
+Khai thác thông qua người nhà NB với
NB dưới 18 tuổi, NB câm điếc bẩm sinh,
Không -Bác sĩ gây mê/điều dưỡng gây mê thực hiện thiếu một trong hai nội dung trên
9 Kiểm tra đường thở khó/nguy cơ sặc
Có - Bác sĩ gây mê kiểm tra các điều kiện về đường thở khó/nguy cơ sặc
* Đường thở khó: Các tiêu chí về đường thở khó căn cứ theo:
+ Luật Dr Binion’s Lenon: Nhìn bên ngoài béo phì, cổ ngắn, răng vổ, cằm ngắn, hàm giả, lưỡi phì đại, bỏng, chấn thương mặt
Quy tắc 3-3-2 là phương pháp đánh giá chính xác vị trí của các bộ phận trong khoang miệng và cổ họng, giúp kiểm tra tỷ lệ và sự phù hợp của các cấu trúc giải phẫu Theo quy tắc này, bạn sử dụng 3 ngón tay để đo khoảng cách từ miệng đến răng cửa, đảm bảo chưa vượt quá giới hạn dự kiến Đồng thời, 3 ngón tay từ cằm đến sụn móng giúp xác định đúng chiều cao phần cổ họng Cuối cùng, 2 ngón tay từ sàn miệng đến đỉnh sụn giáp hỗ trợ đánh giá chiều cao của thanh quản, đảm bảo sự cân đối và phù hợp trong quá trình kiểm tra y học.
Độ theo phân độ Mallampati giúp đánh giá mức độ khó đặt nội khí quản, trong đó Độ I cho thấy rõ lưỡi gà, khẩu cái và hạnh nhân khẩu cái, còn Độ II thấy lưỡi gà cùng một phần khẩu cái Độ III chỉ thấy phần mềm khẩu cái, trong khi Độ IV chỉ nhìn thấy khẩu cái cứng, cho thấy khả năng khó khăn trong thủ thuật nội khí quản khi ở các mức cao hơn.
+ Obstuction: có tắc nghẽn đường thở không (máu, chất nôn, răng giả, nắp thanh môn, các khối u, dị vật)
Đo khoảng cách từ gờ sụn giáp đến móng ở tư thế đầu ngửa tối đa là bước quan trọng để đánh giá độ dễ hoặc khó trong quá trình đặt nội khí quản Khi khoảng cách này lớn hơn 7cm, tức là cằm giáp bằng thanh quản trước, việc đặt nội khí quản thường dễ dàng hơn Ngược lại, nếu khoảng cách này nhỏ hơn 6cm, khả năng gặp khó khăn khi đặt nội khí quản sẽ cao hơn, đòi hỏi kỹ thuật và chú ý cẩn thận hơn Do đó, đo chính xác khoảng cách này giúp chuẩn bị và lên kế hoạch thực hiện thủ thuật dễ dàng hơn, nâng cao hiệu quả và an toàn cho bệnh nhân.
+ Bones: Beard: râu; Obesity: béo phì; Noteeth: móm; Elderly: già; Snoring: ngủ ngáyNoteeth: móm; Elderly: già; Snoring: ngủ ngáy
+ Quy tắc 4D Disproportion: Mất cân xứng, phì đại lưỡi, hàm nhỏ bất thường đầu mặt bẩm sinh
Distertion: Biến dạng, u bì thần kinh, u nanglympho co kéo do bỏng
Dysamobility: Bất động, cứng khớp, xơ cứng bì, hội chứng Klippel Fiel
Nguy cơ sặc là tình trạng những người có khả năng hít sặc, thường xuyên xuất hiện các biểu hiện giảm tri giác, kèm theo các dấu hiệu cảnh báo như khó thở, ho, da xanh tái, khò khè hoặc sốt Việc nhận biết sớm các triệu chứng này rất quan trọng để phòng ngừa các biến chứng nghiêm trọng liên quan đến hít sặc.
Khả năng nuốt là dấu hiệu quan trọng để đánh giá sức khỏe của hệ tiêu hóa và hô hấp Các triệu chứng liên quan gồm ho, nuốt khó, cảm giác họng sạch, cùng âm “ọc ọc” sau khi nuốt hoặc nôn thức ăn trong miệng, cũng như hiện tượng óc thức ăn hoặc nước uống qua mũi Ngoài ra, tình trạng nôn hoặc buồn nôn cũng là những dấu hiệu cần chú ý Đánh giá nhu động ruột qua âm ruột giúp xác định chức năng tiêu hóa, trong khi việc nghe âm phổi và ghi nhận các rale hỗ trợ chẩn đoán tình trạng hít sặc và các vấn đề về phổi, tạo nên căn cứ lâm sàng quan trọng trong quá trình khám và chẩn đoán bệnh nhân.
Không Bác sỹ gây mê không kiểm tra hoặc bỏ sót dấu hiệu về đường thỏ khó và nguy cơ sặc
10 Xác định nguy cơ mất máu
Có Bác sỹ gây mê/ điều dưỡng gây mê xác định nguy cơ mất máu:
- Nguy cơ mất máu ở người lớn: > 500ml
- Nguy cơ mất máu ở trẻ em: 7ml/kg Không Bác sỹ gây mê/ điều dưỡng gây mê xác định không đúng hoặc không xác định nguy cơ mất máu
11 Các thành viên kíp phẫu thuật tự giới thiệu tên và nhiệm vụ của mình
Có Các thành viên kíp phẫu thuật tự giới thiếu tên và nhiệm vụ của mình
Không Các thành viên kíp phẫu thuật thiếu 01 trong 02 nội dung trên
12 Xác nhận lại tên người bệnh, phương pháp phẫu thuật và vị trí rạch da (bằng lời nói)
Có Phẫu thuật viên xác nhận tên người bệnh, phương pháp phẫu thuật và vị trí rạch da (bằng lời nói)
Không Phẫu thuật viên/ điều dưỡng thiếu 01 trong các nội dung trên
13 Sử dụng kháng sinh dự phòng
Có Bác sĩ sử dụng kháng sinh dự phòng cho người bệnh trong vòng 60 phút trước khi mổ
Không Bác sĩ không sử dụng kháng sinh dự phòng cho người bệnh trong vòng 60 phút trước khi mổ
14 Dự kiến những bất thường có thể xảy ra
Kết quả nghiên cứu
2.3.1 Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Trong phân tích số liệu của 245 ca phẫu thuật tại khoa Ngoại-TTYT huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương, chúng tôi đánh giá mức độ tuân thủ quy trình sử dụng bảng kiểm ATPT Kết quả cho thấy quá trình thực hiện phẫu thuật đã được tuân thủ nghiêm ngặt các bước của quy trình, góp phần nâng cao an toàn và chất lượng chăm sóc bệnh nhân Việc tuân thủ quy trình này không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro biến chứng mà còn nâng cao hiệu quả điều trị, đảm bảo an toàn tối đa trong các ca phẫu thuật.
Bảng 2.1 Thông tin chung về nhân viên tham gia phẫu thuật
Các thông tin chung Tần số
Vị trí công tác Phẫu thuật viên 7 33.3
Bác sĩ gây mê 2 9.5 ĐD (phụ mê, dụng cụ và chạy ngoài) 12 57.2
Trình độ chuyên môn Trên đại học 4 19.0 Đại học 8 38.1
Thâm niên công tác