1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THỰC TRẠNG TUÂN THỦ QUY TRÌNH THAY BĂNG VẾT MỔ CHO NGƯỜI BỆNH TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT TIỆP HẢI PHÒNG NĂM 2022

44 21 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Tuân Thủ Quy Trình Thay Băng Vết Mổ Cho Người Bệnh Tại Bệnh Viện Hữu Nghị Việt Tiệp Hải Phòng Năm 2022
Tác giả Trần Thị Kim Dung
Người hướng dẫn TS. Vũ Văn Đẩu
Trường học Trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Chăm sóc Sức khỏe
Thể loại Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 901,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN (11)
    • I. Cơ sở lý luận (11)
      • 1. Cơ sở pháp lý (11)
      • 2. Đại cương chăm sóc vết thương (0)
        • 2.1. Khái niệm (11)
        • 2.2. Phân loại vết thương (11)
        • 2.3. Sự lành vết thương (12)
        • 2.4. Mục đích thay băng rửa vết thương… (18)
        • 2.5. Nguyên tắc thay băng (18)
  • CHƯƠNG II: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT (23)

Nội dung

Tại Việt Nam, nghiên cứu của Lê Đại Thanh 2008 cho thấy trên 200 lần thay băng, không có lần nào điều dưỡng thực hiện đúng toàn bộ các tiêu chí đánh giá trong quy trình thay băng [4], [8

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

Trang 2

Nam Định, Năm 2022

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

TRẦN THỊ KIM DUNG

THỰC TRẠNG TUÂN THỦ QUY TRÌNH THAY BĂNG VẾT MỔ CHO NGƯỜI BỆNH TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT TIỆP

HẢI PHÒNG NĂM 2022 Chuyên ngành: Ngoại người lớn

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:

TS Vũ Văn Đẩu

Trang 3

LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Khoa Điều dưỡng cùng các thầy cô giảng viên các bộ môn - Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã tạo điều kiện học tập, rèn luyện, trau dồi kiến thức và kinh nghiệm trong suốt thời gian tôi học tập tại trường

Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới Tiến sỹ Vũ Văn Đẩu - người thầy đã hết lòng giảng dạy, hướng dẫn nhiệt tình chỉ bảo cho tôi được học tập và hoàn thành chuyên đề này

Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến các thầy trong hội đồng đã thông qua chuyên đề và hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp đã đóng góp cho tôi những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành tốt chuyên đề

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám đốc cùng toàn thể các bác sĩ và điều dưỡng viên của khoa Ngoại Tổng hợp - Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu và thực hiện chuyên đề này

Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và các anh chị học viên đã tạo điều kiện, giúp tôi vượt qua những giai đoạn khó khăn trong thời gian học tập

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là báo cáo chuyên đề do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, đã được xác nhận

và chấp thuận của cơ sở nơi nghiên cứu

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam kết này

Hải Phòng, tháng 12 năm 2022

Tác giả

Trần Thị Kim Dung

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN ……… i

LỜI CAM ĐOAN……… ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT……… iv

DANH MỤC BẢNG……… v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ……… vi

ĐẶT VẤN ĐỀ……… 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN……… 3

I Cơ sở lý luận……… 3

1 Cơ sở pháp lý……… 3

2 Đại cương chăm sóc vết thương……… 3

2.1 Khái niệm…….……… 3

2.2 Phân loại vết thương……… 3

2.3 Sự lành vết thương……… 4

2.4 Mục đích thay băng rửa vết thương… ……… 9

2.5 Nguyên tắc thay băng……… ……… 1

0 3 Vai trò của điều dưỡng trong chăm sóc vết thương……… 1

1 II Cơ sở thực tiễn.……… 1

1 1 Trên thế giới……… 1

1 2 Tại Việt Nam……… 1

2

Trang 6

CHƯƠNG II: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT………… 1

7 PHỤ LỤC 1 3

0 PHỤ LỤC 2 3

1

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 7

BVHNVT Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp

Trang 8

Hình 1: Thay băng cho người bệnh phẫu thuật tuyến giáp 31 Hình 2: Thay băng cho người bệnh phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa 31 Hình 3: Thay băng cho người bệnh phẫu thuật kết hợp xương đùi 32 Hình 4: Thay băng cho người bệnh phẫu thuật kết hợp xương chày 32

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ Điều dưỡng đóng góp vai trò quan trọng trong quá trình chăm sóc người bệnh (CSNB), góp phần nâng cao chất lượng điều trị trong đó có chăm sóc vết mổ Chăm sóc vết mổ được coi là một trong những kỹ thuật cơ bản CSNB của điều dưỡng, có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng điều trị [4], [18], [19] Thống

kê tại Anh cho thấy chăm sóc vết thương (CSVT) chiếm tới 3% tổng ngân sách chi cho dịch vụ y tế, ước tính khoảng 2,3 đến 3,1 tỉ bảng Anh mỗi năm [20] Tại Hoa Kỳ, số ngày nằm viện gia tăng trung bình do nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM)

là 7,4 ngày, chi phí phát sinh do NKVM hàng năm khoảng 130 triệu USD [21] Tại Việt Nam, nghiên cứu của Lê Đại Thanh (2008) cho thấy trên 200 lần thay băng, không có lần nào điều dưỡng thực hiện đúng toàn bộ các tiêu chí đánh giá trong quy trình thay băng [4], [8] Đỗ Thị Hương Thu (2005) chỉ ra 200 lần thực hành, có 21 % điều dưỡng thực hành chưa đúng toàn bộ các tiêu chí đánh giá quy trình thay băng [10] Trong báo cáo của Ngô Thị Huyền (2012) cho biết trên 162 điều dưỡng thực hành thay băng có 61,1% thực hành sai ít nhất 1 trong các bước của quy trình [11]

Thay băng là biện pháp giữ cho vết mổ sạch sẽ, nhanh liền, phòng chống nhiễm khuẩn, chảy máu [5] Trong điều trị người bệnh sau phẫu thuật, thủ thuật thay băng giữ một vai trò nhất định [6] Thay băng không đảm bảo quy trình kỹ thuật có thể là một trong các nguyên nhân dẫn đến nhiễm khuẩn vết mổ, để lại nhiều hậu quả như tăng thời gian, chi phí điều trị, tăng nguy cơ cho người bệnh, tăng gánh nặng làm việc cho nhân viên y tế [14]

Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp với 1400 giường kế hoạch, 2400 giường thực

kê, là bệnh viện tuyến 4- tuyến cuối cùng trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân thành phố Hải Phòng và của các tỉnh lân cận như Hải Dương, Thái Bình, Quảng Ninh…Cùng với sự phát triển của bệnh viện, số lượng người bệnh phẫu thuật trong những năm gần đây chiếm tỉ lệ cao Cụ thể: Năm 2020 bệnh viện thực hiện 14770 ca phẫu thuật Năm 2021 bệnh viện thực hiện 15140 ca phẫu thuật

Bệnh viện có nhiều khoa lâm sàng điều dưỡng phải thực hiện kỹ thuật thay băng

Trang 10

vết mổ hàng ngày Tuy nhiên vẫn có một số ít điều dưỡng chưa ý thức được tầm quan trọng của việc thay băng vết mổ cho người bệnh, vẫn chưa tuân thủ tuyệt đối quy trình kỹ thuật thay băng Để tìm hiểu vấn đề này tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề: “Thực trạng tuân thủ quy trình thay băng vết mổ cho người bệnh tại bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng năm 2022” nhằm 2 mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng tuân thủ quy trình thay băng vết mổ cho người bệnh tại khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng năm 2022

2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao việc tuân thủ quy trình thay băng vết mổ cho người bệnh tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng

Trang 11

Điều 6, Chương II, thông tư 31/2021/TT-BYT: Xác định và thực hiện các can thiệp chăm sóc điều dưỡng quy định:

Thực hiện các quy trình chuyên môn kỹ thuật: thực hiện thuốc và các can thiệp chăm sóc điều dưỡng theo chỉ định của bác sĩ và trong phạm vi chuyên môn của điều dưỡng trên nguyên tắc tuân thủ đúng các quy định, quy trình chuyên môn

kỹ thuật chăm sóc điều dưỡng;

Quyết định số: 3671/QĐ-BYT ngày 27 tháng 9 năm 2012 của Bộ y tế về hướng dẫn phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ

2 Đại cương về chăm sóc vết thương

2.1 Khái niệm

Vết thương là một vết cắt hoặc phá vỡ sự liên tục của một cơ quan hoặc

mô gây ra bởi một tác nhân bên ngoài chẳng hạn như chấn thương hoặc phẫu thuật [6]

2.2 Phân loại vết thương [6]

Trong thực tế có rất nhiều loại vết thương, mỗi loại có một biểu hiện và tính chất khác nhau Có thể chia ra các loại sau:

2.2.1 Vết thương sạch

Trang 12

Là vết thương không nhiễm khuẩn, trong vết thương sạch lại chia làm 2 loại:

b Vết thương không khâu

- Là vết thương mới bị tổn thương nhưng nhỏ hoặc những vết thương trong quá trình điều trị tiến triển tốt

- Mép vết thương phẳng, không có hiện tượng sưng tấy, không có mủ hoặc dịch tiết

- Nếu là vết thương cũ thì có tổ chức hạt đang phát triển tốt hoặc đang trong giai đoạn lên da non

2.2.2 Vết thương nhiễm khuẩn

Cũng chia làm 2 loại:

a Vết thương có khâu

- Có biểu hiện viêm: Sưng tấy, đỏ xung quanh vết thương và chân chỉ

- Người bệnh có các triệu chứng của nhiễm khuẩn:

+ Tại chỗ có biểu hiện sưng nóng đỏ đau

+ Toàn thân thường có sốt

b Vết thương không khâu

- Xung quanh vết thương có thể tấy đỏ, trong vết thương có nhiều mủ, hoặc

có nhiều tổ chức hoại tử (nhất là đối với những vết thương ở sâu, nhiều ngóc ngách, mức độ tổn thương rộng, lớn)

- Người bệnh có các triệu chứng của nhiễm khuẩn

2.3 Sự lành vết thương [6]

2.3.1 Các giai đoạn của quá trình lành vết thương:

a Giai đoạn viêm

- Giai đoạn đầu tiên của quá trình lành vết thương trong một phần hay toàn

bộ bề dày của vết thương là sự viêm

Trang 13

- Tổn thương ở các mô sẽ làm thúc đẩy đáp ứng của quá trình cầm máu, phù, và thu hút bạch cầu đến dưới nền của vết thương Giai đoạn viêm kéo dài trong khoảng 3 ngày

b Giai đoạn tăng sinh

- Trong quá trình lành toàn bộ bề dày của vết thương, sự tăng sinh xảy ra sau giai đoạn viêm Mô hạt, bao gồm khối collagen được bao lấy bởi các đại thực bào, các nguyên bào sợi, các chồi mao mạch được sản sinh, lấp kín vết thương bằng mô liên kết

- Các vết thương hở phải chịu sự co cứng trong suốt giai đoạn lành vết thương này Sự co rút có thể được nhận biết bởi tác dụng kéo của nó vào bên trong, dẫn đến việc giảm độ sâu và kích thước của vết thương

- Giai đoạn tăng sinh kéo dài từ 4 ngày sau khi tổn thương đến khoảng 21 ngày đối với một vết thương bình thường

c Giai đoạn trưởng thành

- Giai đoạn cuối cùng của quá trình lành vết thương Nó bắt đầu khoảng 3 tuần sau khi bị thương và có thể kéo dài đến 2 năm Số lượng nguyên bào sợi giảm, sự tổng hợp collagen trở nên ổn định, các sợi collagen nhỏ tăng tổ chức, kết quả tạo nên sự căng bền lớn hơn đối với vết thương

- Thông thường các mô sẽ đạt đến sức căng lớn nhất trong 10-12 tuần, tuy nhiên thậm chí sau khi lành vết thương hoàn toàn, cũng chỉ đạt được 70-80% sức căng bền so với lúc ban đầu

2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lành vết thương [6]

Nhiều yếu tố có thể làm tăng hay trì hoãn quá trình lành vết thương

- Tuổi: trẻ em, người lớn, phụ nữ có thai, người già

- Tình trạng oxy trong máu: nồng độ oxy trong máu giảm, thiếu máu, giảm thể tích tuần hoàn

- Dinh dưỡng: thể trạng người bệnh mập, gầy, chế độ ăn thiếu protein, thiếu vitamin, thiếu các loại khoáng chất như: kẽm, sắt…

- Có ổ nhiễm trùng: viêm họng, nhiễm trùng tiết niệu

- Có sự đè ép quá mức: áp lực tại chỗ tổn thương dập rách, sự cọ sát, va chạm

- Có tổn thương tâm lý: stress, đau

Trang 14

- Có các bệnh lý kèm theo: giảm tuần hoàn ngoại biên, tiểu đường, gút, mỡ máu, urê máu cao, suy giảm hệ thống miễn dịch…

- Dùng các loại thuốc kèm theo: hóa trị, xạ trị, corticoid, kháng viêm non steroid, gây tê tại chỗ

- Các yếu tố thuộc cơ thể nói chung bao gồm sự dinh dưỡng, tuần hoàn, sự oxy hoá, và chức năng miễn dịch của tế bào

- Các yếu tố cá nhân bao gồm: tiền sử hút thuốc lá và thuốc đang điều trị

- Các yếu tố tại chỗ: bao gồm bản chất của chỗ bị thương, sự hiện diện của tình trạng nhiễm trùng, loại băng đã dùng

- Dinh dưỡng: thể trạng người bệnh mập, gầy, chế độ ăn thiếu protein, thiếu vitamin, thiếu các loại khoáng chất như Zn, Fe

+ Dinh dưỡng đầy đủ là rất cần thiết cho quá trình lành vết thương Sự thiếu hụt dinh dưỡng sẽ làm chậm quá trình lành vết thương bằng cách ức chế sự tổng hợp collagen Nhu cầu dinh dưỡng tăng lên cùng với stress sinh lý yếu tố góp phần gây thiếu hụt protein Những người bệnh bị nhiễm trùng hay bị bỏng và trải qua cuộc phẫu thuật (đặc biệt là phẫu thuật bụng) dễ dẫn đến thiếu hụt protein Những người bệnh thiếu hụt protein dễ có khả năng nhiễm trùng vết thương nhất vì chúng làm giảm chức năng của bạch cầu (ví dụ: sự thực bào, sự miễn dịch)

+ Protein và các vitamin A và C đặc biệt quan trọng trong quá trình lành vết thương

+ Carbohydrat và chất béo cũng giữ vai trò quan trọng trong quá trình lành vết thương

+ Glucose cần thiết đối với việc tăng nhu cầu năng lượng cho các tế bào (đặc biệt là tế bào bạch cầu và nguyên bào sợi)

+ Chất béo cần thiết vì chúng tạo nên cấu trúc màng tế bào

+ Các vitamin và muối khoáng cũng giữ vai trò quan trọng trong quá trình lành vết thương, bao gồm những vai trò sau:

Vitamin A: đẩy mạnh quá trình biểu mô hóa và tăng quá trình tổng hợp

và liên kết các collagen

Trang 15

Vitamin B complex: là một yếu tố kết hợp trong hệ thống enzym

Vitamin C (acid ascorbic): cần thiết cho việc sản xuất collagen; với số lượng vitamin C bị giảm, sức căng của vết thương sẽ giảm Acid ascorbic cũng làm tăng sự hình thành mao mạch và làm tăng tính bền của mao mạch Nó chống nhiễm khuẩn vì nó giữ vai trò trong đáp ứng miễn dịch

Vitamin K: cần thiết cho sự tổng hợp prothrombin có vai trò quan trọng trong quá trình đông máu

Các khoáng chất: như sắt, kẽm, và đồng có liên quan đến quá trình tổng hợp collagen.[6]

2.3.3 Các yếu tố tại chỗ [6]

Bản chất của tổn thương

- Thường thì một vết mổ được thực hiện kỹ thuật vô khuẩn nghiêm ngặt giúp làm vết thương lành nhanh hơn Ví dụ, một vết thương sâu dính đất cát trong một tai nạn xe, vết thương càng sâu và phần mô bị mất càng lớn, thời gian lành vết thương càng dài

- Ngay cả hình dạng của vết thương cũng ảnh hưởng: hình dạng vết thương càng không đều (hình dạng không xác định), quá trình lành vết thương càng kéo dài Nếu chấn thương có gây tạo huyết khối, điều này cũng có thể làm cản trở quá trình lành vết thương

Tình trạng nhiễm trùng

- Mặc dù hầu hết các vết thương hở đều nhanh chóng bị xâm nhập bởi các loại vi khuẩn khác nhau, nhưng quá trình lành vết thương vẫn diễn ra, đủ số lượng mầm bệnh sẽ gây ra tình trạng nhiễm trùng, khi đó quá trình lành vết thương bị trì hoãn Rửa tay không đúng và kĩ thuật thay băng kém có thể gây nhiễm trùng

- Sự nhiễm trùng cũng có thể do phẫu thuật, đặc biệt khi phẫu thuật ở vùng

dễ nhiễm bệnh như ống tiêu hoá, phẫu thuật hệ tiết niệu, hệ sinh dục

Môi trường xung quanh vết thương:

- Nhiều nhân tố ở môi trường xung quanh vết thương có ảnh hưởng đến

Trang 16

quá trình lành vết thương Độ pH nên vào khoảng 7-7,6 có thể bị thay đổi (chú

ý dịch từ các ống dẫn lưu, chú ý nối ống dẫn lưu đúng cách tránh dịch rò rỉ ra da)

- Sự phát triển của vi khuẩn phải được kiểm soát, vì sự nhiễm trùng làm chậm quá trình lành vết thương Nhưng môi trường ẩm ướt là rất cần thiết cho hoạt động của các tế bào (tiểu cầu, bạch cầu, nguyên bào sợi, tế bào biểu mô) trong quá trình làm lành vết thương

- Tình trạng tăng áp lực tại vết thương là một yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lành vết thương, và sự căng chướng bụng có thể gây một sự căng ép lên vết thương ở bụng, có khả năng gây trở ngại cho quá trình lành vết thương 2.3.4 Các biến chứng trong quá trình lành vết thương [6]

Xuất huyết và mất dịch kẽ

- Sau chấn thương ban đầu, máu sẽ chảy nhưng chỉ trong vòng vài phút, quá trình cầm máu xảy ra như một phần của giai đoạn đầu của quá trình lành vết thương Khi các mạch máu lớn bị tổn thương hay người bệnh có rối loạn chức năng đông máu, việc cầm máu kém, máu sẽ tiếp tục chảy hoặc sự chảy máu có thể xảy ra sau thời gian hậu phẫu nếu vết khâu bị tuột, một cục máu đông sẽ bị bật ra gây xuất huyết

- Sự xuất huyết có thể xảy ra bên trong hay bên ngoài Xuất huyết ngoại

là tình trạng máu chảy ra bên ngoài và có thể quan sát được từ vết thương Xuất huyết nội là tình trạng máu chảy bên trong cơ thể, không thể quan sát được, và

có thể nhận định được bằng sự sưng phồng vùng bị tác động, một lượng máu bất thường chảy ra từ catheter, hay ống dẫn lưu, làm tăng cảm giác đau tại nơi tổn thương hay dấu sinh hiệu bất thường

- Các vết thương do tổn thương da rộng như bỏng có thể làm mất số lượng lớn dịch giàu chất điện giải trong cơ thể hay có các vết thương có dẫn lưu với số lượng lớn dịch đòi hỏi phải kiểm soát sự cân bằng dịch để có sự bù dịch thích hợp khi có chỉ định

Sự nhiễm trùng

- Một chỗ gián đoạn sự nguyên vẹn của da, là do vết mổ hay do chấn

Trang 17

thương đều là ngõ vào cho các vi sinh vật xâm nhập vào trong cơ thể Sự xâm nhập các vi khuẩn vào vết thương có thể gây ra nhiễm trùng nếu cơ thể người bệnh không đủ sức chống đỡ

- Các triệu chứng của một nhiễm trùng vết thương là chảy mủ, vùng xung quanh vết thương bị viêm, sốt, và số lượng bạch cầu trong máu tăng Các vết thương nhiễm trùng đòi hỏi sự chăm sóc nhiều hơn và thời gian hồi phục cũng dài hơn

Sự bung, bục vết thương

- Sự tách rời một phần hay toàn bộ bờ của 2 mép vết thương, đồng nghĩa với sự nứt (bung) vết thương, và thường được dùng để mô tả các vết mổ mà da

ở đó bị tách ra nhưng mô bên dưới da vẫn không bị hở

- Sự tách 2 mép vết thương thường xảy ra trước giai đoạn sự tạo thành collagen được hoàn tất do vậy người bệnh có nguy cơ cao vào ngày thứ 3-14 ngày sau khi bị thương Sự béo phì, tình trạng dinh dưỡng kém, và sự đè ép ở vùng xung quanh vết thương sẽ làm tăng sự nứt (bung) vết thương

- Các người bệnh thường phàn nàn họ cảm thấy vết mổ của họ lộ ra sau các động tác: ho, ói, những động tác làm tăng áp lực lên vết mổ Sự nứt (bung) vết thương còn có thể xảy ra khi cắt chỉ sớm trước khi vết thương lành hoàn toàn

Trang 18

lỗ rò âm đạo- trực tràng là một lỗ rò bất thường giữa trực tràng và âm đạo làm phân thoát ra lỗ âm đạo…

2.4 Mục đích thay băng rửa vết thương [6]

Người bệnh có vết thương được người điều dưỡng chăm sóc, thay băng, rửa vết thương theo kế hoạch điều trị của thầy thuốc nhằm mục đích:

- Đánh giá tình trạng, mức độ tiến triển cụ thể của vết thương

- Che kín vết thương, tránh bội nhiễm, tránh va chạm từ bên ngoài

- Làm sạch vết thương, rửa, thấm hút dịch tiết, cắt lọc loại bỏ hết các tổ chức hoại tử có ở vết thương

- Cầm máu nơi vết thương

- Thay băng, rửa vết thương đúng quy trình còn có tác dụng phòng ngừa nhiễm khuẩn thứ phát, giúp cho vết thương chóng hồi phục

- Hạn chế phần nào cử động tại nơi có vết thương

- Nâng đỡ các vị trí tổn thương bằng nẹp hoặc băng

- Cung cấp và duy trì môi trường ẩm cho mô vết thương

2.5 Nguyên tắc thay băng [6]

- Đảm bảo tuyệt đối nguyên tắc vô khuẩn tuyệt đối khi thay băng vết thương

- Tất cả các dụng cụ phải được tiệt khuẩn (mỗi bộ dụng cụ chỉ thay băng cho một người bệnh)

- Rửa vết thương đúng nguyên tắc theo đúng quy trình

- Các thao tác phải nhẹ nhàng, nhanh chóng, không làm tổn thương thêm các tổ chức

- Cần ưu tiên thay rửa vết thương vô khuẩn trước, đến vết thương sạch và cuối cùng đến vết thương nhiễm khuẩn

- Rửa da xung quanh vết thương rộng ra ngoài 3-5cm

- Bông băng đắp lên vết thương phải phủ kín và cách rìa vết thương ít nhất 3-5cm

Trang 19

- Ðủ bông gạc thấm hút dịch trong 24 giờ (tuy nhiên khi dịch tiết nhiều, gạc đẫm dịch phải thay băng ngay để vết thương mau lành)

- Vết thương có tóc, lông cần được cắt bỏ cho sạch trước khi thay băng

- Một số loại vết thương đặc biệt khi thay băng phải có y lệnh của bác sĩ (vết thương ghép da)

- Nếu có thuốc giảm đau phải dùng 20 phút trước khi thay băng

- Nếu có xét nghiệm cấp tìm vi trùng phải lấy bớt mủ và chất tiết từ vết thương trước, sau đó dùng que vô khuẩn phết lên vùng đáy hoặc cạnh bên của vết thương

- Thời gian bộc lộ vết thương càng ngắn càng tốt

3 Vai trò của điều dưỡng trong chăm sóc vết mổ [4]

Điều dưỡng có vai trò quan trọng chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ người bệnh trong đó có chăm sóc vết mổ Muốn làm tốt công việc điều dưỡng phải đưa ra quyết định, tự tin, không ngừng học tập để trau dồi năng lực chuyên môn cũng như nghiên cứu cải thiện chất lượng chăm sóc cho bản thân và đồng nghiệp [15]

Trong chăm sóc vết mổ, điều dưỡng cần làm tốt 2 vai trò chính:

Thúc đẩy quá trình liền thương: đánh giá phân loại vết môt, thu thập số liệu liên quan đến vết mổ, lựa chọn băng gạc phù hợp, cũng như tư vấn dinh dưỡng hợp lý, nghỉ ngơi và giáo dục sức khỏe cho người bệnh [4]

Phòng ngừa nhiễm khuẩn/biến chứng: Gồm tuân thủ kĩ thuật vô khuẩn, làm sạch vết mổ hiệu quả, ngừa nhiễm khuẩn chéo, vệ sinh người bệnh, theo dõi người bệnh cũng như vết thương để, báo bác sỹ khi thấy dấu hiệu bất thường để xử lý kịp thời [4]

II Cơ sở thực tiễn

1 Trên thế giới

Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, điều dưỡng có nhiều năm kinh nghiệm thực hành thay băng rửa vết thương tốt hơn so với nhóm điều dưỡng ít năm kinh nghiệm Theo Hadcock (2002), có một số lượng lớn điều dưỡng có kiến thức về

Trang 20

thực hành thay băng rửa vết thương, đặc biệt là các điều dưỡng lâu năm có nhiều kinh nghiệm tốt hơn không chỉ lĩnh vực chăm sóc vết thương [16]

Khối lượng công việc nhiều hoặc áp lực công việc có ảnh hưởng đến thực hành của điều dưỡng Nghiên cứu của Blake-Mowatt C và cộng sự (2013) về tuân thủ thực hành điều dưỡng cũng cho thấy yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tuân thủ đúng của điều dưỡng là do khối lượng công việc và tỷ lệ điều dưỡng/người bệnh [17]

Trong nghiên cứu của Williamson và Gupta (2001) cho thấy điều dưỡng có trình độ đại học, kiến thức và thực hành tốt hơn so với nhóm có trình độ cao đẳng (p<0,01) [22] Theo Winterstein A.G và cộng sự (2004) nhiều nguyên nhân gây nên các thiếu sót trong đó có nguyên nhân chính là thiếu kiến thức (39%) [23]

2 Tại Việt Nam

Công tác nghiên cứu khoa học về điều dưỡng đang ngày càng phát triển, một

số đề tài nghiên cứu góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành điều dưỡng nước nhà [13]

* Nghiên cứu của Cử nhân điều dưỡng Nguyễn Thị Hoan năm 2017 tiến hành trên 384 kỹ thuật của Bệnh viện đa khoa Đan Phượng ghi nhận: [9]

- Về chuẩn bị dụng cụ thay băng: 100% đủ dung dịch sát khuẩn vết thương; 95% có đủ phương tiện thu gom chất thải, dung dịch sát khuẩn tay nhanh, bông gạc, găng tay vô khuẩn; 64% lượt thay băng không có cốc mới đựng dung dịch sát khuẩn vết thương (dùng lại); 35% lượt thực hành thay băng không chuẩn bị lót nilon hoặc khay hạt đậu; 25% kỹ thuật thực hành thay băng chuẩn bị sai (không ghi ngày pha hóa chất) hoặc không chuẩn bị xô/chậu đựng hóa chất xử lý dụng cụ; 4% chuẩn bị chưa đúng hộp dụng cụ thay băng; 5% số lần thay băng người thực hiện không chuẩn bị găng tay vô khuẩn khi thay băng; 5% số lần quan sát, không mang theo xe để dụng cụ khi thay băng; 5% chuẩn bị bông gạc vô khuẩn chưa đúng (quá hạn sử dụng)

- Về thực hành quy trình thay băng: Trong 384 kỹ thuật thực hành thay băng không có kỹ thuật thực hành thay băng nào điều dưỡng viên – nữ hộ sinh thực

Trang 21

hiện đúng toàn bộ các bước của quy trình thay băng; 13% không rửa tay trước khi chuẩn bị dụng cụ thay băng và 45% không vệ sinh tay sau khi bóc băng bẩn; 9% rửa vết thương không đúng quy định; 5% không mang găng vô khuẩn khi thay băng; 18% động viện giải thích chưa tốt, chưa đầy đủ hoặc không giao tiếp với bệnh nhân; 35% lượt thay băng chưa có túi nilon dưới vùng thay băng; 64% sử dụng lại dung dịch sát khuẩn của những lần thay băng trước

* Nghiên cứu của nhóm tác giả Phùng Thị Huyền, Nguyễn Hoa Pháp, Chu Văn Tuyên, Hoàng Thị Huyền Trang, Trương Quang Trung, Đỗ Thị Kim Oanh năm 2012 đánh giá thực hiện quy trình thay băng thường quy của 93 điều dưỡng tại 8 khoa lâm sàng, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2012 cho kết quả: Tỷ lệ điều dưỡng thực hiện quy trình thay băng đạt điểm khá trở lên là 94,6% Tỷ lệ điều dưỡng làm sai hoặc không làm bước quan sát đánh giá tình trạng vết thương; 15% Lỗi không có tấm trải nilon: 29,1% Lỗi sát khuẩn vết thương sai hoặc không đúng: 52% Lỗi không dặn dò người bệnh khi thực hiện xong quy trình thay băng: 32,3% [7]

* Nghiên cứu của Huỳnh Huyền Trân và Nguyễn Thị Hồng Nguyên năm

2017 về “kiến thức và thực hành điều dưỡng về phòng ngừa NKVM tại bệnh viện

đa khoa Thành phố Cần Thơ” năm 2017 cho kết quả như sau: Điều dưỡng có kiến thức tốt về phòng ngừa NKVM chiếm 67,7%; 95% có kiến thức đúng về tình trạng/thể trạng bệnh nhan đối với NKVM và chỉ có 40% có kiến thức đúng về nhận biết NMVK Thực hành: Tỷ lệ điều dưỡng có thực hành đạt về phòng ngừa NKVM là 63,1%, trong đó: Có 69% thực hành đạt về chuẩn bị phương tiện, dụng cụ; 46% thực hành đạt khi thay băng; 97% thực hành đạt về đảm bảo vô khuẩn; 77% thực hành đạt khi thu dọn dụng cụ.[12]

Trong thực tế nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ không tuân thủ quy trình kỹ thuật băng là tương đối lớn Đa số điều dưỡng chưa tuân thủ đúng và đủ tất cả các bước của quy trình, đặc biệt là các bước nhỏ Nhận thức về tầm quan trọng của vấn đề tuân thủ các nguyên tắc vô khuẩn còn hạn chế cũng như thiếu hiểu biết hoặc chủ quan về các yếu tố nguy cơ tiềm tàng gây NKVM Kết quả này

Trang 22

có một phần liên quan đến hạn chế đào tạo thực hành tại các trường và hạn chế trong cung cấp các trang thiết bị dụng cụ phục vụ công tác chuyên môn Do vậy các bệnh viện cần phải quan tâm tăng cường đào tạo liên tục, kiểm tra, giám sát

và đặc biệt là cung cấp đầy đủ dụng cụ để tăng cường tuân thủ thực hiện nghiêm chỉnh các quy trình thực hành nói chung và quy trình thay băng nói riêng [4]

Kỹ thuật thay băng nhìn chung là kỹ thuật không khó, tuy nhiên theo tôi nghĩ trước hết phải giúp các điều dưỡng hiểu được tầm quan trọng của việc tuân thủ quy trình kỹ thuật, đặc biệt là các bước trong nguyên tắc vô khuẩn; phải tăng cường nhận thức cho điều dưỡng về các nguy cơ của thay băng không đúng quy trình Việc đào tạo, tập huấn phải được làm thường xuyên, sau đó đề duy trì phải

có kiểm tra, giám sát liên tục

Ngày đăng: 09/05/2023, 10:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w