Bài giảng Kinh doanh quốc tế - Chương 2: Lý thuyết về thương mại và đầu tư quốc tế, cung cấp cho người học những kiến thức như: Lợi ích của thương mại quốc tế; Lý thuyết về thương mại quốc tế; Sự can thiệp của chính phủ đến hoạt động thương mại quốc tế; Sự phát triển của hệ thống TM thế giới. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1Chương 2
Lý thuyết về thương mại và
đầu tư quốc tế
Trang 2Thương mại quốc tế
Trang 32.1 Thương mại quốc tế
Trang 4Thương mại quốc tế
Lợi ích của TMQT
Trang 5Thương mại dệt may của Bangladesh
Trang 6Thương mại dệt may của Bangladesh
-Một trong những nước nghèo nhất thế giới
-Chủ yếu dựa vào xuất khẩu hàng dệt may
-Trước đây tận dụng ưu thế của hệ thống cấp hạn ngạch để thâm nhập vào các thị trường giàu có như EU và Mỹ
Trang 7 Liệu xuất khẩu dệt may ở Bangladesh có tiếp tục được phát triển?
ngành may mặc là gì?
Trang 8 Lao động giá rẻ: lương 40-50$/tháng-thu nhập bình quân đầu người 470$/năm.
✓ CN phụ trợ năng động: ¾ nguyên liệu đầu vào
được sản xuất trong nước ( tiết kiệm chi phí vận chuyển/ thuế nhập khẩu=0, thời gian chờ hàng giảm)
✓ Trung Quốc thứ 2? # (đa dạng hóa nguồn cung ứng)
Trang 9 Việt Nam vs Bangladesh
thống cấp hạn ngạch
Trang 12Lợi ích của TMQT
• Câu hỏi: Từ tình huống “Thương mại dệt
may của Bangladesh”, hãy cho biết lợi ích của TMQT?
– Đối với Bangladesh:
• Tạo công ăn việc làm cho 3,5 triệu lao động
• Đạt tăng trưởng kinh tế bền vững
– Đối với người tiêu dùng ở các nước phát triển
• Tiết kiệm tiền từ việc mua sắm hàng may mặc
• Dùng tiền tiết kiệm đó để mua sản phẩm và dịch vụ khác
• -> nâng cao mức sống
– Người chịu thiệt trong tình huống này:
• Nhà sản xuất chi phí cao ở các nước phát triển
Trang 13Lý thuyết về thương mại quốc tế
• Giải thích tại sao các quốc gia thu được
lợi ích khi tham gia vào TMQT
• Giúp các nước xây dựng chính sách kinh
tế
• Giải thích các mô hình của TMQT trong
nền kinh tế thế giới
Trang 14Lý thuyết về thương mại quốc tế
• Lý thuyết cổ điển về TMQT
– Chủ nghĩa trọng thương
– Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối
– Lý thuyết về lợi thế so sánh
• Lý thuyết tân cổ điển về TMQT
– Lý thuyết Heckscher - Ohlin
• Lý thuyết hiện đại về TMQT
– Lý thuyết về vòng đời sản phẩm
– Lý thuyết thương mại mới
– Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia: Mô hình kim
cương của Porter
Trang 15 Liệt kê các lý thuyết, năm ra đời
và tên tác giả?
Trang 16Chủ nghĩa
trọng
thương
Lý thuyết về lợi thế
tuyệt đối
Lý thuyết về lợi thế
so sánh
Lý thuyết H-O
Lý thuyết về vòng đời sản phẩm
Lý thuyết thương mại mới
giả
(Thomas
Mun…)
Adam Smith
David Ricardo
Olin
Heckscher-Raymond Vernon
Paul Krugman
Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia
1990- Michael Porter
Trang 17Chủ nghĩa trọng thương
• Khởi đầu tại Anh vào giữa thế kỷ 16
• Quan điểm của chủ nghĩa trọng thương:
– Vàng và bạc là phương tiện chính đánh giá sự giàu có của quốc gia
– Cần phải duy trì trạng thái thặng dư thương mại, tức XK nhiều hơn NK để mang lại lợi ích cho một nước
– Ủng hộ sự can thiệp của chính phủ nhằm đạt được thặng dư trong thương mại
• Đề xuất các chính sách nhằm tối đa hóa XK và tối thiểu hóa NK
– NK được hạn chế bởi các biện pháp: thuế quan, hạn ngạch – XK được trợ cấp
• Nhược điểm của chủ nghĩa trọng thương
– Coi thương mại là một trò chơi có tổng bằng không (zero-sum game – nghĩa là lợi ích mà một nước thu được chính bằng thiệt hại mà nước khác mất đi)
Trang 18Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối
Adam Smith (1776) – các quốc gia khác nhau chính là về khả năng sản xuất các hàng hóa một cách có hiệu quả
Một nước có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất một sản phẩm khi mà nước đó sản xuất sản phẩm đó một cách hiệu quả hơn so với nước khác
Theo Smith:
➢ Thương mại không phải là một trò chơi có tổng bằng không
➢ Các nước nên chuyên môn hóa vào sản xuất những sản phẩm mà nước đó có lợi thế tuyết đối và sau đó trao đổi những hàng hóa đó lấy những hàng hóa sản xuất bởi những nước khác
➢ Mô hình đơn giản nhất theo giả định sau:
– Thế giới có hai quốc gia và hai mặt hàng
– Đồng nhất chi phí sản xuất với tiền lương cá nhân
– Giá cả hoàn toàn do chi phí sản xuất quyết định
– Lao động là yếu tố duy nhất, không di chuyển giữa các nước
– Công nghệ sx các nước: như nhau, không đổi
Trang 19Thời gian LĐ cần thiết để sx mỗi đơn vị thép và vải ở mỗi nước
Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối (tt)
Trang 20NHẬT BẢN VIỆT NAM THẾ GIỚI
Trang 21– Coi lao động là yếu tố sản xuất duy nhất tạo ra giá trị, là đồng nhất và được sử dụng với tỉ lệ như nhau trong tất cả các loại hàng hoá.
Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối (tt)
Trang 22• Câu hỏi: Điều gì sẽ xảy ra khi một quốc gia có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất tất cả các mặt hàng?
David Ricardo (1817) – lý thuyết về lợi thế so sánh – một nước chuyên môn hóa vào sản xuất những hàng hóa mà nước đó sản xuất một cách hiệu quả hơn và mua về những hàng hóa mà nước đó sản xuất kém hiệu quả hơn so với các nước khác, ngay cả khi điều đó có nghĩa là mua hàng hóa từ những nước khác mà mình có thể tự sản xuất hiệu quả hơn
➢ Thương mại là một trò chơi có tổng lợi ích là một số dương trong đó tất cả các nước tham gia đều thu được lợi ích kinh tế
Cung cấp một cơ sở hợp lý cho việc khuyến khích tự do hóa thương mại
➢ Sản lượng tiềm năng của thế giới sẽ lớn hơn nhiều trong điều kiện thương mại tự do không bị hạn chế so với điều kiện hạn chế về thương mại
Lý thuyết về lợi thế so sánh
Trang 25Giá cả tương quan và lợi thế so sánh
Trang 261 đvsp rượu=22/30=0.73 đvsp pho mát
1 pho mát=30/22=1.36 rượu
Trang 27Kết luận
• Quá trình thương mại quốc tế sẽ diễn ra và tất cả các thành viên tham gia đều tiết kiệm được chi phí sản xuất khi từng nước tập trung nguồn lực vào sản xuất các ngành hàng mà họ có chi phí "tương đối" thấp hơn.
• Một điểm chung thống nhất giữa Adam Smith và David Ricardo là đều ủng hộ cơ chế thị trường
tự do và giảm thiểu can thiệp của Chính phủ trong điều tiết thương mại quốc tế.
Lý thuyết cổ điển về TMQT
Trang 28• Nguyên tắc lợi thế so sánh cho rằng một nước có thể thu được lợi từ thương mại bất kể nó tuyệt đối có hiệu quả hơn hay tuyệt đối không hiệu quả bằng các nước khác trong việc sản xuất mọi hàng hóa.
• Nguyên tắc lợi thế so sánh là khái niệm trọng yếu trong nghiên cứu thương mại quốc tế Nhà kinh tế học được giải thưởng Nobel năm 1970 Paul Samuelson đã viết: " Mặc dù có những hạn chế, lý thuyết lợi thế so sánh vẫn là một trong những chân
lý sâu sắc nhất của mọi môn kinh tế học Các quốc gia không quan tâm đến lợi thế so sánh đều phải trả một cái giá rất đắt bằng mức sống và tăng trưởng kinh tế của chính mình ”.
Lý thuyết về lợi thế so sánh (tt)
Trang 29Hạn chế?
– Giả thiết:
• Thế giới chỉ có hai quốc gia và 2 loại hàng hóa
• Chi phí vận tải bằng 0 giữa các quốc gia
• Giá cả các nguồn lực sản xuất là ngang bằng nhau
• Các nguồn lực sản xuất có thể dễ dàng di chuyển giữa các ngành sản xuất trong phạm vi một quốc gia
• Hiệu suất không đổi theo quy mô
• Mỗi nước có một nguồn lực sản xuất không đổi và thương mại tự
do không thay đổi hiệu quả sử dụng các nguồn lực của từng nước
• Không có tác động của thương mại lên sự phân phối thu nhập trong phạm vi một nước
Lý thuyết cổ điển về TMQT
Trang 30a Nước nào có lợi thế tuyệt đối về thép, về vải? Tại sao?
b Nếu thương mại diễn ra giữa Nhật Bản và Việt Nam tại mức giá là 1 vải đổi 2 thép thì hai nước có lợi hay không? Giải thích?
Trang 31Lý thuyết Nguồn lực sản xuất vốn có
Lý thuyết H – O
➢ Câu hỏi mà Heckscher và Ohlin muốn trả lời
là "Tại sao năng suất lao động lại khác nhau giữa các nước?"
➢ Theo Ricardo thì lý do là công nghệ sản xuất ở các nước là khác nhau Tuy nhiên, Heckscher
và Ohlin lại cho rằng nguyên nhân là ở chổ các quốc gia có sự khác nhau về mức độ trang bị, cũng như về mức độ sử dụng các yếu tố sản xuất Cụ thể là, các quốc gia được trang bị với mức độ khác nhau các yếu tố như đất đai, lao động, vốn và tài nguyên thiên nhiên, và điều này dẫn đến sự hình thành lợi thế so sánh
Trang 32Lý thuyết Heckscher - Ohlin
Heckscher và Ohlin – lợi thế cạnh tranh xuất phát từnhững sự khác biệt trong độ sẵn có các yếu tố sản
xuất – mức độ mà một nước có sẵn các nguồn lực
như đất đai, lao động và vốn
➢ Các nước sẽ xuất khẩu những hàng hóa mà sử dụng nhiều hàm lượng những nhân tố dồi dào tại nước đó, và nhập khẩu những hàng hóa mà sử dụng nhiều hàm lượng những nhân tố khan hiếm tại nước đó
Wassily Leontief (1953) – bởi vì Hoa Kỳ dồi dào tương đối về vốn so với các nước khác nên Hoa Kỳ sẽ là
nước xuất khẩu những mặt hàng thâm dụng vốn và
nhập khẩu những mặt hàng thâm dụng lao động
➢ Nhưng phát hiện rằng hàng hóa xuất khẩu của Hoa Kỳ lại là
hàng hóa kém thâm dụng vốn so với hàng hóa nhập khẩu của Hoa Kỳ – Nghịch lý Leontief
➢ Giải thích?
Trang 33Một số khái niệm
• Sản phẩm thâm dụng (Intensive Product)
– Sản phẩm thâm dụng lao động (Labor IntensiveProduct): là sản phẩm sử dụng nhiều (một cáchtương đối) lao động so với các yếu tố SX khác
– Sản phẩm thâm dụng vốn (Capital Intensive Product):là sản phẩm sử dụng nhiều (một cách tương đối) vốn
so với các yếu tố SX khác
• Yếu tố dư thừa
– Một quốc gia được coi là dồi dào tương đối về laođộng (hay về vốn) nếu tỷ lệ giữa tổng lượng lao động(hay tổng lượng vốn) và các yếu tố sản xuất khác củaquốc gia đó lớn hơn tỷ lệ tương ứng của các quốc giakhác
Trang 34Lý thuyết về vòng đời sản phẩm
Raymond Vernon (giữa thập niên 60) – đưa ra lý thuyết về vòng đời sản phẩm – khi sản phẩm trở nên bão hòa thì cả vị trí tiêu thụ sản phẩm và vị trí sản xuất sản phẩm tối ưu sẽ thay đổi làm ảnh hưởng đến dòng chảy và hướng thương mại
Trang 35Lý thuyết về vòng đời sản phẩm
Trang 36Lý thuyết về vòng đời sản phẩm (tt)
Hạn chế
Trong khi lý thuyết giải thích chính xác những gì đãxảy ra cho những sản phẩm như máy photocopy vàmột số sản phẩm công nghệ cao được phát triển ởHoa Kỳ vào những năm thuộc thập niên 60 và 70, sựtoàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới ngày càngtăng đã làm lý thuyết này kém phù hợp trong thế giớihiện đại ngày nay
Trang 37Lý thuyết thương mại mới
Lý thuyết thương mại mới (1970s) gợi ý rằng:
1 Bởi vì lợi ích kinh tế nhờ quy mô (giảm chi phí đơn vị kết hợp với sản lượng đầu ra tăng cao), thương mại có thểlàm gia tăng mức độ đa dạng của các hàng hóa cung
cấp tới người tiêu dùng và giảm bớt chi phí trung bình trên một sản phẩm
2 Trong những ngành sản xuất khi mà sản lượng làm ra đòi hỏi đạt được tính lợi ích kinh tế nhờ quy mô đại diện cho một tỷ trọng đáng kể tổng nhu cầu của thế giới, thìthị trường toàn cầu chỉ có thể hỗ trợ và tạo điều kiện cho một số ít các công ty tham gia mà thôi
Trang 38Câu hỏi: Những ý nghĩa của lý thuyết thương mại mới làgì?
• Lý thuyết thương mại mới gợi ý rằng:
• Các nước có thể thu được lợi ích từ hoạt động thương mại ngay cả khi không có sự khác biệt về sự sẵn có các nguồn lực sản xuất hay công nghệ
• Một nước có thể thống trị trong xuất khẩu một loại hàng hóa chỉ đơn giản là vì nước đó đủ may mắn để có được một hoặc một vài công ty trong số những công ty đầu tiên tham gia vào sản xuất hàng hóa đó
• Lý thuyết thương mại mới mâu thuẫn với lý thuyếtHeckscher – Ohlin nhưng không mâu thuẫn mới lýthuyết về lợi thế so sánh
• Giải thích vì sao chính phủ có thể đóng vai trò chủ độngtrong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh trong một số ngànhcông nghiệp nhất định
Trang 39 Airbus (châu Âu): chi phí 15 tỷ $ để phát triển A380
400-600 chiếc
-> đem lại lợi nhuận cho 1 nhà sản xuất
-> tiên phong
Trang 40Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia:
Mô hình kim cương của Porter
Câu hỏi: Tại sao một quốc gia đạt được sự thành công
quốc tế trong một ngành cụ thể?
Michael Porter (1990) xác định 4 thuộc tính như là
bốn yếu tố cấu tạo nên mô hình kim cương, và
những thuộc tính này thúc đẩy hoặc ngăn cản sựtạo ra lợi thế cạnh tranh
1 Các điều kiện về yếu tố sản xuất
2 Các điều kiện về cầu
3 Các ngành hỗ trợ và liên quan
4 Chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh
Ngoài ra, Porter xác định thêm 2 yếu tố nữa có thể
chi phối tới mô hình kim cương của quốc gia theo những cách thức quan trọng khác nhau, đó là cơ hội và chính phủ
Trang 41Chiến lược, cơ cấu
và mức độ cạnh tranh
Các ngành công nghiệpliên quan và hỗ trợ
Trang 42(1) Các điều kiện về yếu tố sản xuất: vị thế của một nước
về các yếu tố sản xuất ví dụ như lao động có trình độhay cơ sở hạ tầng cần thiết để cạnh tranh trong mộtngành cụ thể
(2) Các điều kiện về cầu: nhu cầu trong nước đối với hàng
hóa hoặc dịch vụ của một ngành(3) Các ngành hỗ trợ và liên quan: sự hiện diện hoặc
không sẵn có của các ngành hỗ trợ và liên quan cónăng lực cạnh tranh quốc tế
(4) Chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ
ngành: các điều kiện quản lý các công ty được tạo ra,tổ chức và quản trị như thế nào và bản chất của đối thủ
Mô hình kim cương của Porter (tt)
Trang 43Các điều kiện về yếu tố sản xuất
• Trọng tâm của lý thuyết H-O
• Portet phân tích kỹ đặc tính của các yếu tố sản xuất
– Yếu tố cơ bản: tài nguyên thiên nhiên, khí hậu, địa lý và nhân khẩu học
– Yếu tố tiên tiến: đầu tư của chính phủ về hạ tầng truyền thông, lao động có kỹ năng và trình độ cao, các thiết bị nghiên cứu, và bí quyết công nghệ
• Mối quan hệ giữa các yếu tố cơ bản và tiên tiến là mối quan hệ phức hợp
– Các nhân tố cơ bản cung cấp lợi thế ban đầu ->đầu tư vào các yếu tố tiên tiến
– Bất lợi về các yếu tố cơ bản tạo ra áp lực phải đầu tư vào các yếu tố tiên tiến
• Ví du: Nhật Bản- công nghiệp chế tạo
Trang 44Các điều kiện về cầu
• Các công ty của một nước giành được lợi thế cạnh tranh nếu những người tiêu dùng trong nước của họ có được sự sành sỏi và đòi hỏi cao
– Tạo sức ép lên công ty: chất lượng sản phẩm cao, mẫu mã mới
– Ví dụ: Nokia (Phần Lan) và Erricson (Thụy Điển) đầu tư vào công nghệ điện thoại di động
Trang 45Case study:
sự tăng trưởng điện thoại Nokia
1981, các nước Bắc Âu liên kết lại để sáng lập ra mạng lưới điện thoại không dây quốc tế đầu tiên
Trang 46• Thập niên 90, thị trường viễn thông không dây có mứctăng trưởng
-> 1990: dưới 10 triệu chiếc
->2009: 1.2 tỷ chiếc, 4 tỷ thuê bao
Trang 47Các ngành công nghiệp hỗ trợ
và liên quan
• Những lợi ích của việc đầu tư vào các yếu tố
sản xuất tiên tiến bởi các ngành hỗ trợ và liên quan có thể sẽ lan tỏa sang một ngành, từ đó
giúp ngành này đạt được vị trí cạnh tranh vững mạnh trên thế giới