MỞ ĐẦU Cùng với sự phát triển của xu thế toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập quốc tế, hoạt động kinh doanh quốc tế cũng ngày càng phát triển, đa dạng và phong phú và trở thành một bộ phận không thể thiếu của bất kỳ một nền kinh tế nào. Việc phát triển hoạt động kinh doanh quốc tế không chỉ có ý nghĩa là giúp các quốc gia sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả mà còn giúp các quốc gia thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập, liên kết của mình. Tuy nhiên, kinh doanh quốc tế là một lĩnh vực kinh tế rộng lớn, đa dạng và phức tạp, nó không những liên quan đến các nguồn lực, con người mà nó còn liên quan đến ngôn ngữ, văn hóa, phong tục, tập quán và luật pháp của các quốc gia khác nhau. Vì vậy, từ nhiều năm qua, hoạt động kinh doanh quốc tế đã được nhiều quốc gia nghiên cứu và thực hiện, việc đưa ra các chiến lược và thực hiện có hiệu quả hoạt động kinh doanh quốc tế là yêu cầu có ý nghĩa vô cùng to lớn với các quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hoá như hiện nay. Kinh doanh quốc tế là môn khoa học nghiên cứu toàn bộ các hoạt động giao dịch, kinh doanh được tiến hành giữa các quốc gia nhằm đáp ứng các nhu cầu và mục tiêu của các doanh nghiệp, các nhân, và các tổ chức kinh tế xã hội. Đối tượng nghiên cứu của môn học là các mối quan hệ kinh doanh giữa các quốc gia như thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế, dịch vụ quốc tế…. Môn học kinh doanh quốc tế đã được đưa vào chương trình đào tạo đại học ngành kinh tếQTKD ở hầu hết các nước với mục đích góp phần trang bị những kiến thức cơ bản về kinh doanh quốc tế và phương pháp tư duy tổng hợp, so sánh cho sinh viên chuyên ngành kinh tếQTKD, giúp các sinh viên có thể đưa ra các quyết định tác nghiệp hợp lý nhằm tối đa hoá lợi nhuận, sử dụng và phát huy lợi thế về nguồn lực, thoả mãn các yêu cầu khác trong quan hệ kinh doanh quốc tế. CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH DOANH QUỐC TẾ 1.1 Giới thiệu chung về kinh doanh quốc tế 1.1.1 Khái niệm kinh doanh quốc tế Kinh doanh quốc tế được hiểu là tổng thể các hoạt động giao dịch kinh tế được thực hiện giữa các quốc gia, nhằm thoả mãn các mục tiêu kinh doanh của các doanh nghiệp, cá nhân và tổ chức kinh tế. Các hoạt động giao dịch kinh tế nói trên được hiểu là hoạt động thương mại quốc tế, dịch vụ quốc tế, đầu tư quốc tế, tài chính quốc tế, chuyển giao công nghệ, kĩ thuật quốc tế…. Hoạt động kinh doanh quốc tế được hình thành từ cuối thế kỷ 16, nhưng đến những năm cuối của thập kỷ 90 lĩnh vực kinh doanh này mới thực sự phát triển mạnh mẽ và lan toả trên toàn cầu. Trong đó, sự thay đổi về kinh tế và chính trị ở Đông Âu và Nga đã mở ra một thời kỳ mới cho hoạt động kinh doanh quốc tế và các doanh nghiệp đa quốc gia đã nhanh chóng nắm lấy cơ hội mới hết sức thuận lợi này. Cho tới nay, thông qua hoạt động kinh doanh quốc tế, Nhật Bản đã trở thành cường quốc kinh tế đứng đầu ở Châu Á, việc thành lập các liên kết kinh tế quốc tế, đặc biệt là Liên minh Châu Âu (EU) đã tạo điều kiện cho kinh doanh quốc tế ngày càng phát triển mạnh hơn nữa. Bên cạnh đó, dưới sự tác động mạnh mẽ của các xu hướng vận động của nền kinh tế thế giới, đặc biệt là sự tác động ngày càng tăng của xu hướng khu vực hóa và toàn cầu hoá, đối với nền kinh tế từng quốc gia và thế giới, hoạt động kinh doanh quốc tế và các hình thức kinh doanh quốc tế ngày càng đa dạng và trở thành một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế và quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại giữa các quốc gia. 1.1.2. Đặc điểm của kinh doanh quốc tế Hoạt động kinh doanh quốc tế được thực hịên giữa hai hay nhiều quốc gia và trong môi trường kinh doanh mới và xa lạ, vì vậy, các doanh nghiệp không thể lấy kinh nghiệm kinh doanh nội địa để áp đặt hoàn toàn cho kinh doanh quốc tế. Để thực hiện hoạt động kinh doanh quốc tế một cách hiệu quả, việc đầu tiên và quan trọng là các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu các đặc điểm của kinh doanh quốc tế, trên cơ sở đó, có những quyết định cho phù hợp. Nhìn chung, kinh doanh quốc tế có đặc điểm sau: Kinh doanh quốc tế là mối quan hệ kinh tế mang tính chất quốc tế. Hoạt động kinh doanh quốc tế được thực hiện trên cơ sở tham gia thực hiện của nhiều quốc gia, do đó, nó được coi là mối quan hệ mang tính chất quốc tế. Mối quan hệ này sẽ bị chi phối bởi một hệ thống các nhân tố mang tính chất quốc tế như: ngôn ngữ, luật pháp, hệ thống tài chính tiền tệ… Kinh doanh quốc tế được thực hiện ở nước ngoài với môi trường kinh doanh mới, xa lạ và thường xuyên biến động, vì vậy, mức độ rủi ro thường cao. Kinh doanh quốc tế là hình thức tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh và gia tăng lợi nhuận bằng cách mở rộng thị trường, tận dụng lợi thế so sánh tương đối, lợi thế so sánh tuyệt đối. 1.2. Vai trò và nguyên nhân hình thành hoạt động kinh doanh quốc tế 1.2.1. Vai trò của hoạt động kinh doanh quốc tế Sự phát triển mạnh mẽ của các hình thức kinh doanh quốc tế đã chứng tỏ vai trò to lớn của nó đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Xét từ phương diện quản lý Nhà nước, kinh doanh quốc tế có vai trò như sau: Khai thác có hiệu quả lợi thế so sánh về nguồn lực Kinh doanh quốc tế sẽ giúp các quốc gia khai thác lợi thế so sánh của mình, làm động lực cho sự phát triển kinh tế, góp phần cải thiện đời sống nhân dân, gia tăng tiến bộ xã hội, nhằm thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế quốc gia. Bên cạnh đó, kinh doanh quốc tế còn giúp các quốc gia xác định qui mô tối ưu cho mỗi ngành sản xuất, tạo điều kiện xây dựng các ngành kinh tế mũi nhọn, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, thúc đẩy việc khai thác các nhân tố tăng trưởng theo chiều sâu, trao đổi và ứng dụng nhanh chóng các công nghệ mới, thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, nâng cao tốc độ tăng trưởng và hiệu quả của nền kinh tế quốc dân. Trong những điều kiện lịch sử mới, vấn đề mở cửa nền kinh tế đang trở nên cấp bách và đang tạo cho nhiều quốc gia những cơ hội thuận lợi trong quá trình đẩy nhanh sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. Tuy nhiên, trong điều kiện này, mỗi quốc gia đang phải đứng trước những thử thách mới như phải đương đầu với sự cạnh tranh gay gắt, khốc liệt hơn diễn ra trên khu vực và toàn cầu. Chủ động và tích cực tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế Hoạt động kinh doanh quốc tế tạo điều kiện cho các quốc gia tham gia một cách chủ động và tích cực vào quá trình phân công lao động quốc tế, hội nhập vào thị trường toàn cầu, làm cho nền kinh tế của các quốc gia trở thành một hệ thống mở, tạo cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, biến nền kinh tế thế giới trở thành nơi cung cấp các yếu tố đầu vào và tiêu thụ các sản phẩm đầu ra cho nền kinh tế quốc gia trong hệ thống kinh tế quốc tế. Sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, gia tăng việc làm và cải thiện cán cân thanh toán của các quốc gia Hoạt động kinh doanh quốc tế được thực hiện thông qua nhiều hình thức khác nhau như: xuất nhập khẩu hàng hoá, hợp tác đầu tư, cung cấp dịch vụ quốc tế, xuất khẩu lao động, chuyên gia cho các quốc gia thiếu lao động, các quốc gia có thể tăng thu ngoại tệ, tăng nguồn vốn dự trữ, đẩy mạnh việc thu hút đầu tư nước ngoài để cải thiện cán cân thanh toán, thực hiện một số chương trình phát triển kinh tế trong nước, trên cơ sở đó sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, tăng thêm việc làm, tăng thêm nguồn thu ngoại tệ cho nền kinh tế. Xác định cơ cấu kinh tế hợp lý theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Thông qua việc tăng cường hợp tác kinh tế kỹ thuật, chuyển giao công nghệ giúp cho các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển có cơ hội cải tiến lại cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Tạo cơ hội cho việc phân phối các nguồn lực trong nước và thu hút nguồn lực bên ngoài vào phát triển các lĩnh vực, các ngành của nền kinh tế quốc dân một cách có hiệu quả, khắc phục được tình trạng thiếu các nguồn lực cho sự phát triển đất nước, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước phát triển và vươn ra thị trường thế giới. Xét từ phương diện các doanh nghiệp, kinh doanh quốc tế có vai trò sau: Tăng cường khả năng cạnh tranh Thị trường quốc tế với những yêu cầu khắt khe về chất lượng sản phẩm và áp lực cạnh tranh của môi trường kinh doanh sẽ là động lực thúc đẩy các DN phát triển và tăng cường khả năng cạnh tranh của DN. Mở rộng thị trường và sử dụng có hiệu quả nguồn lực Trong quá trình sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường và tìm kiếm khách hàng mới với mục tiêu tận dụng lợi thế về qui mô, giảm giá thành sản phẩm là một trong những hoạt động thường xuyên và không thể thiếu đối với các doanh nghiệp. Thương mại quốc tế và đầu tư quốc tế sẽ là phương pháp hữu hiệu để DN mở rộng thị trường và tìm kiếm khách hàng mới. Mặt khác, thông qua hoạt động đầu tư quốc tế giúp các DN khai thác được nguồn lực rồi rào, phong phú từ các nước. 1.2.2. Nguyên nhân hình thành hoạt động kinh doanh quốc tế Cho tới nay, hoạt động kinh doanh quốc tế ngày càng phát triển và đươc tất cả các quốc gia trên toàn thế giới thực hiện. Tuy nhiên, nguyên nhân hình thành hoạt
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH DOANH QUỐC TẾ 5
1.1 Giới thiệu chung về kinh doanh quốc tế 5
1.1.1 Khái niệm kinh doanh quốc tế 5
1.1.2 Đặc điểm của kinh doanh quốc tế 5
1.2 Vai trò và nguyên nhân hình thành hoạt động kinh doanh quốc tế 6
1.2.1 Vai trò của hoạt động kinh doanh quốc tế 6
1.2.2 Nguyên nhân hình thành hoạt động kinh doanh quốc tế 7
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh quốc tế 8
1.3.1 Mức độ phát triển kinh tế của các quốc gia 8
1.3.2 Sự phát triển của khoa học và công nghệ 8
1.3.3 Điều kiện chính trị, xã hội trong khu vực hoặc thế giới 9
1.3.4 Sự hình thành các liên kết kinh tế quốc tế 9
1.4 Môi trường kinh doanh quốc tế 10
1.4.1 Khái niệm môi trường kinh doanh quốc tế 10
1.4.2 Phân loại môi trường kinh doanh quốc tế 10
1.4.3 Các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh quốc tế 11
1.5 Nội dung của hoạt động kinh doanh quốc tế 14
1.5.1 Thương mại quốc tế 14
b Thương mại dịch vụ quốc tế 15
1.5.2 Đầu tư quốc tế 17
1.5.3 Tài chính quốc tế 17
CHƯƠNG 2 LIÊN KẾT KINH TẾ QUỐC TẾ 19
2.1 Phân công lao động quốc tế- Cơ sở của sự ra đời các liên kết kinh tế quốc tế 19
2.1.1 Khái niệm 19
2.1.2 Đặc điểm của phân công lao động quốc tế 19
2.2 Các loại hình liên kết kinh tế quốc tế 19
2.2.1 Liên kết kinh tế quốc tế nhà nước 19
2.2.2 Liên kết kinh tế quốc tế tư nhân 21
2.3 Một số liên kết kinh tế quốc tế nhà nước tiêu biểu 24
2.3.1 Liên minh Châu Âu 24
2.3.2 Tổ chức Thương mại Thế giới 28
CHƯƠNG 3 THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 40
3.1 Một số lí thuyết về thương mại quốc tế 40
3.1.1 Lý thuyết về lợi thế so sánh tuyệt đối của Adam Smith 40
3.1.2 Lý thuyết về lợi thế so sánh tương đối của David Ricardo 41
Trang 23.1.3 Lý thuyết về cạnh tranh quốc gia 42
3.2 Thương mại quốc tế 45
3.2.1 Khái niệm thương mại quốc tế 45
3.2.2 Các nguyên tắc áp dụng trong thương mại quốc tế 46
3.2.3 Các biện pháp áp dụng trong thương mại quốc tế 48
3.2 Chính sách ngoại thương 50
3.2.1 Khái niệm và nội dung của chính sách ngoại thương 50
3.2.2 Một số loại chính sách ngoại thương 52
4.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng ngoại thương 56
4.1.1 Khái niệm hợp đồng ngoại thương 56
4.1.2 Đặc điểm của hợp đồng ngoại thương 56
4.1.3 Điều kiện hiệu lực của hợp đồng ngoại thương 57
4.1.4 Nội dung cơ bản của hợp đồng ngoại thương 57
4.2 Các điều khoản cơ bản của hợp đồng ngoại thương 58
4.2.1 Điều khoản tên hàng 58
4.2.2 Điều khoản số lượng: 58
3.2.3 Điều khoản chất lượng 60
4.2.4 Điều khoản giá cả 61
4.2.5 Điều khoản giao hàng 63
4.2.6 Điều khoản thanh toán 64
4.3 Điều kiện thương mại quốc tế (incoterms) 65
4.3.1 Giao tại xưởng - EXW (EX WORK) địa điểm quy định 67
4.3.2 Giao hàng cho người chuyên chở (FCA - FREE CARRIER) - Địa điểm giao hàng quy định 67
4.3.3 Giao dọc mạn tàu (FAS - FREE ALONGSIDE SHIP)- Cảng bốc hàng quy định 68
4.3.4 Giao lên tàu (FOB - FREE ON BOARD) - Cảng bốc hàng quy định 68
4.3.5 Tiền hàng và cước… (CFR - COST AND FREIGHT)- Cảng đích quy định 69 4.3.6 Tiền hàng, phí bảo hiểm và cước (CIF - COST, INSURANCE AND FREGHT) - Cảng đích quy định 70
4.3.7 Cước trả tới (CPT: CARRIAGE PAID TO…)- Địa điểm đến qui định 71
4.3.8 Cước phí và phí bảo hiểm trả tới…(CIP: CARRIAGE & INSURANCE PAID TO…) - Địa điểm đích qui định 71
4.3.9 Giao tại biên giới(DAF: DELIVERED AT FRONTIER)- Địa điểm qui định 72 4.3.10 Giao tại tàu (DES: DELIVERED EX SHIP) Cảng đích qui định 72
4.3.11 Giao tại cầu cảng (DEQ: DELIVERED EX QUAY)- cảng đích qui định 73
4.3.12 Giao hàng tại đích chưa nộp thuế (DELIVERED DUTY UNPAID)-Địa điểm đích qui định 73
Trang 34.3.13 Giao hàng tại đích đã nộp thuế (DDP: DELIVERED DUTY PAID) Địa điểm
đích qui định 74
5.1 Khái niệm, ý nghĩa và vai trò của đầu tư quốc tế 75
5.1.1 Khái niệm 75
5.1.2 Nguyên nhân hình thành đầu tư quốc tế 75
5.2 Đặc điểm và xu hướng đầu tư quốc tế 75
5.3 Một số loại hình đầu tư quốc tế cơ bản 75
5.2.1 Đầu tư trực tiếp quốc tế (FDI) 75
5.2.2 Đầu tư quốc tế gián tiếp 79
5.2.3 Tín dụng quốc tế 79
5.3 Chính sách và biện pháp đầu tư quốc tế tại Việt Nam 79
5.3.1 Hệ thống pháp luật về đầu tư quốc tế ở VN 79
5.3.2 Định hướng phát triển đầu tư quốc tế ở VN 80
5.3.3 Những giải pháp đẩy mạnh đầu tư quốc tế ở Việt Nam 80
Trang 4MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của xu thế toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập quốc tế, hoạtđộng kinh doanh quốc tế cũng ngày càng phát triển, đa dạng và phong phú và trở thànhmột bộ phận không thể thiếu của bất kỳ một nền kinh tế nào
Việc phát triển hoạt động kinh doanh quốc tế không chỉ có ý nghĩa là giúp cácquốc gia sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả mà còn giúp các quốc gia thúc đẩynhanh quá trình hội nhập, liên kết của mình
Tuy nhiên, kinh doanh quốc tế là một lĩnh vực kinh tế rộng lớn, đa dạng và phứctạp, nó không những liên quan đến các nguồn lực, con người mà nó còn liên quan đếnngôn ngữ, văn hóa, phong tục, tập quán và luật pháp của các quốc gia khác nhau Vìvậy, từ nhiều năm qua, hoạt động kinh doanh quốc tế đã được nhiều quốc gia nghiêncứu và thực hiện, việc đưa ra các chiến lược và thực hiện có hiệu quả hoạt động kinhdoanh quốc tế là yêu cầu có ý nghĩa vô cùng to lớn với các quốc gia, đặc biệt trong bốicảnh toàn cầu hoá như hiện nay
Kinh doanh quốc tế là môn khoa học nghiên cứu toàn bộ các hoạt động giaodịch, kinh doanh được tiến hành giữa các quốc gia nhằm đáp ứng các nhu cầu và mụctiêu của các doanh nghiệp, các nhân, và các tổ chức kinh tế xã hội
Đối tượng nghiên cứu của môn học là các mối quan hệ kinh doanh giữa cácquốc gia như thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế, dịch vụ quốc tế…
Môn học kinh doanh quốc tế đã được đưa vào chương trình đào tạo đại họcngành kinh tế-QTKD ở hầu hết các nước với mục đích góp phần trang bị những kiếnthức cơ bản về kinh doanh quốc tế và phương pháp tư duy tổng hợp, so sánh cho sinhviên chuyên ngành kinh tế-QTKD, giúp các sinh viên có thể đưa ra các quyết định tácnghiệp hợp lý nhằm tối đa hoá lợi nhuận, sử dụng và phát huy lợi thế về nguồn lực,thoả mãn các yêu cầu khác trong quan hệ kinh doanh quốc tế
Trang 5CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH DOANH
QUỐC TẾ
1.1 Giới thiệu chung về kinh doanh quốc tế
1.1.1 Khái niệm kinh doanh quốc tế
Kinh doanh quốc tế được hiểu là tổng thể các hoạt động giao dịch kinh tế đượcthực hiện giữa các quốc gia, nhằm thoả mãn các mục tiêu kinh doanh của các doanhnghiệp, cá nhân và tổ chức kinh tế
Các hoạt động giao dịch kinh tế nói trên được hiểu là hoạt động thương mạiquốc tế, dịch vụ quốc tế, đầu tư quốc tế, tài chính quốc tế, chuyển giao công nghệ, kĩthuật quốc tế…
Hoạt động kinh doanh quốc tế được hình thành từ cuối thế kỷ 16, nhưng đếnnhững năm cuối của thập kỷ 90 lĩnh vực kinh doanh này mới thực sự phát triển mạnh
mẽ và lan toả trên toàn cầu Trong đó, sự thay đổi về kinh tế và chính trị ở Đông Âu vàNga đã mở ra một thời kỳ mới cho hoạt động kinh doanh quốc tế và các doanh nghiệp
đa quốc gia đã nhanh chóng nắm lấy cơ hội mới hết sức thuận lợi này
Cho tới nay, thông qua hoạt động kinh doanh quốc tế, Nhật Bản đã trở thànhcường quốc kinh tế đứng đầu ở Châu Á, việc thành lập các liên kết kinh tế quốc tế, đặcbiệt là Liên minh Châu Âu (EU) đã tạo điều kiện cho kinh doanh quốc tế ngày càngphát triển mạnh hơn nữa
Bên cạnh đó, dưới sự tác động mạnh mẽ của các xu hướng vận động của nềnkinh tế thế giới, đặc biệt là sự tác động ngày càng tăng của xu hướng khu vực hóa vàtoàn cầu hoá, đối với nền kinh tế từng quốc gia và thế giới, hoạt động kinh doanh quốc
tế và các hình thức kinh doanh quốc tế ngày càng đa dạng và trở thành một bộ phậnkhông thể thiếu của nền kinh tế và quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại giữa các quốc gia
1.1.2 Đặc điểm của kinh doanh quốc tế
Hoạt động kinh doanh quốc tế được thực hịên giữa hai hay nhiều quốc gia vàtrong môi trường kinh doanh mới và xa lạ, vì vậy, các doanh nghiệp không thể lấy kinhnghiệm kinh doanh nội địa để áp đặt hoàn toàn cho kinh doanh quốc tế Để thực hiệnhoạt động kinh doanh quốc tế một cách hiệu quả, việc đầu tiên và quan trọng là cácdoanh nghiệp cần phải nghiên cứu các đặc điểm của kinh doanh quốc tế, trên cơ sở đó,
có những quyết định cho phù hợp Nhìn chung, kinh doanh quốc tế có đặc điểm sau:
- Kinh doanh quốc tế là mối quan hệ kinh tế mang tính chất quốc tế
Hoạt động kinh doanh quốc tế được thực hiện trên cơ sở tham gia thực hiện củanhiều quốc gia, do đó, nó được coi là mối quan hệ mang tính chất quốc tế Mối quan hệnày sẽ bị chi phối bởi một hệ thống các nhân tố mang tính chất quốc tế như: ngôn ngữ,luật pháp, hệ thống tài chính tiền tệ…
Trang 6- Kinh doanh quốc tế được thực hiện ở nước ngoài với môi trường kinh doanhmới, xa lạ và thường xuyên biến động, vì vậy, mức độ rủi ro thường cao.
- Kinh doanh quốc tế là hình thức tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triểnhoạt động sản xuất kinh doanh và gia tăng lợi nhuận bằng cách mở rộng thị trường, tậndụng lợi thế so sánh tương đối, lợi thế so sánh tuyệt đối
1.2 Vai trò và nguyên nhân hình thành hoạt động kinh doanh quốc tế
1.2.1 Vai trò của hoạt động kinh doanh quốc tế
Sự phát triển mạnh mẽ của các hình thức kinh doanh quốc tế đã chứng tỏ vai trò
to lớn của nó đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia
Xét từ phương diện quản lý Nhà nước, kinh doanh quốc tế có vai trò như sau:
- Khai thác có hiệu quả lợi thế so sánh về nguồn lực
Kinh doanh quốc tế sẽ giúp các quốc gia khai thác lợi thế so sánh của mình,làm động lực cho sự phát triển kinh tế, góp phần cải thiện đời sống nhân dân, gia tăngtiến bộ xã hội, nhằm thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế quốc gia Bêncạnh đó, kinh doanh quốc tế còn giúp các quốc gia xác định qui mô tối ưu cho mỗingành sản xuất, tạo điều kiện xây dựng các ngành kinh tế mũi nhọn, nâng cao năngsuất lao động, chất lượng sản phẩm, thúc đẩy việc khai thác các nhân tố tăng trưởngtheo chiều sâu, trao đổi và ứng dụng nhanh chóng các công nghệ mới, thu hút vốn đầu
tư từ bên ngoài, nâng cao tốc độ tăng trưởng và hiệu quả của nền kinh tế quốc dân
Trong những điều kiện lịch sử mới, vấn đề mở cửa nền kinh tế đang trở nên cấpbách và đang tạo cho nhiều quốc gia những cơ hội thuận lợi trong quá trình đẩy nhanh
sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội Tuy nhiên, trong điều kiện này, mỗi quốc giađang phải đứng trước những thử thách mới như phải đương đầu với sự cạnh tranh gaygắt, khốc liệt hơn diễn ra trên khu vực và toàn cầu
- Chủ động và tích cực tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế Hoạt động kinh doanh quốc tế tạo điều kiện cho các quốc gia tham gia mộtcách chủ động và tích cực vào quá trình phân công lao động quốc tế, hội nhập vào thịtrường toàn cầu, làm cho nền kinh tế của các quốc gia trở thành một hệ thống mở, tạocầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, biến nền kinh tế thế giớitrở thành nơi cung cấp các yếu tố đầu vào và tiêu thụ các sản phẩm đầu ra cho nền kinh
tế quốc gia trong hệ thống kinh tế quốc tế
- Sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, gia tăng việc làm và cải thiện cán cân thanhtoán của các quốc gia
Hoạt động kinh doanh quốc tế được thực hiện thông qua nhiều hình thức khácnhau như: xuất nhập khẩu hàng hoá, hợp tác đầu tư, cung cấp dịch vụ quốc tế, xuấtkhẩu lao động, chuyên gia cho các quốc gia thiếu lao động, các quốc gia có thể tăng thungoại tệ, tăng nguồn vốn dự trữ, đẩy mạnh việc thu hút đầu tư nước ngoài để cải thiện
Trang 7cán cân thanh toán, thực hiện một số chương trình phát triển kinh tế trong nước, trên cơ
sở đó sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, tăng thêm việc làm, tăng thêm nguồn thu ngoại
tệ cho nền kinh tế
- Xác định cơ cấu kinh tế hợp lý theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Thông qua việc tăng cường hợp tác kinh tế kỹ thuật, chuyển giao công nghệgiúp cho các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển có cơ hội cải tiến lại cơ cấu kinh tếtheo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa Tạo cơ hội cho việc phân phối các nguồnlực trong nước và thu hút nguồn lực bên ngoài vào phát triển các lĩnh vực, các ngànhcủa nền kinh tế quốc dân một cách có hiệu quả, khắc phục được tình trạng thiếu cácnguồn lực cho sự phát triển đất nước, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nướcphát triển và vươn ra thị trường thế giới
Xét từ phương diện các doanh nghiệp, kinh doanh quốc tế có vai trò sau:
- Tăng cường khả năng cạnh tranh
Thị trường quốc tế với những yêu cầu khắt khe về chất lượng sản phẩm và áplực cạnh tranh của môi trường kinh doanh sẽ là động lực thúc đẩy các DN phát triển vàtăng cường khả năng cạnh tranh của DN
- Mở rộng thị trường và sử dụng có hiệu quả nguồn lực
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường và tìm kiếm kháchhàng mới với mục tiêu tận dụng lợi thế về qui mô, giảm giá thành sản phẩm là mộttrong những hoạt động thường xuyên và không thể thiếu đối với các doanh nghiệp.Thương mại quốc tế và đầu tư quốc tế sẽ là phương pháp hữu hiệu để DN mở rộng thịtrường và tìm kiếm khách hàng mới Mặt khác, thông qua hoạt động đầu tư quốc tếgiúp các DN khai thác được nguồn lực rồi rào, phong phú từ các nước
1.2.2 Nguyên nhân hình thành hoạt động kinh doanh quốc tế
Cho tới nay, hoạt động kinh doanh quốc tế ngày càng phát triển và đươc tất cảcác quốc gia trên toàn thế giới thực hiện Tuy nhiên, nguyên nhân hình thành hoạt độngkinh doanh quốc tế của các quốc gia khác nhau là khác nhau Nhìn chung, các nguyênnhân của hoạt kinh doanh quốc tế được chia thành 3 loại sau:
* Mở rộng thị trường kinh doanh: trong quá trình kinh doanh, việc các doanhnghiệp mới ra nhập ngành hay việc mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệptrong ngành sẽ làm thị phần của một doanh nghiệp hiện tại có xu hướng bị thu hẹp Đểtăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp thường phải mở rộng sản xuất đểtận dụng lợi thế nhờ qui mô Tuy nhiên, các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với mộtkhó khăn là khả năng mua của thị trường hiện tại của doanh nghiệp bị giới hạn, đòi hỏicác doanh nghiệp phải mở rộng thị trường để tiêu thụ sản phẩm Việc mở rộng thịtrường ra nước ngoài sẽ khắc phục được sự chặt hẹp của thị trường nội địa do số lượngkhách hàng và sản lượng tiêu thụ của thị trường nội địa luôn nhỏ hơn so với thị trường
Trang 8nước ngoài Vì vậy, các doanh nghiệp thường có xu hướng mở rộng thị trường ra nướcngoài.
* Tìm kiếm các nguồn lực từ nước ngoài
Đối với mỗi quốc gia, cho dù có nền kinh tế phát triển hay chậm và đang pháttriển, luôn phải đối mặt với nguồn lực có hạn Do vậy, để có thêm nguồn lực mới hoặcgóp phần sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực hiện có, các doanh nghiệp phải vươntới các nguồn lực ở nước ngoài như nhân công với giá rẻ, nguyên liệu đầu vào phongphú, dễ khai thác Đây là những nguồn lợi lớn mà các doanh nghiệp hướng tới vớimục đích giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận Xuất phát từ nguyênnhân này, các doanh nghiệp thường mở rộng đầu tư ra nước ngoài và tiêu thụ tại thịtrường ở quốc gia nhận đầu tư
* Mở rộng và đa dạng hoá hoạt động kinh doanh
Mở rộng và đa dạng hoá hoạt động kinh doanh là chiến lược chủ yếu của cáccông ty lớn ở hầu hết các quốc gia với mục đích giảm thiểu rủi ro do sự biến động củamôi trường kinh doanh, khắc phục tình trạng khan hiếm nguồn lực trong phạm vi mộtquốc gia và sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả nhất
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh quốc tế
1.3.1 Mức độ phát triển kinh tế của các quốc gia
Sự tăng trưởng của các hoạt động kinh doanh nói chung và kinh doanh quốc tếnói riêng phụ thuộc rất nhiều vào sự tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia Khi thunhập của dân cư ngày càng tăng, điều kiện sinh hoạt ngày càng được cải thiện do nềnkinh tế có sự tăng trưởng mạnh, thì nhu cầu cho sản xuất cũng như cho tiêu dùng đòihỏi phải được đáp ứng Trong khi đó, sự chặt hẹp của thị trường nội địa khó có thể đápứng được những nhu cầu đó chỉ có mở rộng hoạt động kinh doanh mới có thể giảiquyết được vấn đề nói trên
Mặt khác, những điều kịên kinh tế có tác động rất mạnh đến khối lượng hànghoá trao đổi mua bán, đầu tư…hàng năm Song sự gia tăng khối lượng trao đổi, muabán, đầu tư luôn có xu hướng biến đổi nhanh hơn sự biến đổi của nền kinh tế Sự thayđổi về mức sống trên thế giới đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ hàng hóa lưuchuyển quốc tế Tỷ lệ thương mại quốc tế cũng đang có xu hướng tăng nhanh hơn tỷ lệtống sản phẩm quốc tế trong dài hạn Mức độ gia tăng khối lượng và giá trị hàng hoákinh doanh phụ thuộc rất lớn vào mức độ can thiệp của Chính phủ Thông qua các công
cụ chính sách kinh tế vĩ mô mà Nhà nước thực hiện sự điều tiết khối lượng hàng hoá từnước ngoài vào và đặc biệt sẽ làm giảm bớt nhập khẩu khi nền kinh tế bị trì trệ
1.3.2 Sự phát triển của khoa học và công nghệ
Sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện nayđang thúc đẩy tốc độ phát triển và tăng trưởng kinh tế của từng quốc gia, làm cho nhiềuquốc gia có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá
Trang 9Chính sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ trong thế kỉ này đã làm xuất hiệnsản phẩm mới thay thế những sản phẩm cũ và làm thay đổi vị trí của từng quốc gia,từng doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh quốc tế Nhiều sản phẩm mới như máytính, hàng điện tử, máy bay…đang chiếm phần lớn trong kinh doanh quốc tế của cácdoanh nghiệp Hiện nay, hầu hết những kĩ thuật, công nghệ mới, hiện đại đều xuất phát
từ các quốc gia tiên tiến đã công nghiệp hoá Vì vậy, các doanh nghiệp từ các quốc gianày đang nắm giữ thị phần và đầu tư lớn hơn trong lĩnh vực công nghiệp, đây cũngchính là khu vực kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh
1.3.3 Điều kiện chính trị, xã hội trong khu vực hoặc thế giới
Sự ổn định hay bất lợi về chính trị, xã hội cũng là những nhân tố ảnh hưởng lớnđến hoạt động kinh doanh quốc tế Hệ thống chính trị và các quan điểm về chính trị, xãhội cùng tác động trực tiếp đến phạm vi, lĩnh vực, mặt hàng …và đối tác kinh doanh
Trong những năm thập kỉ 90, tình hình chính trị, xã hội của nhiều quốc gia trênthế giới đã có nhiều biến động lớn trong quan hệ song phương và đa phương giữa cácquốc gia Trong trường hợp xu hướng biến động này theo chiều hướng tốt, sẽ tạo điềukiện thuận lợi cho các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia phát triển Nêu theo chiềuhướng bất ổn, sẽ dẫn đến thiệt hại và rủi ro lớn cho công ty này
Các xung đột lớn hay nhỏ giữa các quốc gia cũng dẫn đến thay đổi lớn về mặthàng sản xuất Cụ thể là xung đột quân sự đã làm phá vỡ những quan hệ kinh doanhtruyền thống, làm thay đổi hệ thống vận tải và chuyển hướng từ sản xuất phục vụ tiêudùng của xã hội sang sản xuất phục vụ chiến tranh Chính việc chuyển hướng sản xuấtnày đã làm cho kinh doanh bị thay đổi, đầu tư bị gián đoạn, quan hệ giữa các quốc gia
bị xấu đi và dần dần tạo lập nên những hàng rào vô hình ngăn cản hoạt động kinhdoanh quốc tế
1.3.4 Sự hình thành các liên kết kinh tế quốc tế
Việc hình thành các khối liên kết kinh tế quốc tế đã góp phần gia tăng hoạt độngmua bán, đầu tư giữa các quốc gia thành viên trong khối, có thể làm giảm tỷ lệ giá trịhàng hoá/dịch vụ trao đổi với các quốc gia không thành viên Để khắc phục được hạnchế này, các quốc gia thành viên thường kí kết với các quốc gia không thành viênnhững điều ước, hiệp định để từng bước nới lỏng các hàng rào thương mại hữu hìnhhoặc vô hình, tạo điều kiện cho kinh doanh quốc tế phát triển
Bên cạnh hiệp định song phương và đa phương giữa các quốc gia đã và đangđược kí kết, các tổ chức kinh tế quốc tế, đặc biệt là Ngân hàng Thế giới (WB), Ngânhàng Phát triển Châu Á (ADB) có vai trò cực kì quan trọng đối với kinh doanh quốc tế.Chính các tổ chức này đã cung cấp vốn cho những chương trình xã hội và phát triển cơ
sở hạ tầng như nhà ở, đường xá, bến cảng…Việc cho vay của các tổ chức này đã kíchthích hoạt động thương mại quốc tế và đầu tư quốc tế của các doanh nghiệp Thông qua
đó, các quốc gia có thể mua được những máy móc thiết bị cần thiết từ nước ngoài và
Trang 10xây dựng hoặc nâng cấp cơ sở hạ tầng và trên cơ sở đó, thúc đẩy hoạt động kinh doanhquốc tế phát triển một cách có hiệu quả.
Một ví dụ điển hình nữa là: Việc hình thành và phát triển của Liên Minh Châu
Âu (EU) với đỉnh cao là đưa đồng EURO vào lưu hành chính thức đã làm cho vị thếcủa đồng EURO được nâng cao, đồng thời, thúc đẩy kinh doanh quốc tế phát triểnmạnh hơn
1.4 Môi trường kinh doanh quốc tế
1.4.1 Khái niệm môi trường kinh doanh quốc tế
Môi trường kinh doanh quốc tế được hiểu là hệ thống các yếu tố xung quanhdoanh nghiệp ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp.Môi trường kinh doanh quốc tế thường bao gồm: Môi trường pháp luật, môi trườngchính trị, môi trường kinh tế, môi trường văn hóa Các môi trường này thường xuyênbiến động, gây ra sự ảnh hưởng và chi phối mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh quốc
tế của doanh nghiệp, dẫn đến các doanh nghiệp phải tự điều chỉnh các mục tiêu kinhdoanh, hình thức và chức năng hoạt động của mình cho phù hợp nhằm nắm bắt kịp thờicác cơ hội kinh doanh và khai thác tốt nhất các cơ hội đó
Trong giai đoạn hiện nay, khi xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá nền kinh tếthế giới, hoạt động kinh doanh quốc tế ngày càng được mở rộng và phát triển, đòi hỏicác doanh nghiệp phải phân tích kĩ môi trường kinh doanh để có thể giảm những tháchthức, hạn chế những rủi ro và nắm bắt được các cơ hội hấp dẫn từ môi trường kinhdoanh
1.4.2 Phân loại môi trường kinh doanh quốc tế
Môi trường kinh doanh quốc tế, với tư cách là một chỉnh thể thống nhất, trong
đó các môi trường thành phần là các bộ phận không tách rời, giữa chúng luôn có tácđộng qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau Từ các tiêu thức khác nhau, môi trường kinhdoanh quốc tế được phân chia thành các loại khác nhau
* Theo nội dung và đặc trưng của môi trường bộ phận:
+ Môi trường luật pháp
+ Môi trường chính trị
+ Môi trường kinh tế
+ Môi trường văn hoá
+ Môi trường địa lí
* Theo phạm vi tác động
+ Môi trường kinh doanh trong nước
+ Môi trường kinh doanh quốc tế
* Theo mức độ cạnh tranh
Trang 11+ Môi trường cạnh tranh
+ Môi trường độc quyền
Xét ở góc độ môi trường kinh doanh quốc tế, môi trường cạnh tranh được hiểu
và chia thành hai cấp độ: Môi trường cạnh tranh vi mô-là môi trường cạnh tranh củacác doanh nghiệp trong nước với hàng hoá nhập khẩu và môi trường cạnh tranh vĩ mô-môi trường cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế
Có thể phân tích một ví dụ về môi trường cạnh tranh vi mô như sau: Thị trườngôtô tại Châu Âu chịu sự tác động và chi phối mạnh mẽ của hai lực lượng cạnh tranh lớn
là Nhật và Mĩ Nhật đang tăng dần thị phần xe ô tô ở Châu Âu Ở Ireland, các doanhnghiệp ô tô của Nhật đã chiếm lĩnh được 43% thị phần
Khác với các công ty ô tô của Nhật, các công ty ôtô của Mĩ đã có cơ sở vàphương tiện sản xuất ổn định ở Châu Âu như công ty GM, Ford Các doanh nghiệp này
đã và đang cạnh tranh khá hiệu quả trên thị trường EU Như vậy, các doanh nghiệp ô tôcủa EU đang phải đối mặt với môi trường cạnh tranh vĩ mô và vi mô khá gay gắt
1.4.3 Các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh quốc tế
Tại mỗi quốc gia, nơi mà các doanh nghiệp đang tiến hành hoạt động kinhdoanh quốc tế, có sự khác biệt so với các quốc gia khác, sự khác biệt có thể kể đến vàluôn được các doanh nghiệp cần lưu tâm là về luật pháp, chính trị, kinh tế, văn hoá vàcạnh tranh Để hoạt động thành công trên các quốc gia khác nhau, doanh nghiệp cầnđưa ra các chiến lược kinh doanh khác nhau, đặc biệt là trong việc tiếp cận thị trườngkhác nhau
a Môi trường luật pháp
Một trong những bộ phận của môi trường bên ngoài ảnh hưởng lớn đến hiệuquả của hoạt động kinh doanh quốc tế của doanh nghiệp là hệ thống luật pháp của cácquốc gia, nơi doanh nghiệp tiến hành hoạt động đầu tư hoặc của các quốc gia, nơi đốitác trong quan hệ thương mại quốc tế của doanh nghiệp Ngoài ra, doanh nghiệp cònphải quan tâm đến hệ thống luật pháp quốc tế và các tập quán thương mại quốc tế
Luật pháp, dưới góc độ luật học, được hiểu là các qui tắc xử sự do nhà nước banhành theo những trình tự, thủ tục nhất định để điều chỉnh một số mối quan hệ xã hội vàđược đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế nhà nước
Mỗi quốc gia có một hệ thống luật riêng để điều chỉnh các mối quan hệ phátsinh trong hoạt động kinh doanh quốc tế như hoạt động thương mại quốc tế , hoạt độngđầu tư quốc tế, hoạt động tài chính quốc tế Ở mỗi quốc gia, các qui tắc pháp luật điềuchỉnh các hoạt động này được đề cập đến trong các bộ luật khác nhau Tìm hiểu luậtpháp của các quốc gia sẽ giúp doanh nghiệp nắm vững được các quyền và nghĩa vụ củamình khi tiến hành hoạt động kinh doanh quốc tế, trên cơ sở đó, tìm được cách thứctiếp cận thị trường một cách hiệu quả, đồng thời, có thể tận dụng tối đa các quyền củamình khi tiến hành kinh doanh
Trang 12Cho tới nay, trên thế giới đang tồn tại ba hệ thống luật pháp sau:
- Thường luật (common law): Hệ thống luật pháp theo tập quán, được xây dựngtrên cơ sở truyền thống, phong tục, tập quán và các toà án thực hiện một vai trò quantrọng trong việc làm sáng tỏ luật pháp trên cơ sở những đặc điểm về phong tục, tậpquán Mĩ và Ireland, Anh, Australia, New Zealand, canada đang áp dụng hệ thống luậtnày Ngoài ra, một số quốc gia khác cũng áp dụng hệ thống Thường luật kết hợp vớiGiáo luật như ở Ấn Độ, Nigeria, Pakistan
- Dân luật (Civil law): Hệ thống luật pháp dân sự, đây là hệ thống luật phổ biếnnhất thế giới, thường được Nhà nước ban hành dựa trên những qui luật khách quan đểđiều chỉnh một số mối quan hệ xã hội cho phù hợp với qui luật mà không có mối quan
hệ nào với tiền lệ
- Giáo luật: Hệ thống luật chình trị thần quyền- được một số quốc gia xây dựngtrên cơ sở các nguyên lý tôn giáo Trên thế giới, các luật phổ biến là luật Hồi Giáo,Luật Do Thái, Luật Giáo Hội
Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng cần quan tâm đến hệ thống luật pháp quốc tế,các tập quán quốc tế
b Môi trường chính trị
Môi trường chính trị luôn có một vai trò quan trọng trong sự thành công củahoạt động kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp Một môi trường chính trị thể hiện
ở các nội dung như: thể chế chính trị của quốc gia đó, quan điểm chính trị của những
cơ quan quản lí nhà nước, hệ thống chính trị quốc gia
Hoạt động kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp hoàn toàn phụ thuộc vàothái độ ứng xử của từng chính phủ đối với các doanh nghiệp nước ngoài và tuỳ thuộcvào sự phản ứng thích hợp của các doanh nghiệp trong các lĩnh vực kinh doanh có sựđối đầu hay hội nhập về lợi ích
Từ góc độ kinh doanh quốc tế, các doanh nghiệp thường chú ý nghiên cứu cáchình thức tổ chức nhà nước của các quốc gia, các hình thức tổ chức nhà nước này ảnhhưởng trực tiếp đến các hoạt động kinh doanh quốc tế, nó cho phép doanh nghiệp mởrộng hay phải thu hẹp phạm vi hoạt động, mức độ hoạt động của doanh nghiệp trênmỗi thị trường, ngành khác nhau
Các nhà nước tổ chức theo hệ thống dân chủ, phải có sự tham gia rộng rãi củamỗi công dân vào quá trình ra quyết định, bởi vì, theo họ, các quyết đinh kinh tế, chínhtrị phải nhằm phục vụ lợi ích cá nhân và gia đình họ, vì vậy, các quyết định phải do cáccông dân đề ra Từ đó, mọi hoạt động kinh tế chính trị phải được thực hiện trên cơ sởchú ý đến các nhu cầu và nguyện vọng của cá nhân
Những quốc gia tổ chức theo hệ thống chuyên chế, không cho phép có sự đốilập về hệ thống chính trị Trong lịch sử đã tồn tại ba hình thức chuyên chế: Chuyên chếtheo kiểu kế hoạch hoá tập trung, chuyên chế thần quyền, chuyên chế cổ Chính các
Trang 13hình thức chuyên chế này đã có ảnh hưởng chi phối nhất định đến hoạt động kinhdoanh quốc tế của doanh nghiệp.
c Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế tác động đến hoạt động kinh doanh quốc tế của doanhnghiệp bao gồm các yếu tố về chính sách phát triển kinh tế, cơ chế kinh tế, khả năngphát triển kinh tế, các thành phần kinh tế của quốc gia đó Ngoài ra, các doanh nghiệpcần quan tâm đến xu hướng vận động kinh tế của khu vực và toàn cầu, sự phát triển củacác liên kết kinh tế quốc tế nhà nước các kết quả phân tích sẽ giúp doanh nghiệptrong việc định hướng phát triển thị trường, mở rộng sản xuất kinh doanh quốc tế
d Môi trường văn hoá
Môi trường văn hoá được hiểu là một tổng thể phức tạp, bao gồm ngôn ngữ,niềm tin, đạo đức, phong tục, tập quán và các khả năng khác mà con người có được.Văn hóa của mỗi quốc gia sẽ quyết định hành vi của các tổ chức, cá nhân trong quốcgia đó Môi trường văn hóa ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh quốc tế của cácdoanh nghiệp thông qua các nội dung như: marketing, quản lý nguồn nhân lực, tổ chứcsản xuất ảnh hưởng của môi trường văn hoá tới hoạt động kinh doanh quốc tế củacác doanh nghiệp có thể phân tích như sau:
Thị hiếu, tập quán tiêu dùng của các quốc gia ảnh hưởng lớn đến nhu cầu vềhàng hoá, dẫn tới việc thiết kế sản phẩm của các doanh nghiệp phải có sự phù hợp mớiđược thị trường chấp nhận
Ngôn ngữ ảnh hưởng đến giao tiếp và tổ chức/quản lí sản xuất kinh doanh quốc
tế của doanh nghiệp Đặc biệt là với các công ty đa quốc gia, bản thân trong công tycũng cần có sự thống nhất về ngôn ngữ
Tôn giáo liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động hàng ngày của các cánhân và tổ chức trong xã hội Vì vậy, các doanh nghiệp cần phân tích tôn giáo và vaitrò của các tổ chức tôn giáo tại mỗi quốc gia, nơi doanh nghiệp tổ chức hoạt động kinhdoanh quốc tế, trên cơ sở đó có thể đưa ra các biện pháp quản lí lao động như giờ làmviệc, loại sản phẩm, phương pháp quảng cáo cho phù hợp
e Môi trường cạnh tranh
Mỗi doanh nghiệp đều phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh và môitrường này luôn thay đổi khi chuyển hoạt động từ quốc gia này sang quốc gia khác.Nhìn chung, môi trường cạnh tranh của doanh nghiệp thường bao gồn các yếu tố sau:
- Các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng
Các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng bao gồm các doanh nghiệp mới tham gia vàothị trường nhưng có khả năng mở rộng sản xuất, chiếm lĩnh thị phần của các công tykhác Để hạn chế mối đe doạ này, các doanh nghiệp thường cố gắng mở rộng qui môsản xuất để tận dụng lợi thế theo qui mô, giảm chi phí, khác biệt hoá sản phẩm, đổi mớicông nghệ, tăng cường các dịch vụ bổ sung Ngoài ra, các doanh nghiệp còn có xu
Trang 14hướng lựa chọn địa điểm kinh doanh quốc tế thích hợp nhằm khai thác sự hỗ trợ củachính phủ, tận dụng thị trường yếu tố đầu vào và sản phẩm đầu ra.
- Các khách hàng tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp
Vị thế của khách hàng, số lượng hàng hoá mà khách hàng muốn mua sẽ tạo rasức ép đối với doanh nghiệp Đôi khi, sự liên kết giữa các khách hàng cũng là mộttrong những yếu tố mà doanh nghiệp cần lưu ý để đạt được hiệu quả kinh doanh cao
có các điều kiện ưu đãi hơn về các dịch vụ hay các điều kiện thanh toán
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành
Trong kinh doanh, các doanh nghiệp thường phải cạnh tranh với các doanhnghiệp khác đang cung cấp các sản phẩm cùng loại trên thị trường Sự cạnh tranh chủyếu tập trung vào giá cả, sự khác biệt về sản phẩm hay đổi mới sản phẩm Sự cạnhtranh này ngày càng gay gắt là do các đối thủ cạnh tranh ngày càng nhiều và gần nhưcân bằng, do chi phí ngày càng tăng, do đối thủ cạnh tranh có chiến lược kinh doanh đadạng, xuất xứ khác nhau, do chưa có sự quan tâm nhiều đến việc tạo ra sự khác biệt vềsản phẩm
1.5 Nội dung của hoạt động kinh doanh quốc tế
Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập như hiện nay, các hoạt động kinh doanhquốc tế rất đa dạng và phong phú, tuy nhiên, theo đặc diểm, tính chất của mối quan hệkinh tế, có thể chia các hoạt động kinh doanh quốc tế thành 4 nhóm như sau:
1.5.1 Thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế là việc là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ (hàng hóa hữuhình và hàng hóa vô hình) giữa các quốc gia, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giánhằm đưa lại lợi ích cho các bên
Đối với phần lớn các quốc gia, giá trị hàng hóa dịch vụ trao đổi giữa các quốcgia tương đương với một tỷ lệ lớn trong GDP của quốc gia đó Mặc dù thương mạiquốc tế đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài người, tầm quan trọng đối với việc phát
Trang 15triển kinh tế, xã hội và chính trị của nó mới được để ý đến một cách chi tiết trong vàithế kỷ gần đây Thương mại quốc tế phát triển mạnh cùng với sự phát triển của côngnghiệp hoá, giao thông vận tải, toàn cầu hóa, của các công ty quốc tế và xu hướng thuênhân lực bên ngoài Việc tăng cường thương mại quốc tế thường được xem như ý nghĩa
cơ bản của "toàn cầu hoá"
Xét theo đối tượng trao đổi, thương mại quốc tế được phân chia thành:
a Thương mại hàng hóa quốc tế
Thương mại hàng hóa quốc tế là hình thức trao đổi, mua bán hàng hoá của mộtquốc gia với các quốc gia khác trên thế giới, bao gồm các hoạt động xuất và nhập khẩuhàng hoá và các dịch vụ kèm theo, hoạt động xuất khẩu tại chỗ, tạm nhập, tái xuất…
Cùng với sự phát triển của phân công lao động quốc tế, hình thức thương mạihàng hóa quốc tế ngày càng đa dạng, phong phú và trở thành một bộ phận chủ yếutrong quan hệ kinh tế đối ngoại của các quốc gia
Xét từ khía cạnh kinh doanh quốc tế thì thương mại hàng hóa quốc tế là hìnhthức kinh doanh quốc tế rộng rãi và phổ biến nhất, nó phản ánh quan hệ thương mạichủ yếu và đầu tiên giữa các quốc gia trong phạm vi khu vực và thế giới Hình thứckinh doanh thương mại hàng hóa quốc tế là hình thức kinh doanh quốc tế cơ bản củamột quốc gia, nó là “chìa khoá” mở ra những giao dịch kinh tế quốc tế cho một quốcgia, tạo ra nguồn thu ngoại tệ chủ yếu cho các quốc gia khi tham gia vào các hoạt độngkinh doanh quốc tế Thương mại hàng hóa quốc tế cũng là hoạt động kinh doanh quốc
tế đầu tiên của các doanh nghiệp Hoạt động này vẫn được tiếp tục duy trì ngay cả khidoanh nghiệp đã đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh
b Thương mại dịch vụ quốc tế
Thương mại dịch vụ quốc tế là hình thức cung cấp các loại dịch vụ của mộtquốc gia cho một quốc gia khác trên thế giới Hoạt động thương mại dịch vụ quốc tếbao gồm: dịch vụ du lịch quốc tế, dịch vụ vận tải, tư vấn, bảo hiểm quốc tế, hợp táckhoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ quốc tế… Trước đây, các quốc gia thườngcao quan niệm rằng, hoạt động xuất nhập khẩu chỉ liên quan đến các hàng hoá hữuhình như hàng tiêu dùng, tư liệu sản xuất… Nhưng ngày nay, hoạt động xuất nhậpkhẩu còn mở rộng ra và bao gồm cả việc xuất nhập khẩu các dịch vụ như đã nêu ở trên.Khi các hình thức hợp tác kinh tế và liên kết kinh tế quốc tế phát triển càng mạnh thìhoạt động thương mại dịch vụ quốc tế càng trở thành một lĩnh vực thu hút các doanhnghiệp, các doanh nghiệp đa quốc gia và xuyên quốc gia tham gia Hoạt động thươngmại dịch vụ quốc tế bao gồm các hình thức sau:
* Đại lý đặc quyền
Là hình thức hoạt động kinh doanh quốc tế mà qua đó một doanh nghiệp traocho một đối tác độc lập quyền sử dụng nhãn hiệu, mẫu mã và nó là tài sản cần thiết choviệc kinh doanh của đối tác ấy Sự khác nhau cơ bản giữa hợp đồng cấp giấy phép đại
Trang 16lý và hợp đồng đại lý đặc quyền là ở chỗ doanh nghiệp không chỉ trao cho doanhnghiệp đại lý đặc quyền việc sử dụng nhãn hiệu mà còn tiếp tục giúp đỡ trong hoạtđộng kinh doanh, sự giúp đỡ này thường cao hơn mức danh nghĩa.
* Hợp đồng quản lý
Là những hợp đồng thông qua đó một doanh nghiệp thực hiện sự giúp đỡ củadoanh nghiệp khác bằng việc cung cấp những nhân viên quản lý nhằm hỗ trợ thực hiệnnhững chức năng quản lý tổng quát hoặc chuyên môn sâu trong một khoảng thời gianđặc biệt để thu được một khoản tiền thù lao nhất định từ sự giúp đỡ đó
* Sản xuất theo đơn đặt hàng
Bao gồm những hoạt động cung cấp dịch vụ thường diễn ra với các dự án tươngđối lớn, các sản phẩm gồm nhiều chi tiết, bộ phận phức tạp đến nỗi mà một doanhnghiệp duy nhất khó có thể thực hiện được như thăm dò, khai thác dầu khí, phát minh
và sản xuất ra một loại máy móc thiết bị mới…, khi đó các doanh nghiệp thường kí cáchợp đồng theo đơn đặt hàng để thực hiện từng bộ phận công việc, từng chi tiết sảnphẩm Loại hoạt động kinh doanh quốc tế còn được gọi là hoạt động gia công quốc tế
* Cung cấp bản quyền sản xuất hàng hoá (Hoạt động mua bán Li-xăng)
Khi một doanh nghiệp nhận ra rằng: việc sản xuất sản phẩm ở nước ngoài sẽđem lại hiệu quả kinh tế cao hơn là sản xuất sản phẩm ở trong nước rồi xuất khẩu ranước ngoài, doanh nghiệp đó sẽ quyết định kí hợp đồng cung cấp bản quyền sản xuất
và bán các sản phẩm của doanh nghiệp mình cho một doanh nghiệp khác Cung cấpbản quyền sản xuất hàng hoá là một biện pháp đặc biệt có hiệu quả, giúp cho một công
ty có thể sử dụng trên khắp thế giới công nghệ và quyền sở hữu công nghiệp
Li xăng có thể có nhiều hình thức, mặc dù, đó thường là một hợp đồng cho phépmột doanh nghiệp khác sản xuất, bán hay sử dụng một tên gọi hay sản phẩm của mình
Ví dụ như: một công ty dược phẩm của Đức có thể cấp quyền sử dụng nhữngsáng chế mà nó có đối với một loại thuốc cụ thể cho một nhà sản xuất ở Canađa Điềunày sẽ cho phép công ty ở Canađa kia được quyền sản xuất ra loại thuốc đó Đôi khi,công ty dược phẩm của Đức này cung cấp quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá của mìnhđối với sản phẩm cho công ty Canađa đó để công ty này có thể sản xuất và bán loạithuốc đó ở thị trường Canada hay trên toàn bộ thị trường Bắc Mĩ
Một hình thức cung cấp Li xăng đặc biệt có hiệu quả trong kinh doanh quốc tế
là trao đặc quyền kinh doanh Cả hàng hoá và dịch vụ đều là đối tượng của hình thứcgiao dịch quốc tế này Đôi khi, trao đặc quyền kinh doanh là phương pháp ít tốn kémnhất để mở rộng kinh doanh sang các thị trường mới Loại giao dịch này có liên quanđến việc cấp giấy phép sử dụng nhãn hiệu hàng hoá đối với tên gọi của một sản phẩm
và tên gọi dùng trong kinh doanh Trong một số trường hợp, đó là việc cung cấp giấyphép sử dụng “bí quyết kĩ thuật” hay các “bằng sáng chế”
Trang 17Những ví dụ điển hình của các doanh nghiệp hoạt động hình thức này nhưMcDonals(tên một loại nhà hàng nổi tiếng ở Mĩ với những món ăn sẵn phục vụ rấtnhanh), KFC, Servicemaster…
1.5.2 Đầu tư quốc tế
Đầu tư quốc tế là hình thức tổ chức kinh doanh trong đó hai hay nhiều bên cóquốc tịch khác nhau cùng góp vốn để xây dựng và triển khai một dự án đầu tư nhằmđưa lại lợi ích cho tất cả các bên Đồng thời, đầu tư quốc tế là quá trình kinh tế, trong
đó các nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn hoặc tài sản vào nước tiếp nhận đầu tư để thựchiện hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận
Bản chất của đầu tư quốc tế là xuất khẩu tư bản Đây cũng là hình thức kinhdoanh quốc tế cao nhất, gắn với hoạt động của các công ty đa quốc gia và xuyên quốcgia
Khi một nhà kinh doanh tìm cách duy trì sự có mặt lâu dài trên một thị trường,người đó có thể quyết định đầu tư trực tiếp vào thị trường đó dưới hình thức một chinhánh, một công ty con hay liên doanh Chi nhánh là hình thức đơn giản nhất của đầu
tư quốc tế, nó chỉ liên quan đến việc mở một văn phòng, một nhà máy hay một số hoạtđộng kinh doanh khác
Trong một số trường hợp, pháp luật đòi hỏi doanh nghiệp của nước sở tại phải
có một phần quyền sở hữu đối với tài sản của doanh nghiệp hay thậm chí là quyền sởhữu chi phối đối với doanh nghiệp đó Các nhà đầu tư nước ngoài thường quyết địnhthâm nhập thị trường mới thông qua việc thành lập những liên doanh với các doanhnghiệp ở nước sở tại Tuy nhiên, nếu xét từ góc độ doanh nghiệp nước ngoài, các doanhnghiệp này thường ưa thích hình thức doanh nghiệp 100% VNN
Hoạt động kinh doanh quốc tế của các quốc gia cho thấy, xuất khẩu hàng hoá vàxuất khẩu tư bản của một quốc gia luôn bổ sung và hỗ trợ cho nhau Các doanh nghiệpthường thực hiện việc xuất khẩu hàng hoá để thâm nhập, tìm hiểu thị trường, môitrường đầu tư, trên cơ sở đó sẽ ra quyết định xuất khẩu tư bản, hay nói cách khác, thựchiện hoạt động đầu tư quốc tế Đồng thời với việc xuất khẩu tư bản là việc thành lậpcác doanh nghiệp đầu tư liên doanh nhằm xuất khẩu máy móc, thiết bị, vật tư sangquốc gia tiếp nhận đầu tư khai thác nguồn nguyên liệu đầu vào và nhân công của nướcchủ nhà Cùng với thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế là hoạt động kinh doanh quốc tếchính trong trào lưu có tính qui luật trong liên kết kinh tế toàn cầu
1.5.3 Tài chính quốc tế
Tài chính quốc tế là hình thức kinh doanh quốc tế liên quan đến dịch vụ thanhtoán hàng hoá xuất nhập khẩu, cung cấp và di chuyển vốn đầu tư, thanh toán việc sửdụng các dịch vụ… do một quốc gia cung cấp cho quốc gia khác trên thế giới
Ngày nay, các quốc gia đang hoạt động và phát triển trong môi trường kinh tếmang tính toàn cầu và thống nhất cao, việc sản xuất, tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ
Trang 18cũng ngày càng được toàn cầu hoá cao độ Để đảm bảo mục tiêu chi phí sản xuất thấp,lợi nhuận cao, các doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty đa quốc gia có thể thiết lập cơ
sở sản xuất và huy động yếu tố đầu vào ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới Để thựchiện hoạt động đầu tư kinh doanh, các doanh nghiệp thường phải thanh toán các hợpđồng xuất nhập khẩu, huy động vốn đầu tư… Các hoạt động này thường được thựchiện thông qua các doanh nghiệp/tổ chức trung gian dưới hình thức dịch vụ tài chínhquốc tế
Trang 19CHƯƠNG 2 LIÊN KẾT KINH TẾ QUỐC TẾ
2.1 Phân công lao động quốc tế- Cơ sở của sự ra đời các liên kết kinh tế quốc tế.
2.1.1 Khái niệm
Phân công lao động quốc tế là sự chuyên môn hoá của một quốc gia vào sảnxuất một số loại hàng hoá/dịch vụ nhất định dựa vào lợi thế so sánh tuyệt đối hoặc lợithế so sánh tương đối và cung cấp cho các quốc gia khác thông qua việc xuất nhậpkhẩu
2.1.2 Đặc điểm của phân công lao động quốc tế.
- Phân công lao động quốc tế có xu hướng ngày càng phát triển
Ngày nay, phân công lao động quốc tế đang diễn ra với phạm vi ngày càngrộng và mang tính toàn cầu Điều này đã biến các quốc gia trở thành hạt nhân của quátrình tái sản xuất của toàn thế giới, là một bộ phận không thể tách rời trong một chỉnhthể thống nhất, đó là nền kinh tế thế giới Đồng thời, phân công lao động quốc tế ngàycàng xâm nhập vào hầu hết các ngành, các lĩnh vực kinh tế và đang chuyển từ phâncông lao động theo ngành, theo sản phẩm thành phân công lao động theo chi tiết sảnphẩm, theo qui trình công nghệ
- Việc ra đời các liên kết kinh tế quốc tế nhà nước ở các khu vực đã hạn chế tính
tự phát, ngẫu nhiên trong phân công lao động quốc tế và thúc đẩy sự phân công laođộng trên toàn thế giới phát triển
- Sự phát triển của các công ty quốc tế với tiềm lực về tài chính, khoa học kĩthuật đã trở thành nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển của kinh tế thế giới
- Sự dịch chuyển vốn, kĩ thuật từ các quốc gia phát triển sang các quốc gia đangphát triển đã giúp cho một số quốc gia trở thành quốc gia CN mới(NICs), quay trở lạicạnh tranh với các quốc gia phát triển
- Các hình thức hợp tác, phân công lao động quốc tế ngày càng đa dạng, phongphú trong tất cả các lĩnh vực là cho sự phát triển của mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào
sự phát triển của khu vực và toàn thế giới
2.2 Các loại hình liên kết kinh tế quốc tế
2.2.1 Liên kết kinh tế quốc tế nhà nước
Các liên kết kinh tế quốc tế nhà nước bao gồm các tổ chức được hình thành trên
cơ sở các hiệp định giữa hai hoặc nhiều bên về việc hình thành các kiên kết kinh tếquốc tế Các hình thức liên kết kinh tế quốc tế nhà nước
a Vai trò của các liên kết kinh tế quốc tế nhà nước:
- Thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển: Khi tham gia vào các liên kết kinh
Trang 20tế quốc tế, các quốc gia thường cố gắng loại bỏ cho nhau những rào cản thươngmại như thuế quan, hạn ngạch hay các rào cản khác, vì vậy, thương mại quốc tế pháttriển.
- Nhờ có sự phân công lao động quốc tế trong các khối liên kết kinh tế quốc tế,các quốc gia có thể sử dụng nguồn lực của mình một cách hiệu quả hơn thông qua việctận dụng lợi thế so sánh tuyệt đối, tương đối, tận dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật, tăngNSLĐ, tiết kiệm thời gian
- Làm thay đổi cơ cấu kinh tế của các quốc gia theo hướng có lợi nhất và dẫn tớihình thành cơ cấu kinh tế mới có tính chất khu vực
b Các hình thức kinh tế quốc tế nhà nước
* Khu vực thương mại tư do (FTA)
Là hình thức liên kết kinh tế quốc tế giữa hai hay nhiều quốc gia, trong đó cácthành viên cùng nhau thoả thuận và áp dụng các biện pháp, tiến tới tất cả hàng ràothương mại đối với phần lớn các hàng hoá/dịch vụ giữa các quốc gia dần dần bị dẹp bỏ,trao đổi được tiến hành tự do giữa các quốc gia mà không có thuế quan, hạn ngạch haycác hàng rào thương mại khác Tuy nhiên, các quốc gia trong khu vực có quyền tựmình định ra các chính sách thương mại khi mua bán, trao đổi với các quốc gia khác
Ở mức độ liên kết này gồm:
+ Hiệp hội thương mại tự do Châu Âu (EFTA - 1960) bao gồm: Áo, Anh, PhầnLan, ĐM, NA uy, Thuỵ điển, Thuỵ sĩ, Bồ đào nha
+ Khối hiệp ước TM tự do Bắc Mĩ (NAFTA – 1989) Canada, Mĩ, Mexico
+ Khu vực thương mại tự do Asean (AFTA - 1992) Brunei, Malayxia,Indonexia, Philipin, Thailand, Vietnam
* Đồng minh về thuế quan (CUSTOM UNION)
Là hình thức liên kết kinh tế quốc tế trong đó các quốc gia thành viên cùng nhauthoả thuận và thực hiện những điều kiện như với khu vực thương mại tự do, ngoài ra,còn hình thành một biểu thuế quan và chính sách thương mại chung khi mua bán, traođổi với các quốc gia không thuộc hiệp hội
Trong đồng minh về thuế quan, một thị trường hàng hoá/dịch vụ thống nhất vớicác quốc gia ngoài đồng minh được hình thành, tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa cácquốc gia Tuy nhiên, các quốc gia thuộc đồng minh sẽ bị mất quyền độc lập, tự chủtrong trao đổi, mua bán với các quốc gia ngoài đồng minh bởi sự ràng buộc về biểuthuế quan và chính sách thuế quan chung
Ví dụ như: Cộng đồng kinh tế Châu Âu(EEC – 1957) Tây Đức, Pháp, Ý, Bỉ,Anh, Hà Lan, TBNha, BĐNha, Hi Lạp
* Thị trường chung (COMMON UNION)
Trang 21Là hình thức liên kết trong đó, các quốc gia cùng thoả thuận và thực hiện cácbiện pháp như với đồng minh về thuế quan, ngoài ra, các yếu tố sản xuất như vốn, laođộng, công nghệ được tự do di chuyển giữa các quốc gia thành viên, thành lập nênmột thị trường thống nhất theo nghĩa rộng Tuy nhiên, để thực hiện thành công hìnhthức liên kết này, các quốc gia cần hợp tác một cách chặt chẽ trong chính sách tàichính, tiền tệ và việc làm.
Ở hình thức liên kết này có:
+ Thị trường chung Trung Mĩ: Achentina, Brasil, Paragoay, Urugoay
+ Thị trường chung Châu Âu (EEC - 1970)
* Đồng minh về kinh tế (ECONOMIC UNION)
Là hình thức liên kết kinh tế quốc tế, trong đó các quốc gia cùng nhau thoảthuận và thực hiện các biện pháp tương tự như với thị trường chung, ngoài ra, các quốcgia thành viên còn thực hiện một chính sách kinh tế thống nhất
Ví dụ: Liên Minh Châu Âu (EU – 1985)
* Đồng minh tiền tệ (MONETARY UNION)
Là hình thức kiên kết kinh tế quốc tế cao nhất, đặc biệt là trong lĩnh vực tàichính, tiền tệ, trong đó các quốc gia thành viên cung nhau thoả thuận và áp dụng cácbiện pháp nhằm hình thành một đồng tiền chung, tiến tới hình thành một quốc gia kinh
tế chung các vấn đề được các quốc gia trong MU thoả thuận bao gồm:
- Xây dựng một chính sách kinh tế, chính sách kinh tế đối ngoại, đặc biệt làchính sách ngoại thương chung
- Hình thành một đồng tiền chung thống nhất thay thế cho đồng tiền riêng củacác quốc gia thành viên
- Xây dựng ngân hàng Trung Ương chung thay thế cho ngân hàng TW của cácquốc gia
- Xây dựng chính sách tài chính tiền tệ chung với các quốc gia ngoài đồng minh
và với các tổ chức kinh tế quốc tế
2.2.2 Liên kết kinh tế quốc tế tư nhân
Bao gồm các liên kết kinh tế được thành lập trên cơ sở các hiệp định liênchính phủ hoặc hợp đồng hợp tác giữa các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế củacác quốc gia để hình thành các công ty quốc tế
a Nguyên nhân hình thành và vai trò của các công ty quốc tế.
* Nguyên nhân hình thành:
- Đối phó với chính sách bảo hộ thương mại của các quốc gia: Để bảo hộ sảnxuất trong nước, các quốc gia thường có xu hướng lập ra các hàng rào về thuế quan,hạn ngạch đối với hàng hoá nhập khẩu, vì vậy, việc xuất khẩu trực tiếp hàng hoá vào
Trang 22các quốc gia này thường không hiệu quả Để đảm bảo mục tiêu mở rộng thị trường, cácquốc gia thường có
- Nâng cao vị thế cạnh tranh: Cạnh tranh ngày càng gay gắt , đặc biệt là trongđiều kiện côgn nghệ đổi mới, đòi hỏi vốn đầu tư nhiều, kĩ thuật ở trình độ cao, khi đó,một công ty của một quốc gia không có khả năng đáp ứng, dẫn tới phải liên kết với cáccông ty thuộc các quốc gia khác và hình thành công ty quốc tế
* Vai trò của công ty quốc tế
- Thúc đẩy nhanh quá trình nhất thể hoá kinh tế thế giới, trên cơ sở đó, thúc đẩythương mại quốc tế phát triển
- Là tiền đề để phát triển cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật trên toàn cầu do cáccông ty phải liên kết với nhau để tập trung vốn, tác động vào khoa học, công nghệ đểtăng khả năng cạnh tranh
- Tạo điều kiện cho các quốc gia chậm và đang phát triển đổi mới công nghệthông qua việc góp vốn băng công nghệ hoặc đầu tư công nghệ của các quốc gia pháttriển dưới hình thức liên doanh, công ty mẹ-công ty con giúp các quốc gia này khaithác và sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả
b Phân loại công ty quốc tế
* Theo nguồn hình thành vốn đầu tư của công ty quốc tế, có thể chia các công tynày thành các nhóm sau:
- Công ty đa quốc gia (Multinational Corporations-MNC)
Công ty đa quốc gia được hiểu là hình thức công ty quốc tế, trong đó vốn đầu tưcủa công ty được hình thành trên cơ sở đóng góp của nhiều quốc gia và hoạt động kinhdoanh trên nhiều quốc gia Các công ty đa quốc gia thường bao gồm các doanh nghiệphay các bộ phận khác nhau mà quyền sở hữu chúng thuộc về tư nhân, nhà nước hayhỗn hợp, được thành lập ở nhiều nước khác nhauvà do đó, việc liên kết một hay nhiềudoanh nghiệp hay bộ phận có thể tạo ra thuận lợi lớn cho hoạt động của các doanhnghiệp khác, đặc biệt là chia sẻ kiến thức và các nguồn lực với các công ty khác
Theo quan niệm của Uỷ ban Thương Mại và phát triển của Liên Hiệp Quốc(UNCTAD), công ty đa quốc gia được hiểu như sau: MNC là một doanh nghiệp gồmnhiều đơn vị ở hai hay nhiều quốc gia, bất kể hình thức pháp lý, lĩnh vực hoạt động củacác đơn vị này, hoạt động theo một hệ thống chính sách tự quyết, có sự liên hệ và cómột chiến lược chung thông qua một hay nhiều trung tâm quyết định, trong đó cácdoanh nghiệp được liên kết bằng hình thức sở hữu hày dưới hình thức khác, với mộthay nhiều đơn vị có thể tạo ra thuận lợi lớn cho hoạt động của các đơn vị khác, và đặcbiệt là chia sẻ hiểu biết, các nguồn và trách nhiệm với các đơn vị khác
Trong hoạt động kinh doanh, các MNC thực sự không còn bị giới hạn về phạm
vi hoạt động, các công ty này cũng thực sự không xác định được quốc tịch do chúnghoạt động vì lợi ích của các cổ đông mà các cổ đông này ở các quốc gia khác nhau trên
Trang 23thế giới Mối quan hệ này càng gia tăng khi xu hướng đang thịnh hành ngày nay trong
số các công ty đa quốc gia lớn là đề bạt người nước ngoài nắm giữ các vị trí quản lýhàng đầu Một số doanh nghiệp Đức và Pháp thậm chí còn sử dụng tiếng Anh làm ngônngữ chung cho giao tiếp và quản lý toàn cầu của các công ty đa quốc gia này
Hiện nay, các công ty đa quốc gia khổng lồ xuất hiện ngày càng nhiều do lànsóng sáp nhập hoặc mua lại các công ty đang có nguy cơ phá sản Chỉ tính riêng 100MNC hàng đầu thế giới có giá trị gần 2000 tỉ USD, chiếm khối lượng lớn trong tổngFDI của thế giới và làn sóng các vụ sáp nhập khổng lồ gần đây đã làm vốn đầu tư củaMNC đã lớn lại còn lớn hơn Tuy nhiên, theo thống kê, trong số khoảng 45.000 MNCđang hoạt động trên thị trường thế giới, vẫn tồn tại một số MNC thực sự nhỏ, một sốMNC chưa tới 250 người Các MNC có qui mô lớn có thể giảm chi phí sản xuất bằngcách sản xuất với số lượng lớn để phục vụ thị trường toàn cầu, từ đó tận dụng lợi thế vềqui mô Mặc dù vậy, với các MNC, không phải lúc nào qui mô cũng là vấn đề quantrọng nhất, tuỳ theo quan niệm kinh doanh khác nhau, các MNC sẽ có các chiến lượcphát triển phù hợp
- Công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporations - TNC)
Công ty xuyên quốc gia là loại công ty quốc tế được thành lập trên cơ sở vốnđầu tư của một quốc gia, hoạt động kinh doanh trên nhiều quốc gia
* Theo phương thức hoạt động
- Trust quốc tế: Đây là tổ chức độc quyền liên kết một số lượng lớn các doanhnghiệp của một ngành hoặc những ngành gần nhau của các nước TBCN để giảm bớt sựcạnh tranh và kiểm soát giá cả
- Syndicat quốc tế: là loại công ty được thành lập trên cơ sở một nhóm công tykết hợp với nhau để tiến hành một dự án chung, đặc biệt là trong tiêu thụ sản phẩm
- Cartel quốc tế: Được thành lập trên cơ sở một nhóm các nhà TB độc quyềnliên kết lại với nhau nhằm kiểm soát việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm và để tránhcạnh tranh với nhau Các liên kết chủ yếu tập trung vào việc phân chia thị trường vàhạn ngạch xuất nhập khẩu
c Đặc điểm và xu hướng phát triển của công ty quốc tế.
Qua quá trình hình thành và phát triển của các công ty quốc tế cho thấy đã có sựthay đổi lớn trong lĩnh vực đầu tư của các công ty này Trước đây, các công ty chủ yếutập trung đầu tư vào lĩnh vực khai thác nguyên nhiên liệu hoặc những ngành sản xuấthàng truyền thống, thì ngày nay, các công ty có xu hướng đầu tư vào những ngànhcông nghiệp chế biến, ngành công nghiệp có công nghệ cao và các ngành dịch vụ nhưbảo hiểm, thương mại, BĐS
- Để giảm bớt cạnh tranh và củng cố thế lực trên thị trường, các công ty thường
sử dụng chiến lược sáp nhập hoặc liên hợp giữa các công ty xuyên quốc gia nhằm thực
Trang 24hiện một mục tiêu chiến lược nào đó như: thu hút kinh nghiệm quản lý, kĩ thuật mới,xâm nhập thị trường, giảm bớt cạnh tranh lẫn nhau
- Xu hướng chiến lược mới của các công ty quốc tế thường là đa dạng hoá vàchuyên môn hoá cao độ thông qua việc sản xuất nhiều loại sản phẩm hoặc dịch vụ khácnhau để giảm bớt rủi ro, tuy nhiên, chỉ tập trung vào một số lĩnh vực nhất định mà công
ty có thể phát huy được thế mạnh
2.3 Một số liên kết kinh tế quốc tế nhà nước tiêu biểu
2.3.1 Liên minh Châu Âu
2.3.1.1 Khái quát chung
Cơ cấu tổ chức: EU có 5 cơ quan chính: Nghị viện Châu Âu, Hội đồng EU, Uỷban Châu Âu, Toà án Châu Âu, Toà kiểm toán Châu Âu
- Nghị viện Châu Âu: Được đặt tại Strasbourg, gồm 732 nghị sĩ, nhiệm kì 5năm, được bầu theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu Trong nghị viện, các nghị sĩ ngồitheo nhóm chính trị khác nhau, không theo quốc tịch
Nghị viện châu Âu có chức năng chính: Cùng hội đồng Châu Âu ban hành luậtpháp; giám sát các cơ quan của EU, đặc biệt là UB EU, có quyền thông qua hoặc bãimiễn các chức vụ của UB EU, cùng hội đồng hội đồng Châu Âu có thẩm quyề đối vớingân sách, đối với việc chi tiêu của Liên minh
- Hội đồng Liên minh Châu Âu: Bao gồm các Bộ trưởng đại diện cho các nướcthành viên Các nước luôn phiên làm chủ tịch với nhiệm kì 6 tháng Giúp việc cho Hộiđồng có UB đại diện thường trực và ban thư kí
Nhiệm vụ chính của hội đồng là: Thông qua luật pháp, phối hợp giữa các nướcthành viên về chính sách kinh tế, kí kết các thoả thuận giữa EU và với các nước hoặcvới các tổ chức quốc tế, cùng nghị viện Châu Âu thông qua ngân sách của Liên minh,phát triển cá chính sách đối ngoại và an ninh chung của EU theo hướng dẫn của Hộiđồng Châu Âu, phối hợp sự hợp tác giữa các toà án và lực lượng an ninh quốc gia trongcác vấn đề tội phạm
- Uỷ ban Châu Âu: Trụ sở tại Bruxen (Bỉ), có văn phòng đại diện ở Lucxămbua,đại diện ở các nước thành viên và các phái đoàn ở nhiều thủ đô trên thế giới Chủ tịch
là ông Jose Manuel Barroso, quốc tịch Bồ Đào Nha
Uỷ ban Châu Âu là cơ quan điều hành của EU, gồm 25 uỷ viên, trong đó có 8
uỷ viên nữ Chủ tịch UB là do chính phủ các nước nhất trí đề cử, các uỷ viên là do chủtịch và chính phủ các nước thành viên chọn ra Cơ quan chính thông qua là nghị việnChâu Âu
Uỷ ban Châu Âu có nhiệm kì 5 năm, hiện tịa là khóa 2004-2009, bắt đầu hoạtđộng ngày 22.11.2004, với chức năng chính là đệ trình dự luật lên nghị viện và hội
Trang 25đồng Châu Âu, thi hành chính sách của EU và kiểm soát ngân sáChâu Âu, cùng Toà ánChâu Âu thi hành luật, và là cơ quan đại diện cho EU.
- Toà án Châu Âu Đặt trụ sở tại Lucxămbua, gồm 25 thẩm phán và 8 trạng sư,
do các chính phủ thoả thuận bổ nhiệm, nhiệm kì 6 năm
Toà án Châu Âu có vai trò độc lập, có quyền bác bỏ những qui định của các tổchức của UB Châu Âu, văn phòng chính phủ các nước nếu bị coi là không phù hợp vớiluật của EU
- Toà kiểm toán Châu Âu Đặt trụ sở tại Lucxămbua, có nhiệm vụ chính là kiểmtra tất cả doanh thu và chi tiêu của EU
Toà kiểm toán Châu Âu gồm 25 thành viên, do Hội đồng Châu Âu bổ nhiệmsau khi tham khảo Nghị viện Châu Âu, nhiệm kì 6 năm
2.3.1.2 Lịch sử hình thành
Liên minh Châu Âu được thành lập trên cơ sở Cộng đồng Kinh tế ChâuÂu(EEC) được thành lập bởi Hiệp Uớc Rôma ngày 25.03.1957 gồm 6 quốc gia nhưPháp, Đức, Ý, Bỉ, Hà Lan, Luxămbua và có hiệu lực từ 01.01.1958 với dự kiến xoá bỏchế độ thuế quan trong một thời hạn tối thiểu là 12 năm Về nông nghiệp, phát triển cácquan hệ trao đổi trên cơ sở các hợp đồng dài hạn giữa các nước thành viên Thuế quanchung đối với các quốc gia ngoài khối được xác định ở mức bình quân trong năm 1957của 6 nước Thương mại được tiến hành tự do đối với hàng hoá công nghiệp và và mộtmức giá chung cho các sản phẩm nông nghiệp được thực hiện vào năm 1968 đến 1970,
đã giảm bớt được những hạn chế về di chuyển tư bản và lao động giữa các quốc gia
Tới ngày 1.1.1981, kết nạp thêm 6 quốc gia nữa: Đan Mạch(1961), Anh (1971),Ireland(1972), Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha (1977), Hi lạp(1981)
Ngày 1.1.1994, kết nạp thêm 3 thành viên nữa là Áo, Phần Lan, Thuỵ Điển.EEC được đổi tên thành EU với dân số 275triệu người, GDP 7000 tỷ USD, GDP/người
là 18.660USD
Hiện nay, EU có 27 quốc gia thành viên gồm: Pháp, Đức, Ý, Bỉ, Hà Lan,Luxămbua, Đan Mạch, Anh, Ireland, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hi lạp, Áo, PhầnLan, Thuỵ Điển, Séc, Hungari, Bungari, Rumani, Ba Lan, Slovenia, Litva, Estonia,Malta, Sip, Slovakia, Latvia
Diện tích: 4.000,000km2
Dân số: 493 triệu người
GDP: 13.000 tỷ USD, GDP/người là 29.000USD
Năm 1987, EU bắt đầu triển khai kế hoạch xây dựng “Thị trường nội địa thốngnhất Châu Âu”
Ngày 7.2.1992, Hiệp ước liên hiệp Châu Âu(hiệp ước Maastricht) tại Hà Lan đãđược kí kết nhằm mục đích thành lập một liên minh kinh tế và tiền tệ vào cuối thập kỉ
Trang 2690, với một đồng tiền chung và một Ngân hàng TW độc lập, thành lập một liên minhchính trị Hiệp ước này đã đánh dấu một bước ngoặt trong tiến trình nhất thể hoá ChâuÂu.
- Tăng cường quyền hạn cảu nghị viện Châu Âu
- Mở rộng quyền của cộng đồng trong một số lĩnh vực như môi trường, xã hội,nghiên cứu
- Phối hợp các hoạt động tư pháp, thực hiện chính sách chung về nhập cư,quyền cư trú và thị thực
b Liên minh kinh tế- tiền tệ
Sự phát triển của Liên minh kinh tế- tiền tệ được chia thành 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Từ tháng 01.07.1990: Xoá bỏ mọi hình thức kiểm soát và hạn chếviệc lưu chuyển vốn trogn 12 nước thành viên
- Giai đoạn 2: Bắt đầu từ 01.01.1994: Giải tán UB Thống đốc Ngân hàng TWcủa các nước thành viên, thành lập Viện tiền tệ Châu Âu để chuẩn bị cho việc thành lập
hệ thống Ngân hàng TW(đã thành lập Viện tiền tệ tại Frankfurt)
- Giai đoạn 3: Từ 01.01.1999: Giải tán Viện tiền tệ Châu Âu, thành lập Ngânhàng TW Châu Âu (ECB) Giám đốc hiện nay là Ông Jean – Claude Trichet, cựuThống đốc Ngân hàng TW Pháp
Kể từ ngày 01.01.2002, đồng Euro đã chính thức được lưu hành trong 12 quốcgia thành viên gồm Pháp, Đức, Áo, Bỉ, Phần Lan, Ailen, Italia, Luxembuorg, Hà Lan,Tay Ban Nha, Bồ Đào Nha Có 3 quốc gia không thực hiện thay thế đồng tiền nội địa làAnh, Đan Mạch và Thuỵ Điển
c Điều kiện để tham gia vào Liên minh Kinh tế – tiền tệ (còn gọi là những tiêu
chí hội nhập) là: Lạm phát thấp, không vượt quá 1,5% so với mức trung bình của 3nước có mức lạm phát thấp nhất; Thâm hụt ngân sách không vượt quá 3% GDP; nợnhà nước dưới 60% GDP và biên độ giao động tỷ giá giữa các đồng tiền ổn định trong
2 năm theo cơ chế chuyển đổi; lãi suất (tính theo lãi suất công trái thời hạn 10 năm trởlên) không quá 2% so với mức trung bình của 3 nước có lãi suất thấp nhất
d Một số hiệp ước cơ bản:
Trang 27- Hiệp ước Amsterdam(còn được gọi là hiệp ước Maastricht sủa đổi, kí ngày02.10.1997 tại Amsterdam, Hà Lan) đã có một số sửa đổi và bổ sung trong một số lĩnhvực chính sau:
+ Những quyền cơ bản, không phân biệt đối xử: Bản hiệp ước mới đề caonhững nguyên lí tự do, dân chủ, tôn trọng nhân quyền và quyền tự do cơ bản cũng nhưnhà nước pháp quyền thành những nguyên tắc pháp lí cơ bản chung cho tất cả các quốcgia thành viên
+ Tư pháp và đối nội: Bổ sung thêm phần “thị thực, tị nạn, nhập cư và nhữngchính sách khác có liên quan đến quyền tự do đi lại” nhằm từng bước xây dựng mộtkhông gian tự do, an ninh và pháp quyền
+ Chính sách xã hội và việc làm: Đưa nội dung Hiệp ước về phát triển ổn định
và nghị quyết về tăng trưởng-việc làm vào hiệp ước Amsterdam
+ Chính sách đối ngoại và an ninh chung: Nhất trí giao cho Tổng thư kí của Hộiđồng Châu Âu nhiệm vụ “đại diện cấp cao về chính sách đối ngoại và an ninh chung”,cùng với Chủ tịch Hội đồng Châu Âu và Chủ tịch UB Châu Âu tạo thành “bộ ba” cótrách nhiệm cùng nhau xác định chiến lược đối ngoại chung theo nguyên tắc nhất trínhưng việc thực hiện sẽ do các nước quyết định theo đa số đủ, đồng thời để ngỏ khảnăng mỗi quốc gia có thể không chấp nhận những quyết định trái với lợi ích sống còncủa nước mình
- Hiệp ước Schengen: Ngày 19.06.1990, Hiệp ước Schengen qui định quyền tự
do đi lại của các công dân các quốc gia thnàh viên Đối với công dân nước ngoài chỉcần có visa của một quốc gia tham gia Schengen là được phép đi lại trong toàn bộ khuvực Schengen Hiện nay, 14/15 quốc gia thành viên EU tham gia khu vực Schengen(trừ Anh) Ngoài ra, còn có thêm 2 quốc gia không phải thành viên của EU cũng thamgia Schengen là Na uy và Ireland
- Hiệp ước Nice (07 – 11.12.2000): Tập trung vào vấn đề cải cách thể chế đểđón nhận các thành viên mới
e Hiến pháp Châu Âu: Tháng 10.2004, các nhà lãnh đạo EU đã thông qua Hiến
pháp Châu Âu Đây là một bước ngoặt có ý nghĩa rất lớn trong tiến trình hội nhập Châu
Âu Hiến pháp là nền tảng pháp lí thống nhất cho EU Nội dung quan trọng đáng chú ýcủa văn bản là: EU sẽ có một chủ tịch với nhiệm kì 5 năm (thay cho chủ tịch luônphiên 6 thang một lần như hiện nay); EU sẽ có một ngoại trưởng chịu trách nhiệm vềcác vấn đề đối ngoại cùng với chủ tịch EU đại diện cho EU ở ngoài khối; Thủ tụcthông qua quyết định với tỷ lệ ủng hộ của ít nhất là 15 quốc gia, đại diện cho 65% dân
số toàn EU (áp dụng từ 11.2009); cho phép nước thành viên được duy trì quyền phủquyết trong lĩnh vực chính sách đối ngoại và phòng thủ, an ninh xã hội, thuế và vănhóa; các nước có thể tự nguyện xin ra khỏi khối; phân bổ số ghế tối đa cho Nghị việnChâu Âu là 750 nghị sĩ, số uỷ viên của Uỷ ban Châu Âu sẽ chỉ còn 17 kể từ năm 2014
Trang 28Ngày 12.01.2005, Nghị viện Châu Âu đã tán thành Hiến pháp với đa số phiếuthuận và kêu gọi các quốc gia thành viên tiến hành phê chuẩn Theo tiến trình nhất thểhoá Châu Âu, tháng 11.2006, Hiến pháp EU sẽ chính thức có hiệu lực nếu tất cả 25quốc gia thành viên thông qua Đến nay, đã có 13 quốc gia thông qua Hiến pháp EUdưới hình thức thông qua tại quốc hội(Litva, Slovakia, Slovenia, Italia, Hungari, HiLạp, Síp, Đức, Latvia, Malta, Áo) hoặc tổ chức trưng cầu dân ý (TBN, Luxembourg).Pháp và Hà Lan là hai quốc gia đầu tiên bị thất bại trong cuộc trưng cầu dân ý thôngqua Hiến pháp Châu Âu Đến nay, còn 8 quốc gia chưa quyết định hình thức thông quaHiến pháp như Ba Lan, Thuỷ Điển hoặc tuyên bố hoãn vô thời hạn việc tổ chức thôngqua là Séc, Đan Mạch, Estonia, Phần Lan, Ireland, Anh.
Hiện nay đang có nhiều kịch bản được tính đến nhằm đẩy mạnh nhất thể hoáChâu Âu theo chiều sâu với mục tiêu nhanh chóng ổn định nội bộ EU Dư luận đang đềcập đến khả năng trong thời gian tới, EU sẽ không có một Hiến pháp chung mà thayvào đó là một EU với nhiều tốc độ, nhiều thể chế khác nhau; song cũng có khả năngcác quốc gia thành viên sẽ đàm phán lại một số điểm đang gây tranh cãi nhiều nhấttrong hiến pháp để rồi lại thông qua ở từng quốc gia thành viên; và cũng không loại trừkhả năng tổ chức trưng cầu dân ý lại ở những quốc gia không ủng hộ Hiến pháp EU lầnthứ nhất
2.3.2 Tổ chức Thương mại Thế giới
2.3.2.1 Mục tiêu hoạt động và chức năng của WTO
WTO với tư cách là một tổ chức thương mại của tất cả các quốc gia trên thếgiới, thực hiện những mục tiêu đã được nêu trong lời nói đầu của Hiệp định GATT
1947 là nâng cao mức sống của nhân dân các thành viên, đảm bảo việc làm, thúc đẩytăng trưởng kinh tế và thương mại, sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của thếgiới Cụ thể, WTO có 3 mục tiêu sau:
- Thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hoá, dịch vụ trên thế giới phục vụ cho
sự phát triển ổn định, bền vững và bảo vệ môi trường; thúc đẩy sự phát triển các thểchế thị trường, giải quyết các bất đồng và tranh chấp thương mại giữa các quốc giathành viên trong khuôn khổ của hệ thống thương mại đa phương, phù hợp với cácnguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế; đảm bảo cho các nước đang phát triển và đặcbiệt là các nước kém phát triển nhất được hưởng những lợi ích thực sự từ sự tăngtrưởng của thương mại quốc tế, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế của các nướcnày và khuyến khích các nước này ngày càng hội nhập sâu sâu rộng hơn vào nền kinh
tế thế giới; nâng cao mức sống, tạo công ăn, việc làm cho người dân các nước thànhviên, đảm bảo các quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu được tôn trọng
Chức năng của WTO:
Trang 29- Thống nhất quản lí việc thực hiện các hiệp định và thoả thuận thương mại đaphương và nhiều bên; giám sát, tạo thuận lợi, kể cả trợ giúp kĩ thuật cho các nước thànhviên thực hiện các nghĩa vụ thương mại quốc tế của họ.
- Là khuôn khổ thể chế để tiến hành các vòng đàm phán thương mại đa phươngtrong khuôn khổ WTO, theo quyết định của Hội nghị Bộ trưởng WTO
- Là cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan đến việcthực hiện và giải thích Hiệp định WTO và các hiệp định thương mại đa phương vànhiều bên
- Là cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại của các nước thành viên, đảmbảo thực hiện mục tiêu thúc đẩy tự do hoá thương mại và tuân thủ các qui định củaWTO, hiệp định thương mại đa phương và nhiều bên
- Là cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại của các nước thành viên, bảođảm thực hiện mục tiêu tự do hoá thương mại và tuân thủ các qui định của WTO, Hiệpđịnh thành lập WTO (phụ lục 3) đã qui định một cơ chế kiểm điểm chính sách thươngmại áp dụng chung đối với tất cả các thành viên
- Thực hiện việc hợp tác với các tổ chức kinh tế quốc tế khác như Quĩ tiền tệquốc tế và Ngân hàng Thế giới trong việc hoạch định những chính sách và dự báo vềnhững xu hướng phát triển tương lai của kinh tế toàn cầu
2.3.2.2 Các nguyên tắc pháp lí của WTO
Về phương diện pháp lí, Định ước cuối của vòng đàm phán Urugoay kí ngày15.04.1999 tại Marraakesh là một văn kiện pháp lí có phạm vi điều chỉnh rộng lớn nhất
và có tính chất kĩ thuật pháp lí phức tạp nhất trong lịch sử ngoại giao và luật pháp quốc
tế Về dung lượng, các hiệp định được kí tại Marraakesh và các phụ lục kèm theo baogồm 50.000 trang, trong đó có riêng 500 trang qui định về các nguyên tắc và nghĩa vụpháp lí chung của các nước thành viên như sau:
+ Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại quốc gia
+ 20 hiệp định đa phương về về Thương mại hàng hóa
+ 4 hiệp định đa phương về thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ, giải quyết tranhchấp, kiểm điểm chính sách thương mại
+ 4 hiệp định nhiều bên về hàng không dân dụng, mua sắm của chính phủ, sảnphẩm sữa và sản phẩm thịt bò
+ 23 tuyên bố và quyết định liên quan đến một số vấn đề chưa đạt được thoảthuận trong vòng đàm phán Urugoay
Tổ chức Thương mại Thế giới được xây dựng trên 4 nguyên tắc pháp lí nền tảnglà: Tối huệ quốc, đãi ngộ quốc gia, mở cửa thị trường và cạnh tranh công bằng
a Nguyên tắc Tối huệ quốc (The Most Favoured Nation - MFN)
Trang 30Đây là nguyên tắc pháp lí quan trọng nhất của WTO Tầm quan trọng đặc biệtcủa MFN được thể hiện ngay tại điều 1 của hiệp định GATT (mặc dù bản thân thuậtngữ “Tối huệ quốc” không được sử dụng trong điều này) Nguyên tắc MFN được hiểu
là nếu một nước dành cho một nước thành viên một sử sự ưu đãi nào đó thì nước nàycũng sẽ phải dành sự ưu đãi đó cho tất cả các nước thành viên khác Thông thường,nguyên tắc MFN được qui định trong các hiệp định thương mại song phương Khinguyên tắc MFN được áp dụng đa phương đối với tất cả nước thành viên WTO thìđồng nghĩa với nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử vì tất cả các nước sẽdành cho nhau sự “đối xử ưu đãi nhất” Nguyên tắc MFN trong WTO không có tínhchất áp dụng tuyệt đối Hiệp định GATT 1947 qui định mỗi nước có quyền tuyên bốkhông áp dụng tất cả các điều khoản trong hiệp định đối với một nước thành viên khác(Trường hợp Mĩ không áp dụng MFN đối với Cu ba mặc dù Cu ba là thành viên sánglập GATT và WTO)
Điều I Hiệp định GATT qui định nghĩa vụ của mọi bên kí kết ánh “ngay lập tức
và không điều kiện” bất kì ưu đãi, ưu tiên, đặc quyền hoặc đặc miễn nào liên quan đếnthuế quan và bất kì loại lệ phí nào mà bên kí kết đó áp dụng cho hoặc liên quan đếnviệc xuất nhập khẩu hoặc cho việc chuyển tiền thanh toán quốc tế, hoặc liên quan đếnphương pháp tính thuế quan và lệ phí hoặc liên quan đến tất cả các qui định và thủ tụcđối với việc xuất và nhập khẩu một sản phẩm xuất xứ hoặc nhập khẩu sang một bên kíkết cho một sản phẩm cùng loại xuất xứ hoặc nhập khẩu sang một bên kí kết khác Nếunhư ngày nay, nguyên tắc MFN đồng nghĩa với nguyên tắc bình đẳng thì trong lịch sử
đã chỉ chỉ có một nhóm nhỏ các cường quốc phương Tây được hưởng chế độ “tối huệquốc”, thực sự có tính ưu đãi hơn các nước khác được đưa ra trong các hiệp địnhtrương mại và hàng hải được kí với các nước Châu Á, Phi, Mĩ La Tinh
Nếu như nguyên tắc MFN trong GATT 1947 chỉ áp dụng đối với hàng hoá thìtrong WTO, nguyên tắc này đã được mở rộng sang thương mại, dịch vụ (Điều 2 Hiệpđịnh GATT) và sở hữu trí tuệ (Điều 4, Hiệp định TRIPS)
Mặc dù được coi là hòn đá tảng trong hệ thống thương mại đa phương, Hiệpđịnh GATT 1947 và WTO vẫn qui định một số ngoại lệ và miễn trừ quan trọng đối vớinguyên tắc MFN Ví dụ như điều 24 của GATT qui định các nước thành viên trong cácHiệp định thương mại khu vực có thể dành cho nhau sự đối xử ưu đãi hơn mang tínhchất phân biệt đối xử với các nước thứ 3, trái với nguyên tắc MFN GATT 1947 cũng
có hai miễn trừ về đối xử đặc biệt và ưu đãi hơn với các nước phát triển Miễn trừ thứnhất là quyết định ngày 25.06.1971 của Đại hội đồng GATT về việc thiết lập “Hệ thốngthuế quan ưu đãi phổ cập-GSP” chỉ được áp dụng cho hàng hoá xuất xứ từ những nướcđang phát triển và chậm phát triển Trong khuôn khổ GSP, các nước phát triển có thểthiết lập số mức thuế ưu đãi hoặc miễn thuế quan cho một số nhóm mặt hàng có xuất
xứ từ nước chậm phát triển và đang phát triển và không phải có nghĩa vụ phải áp dụngnhững mức thuế quan ưu đãi đó cho các nước phát triển theo nguyên tắc MFN Miễn
Trang 31trừ thứ hai là Quyết định ngày 26.11.1971 của Đại hội đồng GATT về “Đàm phánthương mại giữa các nước phát triển”, cho phép các nước này có quyền đàm phán, kíkết cac nhiệp định thương mại, dành cho nhau những ưu đãi hơn về thuế quan vàkhông có nghĩa vụ phải áp dụng đối với những hàng hoá đến từ các nước phát triển.Trên cơ sở Quyết định này, Hiệp định về “ Hệ thống ưu đãi thương mại toàn cầu giữacác nước đang phát triển” (Global System of Trade Preferences among Developingcountries-GSPT) đã được kí kết năm 1989.
Mặc dù được tất cả các nước trong GATT/WTO công nhận là nguyên tắc nềntảng, nhưng thực tế cho thấy các nước phát triển cũng như đang phát triển không phảilúc nào cũng tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc MFN và đã có rất nhiều tranh chấp tronglịch sử của GATT liên quan đến việc áp dụng nguyên tắc này Thông thường thì viphạm của các nước đang phát triển dễ bọ phát hiện và bị kiện nhiều hơn vi phạm củacác nước phát triển
Năm 1981, Braxin đã kiện Tây Ban Nha ra trước GATT về thuế suất đặc biệtđối với cafe chưa rang Braxin cho rằng, nghị định 1764/79 của Tây Ban Nha qui địnhcác mức thuế quan khác nhau đối với 5 loại cafe chưa rang khác nhau: Cafe Arập chưarang, cafe Robusta, cafe Côlômbia, cafe nhẹ và cafe khác Hai loại cafe đều được nhậpkhẩu miễn thuế, ba loại cafe còn lại chịu mức thuế là 7% Sau khi xem xét Nghị địnhnói trên, nhóm chuyên gia của GATT đã đi đến kết luận như sau: Hiệp định GATTkhông qui định nghĩa vụ cho các bên kí kết phải tuân thủ một hệ thống phân loại hànghoá đặc biệt nào Tuy nhiên, Điều 1 của GATT qui định nghĩa vụ của các bên kí kếtphải dành một sự đối xử như nhau cho những sản phẩm tương tự Lập luận của TBNbiện minh cho sự cần thiết phải có sự đối xử khác nhau đối với từng loại cafe khácnhau chủ yếu dựa trên những yếu tố như địa lí, phương pháp trồng trọt, quá trình thuhoạch hạt và giống Những yếu tố này tuy có khác nhau nhưng không đủ để TBN cóthể áp dụng mức thuế suất khác nhau đối với các loại cafe khác nhau Đối với nhữngngười tiêu thụ cafe trên thế giới thì cafe chưa rang được bán dưới dạng hạt, cho dùthuộc nhiều loại khác nhau, cũng chỉ là một loại sản phẩm có tính năng sử dụng duynhất là để uống chứ không phân biệt độ cafein nặng hay nhẹ Năm loại cafe chưa rangnhập khẩu có tên trong danh mục thuế quan của TBN đều là những sản phẩm cùngloại Việc TBN áp dụng mức thuế quan cao hơn đối với 2 loại cafe là Arập và Robustađược nhập khẩu từ Braxin là mang tính chất phân biệt đối xử đối với những sản phẩmcùng loại là trái với qui định của Điều 1 Hiệp định GATT
b Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (National Treatment-NT)
Nguyên tắc NT được qui định tại điều 3 Hiệp định GATT, và điều 3 TRIPS.Theo nguyên tắc này, hàng hoá nhập khẩu, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoàiphải được đối xử không kém thuận lợi hơn so với hàng hoá cùng loại trong nước.Trong khuôn khổ WTO, nguyên tắc NT chỉ được áp dụng đối với các hàng hoá, dịch
vụ, các quyền sở hữu trí tuệ, chưa áp dụng đối với các cá nhân và pháp nhân Phạm vi
Trang 32áp dụng của nguyên tắc NT được áp dụng đối với các hàng hoá, dịch vụ, các quyền sởhữu trí tuệ có sự khác nhau Đối với hàng hoá và quyền sở hữu trí tuệ, việc áp dụngnguyên tắc NT là một nghĩa vụ chung, có nghĩa là hàng hoá và quyền sở hữu trí tuệnước ngoài sau khi đã đóng thuế quan hoặc đã được đăng kí bảo vệ hợp pháp được đối
xử bình đẳng như hàng hoá và quyền sở hữu trí tuệ trong về thuế quan, lệ phí nội địa,các qui định về mua, bán, phân phối, vận chuyển Đối với dịch vụ, nguyên tắc này chỉđược áp dụng đối với những lĩnh vực, ngành nghề đã được mỗi nước đưa vào danhmục cam kết cụ thể của mình và mỗi nước có quyền đàm phán đưa ra ngoại lệ
Về nguyên tắc, các quốc gia không được áp dụng những hạn chế về số lượngxuất khẩu, nhập khẩu, trừ những ngoại lệ được qui định rõ ràng trong các hiệp định cụthể của WTO, cụ thể, đó là các trường hợp: mất cân đối cán cân thanh toán, bảo vệngành công nghiệp trong nước còn non trẻ, bảo vệ ngành sản xuất trong nước, chốnglại sự gia tăng đột ngột về nhập khẩu hoặc đối phó với sự khan hiếm một mặt hàng trênthị trường quốc gia do xuất khẩu quá nhiều, vì lí do sức khoẻ và vệ sinh, an ninh quốcgia Việc áp dụng nguyên tắc NT trên thực tế đã gây rất nhiều tranh chấp giữa các bên
kí kết GATT/WTO bởi một lí do phổ biến là nếu các nước dễ chấp nhận nguyên tắc đối
xử bình đẳng đối với các nước thứ 3 thì nước nào cũng muốn dành một sự bảo hộ nhấtđịnh đối với sản phẩm nội địa Mục tiêu chính của nguyên tắc này là tạo ra những điềukiện cạnh tranh bình đẳng giữa hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá nội địa cùng loại
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia cùng với nguyên tắc MFN là hai nguyên tắc nềntảng, quan trọng nhất của hệ thương mại đa phương mà ý nghĩa thực sự là đảm bảoviệc tuân thủ một cách nghiêm túc những cam kết về mở cửa thị trường mà tất cả cácnước thành viên đã chấp nhận khi chính thức trở thành thành viên của WTO
c Nguyên tắc “Mở cửa thị trường” hay còn gọi là nguyên tắc “Tiếp cận thị
trường – Market Access”, thực chất là mở cửa thị trường cho hàng hoá, dịch vụ và đầu
tư nước ngoài Trong một hệ thống thương mại đa phương, khi mà tất cả các bên thamgia đều chấp nhận mở cửa thị trường của mình thì điều đó đồng nghĩa với việc tạo ramột hệ thống thương mại toàn cầu mở cửa
d Nguyên tắc cạnh tranh công bằng
Theo nguyên tắc này, hoạt động thương mại quốc tế của các quốc gia được tiếnhành trong môi trường tự do cạnh tranh với những điều kiện bình đẳng như nhau
2.3.2.3 Cơ cấu tổ chức của WTO: Gồm 3 cấp
1 Các cơ quan chính trị và có quyền ra quyết định, bao gồm: Hội nghị Bộtrưởng, Đại hội đồng WTO, cơ quan giải quyết tranh chấp và cơ quan kiểm điểm chínhsách thương mại
2 Các cơ quan thừa hành và giám sát việc thực hiện các hiệp định thương mại
đa phương, Hội đồng GATT, Hội đồng TRIPS
Trang 333 Cơ quan thực hiện chức năng hành chính-thư kí: Tổng giám đốc và Ban thư
kí WTO
2.3.2.4 Tư cách thành viên WTO Tuy là một tổ chức liên chính phủ nhưngthành viên WTO không chỉ có các quốc gia có chủ quyền mà có cả những lãnh thổriêng biệt như EU, Hồng Kông, Macao
Có hai loại thành viên theo qui định của Hiệp định về WTO: Thành viên sánglập và thành viên gia nhập Thành viên sáng lập là những quốc gia là một bên ký GATT
1947 và phải kí, phê chuẩn hiệp định về WTO trước 31.12.1994 (Tất cả các bên kí kếtGATT 1947 đều đã trở thành thành viên sáng lập của WTO) Thành viên gia nhập làcác quốc gia hoặc lãnh thổ gia nhâp Hiệp định WTO sau ngày 1.1.1995 Các quốc gianày phải đàm phán về các điều kiện gia nhập với tất cả các nước đang là thành viên cảuWTO và quyết định gia nhập phải được đại hội đồng WTO bỏ phiếu thông qua với ítnhất 2/3 số phiếu thuận
Khác với việc gia nhập, việc rút khỏi WTO phụ thuộc hoàn toàn vào quyết địnhriêng của từng quốc gia Điều XV Hiệp định về WTO qui định việc rút khỏi WTO baohàm cả việc rút khỏi tất cả các Hiệp định Thương mại đa phương và sẽ có hiệu lực sausáu tháng kể từ ngày WTO nhận được thông báo bằng văn bản về việc rút Thượngviện Mĩ khi bỏ phiếu cho phép Tổng thống phê chuẩn Hiệp định WTO đã thông quaquyết định về việc nước này sẽ rút khỏi WTO nếu một Uỷ ban đặc biệt bao gồm nămcựu thẩm phán liên bang của Mĩ kết luận rằng Mĩ đã bị cơ quan giải quyết tranh chấpcủa WTO xử cho thua một cách “phi lí” hoặc các quyền lợi cơ bản của Mĩ đã bị “viphạm” trong ba quyết định liên liếp của cơ quan này
Việc rút khỏi WTO của EU phức tạp hơn vì Uỷ ban Châu Âu không có thẩmquyền thay mặt cho các nước thành viên của EU để ra một quyết định như vậy Đây làmột vấn đề đang còn tranh cãi giữa các chuyên gia pháp lí của EU Một số cho rằng,
EU chỉ có thể rút khỏi WTO khi tất cả các nước thành viên EU đều rút khỏi tổ chứcnày Một số khác cho rằng, chỉ cần một hoặc một số thành viên chủ chốt của EU nhưĐức, Pháp, Anh rút khỏi WTO cũng đủ để cho EU không còn tư cách đại diện cho
27 quốc gia thành viên tại tổ chức này
Ngân sách hoạt động của WTO do tất cả các nước thành viên đóng góp trên cơ
sở tương ứng với phần của mỗi quốc gia trong thương mại quốc tế Tỷ lệ đóng góp tốithiểu là 0,03% ngân sách của WTO
2.3.2.5 Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
Là một tổ chức quốc tế dựa trên các nghĩa vụ pháp lý(rule-based),GATT trướckia cũng như WTO hiện nay đều cần có một cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả vàcông bằng, nhằm bảo đảm để tất cả các nước thành viên, dù lớn hay nhỏ, dù là nướcphát triển hay đang phát triển cũng đều phải tuân thủ “luật chơi chung” của thương mạiquốc tế Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT 1947 đã được hầu hết các chuyên gia
Trang 34về thương mại quốc tế đánh giá rất cao và được công nhận như là một trong nhữngthành công quan trọng nhất của GATT sau gần 50 năm tồn tại Giáo sư Luật kinh tếquốc tế Ernst-Ulrich Petersmann, một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới vềGATT/WTO đã có nhận xét như sau "cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT có tầmquan trọng sống còn đối với việc duy trì một hệ thống thương mại quốc tế mở cửa, bởi
vì cơ chế đó không chỉ đơn thuần giải quyết êm thấm các tranh chấp mà nó còn là công
cụ bảo đảm sự tin cậy về mặt pháp lý đối với các cam kết của các chính phủ và quantrọng hơn cả đó là một vũ khí dùng để răn đe những nước chủ trương chính sách ngoạigiao thương mại dựa trên sức mạnh" Những nguyên tắc và thủ tục giải quyết tranhchấp của GATT đã được WTO kế thừa và phát triển Sau gần 5 năm hoạt động, Cơquan giải quyết tranh chấp của WTO đã thực sự trở thành một trong những định chế cóquyền lực nhất trên thế giới Ngay cả các siêu cường như EU, Mỹ cũng phải chấp nhậnđưa các tranh chấp của họ ra giải quyết trước WTO và chấp nhận thực hiện các quyếtđịnh của Cơ quan giải quyết tranh chấp, mặc dù đôi lúc những nước này đã công khaiphản đối lại các quyết định này, một điều khó có thể tưởng tượng tại các tổ chức quốc
tế khác, ví dụ như Liên hợp quốc
1 Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT 1947
Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT 1947 được xây dựng trên cơ sở củaĐiều XXII và Điều XXIII Hiệp định GATT Điều XXII quy định về thủ tục tư vấn(consultation) giữa các bên ký kết liên quan đến việc áp dụng và thực hiện GATT ĐiềuXXIII quy định về thủ tục hoà giải (conciliation) giữa các bên có tranh chấp trongtrường hợp quyền lợi thương mại của một nước bị vô hiệu hoá (nullification) hoặc bịsuy giảm (impairment) do hành vi của một bên ký kết khác Hiệp định GATT 1947 quyđịnh cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Đại hội đồng GATT Trên thực tếphần lớn công việc giải quyết tranh chấp được Đại hội đồng GATT giao phó vào thời
kỳ đầu cho các nhóm công tác và từ năm 1952 cho các nhóm chuyên gia
Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT mang tính chất "hoà giải" nhiều hơn là
"tranh tụng", có mục đích làm cho các bên tranh chấp hiểu nhau hơn nhằm đi đến mộtgiải pháp mà hai bên đều chấp nhận được
Nhiệm vụ hoà giải được giao cho nhóm chuyên gia, bao gồm 3 hoăc 5 thànhviên thường được chọn trong số những nhà ngoại giao làm việc tại phái đoàn đại diện ởGeneva hoặc quan chức chính phủ của những nước thứ ba, có kinh nghiệm nhiều năm
về những vấn đề của GATT Nhóm chuyên gia có nhiệm vụ xem xét một cách kháchquan thực chất nội dung tranh chấp, việc vi phạm hiệp định nếu có và những thiệt hại
có thể có đối với một bên tranh chấp và sẽ soạn thảo một báo cáo để trình lên Đại hộiđồng GATT xem xét Việc thông qua báo cáo được thực hiện theo nguyên tắc đồngthuận Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng đã gây nhiều khó khăn cho cơ chế giải quyếttranh chấp của GATT vì, về lý thuyết bất kỳ bên ký kết nào cũng có thể phản đối hoặctrì hoãn việc thành lập nhóm chuyên gia và phong toả việc thông qua báo cáo Sự chậm
Trang 35trễ trong việc giải quyết tranh chấp trong nhiều trường hợp đã không đem lại tác dụngtrên thực tế cho bên thắng kiện do sản phẩm hoặc ngành sản xuất bị thiệt hại đã mấtkhả năng cạnh tranh sau một thời gian giải quyết tranh chấp kéo dài
Ngoài ra, việc thông qua một số "bộ luật" của vòng Tôkyô 1979 với những cơchế giải quyết tranh chấp riêng rẽ (mua sắm chính phủ, hàng không dân dụng ) đãlàm ảnh hưởng đến tính thống nhất và làm suy yếu cơ chế giải quyết tranh chấp chungcủa GATT Một số tranh chấp mới nảy sinh như tranh chấp về những biện pháp thươngmại liên quan đến đầu tư, về vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, về thương mại dịchvụ lại không thuộc thẩm quyền của GATT 1947 và việc giải quyết những tranh chấp
đó bên ngoài hệ thống thương mại đa phương nhiều khi đã dẫn đến các biện pháp trừngphạt đơn phương đối với các nước đang phát triển
2 Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được xây dựng trên bốn nguyên tắc:công bằng, nhanh chóng, hiệu quả và chấp nhận được đối với các bên tranh chấp, phùhợp với mục tiêu bảo toàn các quyền và nghĩa, phù hợp với các hiệp định thương mại
có liên quan trên cơ sở tuân thủ các quy phạm của luật tập quán quốc tế về giải thíchđiều ước quốc tế
Ngoài ra, WTO cũng sẽ tiếp tục áp dụng cách giải quyết tranh chấp của GATT
1947 như : tái lập sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ; giải quyết tích cực các tranhchấp; cấm đơn phương áp dụng các biện pháp trả đũa khi chưa được phép của WTO.Nguyên tắc cấm đơn phương áp dụng các biện pháp trừng phạt có ý nghĩa sống còn đốivới sự tồn tại của hệ thống thương mại toàn cầu Tuy nhiên, nguyên tắc này không bàohàm rõ ràng ý có cấm các nước thành viên không được đơn phương xác định các hành
vi của nước thành viên khác có vi phạm các hiệp định của WTO hay không Lợi dụng
sự không rõ ràng này nên một số nước thành viên phát triển như Mỹ, EU vẫn tiếp tụcđơn phương áp dụng các đạo luật của riêng mình như điều khoản Super 301 trong luậtthương mại Mỹ hoặc quy định 384/96 của Hội đồng châu Âu để “kết án” và trừng phạtcác nước thành viên WTO khác
3 Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO, quy chế "nhóm chuyên gia" và cơ
quan phúc thẩm thường trực
* Cơ quan giải quyết tranh chấp: Viết tắt theo tiếng Anh là DSB (DisputeSettlement Body) có quyền quyết định thành lập và thông qua báo cáo của nhómchuyên gia và nhóm phúc thẩm, giám sát việc thực hiện các quyết định về giải quyếttranh chấp, cho phép tạm đình chỉ việc áp dụng các hiệp định thương mại với một nướcthành viên, cho phép áp dụng các biện pháp trừng phạt
* Nhóm chuyên gia: Công việc chính về giải quyết tranh chấp do các nhómchuyên gia thực hiện Các nhóm chuyên gia này do DSB thành lập để giải quyết một
vụ tranh chấp cụ thể và giải thể sau khi kết thúc nhiệm vụ Khác với cơ cấu nhóm
Trang 36chuyên gia thời kỳ GATT 1947 chủ yếu được ưu tiên lựa chọn trong các quan chứcchính phủ các nước thành viên, nhóm chuyên gia thời WTO được ưu tiên lựa chọntrong số những chuyên gia (expert) độc lập, không làm việc cho chính phủ, có uy tínquốc tế về chính sách hoặc luật thương mại quốc tế Thành phần của mỗi nhóm chuyêngia từ 3-5 người Nhiệm vụ của nhóm chuyên gia là giúp cơ quan giải quyết tranh chấpcủa WTO làm sáng tỏ nội dung tranh chấp và khuyến nghị một giải pháp để các bênhữu quan giải quyết tranh chấp của họ, phù hợp với các hiệp định thương mại có liênquan Trong quá trình xem xét sự việc, nhóm chuyên gia có quyền tìm kiếm thông tin
từ mọi nguồn và trưng cầu ý kiến giám định của các chuyên gia bên ngoài về nhữngvấn đề kỹ thuật Toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp từ thời điểm các bên tranhchấp tự thương lượng với nhau cho đến khi nhóm chuyên gia đệ trình báo cáo lên DSBtối đa không quá một năm, trong đó thời gian kể từ thời điểm thành lập nhóm chuyêngia cho đến khi đệ trình báo cáo tối đa không quá sáu tháng Báo cáo của nhóm chuyêngia sẽ được gửi đến cho các bên tranh chấp trong vòng sáu tháng, trong trường hợptranh chấp liên quan đến những hàng hoá dễ hư hỏng trong vòng ba tháng và gửi đếntất cả các thành viên của WTO sau đó ba tuần Sau 60 ngày, báo cáo của nhóm chuyêngia sẽ tự động trở thành quyết định của DSB nếu không có sự đồng thuận của tất cả cácnước thành viên WTO, kể cả hai bên tranh chấp bác bỏ nội dung của báo cáo
* Cơ quan phúc thẩm thường trực: Một trong những nét mới của bộ máy giảiquyết tranh chấp của WTO là việc thành lập cơ quan phúc thẩm thường trực Cơ quannày có 7 thành viên, do cơ quan giải quyết tranh chấp bổ nhiệm với nhiệm kỳ 4 năm, lànhững chuyên gia pháp lý và thương mại quốc tế có kinh nghiệm lâu năm Cơ quannày có chức năng xem xét theo thủ tục “phúc thẩm” báo cáo của nhóm chuyên gia,theo đề nghị của một trong các bên tranh chấp Tuy nhiên, phạm vi "phúc thẩm" chỉ ápdụng đối với những kết luận và giải thích pháp lý được đưa ra trong báo cáo của nhómchuyên gia Khi có đề nghị xem xét phúc thẩm, cơ quan phúc thẩm thường trực sẽ lập
ra một nhóm phúc thẩm riêng biệt cho mỗi một vụ tranh chấp, bao gồm 3 thành viên.Nhóm phúc thẩm có thẩm quyền hoặc giữ nguyên, thay đổi hoặc huỷ bỏ những giảithích và kết luận pháp lý nêu trong báo cáo của nhóm chuyên gia Báo cáo của nhómphúc thẩm sẽ được đệ trình lên DSB để thông qua Việc thông qua báo cáo phúc thẩmđược thực hiện theo nguyên tắc đồng thuận tiêu cực và gần như mang tính chất tựđộng Các bên tranh chấp có nghĩa vụ thực hiện vô điều kiện quyết định cuối cùng củaDSB trên cơ sở báo cáo phúc thẩm Thời hạn xem xét phúc thẩm là 60 ngày, có thểđược gian hạn nhưng không quá 90 ngày
4 Thực hiện quyết định của Cơ quan giải quyết tranh chấp và áp dụng biệnpháp trả đũa
Quyết định về giải quyết tranh chấp được DSB thông qua theo nguyên tắc đồngthuận tiêu cực có giá trị pháp lý và có tính cưỡng chế thi hành đối với các bên tranhchấp Thông thường thì bên thua kiện có nghĩa vụ bãi bỏ các quy định hoặc chấm dứt
Trang 37áp dụng các biện pháp mà nhóm chuyên gia kết luận là vi phạm điều khoản trong cáchiệp định có liên quan của WTO Để bảo đảm là bên thua kiện sẽ thực hiện nghiêm túcquyết định của DSB và để tránh tình trạng "rơi vào im lặng", WTO đề ra một cơ chếtheo dõi và giám sát việc thực hiện quyết định trong vòng 30 ngày kể từ ngày thôngqua báo cáo của nhóm chuyên gia, bên thua kiện phải thông báo cho DSB biết vềnhững biện pháp mà nước này dự định áp dụng để thực hiện khuyến nghị của nhómchuyên gia Nếu nước này vì lý do nào đó không thể thực hiện ngay khuyến nghị củanhóm chuyên gia thì DSB có thể cho phép nước này được thực hiện trong một thời hạn
“hợp lý” Và nếu trong thời hạn "hợp lý" đó bên thua kiện vẫn không thể thực hiệnđược khuyến nghị của nhóm chuyên gia thì nước này có nghĩa vụ thương lượng vớibên thắng kiện về mức độ bồi thường thiệt hại, ví dụ như giảm thuế quan đối với mộtsản phẩm nào đó có lợi cho bên thắng kiện Nếu trong vòng 20 ngày kể từ ngày chấmdứt thời hạn hợp lý, các bên tranh chấp không đạt được thoả thuận về mức độ bồithường thì bên thắng kiện có quyền yêu cầu DSB cho phép áp dụng các biện pháp trảđũa, cụ thể là tạm ngưng việc cho bên thua kiện hưởng những nhân nhượng thuế quanhoặc tạm ngưng thực hiện những nghĩa vụ đối với bên thua kiện theo hiệp định có liênquan
Biện pháp trả đũa phải tương ứng với mức độ thiệt hại và phải được thực hiệntrong lĩnh vực (sector) thương mại mà bên thua kiện bị thiệt hại Để bảo đảm tính hiệuquả của các biện pháp trả đũa và rút kinh nghiệm,WTO quy định trong trường hợp việc
áp dụng biện pháp trả đũa mà lĩnh vực bị thiệt hại là không thực tế hoăc không có hiệuquả,thì bên thắng kiện có quyền yêu cầu DSB cho phép trả đũa trong một lĩnh vực khác(trả đũa chéo) Chẳng hạn một nước đang phát triển sẽ khó có thể áp dụng một cáchhiệu quả biện pháp trả đũa trong lĩnh vực thương mại hàng hoá đối với một nước pháttriển nhưng nếu trả đũa trong lĩnh vực thương mại dịch vụ hoặc sở hữu trí tuệ thì có thể
sẽ hiệu quả hơn Hơn thế nữa, trong một số trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, bênthắng kiện còn có thể yêu cầu DSB cho phép trả đũa trong những lĩnh vực thuộc cáchiệp định thương mại khác với hiệp định thương mại mà bên thua kiện vi phạm Tuynhiên, để bảo đảm sự công bằng và trong trường hợp có tranh chấp về mức độ trả đũa,WTO cũng dành cho bên thua kiện quyền đưa tranh chấp nói trên ra giải quyết theophương thức trọng tài Quyết định trọng tài về vấn đề này là quyết định cuối cùng và cógiá trị thi hành đối với tất cả các bên
5 Các nước đang phát triển và cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
Mặc dù chiếm đa số tại GATT, nhưng vì những lí do lịch sử (đa số các nướcđang phát triển đã từng là thuộc địa của các nước phát triển) nên các nước đang pháttriển thường có thái độ “nghi ngờ” và “e dè” đối với những cơ chế do các nước phươngTây đưa ra Trong một nghiên cứu được công bố vào năm 1985, Uỷ ban Thương mạiquốc tế Mĩ (USIC) đã chỉ ra một số nguyên nhân làm cho các nước đang phát triển ít sửdụng đến cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT:
Trang 38* Các nước đang phát triển không có đội ngũ chuyên gia pháp lí có chuyên môn
và kinh nghiệm trong việc tham gia xử lí các tranh chấp thương mại quốc tế và cũngkhông có khả năng tài chính để đi thuê các chuyên gia phương Tây
* Tâm lí lo sợ rằng nếu đi kiện cáo các nước phát triển thì có khi họ phải chịuthiệt nhiều hơn là được lợi Sự phụ thuộc vào thị trường và các nguồn giúp đỡ về tàichính của phương Tây là một trong những lí do khiến các nước đang phát triển rất ngại
va chạm với các nước phát triển và nếu có tranh chấp thì các nước này sẽ có chủ trương
xử lí song phương, kín đáo và thường là sẵn sàng nhượng bộ
* Các nước đang phát triển nhận thức được rằng cho dù họ có thắng kiện vàdám dũng cảm áp đặt các biện pháp trả đũa hợp pháp chăng nữa thì cũng không đemlại hiệu quả và có thể có một ảnh hưởng tích cực đến cách cư xử của các nước pháttriển
* Tuy tham gia GATT ngay từ khi mới thành lập nhưng các nước đang pháttriển vẫn còn giữ thái độ lưỡng lự trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới ĐA
số các nước này cho rằng Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT cũng chỉ là mộttrong những công cụ của các nước phương Tây để ép buộc họ mở cửa thị trường
Vì những lí do nói trên, quan điểm chung của các nước đang phát triển đối với
cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT trong khoảng 30 năm (Từ 1948- 1979) là “phớtlờ” cơ chế này Trong khaỏng thời gian này, số vụ kiện của các nước đang phát triển chỉchiếm có 12% tổng số các vụ kiện tại GATT và đa số là kết thúc thông qua thươnglượng trước khi nhóm chuyên gia của GATT thông qua báo cáo cuối cùng
Chỉ đến thời kỳ sau Vòng Tokyo, các nước đang phát triển, đặc biệt là một sốnước NIC như Braxin, Mêhicô, ấn Độ, Achentina mới thực sự quan tâm và sử dụngthường xuyên hơn Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT Sự thay đổi này xuất phát
từ những lý do sau Thứ nhất, sự giảm sút của thương mại thế giới những năm 1970 dotác động của hai cuộc khủng hoảng dầu lửa đã dẫn đến việc trỗi dậy của chủ nghĩa bảo
hộ ở hầu hết các nước công nghiệp phát triển Thứ hai, quá trình công nghiệp hoá tạimột số nước đang phát triển đã đem lại những thành quả đầu tiên, nổi bật nhất là trongmột số ngành sản xuất công nghiệp và chế biến, các nước NIC đã đạt được ưu thế cạnhtranh với sản phẩm cùng loại của phương Tây và đã bắt đầu dư thừa năng lực sản xuấttrong một số lĩnh vực như may mặc, điện tử dân dụng, thép Các nước này bắt đầunhận thức được cần phải sử dụng nhiều công cụ để tiếp cận thị trường tiêu thụ của cácnước phương Tây và khi cần thiết sử dụng cả Cơ chế giải quyết tranh chấp Ngoài raviệc thành lập một Bộ phận pháp lý (Legal Office) trực thuộc Ban thư ký GATT đãgiúp cung cấp những trợ giúp kỹ thuật có hiệu quả cho các nước đang phát triển trongviệc nghiên cứu về cơ cấu thể chế và pháp lý của GATT và tư vấn pháp lý cho cácnước này trong quá trình chuẩn bị các tài liệu và thủ tục khiếu kiện
Trang 39Trong vòng 15 năm (1979-1994), số lượng các vụ kiện của các nước đang pháttriển chống lại các nước phát triển đã tăng lên đến 25 % tổng số các vụ kiện tại GATT(25/117 vụ).
Ở Vòng đàm phán Uruguay, Braxin đã đưa ra đề nghị cần thiết phải áp dụngnguyên tắc đối xử đặc biệt đối với các nước đang phát triển khi áp dụng Cơ chế giảiquyết tranh chấp của GATT Đề nghị này đã được chấp nhận và thể hiện trong Thoảthuận về Cơ chế giải quyết tranh chấp WTO Cụ thể như sau:
- Các nước đang phát triển có thể yêu cầu Tổng giám đốc WTO đứng ra làmtrung gian, hoà giải trong trường hợp có tranh chấp với nước phát triển;
- Trong thành phần của nhóm chuyên gia nhất thiết phải có một thành viên làcông dân của một nước đang phát triển, trừ khi nước đang phát triển có liên quankhông yêu cầu như vậy;
- Thời gian để giải quyết tranh chấp với các nước đang phát triển có thể đượckéo dài hơn so với quy định chung;
- Các nước phát triển cần có thái độ kiềm chế khi áp dụng các biện pháp trả đũavới bên thua kiện là nước đang phát triển;
- Các nước phát triển có thể được phép áp dụng các biện pháp trả đũa chéo đốivới bên thua kiện là nước phát triển;
- Các nước đang phát triển có thể yêu cầu Ban Thư ký WTO trợ giúp pháp lýkhi có tranh chấp;
- Các nước đang phát triển có thể áp dụng các thủ tục giải quyết tranh chấpđược Đại hội đồng GATT thông qua theo Quyết định ngày 5-4-1966
Các nước đang phát triển đã nhanh chóng nhận thức được lợi ích từ việc sửdụng Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và chỉ sau gần 5 năm, các nước đang pháttriển đã trở thành nhóm các nước sử dụng nhiều nhất cơ chế giải quyết tranh chấp mớicủa WTO
Tính đến ngày 31-12-1998, các nước đang phát triển dẫn đầu số lượng các vụkiện (37%) nhiều hơn Mỹ (34%) và EU (21%) và 80% trong số đó kết thúc thắng lợi
Có thể nói Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được các nước đang phát triển sửdụng như một công cụ có hiêu quả để giải quyết tranh chấp thương mại với các nướcphát triển Và xét về toàn cục thì Cơ chế này là một bước phát triển tiến bộ theo hướngcông bằng hơn trong quan hệ thương mại quốc tế
Trang 40CHƯƠNG 3 THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
3.1 Một số lí thuyết về thương mại quốc tế.
3.1.1 Lý thuyết về lợi thế so sánh tuyệt đối của Adam Smith
a Khái niệm lợi thế so sánh tuyệt đối
Adam Smith là người đầu tiên đưa ra những phân tích về nguồn gốc thương mạiquốc tế mang tính lý thuyết và hệ thống Trong tác phẩm nổi tiếng với tên “Sự giàu cócủa các quốc gia” năm 1776, ông đã nêu ra khái niệm, nguồn gốc và lợi ích của thươngmại quốc tế, trong đó, ông phân tích rằng, nếu mỗi quốc gia tập trung vào sản xuấtnhững mặt hàng mà mình có lợi thế so sánh tuyệt đối và xuất khẩu sang các quốc giakhác để đổi lấy những mặt hàng mà mình không có lợi thế hoặc bất lợi trong việc sảnxuất thì sản lượng của những mặt hàng đó đều tăng lên, cả hai quốc gia đều trở nênsung túc hơn
Mặt khác, ông cũng khẳng định rằng, thương mại tự do sẽ đem lại lợi ích cho tất
cả các quốc gia và chính phủ nên thực hiện chính sách “không can thiệp” vào hoạtđộng thương mại quốc tế nói riêng và hoạt động thương mại nói chung Ông cho rằng,thương mại tự do sẽ giúp cho việc phân bổ và sử dụng nguồn lực của thế giới hiệu quảhơn, đồng thời, nó cũng mang lại lợi ích cho các quốc gia tham gia
Theo Adam Smith, lợi thế so sánh tuyệt đối được hiểu như sau: Một quốc giađược coi là có lợi thế so sánh tuyệt đối trong việc sản xuất hàng hoá A nếu chi phí đểsản xuất ra 1 đơn vị hàng hoá A của quốc gia này là thấp nhất so với các quốc gia kháctrên thế giới
Lợi thế so sánh tuyệt đối của các quốc gia thể hiện ở những khía cạnh như: tàinguyên nhiều, dễ khai thác, nguồn lao động dồi dào với giá nhân công thấp hoặc điềukiện về vốn lớn, kĩ thuật phát triển
Có thể ví dụ như sau:
Giả sử, trên thế giới chỉ tồn tại hai quốc gia là Việt Nam và Nhật Bản, các yếu tốsản xuất có thể tự do di chuyển giữa các ngành nhưng không di chuyển được giữa cácquốc gia Việt Nam và Nhật Bản đều sản xuất ra hai loại sản phẩm là ti vi và gạo vớichi phí được cho như trong bảng sau: