Thay băng không đảm bảo quy trình kỹ thuật có thể là một trong các nguyên nhân dẫn đến nhiễm khuẩn vết mổ; để lại nhiều hậu quả như tăng thời gian điều trị, tăng chi phí điều trị ...cho
Trang 1PHẠM NGỌC DOANH
THỰC TRẠNG TUÂN THỦ QUY TRÌNH THAY BĂNG VẾT THƯƠNG CHO NGƯỜI BỆNH TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HOA
LƯ TỈNH NINH BÌNH NĂM 2022
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NAM ĐỊNH - 2022
Trang 2GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
ThS Trần Hữu Hiếu
NAM ĐỊNH - 2022
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình khảo sát và hoàn thành chuyên đề này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, các anh chị, bạn bè, đồng nghiệp, những người thân trong gia đình và các cơ quan có liên quan
Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, Phòng quản lý đào tạo Sau đại học, các thầy cô là giảng viên của Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo tôi trong hai năm học vừa qua
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn ThS.BS.Trần Hứu Hiếu đã tận tình hướng dẫn, động viên, quan tâm và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học, thực hiện và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám đốc Trung tâm y tế huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình, tập thể y bác sỹ, điều dưỡng cán bộ của Trung tâm cho tôi cơ hội được đi học chuyên sâu về lĩnh vực điều dưỡng Ngoại người lớn, tạo điều kiện, giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập, công tác và hoàn thành chuyên đề
Ninh Bình, ngày tháng 10 năm 2022 Học viên
Phạm Ngọc Doanh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là báo cáo chuyên đề của riêng tôi Nội dung trong bài báo cáo này hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa được áp dụng Báo cáo này do bản thân tôi thực hiện dưới sự giúp đỡ của Giảng viên hướng dẫn Nếu có điều gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Người làm báo cáo
Phạm Ngọc Doanh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC HÌNH ẢNH VÀ CÁC BẢNG v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
1.1 Cơ sở lý luận 3
1.2 Cơ sở thực tiễn 11
Chương 2: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 17
2.1 Giới thiệu tổng quan Trung tâm y tế huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình 17
2.2 Thực trạng tuân thủ quy trình thay băng vết thương cho người bệnh tại TTYT 18
Chương 3: BÀN LUẬN 21
KẾT LUẬN 23
ĐỀ XUẤT 23 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC HÌNH ẢNH VÀ CÁC BẢNG
Trang Hình 2.1 Hình ảnh TTYT huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình 17 Bảng 2.1 Bảng quan sát thực hiện quy trình thay băng của Điều dưỡng 18
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo trung tâm kiểm soát và phòng bệnh Hoa kỳ, nhiễm khuẩn vết mổ là những nhiễm khuẩn tại vị trí phẫu thuật trong thời gian từ khi mổ cho đến 30 ngày sau mổ với phẫu thuật không có cấy ghép và cho tới một năm sau mổ với phẫu thuật
có cấy ghép bộ phận giả (phẫu thuật implant) [17]
Thay băng là biện pháp giữ cho vết thương sạch sẽ, nhanh liền, phòng chống nhiễm khuẩn, chảy máu Thông qua việc thay băng, người điều dưỡng còn phát hiện được những bất thường của vết thương để kịp thời xử trí.Trong điều trị bệnh nhân sau phẫu thuật, thủ thuật thay băng giữ một vai trò quan trọng Thay băng không đảm bảo quy trình kỹ thuật có thể là một trong các nguyên nhân dẫn đến nhiễm khuẩn vết mổ;
để lại nhiều hậu quả như tăng thời gian điều trị, tăng chi phí điều trị cho người bệnh
Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới, tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn bệnh viện từ năm 2000 đến 2013 tại Đông Nam Á khoảng 7.8% [22] Tại Việt Nam, theo thống kê của Bộ Y Tế năm 2012, tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ dao động khoảng từ 5% - 10% số bệnh nhân được phẫu thuật [3] Trước thực trạng đó, trung tâm kiểm soát và phòng bệnh Hoa kỳ, tổ chức y tế thế giới và Bộ y tế Việt Nam đã đưa ra các hướng dẫn về phòng nhiễm khuẩn vết mổ tại các giai đoạn trước, trong và sau phẫu thuật [2] Tuy nhiên, phòng nhiễm khuẩn vết mổ là kết quả của một phức hợp tương tác giữa yếu tố môi trường, người bệnh và Điều dưỡng [13]; Phòng nhiễm khuẩn vết mổ là trách nhiệm của tất cả nhân viên y tế, trong đó người Điều dưỡng đóng vai trò quan trọng, nếu Điều dưỡng thực hiện tốt chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật sẽ có khoảng 25%
số ca nhiễm khuẩn được phòng ngừa [19] Tuân thủ tốt các nguyên tắc chăm sóc người bệnh phẫu thuật tại các giai đoạn trước trong và sau phẫu thuật như: vệ sinh da trước mổ, rửa tay, thay băng vết mổ sau phẫu thuật, giáo dục sức khỏe cho người bệnh/gia đình người bệnh sẽ làm giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ đáng kể từ 3,6% xuống còn 1,8% từ đó giảm chi phí điều trị và giảm thời gian nằm viện cho người bệnh [11] Như vậy, thay băng vết mổ chỉ là một trong số nhiều biện pháp để phòng nhiễm khuẩn sau phẫu thuật Trong điều trị bệnh nhân sau phẫu thuật, thủ thuật thay băng giữ một vai trò quan trọng, thay băng không đảm bảo quy trình kỹ thuật có thể
là một trong các nguyên nhân dẫn đến nhiễm khuẩn vết mổ để lại nhiều hậu quả như tăng thời gian điều trị, tăng chi phí điều trị cho người bệnh [15]
Trang 9Bởi vậy, để phòng nhiễm khuẩn vết mổ đạt hiệu quả cao, người Điều dưỡng cần có kiến thức và thực hành tốt theo hướng dẫn lâm sàng để nâng cao chất lượng chăm sóc và an toàn người bệnh [15],[19] Kiến thức, thực hành về phòng nhiễm khuẩn vết mổ đã được đề cập trong nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước Các nghiên cứu đều chỉ ra Điều dưỡng còn thiếu hụt cả kiến thức và thực hành về phòng nhiễm khuẩn vết mổ nói chung và lĩnh vực thay băng vết mổ nói riêng [4] Kiến thức và thực hành của điều dưỡng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bao gồm: tuổi, giới, trình độ, số năm kinh nghiệm của Điều dưỡng, quá trình tham gia đào tạo ngoại khoa, sự hiểu biết về các hướng dẫn phòng nhiễm khuẩn vết mổ hay sự hướng dẫn của Điều dưỡng trưởng [4], [10] Kiến thức và thực hành của Điều dưỡng về thay băng phòng nhiễm khuẩn vết mổ là một thông tin quan trọng trong hoạt động điều dưỡng ngoại khoa, giúp các nhà quản lý xác định được những điểm còn yếu của Điều dưỡng để xây dựng
kế hoạch đào tạo phù hợp [19]
Tại Trung tâm y tế huyện Hoa Lư, Điều dưỡng ngoại khoa gặp một số khó khăn và không ít ảnh hưởng đến nhiễm khuẩn vết mổ Ngay từ khi thành lập, Trung tâm đã áp dụng triệt để các hướng dẫn về phòng nhiễm khuẩn vết mổ vào chăm sóc người bệnh, theo hướng dẫn của Bộ Y Tế nhằm giảm tối thiểu số ca mắc nhiễm khuẩn Tuy nhiên thực trạng thay băng vết thương cho người bệnh để phòng nhiễm khuẩn vết mổ sau phẫu thuật của Điều dưỡng ở mức nào vẫn chưa được xác định Trước thực trạng đó tôi tiến hành làm chuyên đề “Thực trạng tuân thủ quy trình thay băng vết thương cho người bệnh tại Trung tâm y tế huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình năm 2022” với 2 mục tiêu:
1 Nhận xét thực trạng tuân thủ quy trình thay băng vết thương cho người bệnh tại khoa Ngoại Sản Trung tâm y tế huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình năm
2022
2 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao việc tuân thủ quy trình thay băng vết thương cho người bệnh tại Trung tâm tế huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình
Trang 10Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm về vết thương
Có rất nhiều khái niệm về vết thương như: "Vết thương phần mềm chỉ các thương tích gây rách da và gây tổn thương mô liên kết dưới da, gân và cơ" Hoặc:
"Vết thương được xem như sự gián đoạn trong sự liên tục của tế bào Sự lành vết thương là sự phục hồi của sự liên tục đó" [3]
Chăm sóc vết thương là kỹ thuật cơ bản trong chăm sóc người bệnh của điều dưỡng Chăm sóc vết thương tốt giúp người bệnh phục hồi sức khỏe nhanh chóng, kiểm soát nhiễm khuẩn, giảm thời gian nằm viện, giảm chi phí điều trị, tăng niềm tin của người bệnh vào chăm sóc y tế và nhân viên y tế [3]
1.1.2 Phân loại vết thương [2], [3]
Theo cơ chế vết thương
Vết thương do rạch: do dụng cụ sắc, bén, nhọn, có tổn thương giải phẫu như đứt cơ, mạch máu… nhưng nguy cơ chính là nhiễm trùng
Vết thương bầm giập: do vật tù, đặc trưng như tổn thương phần mềm có chảy máu, tổn thương giải phẫu nhiều, sưng, nhiễm trùng, có nhiều mô giập nát
Vết thương rách nát: là vết thương bờ lởm chởm không đều, tổn thương giải phẫu nhiều, nhiễm trùng tăng cao, lành vết thương chậm và sẹo xấu
Vết thương thủng: do dao đâm, đạn bắn, lỗ vào nhỏ nhưng lỗ ra lớn và tổn thương giải phẫu nhiều
Vết thương nhiễm: vết thương nhiễm trùng, vết thương do tai nạn, vết thương trên vùng có nhiễm khuẩn trước mổ Ví dụ: viêm phúc mạc, chấn thương ruột,
Vết thương bẩn: vết thương có mủ và có nguồn gốc bẩn trước
Trang 11Theo nguyên nhân
Phẫu thuật: do vết rạch hay cắt lọc
Chấn thương: do cơ học, do nhiệt độ, do hoá chất
Theo thời gian
Vết thương cấp tính: là vết thương do chấn thương, do phẫu thuật Chăm sóc vết thương cấp tính với môi trường tốt thì khả năng lành vết thương sau 4 –14 ngày Vết thương cấp tính thường nhiễm khuẩn, chảy máu, vết thương nứt nẻ, vết thương
hở, rò sẽ có nguy cơ chậm lành vết thương
Vết thương mạn tính: loét giường, bàn chân tiểu đường, rò vết thương do lao thường kéo dài thời gian lành vết thương Nguyên nhân chậm lành vết thương do tiểu đường, tuần hoàn kém, tình trạng dinh dưỡng kém, giảm sức đề kháng
Vết thương mạn tính thường có nhiều mô hoại tử, vì thế việc điều trị thường kèm theo cắt lọc vết thương và chăm sóc tốt
1.1.3 Nguyên tắc điều trị và chăm sóc vết thương [2], [3]
Đánh giá vết thương
Điều dưỡng nhận định tình trạng mép vết thương phẳng gọn thì quá trình lành nhanh nhưng nếu vết thương bờ nham nhở thì khả năng hai mép vết thương khó khép chặt lại Vết thương mới tiến triển lành tốt hơn vết thương cũ, vết thương có kèm tổn thương khác cũng làm tình trạng vết thương dễ bị ô nhiễm hơn, giảm sức đề kháng hơn và khả năng lành vết thương cũng kéo dài Vị trí vết thương trên cơ thể cũng rất quan trọng vì vùng có nhiều máu nuôi, vùng sạch, khả năng nhiễm trùng ít và cung cấp nhiều máu hơn thì thời gian lành vết thương ngắn hơn Tổng trạng tốt cũng giúp vết thương mau lành, người béo phì hay suy dinh dưỡng cũng ảnh hưởng đến khả năng lành vết thương, thường là lành vết thương kém Có kèm bệnh lý khác kèm theo: tiểu đường, lao, ung thư thì việc bục vết khâu có nguy cơ xảy ra và tiến trình lành vết thương chậm lại
Nguyên tắc điều trị
Loại bỏ dị vật, mô giập: bất kỳ vết thương nào cũng có sự hiện diện của vi khuẩn, do đó loại bỏ mô giập, lấy sạch máu tụ, dị vật là cắt đứt nguồn cung cấp thức
ăn cho vi khuẩn; luôn giữ tình trạng vô khuẩn, tránh đem thêm vi khuẩn mới vào
Mở rộng vết thương dẫn lưu tốt: sự ứ đọng dịch, máu cũ, dị vật,… cung cấp thức ăn cho vi khuẩn Sự ứ dịch làm mô vết thương không có khả năng tăng sinh mô
Trang 12hạt Vì thế cần dẫn lưu dịch thật tốt để kích thích mô hạt mọc đẩy nhanh quá trình lành vết thương
Giúp vết thương mau lành: Bất kỳ vết thương nào cũng có hàng rào bảo vệ nên khi chăm sóc vết thương điều dưỡng không nên phá huỷ hàng rào tự vệ đó như: tránh làm tổn thương vùng xung quanh vết thương, không luôn chạm tới vết thương; thay băng thường xuyên không đúng kỹ thuật, như tháo băng cũ cũng là hình thức tổn thương mô hạt vừa hình thành và như thế chúng ta vừa tạo thêm cho người bệnh một vết thương mới Dung dịch sát khuẩn là hàng rào bảo vệ tránh vi khuẩn xâm nhập nhưng nó cũng có nguy cơ làm tổn thương mô hạt nên không dùng dung dịch sát khuẩn bôi lên vết thương nếu không có chỉ định Vết thương luôn tiết dịch nên việc giữ ẩm vết thương là cần thiết nhưng không phải là làm ướt vết thương, do đó điều dưỡng cần thay băng khi thấm ướt Khi có vết thương, người bệnh rất đau, điều dưỡng chú ý tránh làm đau người bệnh khi thay băng, nên thực hiện thuốc giảm đau trước khi thay băng nếu nhận định vết thương có thể làm người bệnh đau
1.1.4 Chăm sóc vết thương [2], [3]
Băng kín vết thương: là tạo ra môi trường thích hợp cho sự lành vết thương
do băng hấp thu dịch tốt, giúp bảo vệ vết thương không bị va chạm, tổn thương Thay băng mới cũng là hình thức tránh mô mới mọc sâu vào băng cũ, khi tháo băng điều dưỡng có thể tạo vết thương mới trên mô hạt mới hình thành Băng kín vết thương cũng giúp bảo vệ vết thương không bị ô nhiễm từ bên ngoài như bụi, không khí ô nhiễm, dị vật Vết thương quá ướt hay quá khô đều làm chậm lành vết thương nên việc băng vết thương giúp duy trì độ ẩm thích hợp trên bề mặt vết thương Ngoài ra, băng kín vết thương cũng giúp cầm máu khi băng ép hay nẹp bất động vết thương, và trên hết, băng vết thương thường tạo cho người bệnh cảm giác an tâm
Không băng vết thương: cũng có ích lợi cho vết thương như loại trừ những điều kiện giúp vi khuẩn mọc (ẩm, ấm, tối) Với một vết thương không băng giúp điều dưỡng quan sát, theo dõi diễn biến tình trạng dễ dàng, dễ tắm rửa Như đã nói, việc tháo băng không đúng cách cũng có nguy cơ tạo thêm vết thương cho người bệnh nên việc không thay băng là tránh tổn thương thêm cũng như tránh dị ứng băng dính và tiết kiệm bông băng, dung dịch…
Kỹ thuật rửa vết thương: Rửa vết thương theo đường thẳng từ đỉnh đến đáy
và thao tác từ trong ra ngoài, từ vết cắt theo đường thẳng chạy song song với vết
Trang 13thương Luôn rửa từ vùng sạch đến vùng ít sạch và sử dụng tăm bông hoặc miếng gạc cho mỗi lần lau theo chiều đi xuống Đối với một vết thương đã mở, làm ẩm miếng gạc bằng một tác nhân làm sạch và vắt khô dung dịch thừa, rửa vết thương bằng 1,2 vòng tròn hay cả vòng tròn đi từ trung tâm ra phía ngoài Nên rửa vết thương tối thiểu 2,5cm vượt qua phần cuối của gạc mới, hoặc vượt qua rìa của vết thương là 5cm Chọn miếng gạc đủ độ mềm để đưa vào chạm bề mặt vết thương
Nên sử dụng những dung dịch không gây hại với mô cơ thể và không cản trở
sự lành vết thương Miếng gạc có thể bằng chất tổng hợp hoặc cotton (cotton thường được sử dụng hơn vì nó có kẽ hở lớn, chúng giữ lại chất làm ẩm và phù hợp với vết thương)
Trước khi áp băng gạc vào vết thương phải theo các bước sau:
Kiểm soát lại thứ tự việc chăm sóc vết thương
Xem lại vòng đeo tay xác minh tên của người bệnh
Giải thích thủ tục cho người bệnh
Để áp một băng gạc mới lên vết thương: cần đặt gạc nhẹ nhàng vào trung tâm vết thương, nới rộng ra hai bên tối thiểu là 2,5cm so với mép vết thương Những vết thương đang rỉ dịch nhiều một băng gạc hút nước có nhiều lớp phía trên gạc, có thể
áp 2 đến 3 lớp để hút dịch cho đến khi đổi băng gạc kế tiếp Khi băng gạc đã được đặt vào chỗ, điều dưỡng nên tháo găng ra để tránh băng keo dính vào găng Gắn chặt mép gạc vào da của người bệnh bằng băng keo, hoặc làm chặt băng với một nút thắt, băng co giãn, sao cho người bệnh thấy thoải mái
Cơ địa: cũng tác động đến việc lành vết thương những người bệnh béo phì, việc lành vết thương bị chậm bởi mô mỡ hạn chế máu tới nuôi vết thương Khi một người bệnh suy dinh dưỡng việc thiếu oxy và chất dinh dưỡng có thể hạn chế việc lành vết thương
Trang 14Những căn bệnh mạn tính: tác động đến việc lành vết thương là bệnh động mạch vành, bệnh mạch ngoại vi, ung thư và bệnh tiểu đường những người bị bệnh tiểu đường lệ thuộc vào Insulin, những vết thương mạn tính có đặc thù là lành chậm bởi vì việc sản xuất ra mô hạt lệ thuộc vào Insulin, khối lượng Insulin không đủ có thể làm trì hoãn sự tạo thành mô hạt Tuy nhiên, điều dưỡng lâm sàng nên theo dõi đường huyết và xem kỹ để tìm ra dấu hiệu những triệu chứng nhiễm trùng, mà những triệu chứng này có thể khó nhận ra
Tình trạng dinh dưỡng: việc đánh giá liên tục về tình trạng dinh dưỡng của người bệnh là cần thiết vì sự biểu hiện bề ngoài của người bệnh hoặc của vết thương
có thể dễ nhìn thấy thì không đáng tin tưởng vì không biết người bệnh có nhận được khối dinh dưỡng phù hợp không Những xét nghiệm có giá trị là protein toàn phần, albumin, chất điện giải, dung tích hồng cầu cần phải được đánh giá và theo dõi thường xuyên
Những hướng dẫn giúp điều dưỡng ngừa nhiễm trùng vết thương
Tại chỗ: Thẩm định thường xuyên các dấu hiệu nhiễm trùng vết thương như màu sắc niêm mạc tái, nhiều mủ trên vết thương, có mùi hôi hơn, có mô hoại tử nhiều hơn Để đẩy nhanh quá trình lành vết thương, điều dưỡng phải áp dụng thay băng đúng kỹ thuật vô khuẩn, dẫn lưu mủ tốt, lấy hết dị vật, cắt lọc mô hoại tử theo y lệnh Nhận định tình trạng vết thương trước khi thay băng Điều dưỡng cần nhẹ nhàng khi tháo băng, cần làm ướt băng trước khi tháo để tránh tạo vết thương mới Chọn dung dịch và sử dụng dung dịch thích hợp, thực hiện y lệnh về dung dịch rửa nếu có Không làm chảy máu khi thay băng Khi rửa vết thương tránh để lại dị vật trên vết thương như: gòn, chỉ, bột phấn vì nếu còn sót lại ở vết thương thì chính chúng cản trở sự lành vết thương Cách băng vết thương cũng ảnh hưởng đến tình trạng vết thương như nếu băng chặt làm máu tới nuôi kém, nếu băng quá hẹp cho phép vi khuẩn xâm nhập vào vết thương Nếu có dẫn lưu thì chăm sóc dẫn lưu đúng nguyên tắc, phòng dịch tràn vào vết mổ, chăm sóc da vùng chân dẫn lưu, câu nối thấp, giáo dục cách sinh hoạt, đi lại khi có dẫn lưu
Toàn thân: người bệnh cần được cung cấp nhiều chất dinh dưỡng Dinh dưỡng ảnh hưởng đến sự lành vết thương vì protein làm nền tảng tạo quân bình mới, điều chỉnh sự thấm lọc máu và dịch trong cơ thể, hình thành prothrombine, enzyme, hormone, đề kháng của cơ thể Ngoài ra, còn có các chất dinh dưỡng chính yếu khác
Trang 15như nước, vitamin A, C, E, B6, B12, Sắt, Kẽm, Calcium Cung cấp đủ oxy rất cần thiết vì sự suy giảm oxy sẽ ức chế sự di chuyển của fibroblast rất tốt cho sự tổng hợp collagen, hậu quả là làm giảm sức mạnh co giãn vết thương
Theo dõi nhiệt độ để đánh giá tình trạng nhiễm trùng của người bệnh Stress cũng làm chậm lành vết thương, vì thế điều dưỡng giúp người bệnh thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý Thực hiện thuốc giảm đau khi cần thiết, tránh làm người bệnh đau khi thay băng Thực hiện kháng sinh theo y lệnh Cần theo dõi tác dụng phụ thuốc steroid, thuốc kháng đông, kháng sinh phổ rộng, chống ung thư là những thuốc làm chậm lành vết thương Giáo dục hướng dẫn người bệnh tự chăm sóc vết thương Vệ sinh cá nhân sạch sẽ, nhất là vùng da gần vết thương
Biến chứng
Chảy máu, tụ máu: thường do tình trạng cầm máu trong phẫu thuật chưa được an toàn, do người bệnh suy dinh dưỡng bục chỗ khâu cầm máu, hay do điều dưỡng tháo băng quá sớm trong những trường hợp băng ép cầm máu Và việc tháo băng người bệnh không đúng cũng có nguy cơ chảy máu vết thương
Nhiễm khuẩn vết thương là vấn đề lớn trong bệnh viện do chịu ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân: do tình trạng vết thương, do kỹ thuật khâu, do môi trường bệnh viện, do không tuân thủ tình trạng vô khuẩn khi chăm sóc
Rò, vết thương không lành thường xảy ra ở người bệnh suy kiệt, choáng, người bệnh ung thư, AIDS, nhiễm trùng, lao…
Vết thương hở: trong tình trạng nhiễm trùng nặng có nhiều mủ, bẩn, cần được chăm sóc như rạch áp-xe,
Sẹo xấu
Sẹo lồi: to, dày, chắc, căng, màu tím, đỏ ngứa, không tự khỏi
Sẹo phì đại: do sự phát triển không ổn định, không bình thường của chất tạo keo và mô xơ Sẹo trở nên dày, chắc, ít di động, cảm giác căng da Có thể tự khỏi sau 2–3 tháng
Sẹo co rút: do sự phân bổ không đều của sợi tạo keo
Sẹo ung thư hoá: căng nứt, loét kéo dài
Trang 161.1.5 Thực hành thay băng vết thương của Điều dưỡng
Chăm sóc vết thương là kiến thức cơ bản và quan trọng của điều dưỡng Thực hiện tốt việc chăm sóc vết thương sẽ giúp vết thương phục hồi nhanh chóng, ít để lại sẹo Quy trình thay băng rửa vết thương luôn phải được chú trọng thực hiện đúng lúc, đúng cách và đảm bảo an toàn theo các bước với cá tiêu chuẩn như sau:
Bước 1 Nhận định tình trạng vết thương
Vết thương được chia ra thành nhiều loại và tùy vào từng loại mà cách thay băng khác nhau Vì thế trước khi thực hiện các bước thay băng cho vết thương bạn cần phân biệt được rõ các loại và nhận định được tình trạng hiện tại Đây là một kiến thức cơ bản của ngành điều dưỡng
Tình trạng vết thương nhiễm khuẩn
Đặc điểm chung của vết thương nhiễm khuẩn rất dễ nhận thấy đó là hiện tượng sưng tấy tại vết thương và người bệnh có thể có dấu hiệu sốt
- Vết thương có khâu: xung quanh vết thương đỏ, sưng tấy, chân chỉ đỏ hoặc thậm chí bị loét ra
- Vết thương không khâu: xung quanh vết thương sưng tẩy đỏ, trong vết thương có mủ và có thể có tổ chức hoại tử
Bước 2 Chuẩn bị cho quy trình thay băng rửa vết thương
Đối với người bệnh
- Chuẩn bị tâm lý cho bệnh nhân và người nhà để cùng hợp tác trong quá trình thay băng rửa vết thương: thông báo lịch thay băng, động viên an ủi bệnh nhân nếu như họ quá lo lắng, giải thích cặn kẽ về mục đích của quá trình thay băng rửa vết thương
- Để bệnh nhân nằm hoặc ngồi thoải mái, lộ vùng cần thay băng
Đối với người chăm sóc
- Người chăm sóc cần làm sạch tay sau đó lau khô bằng khăn sạch Đeo găng tay vô trùng
Trang 17- Chuẩn bị tất cả các dụng cụ cần thiết một cách đầy đủ và nhanh chóng nhất
- Bình tĩnh thao tác
Chuẩn bị dụng cụ
Hộp đựng dụng cụ cần có những đồ cần thiết sau đây:
Tầng 1:
- 1 hộp đựng gạc vô khuẩn bao gồm gạc lớn, gạc nhỡ và gạc nhỏ (gạc thấm)
- 1 lọ căm panh và panh vô trùng
- 1 hộp dụng cụ vô khuẩn bao gồm: 1-2 kẹp phẫu tích, 2 kẹp kocher, 1 kéo
- 1 lọ betadine
- 1 lọ cồn 70 độ
- 1 lọ ête, betadin
- 1 chai NaCl 9 0/0
- 1 lọ oxy già, nitrat bạc 0,2%
- Các dung dịch chăm sóc vết thương
Tầng 2: Chuẩn bị 1 khay sạch đựng:
- Bơm tiêm, kim tiêm để gây tê nếu có cắt lọc tổ chức hoại tử
- Nilon lót khi thay băng
- Xô đựng rác thải y tế trong có lót nilon màu vàng
* Lưu ý khi thay băng rửa vết thương
Trong quá trình thay băng rửa vết thương, cần chú ý những điều sau đây:
- Áp dụng đúng kỹ thuật vô khuẩn hoàn toàn trước, trong và sau khi rửa vết thương
- Rửa vết thương theo chiều từ trên xuống, từ trong ra ngoại và rộng 5cm so với miệng vết thương để đảm bảo vết thương được rửa một cách sạch sẽ nhất
Trang 18- Thao tác nhẹ nhàng, tránh gây đau đớn cho bệnh nhân Bên cạnh đó cần an
ủi động viên người bệnh để họ bớt cảm thấy lo lắng
- Hạn chế dùng oxy già đối với vết thương sạch, không có dấu hiệu nhiễm trùng vì oxy già có thể khiến vết thương lâu lành hơn
- Nên dùng thuốc giảm đau đối với vết thương lớn
- Xử lý gọn gàng và sạch sẽ các băng gạc và dụng cụ y tế, tránh gây nhiễm khuẩn
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng tuân thủ quy trình thay băng vết thương cho người bệnh tại trung tâm y tế hoa lư tỉnh Ninh Bình
* Thực trạng tuân thủ quy trình thay băng vết thương của ĐD trên thế giới
Năm 2015, tác giả Teshager và cộng sự tiến hành nghiên cứu cắt ngang về kiến thức, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng của việc thay băng vết thương phòng NKVM trên 423 Điều dưỡng tại hai bệnh viện Gondar University Referral và Debre Markos Referral phía Đông Bắc Ethiopia từ ngày 10 đến ngày 25 tháng 3 năm 2015; Nội dung bộ câu hỏi trong nghiên cứu bao gồm thời gian sử dụng kháng sinh, phương pháp chuẩn bị da trước phẫu thuật và kỹ thuật thay băng vô trùng…Nghiên cứu cho kết quả kiến thức thay băng vết thương của Điều dưỡng để phòng NKVM đạt trung bình 6,19 (SD =1,3), chỉ có 40,7% trong tổng số đối tượng tham gia có kiến thức đúng về thay băng vết thương để phòng NKVM Đánh giá về thực hành, nghiên cứu cho kết quả chỉ có 206 Điều dưỡng trong tổng số 423 người tham gia nghiên cứu (chiếm 48,7%) có thực hành tốt thay băng vết thương phòng NKVM [21]
Tại Indonesia năm 2016, nghiên cứu mô tả về kiến thức và thực hành của 201 Điều dưỡng về thực hiện quy trình thay băng vết thương phòng chống NKVM tại Bệnh viện phía Tây Sumatra của tác giả Novelia và cs đã cho thấy: điểm kiến thức của Điều dưỡng đạt 69,17%( SD = 8,59), hơn 1/3 số người tham gia (37,8%) có kiến thức ở mức độ trung bình, chỉ có 24,9% Điều dưỡng có kiến thức tốt về thực hiện quy trình thay băng vết thương phòng nhiễm khuẩn vết thương Trong nghiên cứu, Điều dưỡng có điểm thực hành về thay băng vết thương phòng NKVM đạt 87.58% (SD = 9,28%), 59,7% Điều dưỡng có thực hành tốt, thực hiện các biện pháp phòng ngừa khi thay băng vết thương còn thấp, chỉ có 40,8% Điều dưỡng thực hiện thực hành đeo khẩu trang khi thay băng [18]