DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of South East Asian Nations) DN Doanh nghiệp ĐTNN Đầu tư nước ngoài EDB Hội đồng Phát triển Kinh tế (Economic Development Board) FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment) GDP Tổng sản phẩm nội địa (Gross domestic product) HDI Chỉ số phát triển con người (Human Development Index) IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund) MA Sáp nhập và mua bán (mergers and acquisitions) SGD Đôla Singapore TNC Công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporation) DANH MỤC BẢNG BIỂU Danh mục bảng Bảng 2.1: Vốn FDI vào Singapore giai đoạn 20102020 10 Bảng 2.2: FDI vào Singapore theo các đối tác đầu tư chính 11 Danh mục biểu đồ Biểu đồ 2.1: FDI vào Singapore theo khu vực năm 2020 12 Biểu đồ 2.2: Đầu tư trực tiếp vào Singapore theo ngành 13 Biểu đồ 2.3: Số vụ MA tại Singapore tử 20102020 13 Biểu đồ 3.1: Chỉ số mức độ tham nhũng của Việt Nam và Singapore giai đoạn 20122020 17 Biểu đồ 3.2: GDP theo sức mua tương đương của Singapore và Việt Nam (19902020) 18 Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ lạm phát của Singapore với Việt Nam (19902020) 19 Biểu đồ 3.4: Tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020 21 Biểu đồ 3.5: Cơ cấu đối tác FDI lớn tại Việt Nam lũy kế đến năm 2019 23 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH XÚC TIẾN THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 2 1.1. Các khái niệm 2 1.2. Mục tiêu của chính sách xúc tiến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 2 1.3. Vai trò 2 1.4. Nội dung của chính sách xúc tiến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 3 Chương 2: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CÁC CHÍNH SÁCH XÚC TIẾN THU HÚT FDI TẠI SINGAPORE GIAI ĐOẠN 2010 2020 4 2.1. Khái quát đặc điểm kinh tế xã hội của Singapore 4 2.2. Chính sách xúc tiến FDI của Singapore 4 2.2.1. Khuôn khổ pháp lý về FDI 4 2.2.2. Chính sách tiền lương và nguồn nhân lực trong thu hút đầu tư 5 2.2.3. Chính sách củng cố cơ sở hạ tầng 6 2.2.4. Chính sách đơn giản hóa thủ tục hành chính 6 2.2.5. Chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với nhà đầu tư 7 2.3. Kết quả triển khai thực hiện chính sách xúc tiến thu hút FDI tại Singapore 10 2.3.1. Lượng vốn FDI vào Singapore giai đoạn 20102020 10 2.3.2. Cơ cấu vốn FDI vào Singapore giai đoạn 20102020 11 2.4. Đánh giá chung về chính sách xúc tiến thu hút FDI của Singapore 14 2.4.1. Ưu điểm 14 2.4.2. Hạn chế 15 Chương 3: MỘT SỐ BÀI HỌC RÚT RA CHO VIỆT NAM TỪ CHÍNH SÁCH XÚC TIẾN THU HÚT FDI CỦA SINGAPORE 17 3.1. So sánh môi trường đầu tư của Việt Nam và Singapore 17 3.1.1. Môi trường chính trị và thể chế 17 3.1.2. Môi trường pháp lý 17 3.1.3. Môi trường kinh tế 18 3.1.4. Cơ sở hạ tầng và khả năng tiếp cận nguồn lực 19 3.2. Khái quát thực trạng chính sách xúc tiến thu hút FDI của Việt Nam 20 3.2.1. Các chính sách xúc tiến thu hút FDI của Việt Nam 20 3.2.2. Kết quả xúc tiến thu hút FDI của Việt Nam 21 3.2.3. Đánh giá 23 3.3. Một số bài học từ hoạt động xúc tiến FDI của Singapore và các kiến nghị cho Việt Nam 24 3.3.1. Hoàn thiện hệ thống pháp lý liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài 24 3.3.2. Cải thiện chính sách lao động tiền lương, tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực 24 3.3.3. Đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng để thu hút đầu tư 25 3.3.4. Nâng cao hiệu quả bộ máy hành chính đối với thủ tục liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài 26 KẾT LUẬN 27 LỜI MỞ ĐẦU Thế giới đang bước vào xu thế toàn cầu hóa, với những bước chuyển mình thay đổi rõ rệt trong mọi lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, chính trị, kĩ thuật hay công nghệ. Nhiều quốc gia đang không ngừng mạnh mẽ phát triển để bắt kịp với vòng quay phát triển của thế giới và sự thay đổi cải thiện ấy không thể thiếu việc mở rộng nguồn vốn từ nước ngoài để tiến hành các hoạt động đầu tư nâng cao hiệu quả cho nền kinh tế quốc gia. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài đang ngày càng là một chiếc chìa khóa quan trọng cho sự phát triển của mỗi đất nước. Thực tiễn chúng ta có thể thấy rằng có rất nhiều quốc gia đã đạt được những thành công rực rỡ, những bước tiến lớn trong công cuộc thu hút FDI. Môi trường đầu tư là một cơ sở rất quan trọng để các nhà đầu tư lựa chọn quốc gia tiếp nhận vốn phù hợp và mang đến lợi nhuận cao nhất cho mình. Nhận thức được điều đó, các quốc gia ngày càng chú trọng trong việc cải thiện môi trường đầu tư để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, nhằm đạt được lợi nhuận lớn mà dòng vốn này có thể mang lại. Trong những năm gần đây, Đông Nam Á đang nổi lên là một khu vực thu hút rất nhiều vốn đầu tư từ nước ngoài. Nổi bật trong số đó là Singapore, đất nước được mệnh danh là con hổ của Đông Nam Á với nền kinh tế phát triển vượt bậc. Bên cạnh đó Singapore còn là điểm đến đầu tư vô cùng hấp dẫn đối với các doanh nghiệp trên thế giới. Quốc đảo Singapore tuy có diện tích khiêm tốn nhưng lại là một tượng đài to lớn cho sự thành công ở lĩnh vực thu hút FDI tại châu Á. Singapore còn là đối thủ của rất nhiều nước trong đó có Việt Nam trong việc cạnh tranh nguồn vốn đầu tư này. Với sự thành công rực rỡ đạt được, Singapore đã để lại cho chúng ta những bài học kinh nghiệm quý giá mà ta có thể tận dụng cho việc thu hút đầu tư nước ngoài. Với mong muốn hiểu rõ hơn về những chính sách xúc tiến thu hút FDI mà Singapore đã ban hành cùng những kinh nghiệm rút ra và kiến nghị dành cho Việt Nam để phát triển việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhóm chúng em đã quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu “Chính sách xúc tiến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Singapore giai đoạn 2010 2020 và bài học cho Việt Nam”. Chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Nguyễn Thị Việt Hoa và ThS. Trần Thị Thanh Phương đã đồng hành, đóng góp ý kiến và giúp đỡ nhóm hoàn thành đề tài tiểu luận này. Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH XÚC TIẾN THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1.1. Các khái niệm Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp. Chính sách xúc tiến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hệ thống các quyết định mà Nhà nước, các cấp áp dụng nhằm điều chỉnh các hoạt động thu hút và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các ngành, lĩnh vực cụ thể của nền kinh tế quốc gia trong một thời kỳ nhất định, nhằm hạn chế những tác động tiêu cực, phát huy mặt tích cực của FDI đối với phát triển kinh tế xã hội và đạt được mục tiêu kinh tế vĩ mô đã định trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó. 1.2. Mục tiêu của chính sách xúc tiến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Mục tiêu của chính sách xúc thu hút FDI là tạo lập khuôn khổ pháp luật, hệ thống các quy định, công cụ và biện pháp, mà Nhà nước áp dụng nhằm thu hút, điều chỉnh hoạt động thu hút và sử dụng FDI hiệu quả nhất để thực hiện những mục tiêu chung hoặc mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn phát triển của một quốc gia, địa phương. Đặc biệt, chính sách xúc tiến thu hút FDI tạo điều kiện thuận lợi để kích thích dòng vốn FDI đầu tư vào trong nước, định hướng các hình thức đầu tư theo mục tiêu định trước của nước, của địa phương tiếp nhận đầu tư. Các mục tiêu cụ thể phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của mỗi quốc gia, địa phương. Mục tiêu của chính sách thu hút FDI không cố định theo thời gian, cũng không giống nhau giữa các quốc gia, các địa phương. 1.3. Vai trò Hầu hết các chính sách thu hút FDI của chính phủ đều có vai trò trực tiếp khuyến khích FDI, quản lý hoạt động FDI và tạo ra khuôn khổ thể chế hỗ trợ cho hoạt động FDI. Đối với nước nhận đầu tư Thứ nhất, chính sách xúc tiến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo ra khuôn khổ ổn định nhằm điều tiết có hiệu quả hoạt động thu hút FDI, căn cứ pháp lý và hợp lý để các cơ quan quản lý nhà nước duy trì hoạt động đầu tư nước ngoài theo định hướng của quốc gia và gắn với mục tiêu phát triển quốc gia. Thứ hai, nếu được hoạch định rõ ràng, các chính sách thu hút FDI sẽ giúp cho chính phủ và các cơ quan quản lý đầu tư giữ được thế chủ động và điều tiết hợp lý các nguồn lực mà vẫn đảm bảo các lợi ích hợp pháp, quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài. Thứ ba, chính sách xúc tiến thu hút FDI giúp nâng cao tính hiệu quả của hoạt động thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI. Nó đưa ra các nguyên tắc, công cụ và biện pháp nhằm điều chỉnh hoạt động FDI một cách rõ ràng, tạo nền tảng sử dụng nguồn vốn FDI và tránh đầu tư tràn lan. Đối với các nhà đầu tư nước ngoài Đây chính là đối tượng chịu tác động trực tiếp của chính sách về các mặt như di chuyển luồng vốn và công nghệ, kinh nghiệm quản lý và nhất là mức độ bảo hộ tài sản cũng như các khoản lợi ích mà các nhà đầu tư nước ngoài thu được. Thứ nhất, chính sách xúc tiến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là văn bản mang tính pháp lý để các nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước áp dụng các biện pháp xử lý tranh chấp về hình thức, các bước tiến hành, cơ quan thực thi và các chế tài áp dụng để xử lý tranh chấp. Thứ hai, chính sách thu hút FDI giúp bảo vệ và phát huy lợi thế của các nhà đầu tư nước ngoài về quyền sở hữu các tài sản hữu hình, vô hình; tài sản trí tuệ, tài sản vật thể. 1.4. Nội dung của chính sách xúc tiến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Nội dung của chính sách thu hút FDI của mỗi quốc gia đều rất đa dạng và phụ thuộc vào tình hình kinh tế xã hội của quốc gia đó. Ở nước ta, những nội dung này được thể hiện ở hệ thống các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau và phải đảm bảo tính thống nhất đối với những định hướng, mục tiêu chung về chính sách phát triển kinh tế xã hội của quốc gia. Tuy nhiên, tất cả các nội dung đó đều phải tuân theo một xu hướng chung hiện nay của các nước tiếp nhận đầu tư, đó là hạn chế tối đa các quy định dẫn đến kiếm chế đầu tư và chú trọng vào các chính sách tự do hóa đầu tư. Quyết định có đầu tư hay không của nhà đầu tư nước ngoài phụ thuộc rất lớn vào mức độ thông thoáng, tính hợp lý cũng như độ hấp dẫn của các chính sách về thu hút FDI mà quốc gia sở tại đưa ra. Chương 2: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CÁC CHÍNH SÁCH XÚC TIẾN THU HÚT FDI TẠI SINGAPORE GIAI ĐOẠN 2010 2020 2.1. Khái quát đặc điểm kinh tế xã hội của Singapore Về kinh tế, nền kinh tế của Singapore là một nền kinh tế thị trường tự do với mức độ phát triển cao và được xếp hạng là nền kinh tế mở nhất trên thế giới. Đây là quốc gia có nhiều doanh nghiệp lớn vận hành trong nước nhất nhờ mức thuế thấp (doanh thu thuế chỉ chiếm 14,2% GDP), cùng với đó GDP bình quân đầu người của còn cao thứ ba trên thế giới tính theo sức mua tương đương (PPP). Nền kinh tế Singapore lớn thứ 4 ở khu vực Đông Nam Á, lần lượt xếp hạng 14 châu Á và 34 toàn cầu theo GDP danh nghĩa. Năm 2020, GDP của Singapore là 339998.48 triệu USD, nền kinh tế chủ yếu dựa vào buôn bán và dịch vụ (chiếm 40% thu nhập quốc dân). Ngành xuất khẩu với các mặt hàng mũi nhọn là đồ điện tử, hóa chất và dịch vụ, cộng thêm với vị thế là trung tâm quản lý tài sản của khu vực đã đem lại cho Singapore nguồn thu đáng kể để phát triển kinh tế, cho phép quốc gia này nhập khẩu tài nguyên thiên nhiên và nguyên liệu thô không có sẵn. Chỉ với 5.25 triệu dân, nước này đã xuất khẩu hàng hóa trị giá gần 500 tỷ đô la Singapore vào mỗi năm. Thậm chí Singapore cũng là một trong những đất nước hiếm hoi trên thế giới không có nợ công, trở thành nơi được các nhà đầu tư tin tưởng nhất. Singapore là quốc gia có nguồn vốn FDI đầu tư ra nước ngoài lớn trên thế giới và đồng thời cũng được hưởng lợi từ dòng vốn FDI đến từ các nhà đầu tư và tổ chức trên toàn cầu nhờ có môi trường đầu tư hấp dẫn và chính trị ổn định. Về xã hội, tuy Singapore là một quốc gia đa sắc tộc, với nhiều nền văn hóa khác nhau như Trung Quốc, Ấn Độ, Mã Lai... nhưng Chính phủ luôn kiên định lập nên một xã hội đa chủng tộc, xây dựng xã hội ổn định. 2.2. Chính sách xúc tiến FDI của Singapore 2.2.1. Khuôn khổ pháp lý về FDI Để khuyến khích các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đến hoạt động sinh lời tại Singapore, Chính phủ Singapore ngay từ những năm 1960 đã ban hành hàng loạt sắc lệnh ưu tiên cho việc thành lập các ngành công nghiệp non trẻ mà trước đó chưa có. Từ sau năm 1965, Chính phủ đã thể chế hóa thêm một bước và đưa ra hàng loạt ưu đãi lớn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Có thể kể đến một số luật liên quan đến hoạt động thu hút FDI ở Singapore như sau: Luật mở rộng kinh tế (Economic Expansion Act) năm 1967. Luật bổ sung năm 1970 (bổ sung cho Luật mở rộng kinh tế). Luật khuyến khích mở rộng kinh tế (Economic Expansion Incentives Act) năm 1971. Luật công ty (nêu lên những quy định cơ bản về đăng ký và hoạt động của các công ty ở Singapore, trong đó có công ty có vốn đầu tư nước ngoài). Luật thuế thu nhập năm 1967, quy định các khoản thu nhập của cá nhân hay tập thể, doanh nghiệp phải nộp thuế (với chủ trương giảm thuế thu nhập để phát triển kinh tế). Nhìn chung, luật pháp Singapore đảm bảo không phân biệt đối xử trong thu hút FDI. Nhà đầu tư nước ngoài giống như các hãng trong nước đều phải đăng ký kinh doanh theo Luật công ty hoặc Luật đăng ký kinh doanh. 2.2.2. Chính sách tiền lương và nguồn nhân lực trong thu hút đầu tư Năm 1968 Chính phủ Singapore đã ban bố Luật về lao động và Luật bổ sung về quan hệ trong công nghiệp. Theo luật này: Công nhân không có quyền thương lượng tập thể đòi tăng lương, cấm các hoạt động đình công bãi công, quyền tự ý di chuyển xếp loại, giảm số lượng nhân công của chủ doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Chính phủ Singapore cũng chủ trương trong một thời gian dài duy trì mức tiền lương tối thiểu (năm 1975 mức lương của Singapore chỉ bằng 13 mức lương của Nhật) để tạo thế cạnh tranh với các nước khác trong việc thu hút FDI. Chính sách tiền lương thấp này được Chính phủ áp dụng trong những năm 19651978 nhằm tăng cường thu hút FDI và giải quyết vấn nạn thất nghiệp trong nước. Nhờ đó, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng nhanh và tỷ lệ thất nghiệp tại Singapore giảm xuống. Nhưng duy trì chính sách tiền lương thấp chỉ có ý nghĩa giai đoạn đầu thu hút FDI, nếu lạm dụng quá giải pháp này sẽ dẫn đến sự mất ổn định chính trị khủng hoảng kinh tế. Chính vì thế, Singapore đã chuyển dần sang giải pháp cân bằng lại chính sách tiền lương trên cơ sở đầu tư chiều sâu cho nâng cao trình độ, tay nghề cho người lao động. Đặc biệt là khi việc sử dụng nhiều công nghệ hiện đại, kỹ năng kỹ xảo của bàn tay và khối óc con người ngày càng được coi trọng thì điều chỉnh chính sách lương bổng nhằm thay đổi giá trị công lao động sao cho các xí nghiệp có thể tuyển được công nhân có tay nghề cao và nhiều chuyên gia giỏi trong, ngoài nước là điều vô cùng cần thiết. Để giải quyết việc thiếu lao động có kỹ thuật, các công ty được khuyến khích tuyển dụng lao động nước ngoài. Việc đánh 4% thuế đối với chủ sử dụng lao động trả lương cho công nhân thấp hơn mức quy định là cách làm có hiệu quả nhằm buộc các công ty tăng cường nâng cao kỹ năng công nhân. Sau các cuộc khủng hoảng năm 1985, tuy mức thuế này được giảm xuống 1%, nhưng vẫn có vai trò quan trọng trong việc nâng cao kỹ năng cho lao động. Bên cạnh vấn đề đào tạo nguồn nhân lực trong nước, Singapore còn có chính sách thu hút nhân tài từ các quốc gia khác sang làm việc tại nước này. Là một quốc gia có quy mô dân số ít, để đáp ứng nhu cầu lao động cho các dự án FDI, việc Chính phủ Singapore cho phép nhập cư lao động đặc biệt là lao động có trình độ cao là chính sách phù hợp và đã góp phần đáp ứng được đòi hỏi về lao động có chất lượng cao của các dự án FDI. 2.2.3. Chính sách củng cố cơ sở hạ tầng Ngay từ những năm 60, Singapore đã chủ trương xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật cho sự ra đời các khu công nghiệp tập trung như: xây dựng các khu đất công nghiệp,… Đến nay, Singapore đã có 8 khu mậu dịch tự do và rất nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất. Bên cạnh việc đầu tư thành lập các khu công nghiệp, khu chế xuất, điểm nổi bật là Singapore đã không ngừng đầu tư cho các công trình giao thông đường thủy, đường bộ và đường hàng không. Đơn cử như việc đầu tư cho tuyến đường cao tốc MRT (được ví như xương sống xuyên suốt cả nước), sau khi con đường được xây dựng có đến 40% các doanh nghiệp và khu công nghiệp đóng gần tuyến đường này. 2.2.4. Chính sách đơn giản hóa thủ tục hành chính Các doanh nghiệp nước ngoài chỉ cần xin cấp giấy phép hoạt động và đăng ký thành lập, thông qua sự kiểm soát của Cơ quan quản lý doanh nghiệp và kế toán (ACRA), với nhiều hình thức như mở công ty con, văn phòng chi nhánh, văn phòng đại diện. Các thủ tục đăng ký này rất rõ ràng và nhất quán, cũng như cơ chế thuế ưu đãi và liên danh hiệu quả cùng việc cho phép sở hữu nước ngoài 100%. Không chỉ có vậy, chính phủ Singapore còn tạo điều kiện thuận lợi và dễ dàng về thị thực nhập cảnh và cư trú cho người nước ngoài muốn hoạt động kinh doanh tại Singapore. Với sự hỗ trợ tối đa từ chính phủ thông qua các chương trình và khuyến khích, Singapore được nhìn nhận là nơi dễ dàng nhất thế giới để mở hoạt động kinh doanh cũng như là nền kinh tế cạnh tranh nhất trong khu vực. Hệ thống luật pháp của Singapore cũng hoạt động rất hiệu quả. Cơ sở pháp lí liên tục được cập nhật để phù hợp với môi trường văn hóa, kinh tế và thương mại hiện hành. Các doanh nghiệp ở Singapore không phải chứng kiến quá trình thủ tục pháp lý chậm chạp, làm giảm sút hiệu quả hoạt động kinh doanh. Hệ thống luật thương mại của Singapore công bằng và vô tư biến quốc đảo Sư tử ngày càng trở thành lựa chọn tự nhiên làm nơi giải quyết tranh chấp, đặc biệt là hòa giải và trọng tài, ở khu vực Đông Nam Á. Khuôn khổ pháp lý của Singapore đã tạo ra một sân chơi bình đẳng cho các nhà đầu tư nước ngoài, khi không giới hạn sở hữu nước ngoài và không có kiểm soát ngoại hối. 2.2.5. Chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với nhà đầu tư a. Ưu đãi về thuế • Đối với ngành công nghiệp mũi nhọn Các sản phẩm có công nghệ cao được khuyến khích đầu tư và không có sự hạn chế nào về quyền sở hữu nước ngoài đối với công ty được ưu tiên hàng đầu. Cụ thể: Doanh nghiệp mũi nhọn là các công ty công nghiệp có vốn đầu tư từ 1 triệu SGD trở lên và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế lâu dài được hưởng quy chế xí nghiệp mũi nhọn và được miễn thuế trong 5 năm (kể cả lãi cổ phần và thuế thu nhập). Loại doanh nghiệp hướng về xuất khẩu sẽ được ưu đãi tỷ lệ thuận với giá trị xuất khẩu. Trong khi xí nghiệp sản xuất không hướng về xuất khẩu bị đánh thuế với mức tỷ suất 40%, thì xí nghiệp thuộc loại hướng về xuất khẩu chỉ bị đánh thuế ở mức 4%. Bên cạnh đó nếu xuất khẩu mỗi năm hơn 100.000 SGD sẽ được miễn tới 90% thuế lợi tức. Riêng loại doanh nghiệp vừa là mũi nhọn vừa hướng vào xuất khẩu sẽ được hưởng ưu đãi “gộp” của cả hai loại hình doanh nghiệp này. Cụ thể là chế độ miễn thuế sẽ được kéo dài 8 năm. Nếu xí nghiệp vừa có cả hai điều kiện trên vừa có vốn đầu tư vào tài sản cố định từ 150 triệu SGD trở lên thì thời gian miễn thuế có thể kéo dài đến 15 năm. • Đối với các hoạt động dịch vụ mũi nhọn Cùng với các ngành công nghiệp mũi nhọn, các hoạt động dịch vụ mũi nhọn cũng được ưu tiên và khuyến khích. Một số dịch vụ công nghệ và kỹ thuật cao như: phòng thí nghiệm, dịch vụ tư vấn, các hoạt động nghiên cứu và phát triển; một số dịch vụ thông tin và máy tính; dịch vụ công cộng; một số dịch vụ liên quan đến giáo dục; dịch vụ y tế; một số dịch vụ tài chính… Các công ty dịch vụ mũi nhọn cũng sẽ được khuyến khích miễn thuế thu nhập trong khoảng thời gian 5 10 năm. • Đối với việc mở rộng các doanh nghiệp đã thành lập Một doanh nghiệp được phép hoạt động tại Singapore mà phải chi hơn 10 triệu SGD cho việc mua thiết bị sản xuất để mở rộng nhà máy và phương tiện sản xuất nhằm tăng sản lượng, chất lượng sản phẩm thì sẽ được giảm thuế trong 5 năm kể từ ngày các thiết bị đó bắt đầu hoạt động. Việc giảm thuế này được áp dụng nhằm tăng doanh thu trong việc mở rộng hoạt động của doanh nghiệp, qua đó khuyến khích các doanh nghiệp không ngừng mở rộng quy mô sản xuất, chất lượng sản phẩm. • Đối với việc tổ chức nghiên cứu và phát triển (RD) Với nỗ lực nhằm biến Singapore thành trung tâm công nghệ của Châu Á, các tổ chức nghiên cứu và phát triển, các công ty chế biến đã được hưởng rất nhiều những ưu tiên về thuế nhằm khuyến khích việc đầu tư ở Singapore như cơ sở ở nước của họ. Việc khuyến khích đầu tư bao gồm những yếu tố sau: o Giảm hai lần thuế cho khoản chi phí về RD. o Giảm thuế khấu hao đối với các trung tâm RD và miễn thuế đầu tư. Chính phủ đã mở rộng phạm vi giảm thuế hai lần đối với các khoản chi phí về RD để nhằm kích thích sự phát triển của các ngành dịch vụ công nghiệp như phần mềm máy tính, dịch vụ thông tin, dịch vụ công nghệ nông nghiệp, dịch vụ về thí nghiệm và kiểm tra, dịch vụ nghiên cứu y học. • Đối với ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp và thu nhập cá nhân Từ năm 2001, Chính phủ Singapore giảm thuế doanh nghiệp từ 26% xuống 25,5%. Để tăng cường thu hút các chủ đầu tư trong và ngoài nước cũng như thu hút và giữ chân nhân tài, năm 2005, Chính phủ Singapore đã giảm thuế thu nhập cá nhân từ 25% xuống 22%, và thuế doanh nghiệp tiếp tục giảm xuống còn 20%. Tỷ lệ đánh thuế này là một tỷ lệ cạnh tranh so với nhiều nước trong khu vực, đơn cử như ở Việt Nam, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng đối với cơ sở kinh doanh là 28%. b. Ưu đãi về quyền cư trú Nhà đầu tư nào có vốn ký thác tại Singapore từ 2,5 triệu SGD trở lên và có dự án đầu tư được Chính phủ Singapore chấp nhận, sau 5 năm hoạt động, nhà đầu tư và gia đình họ được hưởng quyền công dân Singapore. Cụ thể, nếu nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào công nghiệp chế biến sẽ được ngay quyền cư trú tạm thời và sau 5 năm nếu mức đầu tư nhiều hơn sẽ được hưởng quyền cư trú vĩnh viễn. c. Một số biện pháp hỗ trợ khác đối với nhà đầu tư • Hỗ trợ góp vốn tài sản Chương trình góp vốn do Hội đồng Phát triển Kinh tế (Economic Development Board EDB) quản lý, quy định việc hỗ trợ vốn đối với các nhà đầu tư tiềm năng thông qua cổ phần đầu tư liên tục và lâu dài đối với nhà đầu tư. Cổ phần của EDB thường không được vượt quá 30% vốn tự có của công ty. Theo chương trình này, những công ty đầu tư 100% vốn hoặc liên doanh, liên kết với Chính phủ và tư nhân Singapore trong các ngành công nghiệp mũi nhọn sẽ được EDB hỗ trợ về vốn để thành lập doanh nghiệp ở Singapore. Sau khi công ty làm ăn có lãi Chính phủ sẽ bán lại cổ phần cho tư nhân trong và ngoài nước đã hùn vốn vào công ty đó. • Hỗ trợ áp dụng công nghệ mới Chương trình áp dụng công nghệ mới (INTECH) được tiến hành bởi EDB nhằm khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào phát triển nguồn lực trong ứng dụng công nghệ mới, công nghệ nghiên cứu và phát triển, bí quyết kỹ thuật có tính chuyên nghiệp, thiết kế, phát triển sản phẩm mới, chế biến dịch vụ cũng như hình thành năng lực trong một công ty hoặc trong một nền công nghiệp. INTECH hỗ trợ thông qua việc trợ cấp tài chính chiếm 30 50% chi phí để đảm nhiệm các dự án khả thi. Cả nguồn lực và chi phí hạ tầng cơ sở (bao gồm cả thiết bị và nhà xưởng) đều nằm trong chương trình này. Đối với những dự án quan trọng mà ảnh hưởng tới nền kinh tế thì mức chi phí khuyến khích còn cao hơn, cụ thể là 90% cho chi phí nhân lực và 100% chi phí cho thiết bị nhà xưởng. • Hỗ trợ thuê người máy (Robot) Theo chương trình này thì số tiền tài trợ cho việc thuê mướn hoặc những hiệp định cho thuê cầm cố tối đa là 3 triệu SGD sẽ được hoàn trả trong vòng 3 7 năm, với lãi suất là 3,5%năm đối với các doanh nghiệp địa phương vừa và nhỏ và 4,5%năm cho các doanh nghiệp nước ngoài và các doanh nghiệp lớn khác. Chương trình hỗ trợ này là một trong những biện pháp của Chính phủ nhằm khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng thiết bị hiện đại có hàm lượng công nghệ cao vào sản xuất, song đó cũng là một điểm hấp dẫn các nhà ĐTNN muốn đầu tư các thiết bị hiện đại ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh. • Hỗ trợ nghiên cứu và phát triển (RD)
Trang 1KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
-*** -TIỂU LUẬN KINH TẾ ĐẦU TƯ
CHÍNH SÁCH XÚC TIẾN THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA SINGAPORE GIAI ĐOẠN 2010 - 2020
VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Trang 3ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of South East Asian Nations)
DN Doanh nghiệp
ĐTNN Đầu tư nước ngoài
EDB Hội đồng Phát triển Kinh tế (Economic Development Board)
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)
GDP Tổng sản phẩm nội địa (Gross domestic product)
HDI Chỉ số phát triển con người (Human Development Index)
IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund)
M&A Sáp nhập và mua bán (mergers and acquisitions)
SGD Đô-la Singapore
TNC Công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporation)
DANH MỤC BẢNG BIỂU Danh mục bảng
Bảng 2.1: Vốn FDI vào Singapore giai đoạn 2010-2020 10
Bảng 2.2: FDI vào Singapore theo các đối tác đầu tư chính 11
Danh mục biểu Biểu đồ 2.1: FDI vào Singapore theo khu vực năm 2020 12
Biểu đồ 2.2: Đầu tư trực tiếp vào Singapore theo ngành 13
Biểu đồ 2.3: Số vụ M&A tại Singapore tử 2010-2020 13
Y Biểu đồ 3.1: Chỉ số mức độ tham nhũng của Việt Nam và Singapore giai đoạn 2012-2020 17
Biểu đồ 3.2: GDP theo sức mua tương đương của Singapore và Việt Nam (1990-2020) 18
Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ lạm phát của Singapore với Việt Nam (1990-2020) 19
Biểu đồ 3.4: Tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020 21
Biểu đồ 3.5: Cơ cấu đối tác FDI lớn tại Việt Nam lũy kế đến năm 2019 23
Trang 4Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH XÚC TIẾN THU HÚT ĐẦU
TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 2
1.1 Các khái niệm 2
1.2 Mục tiêu của chính sách xúc tiến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 2
1.3 Vai trò 2
1.4 Nội dung của chính sách xúc tiến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 3
Chương 2: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CÁC CHÍNH SÁCH XÚC TIẾN THU HÚT FDI TẠI SINGAPORE GIAI ĐOẠN 2010 - 2020 4
2.1 Khái quát đặc điểm kinh tế xã hội của Singapore 4
2.2 Chính sách xúc tiến FDI của Singapore 4
2.2.1 Khuôn khổ pháp lý về FDI 4
2.2.2 Chính sách tiền lương và nguồn nhân lực trong thu hút đầu tư 5
2.2.3 Chính sách củng cố cơ sở hạ tầng 6
2.2.4 Chính sách đơn giản hóa thủ tục hành chính 6
2.2.5 Chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với nhà đầu tư 7
2.3 Kết quả triển khai thực hiện chính sách xúc tiến thu hút FDI tại Singapore 10
2.3.1 Lượng vốn FDI vào Singapore giai đoạn 2010-2020 10
2.3.2 Cơ cấu vốn FDI vào Singapore giai đoạn 2010-2020 11
2.4 Đánh giá chung về chính sách xúc tiến thu hút FDI của Singapore 14
2.4.1 Ưu điểm 14
2.4.2 Hạn chế 15
Chương 3: MỘT SỐ BÀI HỌC RÚT RA CHO VIỆT NAM TỪ CHÍNH SÁCH XÚC TIẾN THU HÚT FDI CỦA SINGAPORE 17
3.1 So sánh môi trường đầu tư của Việt Nam và Singapore 17
Trang 53.1.2 Môi trường pháp lý 17
3.1.3 Môi trường kinh tế 18
3.1.4 Cơ sở hạ tầng và khả năng tiếp cận nguồn lực 19
3.2 Khái quát thực trạng chính sách xúc tiến thu hút FDI của Việt Nam 20
3.2.1 Các chính sách xúc tiến thu hút FDI của Việt Nam 20
3.2.2 Kết quả xúc tiến thu hút FDI của Việt Nam 21
3.2.3 Đánh giá 23
3.3 Một số bài học từ hoạt động xúc tiến FDI của Singapore và các kiến nghị cho Việt Nam 24
3.3.1 Hoàn thiện hệ thống pháp lý liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài 24
3.3.2 Cải thiện chính sách lao động tiền lương, tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực 24
3.3.3 Đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng để thu hút đầu tư 25
3.3.4 Nâng cao hiệu quả bộ máy hành chính đối với thủ tục liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài 26
KẾT LUẬN 27
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Thế giới đang bước vào xu thế toàn cầu hóa, với những bước chuyển mình thay đổi
rõ rệt trong mọi lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, chính trị, kĩ thuật hay công nghệ Nhiềuquốc gia đang không ngừng mạnh mẽ phát triển để bắt kịp với vòng quay phát triển củathế giới và sự thay đổi cải thiện ấy không thể thiếu việc mở rộng nguồn vốn từ nướcngoài để tiến hành các hoạt động đầu tư nâng cao hiệu quả cho nền kinh tế quốc gia.Nguồn vốn đầu tư nước ngoài đang ngày càng là một chiếc chìa khóa quan trọng cho sựphát triển của mỗi đất nước Thực tiễn chúng ta có thể thấy rằng có rất nhiều quốc gia đãđạt được những thành công rực rỡ, những bước tiến lớn trong công cuộc thu hút FDI.Môi trường đầu tư là một cơ sở rất quan trọng để các nhà đầu tư lựa chọn quốc gia tiếpnhận vốn phù hợp và mang đến lợi nhuận cao nhất cho mình Nhận thức được điều đó,các quốc gia ngày càng chú trọng trong việc cải thiện môi trường đầu tư để thu hút cácnhà đầu tư nước ngoài, nhằm đạt được lợi nhuận lớn mà dòng vốn này có thể mang lại.Trong những năm gần đây, Đông Nam Á đang nổi lên là một khu vực thu hút rấtnhiều vốn đầu tư từ nước ngoài Nổi bật trong số đó là Singapore, đất nước được mệnhdanh là con hổ của Đông Nam Á với nền kinh tế phát triển vượt bậc Bên cạnh đóSingapore còn là điểm đến đầu tư vô cùng hấp dẫn đối với các doanh nghiệp trên thế giới.Quốc đảo Singapore tuy có diện tích khiêm tốn nhưng lại là một tượng đài to lớn cho sựthành công ở lĩnh vực thu hút FDI tại châu Á Singapore còn là đối thủ của rất nhiều nướctrong đó có Việt Nam trong việc cạnh tranh nguồn vốn đầu tư này Với sự thành công rực
rỡ đạt được, Singapore đã để lại cho chúng ta những bài học kinh nghiệm quý giá mà ta
có thể tận dụng cho việc thu hút đầu tư nước ngoài Với mong muốn hiểu rõ hơn vềnhững chính sách xúc tiến thu hút FDI mà Singapore đã ban hành cùng những kinhnghiệm rút ra và kiến nghị dành cho Việt Nam để phát triển việc thu hút nguồn vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài, nhóm chúng em đã quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu
“Chính sách xúc tiến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Singapore giai đoạn
2010 - 2020 và bài học cho Việt Nam”.
Chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Nguyễn Thị Việt Hoa và ThS Trần Thị Thanh Phương đã đồng hành, đóng góp ý kiến và giúp đỡ nhóm hoàn thành đề tài tiểu luận này
Trang 7Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH XÚC TIẾN THU HÚT ĐẦU
TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1 Các khái niệm
Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt
động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệphoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đíchcủa chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp
Chính sách xúc tiến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hệ thống các
quyết định mà Nhà nước, các cấp áp dụng nhằm điều chỉnh các hoạt động thu hút và sửdụng hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các ngành, lĩnh vực cụ thể của nềnkinh tế quốc gia trong một thời kỳ nhất định, nhằm hạn chế những tác động tiêu cực, pháthuy mặt tích cực của FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội và đạt được mục tiêu kinh tế
vĩ mô đã định trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó
1.2 Mục tiêu của chính sách xúc tiến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Mục tiêu của chính sách xúc thu hút FDI là tạo lập khuôn khổ pháp luật, hệ thốngcác quy định, công cụ và biện pháp, mà Nhà nước áp dụng nhằm thu hút, điều chỉnh hoạtđộng thu hút và sử dụng FDI hiệu quả nhất để thực hiện những mục tiêu chung hoặc mụctiêu cụ thể trong từng giai đoạn phát triển của một quốc gia, địa phương Đặc biệt, chínhsách xúc tiến thu hút FDI tạo điều kiện thuận lợi để kích thích dòng vốn FDI đầu tư vàotrong nước, định hướng các hình thức đầu tư theo mục tiêu định trước của nước, của địaphương tiếp nhận đầu tư Các mục tiêu cụ thể phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của mỗiquốc gia, địa phương Mục tiêu của chính sách thu hút FDI không cố định theo thời gian,cũng không giống nhau giữa các quốc gia, các địa phương
1.3 Vai trò
Hầu hết các chính sách thu hút FDI của chính phủ đều có vai trò trực tiếp khuyếnkhích FDI, quản lý hoạt động FDI và tạo ra khuôn khổ thể chế hỗ trợ cho hoạt động FDI
Đối với nước nhận đầu tư
Thứ nhất, chính sách xúc tiến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo ra khuôn khổ
ổn định nhằm điều tiết có hiệu quả hoạt động thu hút FDI, căn cứ pháp lý và hợp lý đểcác cơ quan quản lý nhà nước duy trì hoạt động đầu tư nước ngoài theo định hướng củaquốc gia và gắn với mục tiêu phát triển quốc gia
Trang 8Thứ hai, nếu được hoạch định rõ ràng, các chính sách thu hút FDI sẽ giúp cho chính
phủ và các cơ quan quản lý đầu tư giữ được thế chủ động và điều tiết hợp lý các nguồnlực mà vẫn đảm bảo các lợi ích hợp pháp, quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài
Thứ ba, chính sách xúc tiến thu hút FDI giúp nâng cao tính hiệu quả của hoạt động
thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI Nó đưa ra các nguyên tắc, công cụ và biện pháp nhằmđiều chỉnh hoạt động FDI một cách rõ ràng, tạo nền tảng sử dụng nguồn vốn FDI và tránhđầu tư tràn lan
Đối với các nhà đầu tư nước ngoài
Đây chính là đối tượng chịu tác động trực tiếp của chính sách về các mặt như dichuyển luồng vốn và công nghệ, kinh nghiệm quản lý và nhất là mức độ bảo hộ tài sảncũng như các khoản lợi ích mà các nhà đầu tư nước ngoài thu được
Thứ nhất, chính sách xúc tiến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là văn bản mang
tính pháp lý để các nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước áp dụng các biệnpháp xử lý tranh chấp về hình thức, các bước tiến hành, cơ quan thực thi và các chế tài ápdụng để xử lý tranh chấp
Thứ hai, chính sách thu hút FDI giúp bảo vệ và phát huy lợi thế của các nhà đầu tư
nước ngoài về quyền sở hữu các tài sản hữu hình, vô hình; tài sản trí tuệ, tài sản vật thể
1.4 Nội dung của chính sách xúc tiến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Nội dung của chính sách thu hút FDI của mỗi quốc gia đều rất đa dạng và phụ thuộcvào tình hình kinh tế - xã hội của quốc gia đó Ở nước ta, những nội dung này được thểhiện ở hệ thống các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật khácnhau và phải đảm bảo tính thống nhất đối với những định hướng, mục tiêu chung vềchính sách phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia Tuy nhiên, tất cả các nội dung đó đềuphải tuân theo một xu hướng chung hiện nay của các nước tiếp nhận đầu tư, đó là hạn chếtối đa các quy định dẫn đến kiếm chế đầu tư và chú trọng vào các chính sách tự do hóađầu tư Quyết định có đầu tư hay không của nhà đầu tư nước ngoài phụ thuộc rất lớn vàomức độ thông thoáng, tính hợp lý cũng như độ hấp dẫn của các chính sách về thu hút FDI
mà quốc gia sở tại đưa ra
Trang 9Chương 2: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CÁC CHÍNH SÁCH XÚC TIẾN THU HÚT FDI TẠI SINGAPORE GIAI ĐOẠN 2010 - 2020
2.1 Khái quát đặc điểm kinh tế xã hội của Singapore
Về kinh tế, nền kinh tế của Singapore là một nền kinh tế thị trường tự do với mức
độ phát triển cao và được xếp hạng là nền kinh tế mở nhất trên thế giới Đây là quốc gia
có nhiều doanh nghiệp lớn vận hành trong nước nhất nhờ mức thuế thấp (doanh thu thuếchỉ chiếm 14,2% GDP), cùng với đó GDP bình quân đầu người của còn cao thứ ba trênthế giới tính theo sức mua tương đương (PPP) Nền kinh tế Singapore lớn thứ 4 ở khuvực Đông Nam Á, lần lượt xếp hạng 14 châu Á và 34 toàn cầu theo GDP danh nghĩa.Năm 2020, GDP của Singapore là 339998.48 triệu USD, nền kinh tế chủ yếu dựavào buôn bán và dịch vụ (chiếm 40% thu nhập quốc dân) Ngành xuất khẩu với các mặthàng mũi nhọn là đồ điện tử, hóa chất và dịch vụ, cộng thêm với vị thế là trung tâm quản
lý tài sản của khu vực đã đem lại cho Singapore nguồn thu đáng kể để phát triển kinh tế,cho phép quốc gia này nhập khẩu tài nguyên thiên nhiên và nguyên liệu thô không cósẵn Chỉ với 5.25 triệu dân, nước này đã xuất khẩu hàng hóa trị giá gần 500 tỷ đô laSingapore vào mỗi năm Thậm chí Singapore cũng là một trong những đất nước hiếm hoitrên thế giới không có nợ công, trở thành nơi được các nhà đầu tư tin tưởng nhất.Singapore là quốc gia có nguồn vốn FDI đầu tư ra nước ngoài lớn trên thế giới và đồngthời cũng được hưởng lợi từ dòng vốn FDI đến từ các nhà đầu tư và tổ chức trên toàn cầunhờ có môi trường đầu tư hấp dẫn và chính trị ổn định
Về xã hội, tuy Singapore là một quốc gia đa sắc tộc, với nhiều nền văn hóa khácnhau như Trung Quốc, Ấn Độ, Mã Lai nhưng Chính phủ luôn kiên định lập nên một xãhội đa chủng tộc, xây dựng xã hội ổn định
2.2 Chính sách xúc tiến FDI của Singapore
2.2.1 Khuôn khổ pháp lý về FDI
Để khuyến khích các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đếnhoạt động sinh lời tại Singapore, Chính phủ Singapore ngay từ những năm 1960 đã banhành hàng loạt sắc lệnh ưu tiên cho việc thành lập các ngành công nghiệp non trẻ màtrước đó chưa có Từ sau năm 1965, Chính phủ đã thể chế hóa thêm một bước và đưa rahàng loạt ưu đãi lớn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài Có thể kể đến một số luậtliên quan đến hoạt động thu hút FDI ở Singapore như sau:
- Luật mở rộng kinh tế (Economic Expansion Act) năm 1967
Trang 10- Luật bổ sung năm 1970 (bổ sung cho Luật mở rộng kinh tế).
- Luật khuyến khích mở rộng kinh tế (Economic Expansion Incentives Act) năm1971
- Luật công ty (nêu lên những quy định cơ bản về đăng ký và hoạt động của cáccông ty ở Singapore, trong đó có công ty có vốn đầu tư nước ngoài)
- Luật thuế thu nhập năm 1967, quy định các khoản thu nhập của cá nhân hay tậpthể, doanh nghiệp phải nộp thuế (với chủ trương giảm thuế thu nhập để phát triển kinhtế)
Nhìn chung, luật pháp Singapore đảm bảo không phân biệt đối xử trong thu hútFDI Nhà đầu tư nước ngoài giống như các hãng trong nước đều phải đăng ký kinh doanhtheo Luật công ty hoặc Luật đăng ký kinh doanh
2.2.2 Chính sách tiền lương và nguồn nhân lực trong thu hút đầu tư
Năm 1968 Chính phủ Singapore đã ban bố Luật về lao động và Luật bổ sung vềquan hệ trong công nghiệp Theo luật này: Công nhân không có quyền thương lượng tậpthể đòi tăng lương, cấm các hoạt động đình công bãi công, quyền tự ý di chuyển xếp loại,giảm số lượng nhân công của chủ doanh nghiệp
Bên cạnh đó, Chính phủ Singapore cũng chủ trương trong một thời gian dài duy trìmức tiền lương tối thiểu (năm 1975 mức lương của Singapore chỉ bằng 1/3 mức lươngcủa Nhật) để tạo thế cạnh tranh với các nước khác trong việc thu hút FDI Chính sách tiềnlương thấp này được Chính phủ áp dụng trong những năm 1965-1978 nhằm tăng cườngthu hút FDI và giải quyết vấn nạn thất nghiệp trong nước Nhờ đó, nguồn vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài tăng nhanh và tỷ lệ thất nghiệp tại Singapore giảm xuống
Nhưng duy trì chính sách tiền lương thấp chỉ có ý nghĩa giai đoạn đầu thu hút FDI,nếu lạm dụng quá giải pháp này sẽ dẫn đến sự mất ổn định chính trị khủng hoảng kinh tế.Chính vì thế, Singapore đã chuyển dần sang giải pháp cân bằng lại chính sách tiền lươngtrên cơ sở đầu tư chiều sâu cho nâng cao trình độ, tay nghề cho người lao động
Đặc biệt là khi việc sử dụng nhiều công nghệ hiện đại, kỹ năng kỹ xảo của bàn tay
và khối óc con người ngày càng được coi trọng thì điều chỉnh chính sách lương bổngnhằm thay đổi giá trị công lao động sao cho các xí nghiệp có thể tuyển được công nhân
có tay nghề cao và nhiều chuyên gia giỏi trong, ngoài nước là điều vô cùng cần thiết
Để giải quyết việc thiếu lao động có kỹ thuật, các công ty được khuyến khích tuyểndụng lao động nước ngoài Việc đánh 4% thuế đối với chủ sử dụng lao động trả lương
Trang 11cho công nhân thấp hơn mức quy định là cách làm có hiệu quả nhằm buộc các công tytăng cường nâng cao kỹ năng công nhân Sau các cuộc khủng hoảng năm 1985, tuy mứcthuế này được giảm xuống 1%, nhưng vẫn có vai trò quan trọng trong việc nâng cao kỹnăng cho lao động.
Bên cạnh vấn đề đào tạo nguồn nhân lực trong nước, Singapore còn có chính sáchthu hút nhân tài từ các quốc gia khác sang làm việc tại nước này Là một quốc gia có quy
mô dân số ít, để đáp ứng nhu cầu lao động cho các dự án FDI, việc Chính phủ Singaporecho phép nhập cư lao động đặc biệt là lao động có trình độ cao là chính sách phù hợp và
đã góp phần đáp ứng được đòi hỏi về lao động có chất lượng cao của các dự án FDI
2.2.3 Chính sách củng cố cơ sở hạ tầng
Ngay từ những năm 60, Singapore đã chủ trương xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuậtcho sự ra đời các khu công nghiệp tập trung như: xây dựng các khu đất công nghiệp,…Đến nay, Singapore đã có 8 khu mậu dịch tự do và rất nhiều khu công nghiệp, khu chếxuất Bên cạnh việc đầu tư thành lập các khu công nghiệp, khu chế xuất, điểm nổi bật làSingapore đã không ngừng đầu tư cho các công trình giao thông đường thủy, đường bộ
và đường hàng không Đơn cử như việc đầu tư cho tuyến đường cao tốc MRT (được vínhư xương sống xuyên suốt cả nước), sau khi con đường được xây dựng có đến 40% cácdoanh nghiệp và khu công nghiệp đóng gần tuyến đường này
2.2.4 Chính sách đơn giản hóa thủ tục hành chính
Các doanh nghiệp nước ngoài chỉ cần xin cấp giấy phép hoạt động và đăng ký thànhlập, thông qua sự kiểm soát của Cơ quan quản lý doanh nghiệp và kế toán (ACRA), vớinhiều hình thức như mở công ty con, văn phòng chi nhánh, văn phòng đại diện Các thủtục đăng ký này rất rõ ràng và nhất quán, cũng như cơ chế thuế ưu đãi và liên danh hiệuquả cùng việc cho phép sở hữu nước ngoài 100%
Không chỉ có vậy, chính phủ Singapore còn tạo điều kiện thuận lợi và dễ dàng vềthị thực nhập cảnh và cư trú cho người nước ngoài muốn hoạt động kinh doanh tạiSingapore Với sự hỗ trợ tối đa từ chính phủ thông qua các chương trình và khuyếnkhích, Singapore được nhìn nhận là nơi dễ dàng nhất thế giới để mở hoạt động kinhdoanh cũng như là nền kinh tế cạnh tranh nhất trong khu vực
Hệ thống luật pháp của Singapore cũng hoạt động rất hiệu quả Cơ sở pháp lí liêntục được cập nhật để phù hợp với môi trường văn hóa, kinh tế và thương mại hiện hành.Các doanh nghiệp ở Singapore không phải chứng kiến quá trình thủ tục pháp lý chậm
Trang 12chạp, làm giảm sút hiệu quả hoạt động kinh doanh Hệ thống luật thương mại củaSingapore công bằng và vô tư biến quốc đảo Sư tử ngày càng trở thành lựa chọn tự nhiênlàm nơi giải quyết tranh chấp, đặc biệt là hòa giải và trọng tài, ở khu vực Đông Nam Á.Khuôn khổ pháp lý của Singapore đã tạo ra một sân chơi bình đẳng cho các nhà đầu tưnước ngoài, khi không giới hạn sở hữu nước ngoài và không có kiểm soát ngoại hối.
2.2.5 Chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với nhà đầu tư
a Ưu đãi về thuế
Đối với ngành công nghiệp mũi nhọn
Các sản phẩm có công nghệ cao được khuyến khích đầu tư và không có sự hạn chếnào về quyền sở hữu nước ngoài đối với công ty được ưu tiên hàng đầu Cụ thể:
Doanh nghiệp mũi nhọn là các công ty công nghiệp có vốn đầu tư từ 1 triệu SGDtrở lên và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế lâu dài được hưởng quy chế xí nghiệp mũinhọn và được miễn thuế trong 5 năm (kể cả lãi cổ phần và thuế thu nhập)
Loại doanh nghiệp hướng về xuất khẩu sẽ được ưu đãi tỷ lệ thuận với giá trị xuấtkhẩu Trong khi xí nghiệp sản xuất không hướng về xuất khẩu bị đánh thuế với mức tỷsuất 40%, thì xí nghiệp thuộc loại hướng về xuất khẩu chỉ bị đánh thuế ở mức 4% Bêncạnh đó nếu xuất khẩu mỗi năm hơn 100.000 SGD sẽ được miễn tới 90% thuế lợi tức.Riêng loại doanh nghiệp vừa là mũi nhọn vừa hướng vào xuất khẩu sẽ được hưởng
ưu đãi “gộp” của cả hai loại hình doanh nghiệp này Cụ thể là chế độ miễn thuế sẽ đượckéo dài 8 năm Nếu xí nghiệp vừa có cả hai điều kiện trên vừa có vốn đầu tư vào tài sản
cố định từ 150 triệu SGD trở lên thì thời gian miễn thuế có thể kéo dài đến 15 năm
Đối với các hoạt động dịch vụ mũi nhọn
Cùng với các ngành công nghiệp mũi nhọn, các hoạt động dịch vụ mũi nhọn cũngđược ưu tiên và khuyến khích Một số dịch vụ công nghệ và kỹ thuật cao như: phòng thínghiệm, dịch vụ tư vấn, các hoạt động nghiên cứu và phát triển; một số dịch vụ thông tin
và máy tính; dịch vụ công cộng; một số dịch vụ liên quan đến giáo dục; dịch vụ y tế; một
số dịch vụ tài chính… Các công ty dịch vụ mũi nhọn cũng sẽ được khuyến khích miễnthuế thu nhập trong khoảng thời gian 5 - 10 năm
Đối với việc mở rộng các doanh nghiệp đã thành lập
Một doanh nghiệp được phép hoạt động tại Singapore mà phải chi hơn 10 triệuSGD cho việc mua thiết bị sản xuất để mở rộng nhà máy và phương tiện sản xuất nhằmtăng sản lượng, chất lượng sản phẩm thì sẽ được giảm thuế trong 5 năm kể từ ngày các
Trang 13thiết bị đó bắt đầu hoạt động Việc giảm thuế này được áp dụng nhằm tăng doanh thutrong việc mở rộng hoạt động của doanh nghiệp, qua đó khuyến khích các doanh nghiệpkhông ngừng mở rộng quy mô sản xuất, chất lượng sản phẩm
Đối với việc tổ chức nghiên cứu và phát triển (R&D)
Với nỗ lực nhằm biến Singapore thành trung tâm công nghệ của Châu Á, các tổchức nghiên cứu và phát triển, các công ty chế biến đã được hưởng rất nhiều những ưutiên về thuế nhằm khuyến khích việc đầu tư ở Singapore như cơ sở ở nước của họ Việckhuyến khích đầu tư bao gồm những yếu tố sau:
o Giảm hai lần thuế cho khoản chi phí về R&D
o Giảm thuế khấu hao đối với các trung tâm R&D và miễn thuế đầu tư
Chính phủ đã mở rộng phạm vi giảm thuế hai lần đối với các khoản chi phí về R&D
để nhằm kích thích sự phát triển của các ngành dịch vụ công nghiệp như phần mềm máytính, dịch vụ thông tin, dịch vụ công nghệ nông nghiệp, dịch vụ về thí nghiệm và kiểmtra, dịch vụ nghiên cứu y học
Đối với ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp và thu nhập cá nhân
Từ năm 2001, Chính phủ Singapore giảm thuế doanh nghiệp từ 26% xuống 25,5%
Để tăng cường thu hút các chủ đầu tư trong và ngoài nước cũng như thu hút và giữ chânnhân tài, năm 2005, Chính phủ Singapore đã giảm thuế thu nhập cá nhân từ 25% xuống22%, và thuế doanh nghiệp tiếp tục giảm xuống còn 20% Tỷ lệ đánh thuế này là một tỷ
lệ cạnh tranh so với nhiều nước trong khu vực, đơn cử như ở Việt Nam, thuế suất thuếthu nhập doanh nghiệp áp dụng đối với cơ sở kinh doanh là 28%
b Ưu đãi về quyền cư trú
Nhà đầu tư nào có vốn ký thác tại Singapore từ 2,5 triệu SGD trở lên và có dự ánđầu tư được Chính phủ Singapore chấp nhận, sau 5 năm hoạt động, nhà đầu tư và giađình họ được hưởng quyền công dân Singapore Cụ thể, nếu nhà đầu tư nước ngoài đầu
tư vào công nghiệp chế biến sẽ được ngay quyền cư trú tạm thời và sau 5 năm nếu mứcđầu tư nhiều hơn sẽ được hưởng quyền cư trú vĩnh viễn
c Một số biện pháp hỗ trợ khác đối với nhà đầu tư
Hỗ trợ góp vốn tài sản
Chương trình góp vốn do Hội đồng Phát triển Kinh tế (Economic DevelopmentBoard - EDB) quản lý, quy định việc hỗ trợ vốn đối với các nhà đầu tư tiềm năng thông
Trang 14qua cổ phần đầu tư liên tục và lâu dài đối với nhà đầu tư Cổ phần của EDB thườngkhông được vượt quá 30% vốn tự có của công ty Theo chương trình này, những công tyđầu tư 100% vốn hoặc liên doanh, liên kết với Chính phủ và tư nhân Singapore trong cácngành công nghiệp mũi nhọn sẽ được EDB hỗ trợ về vốn để thành lập doanh nghiệp ởSingapore Sau khi công ty làm ăn có lãi Chính phủ sẽ bán lại cổ phần cho tư nhân trong
và ngoài nước đã hùn vốn vào công ty đó
Hỗ trợ áp dụng công nghệ mới
Chương trình áp dụng công nghệ mới (INTECH) được tiến hành bởi EDB nhằmkhuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào phát triển nguồn lực trongứng dụng công nghệ mới, công nghệ nghiên cứu và phát triển, bí quyết kỹ thuật có tínhchuyên nghiệp, thiết kế, phát triển sản phẩm mới, chế biến dịch vụ cũng như hình thànhnăng lực trong một công ty hoặc trong một nền công nghiệp INTECH hỗ trợ thông quaviệc trợ cấp tài chính chiếm 30 - 50% chi phí để đảm nhiệm các dự án khả thi Cả nguồnlực và chi phí hạ tầng cơ sở (bao gồm cả thiết bị và nhà xưởng) đều nằm trong chươngtrình này
Đối với những dự án quan trọng mà ảnh hưởng tới nền kinh tế thì mức chi phíkhuyến khích còn cao hơn, cụ thể là 90% cho chi phí nhân lực và 100% chi phí cho thiết
bị nhà xưởng
Hỗ trợ thuê người máy (Robot)
Theo chương trình này thì số tiền tài trợ cho việc thuê mướn hoặc những hiệp địnhcho thuê cầm cố tối đa là 3 triệu SGD sẽ được hoàn trả trong vòng 3 -7 năm, với lãi suất
là 3,5%/năm đối với các doanh nghiệp địa phương vừa và nhỏ và 4,5%/năm cho cácdoanh nghiệp nước ngoài và các doanh nghiệp lớn khác Chương trình hỗ trợ này là mộttrong những biện pháp của Chính phủ nhằm khuyến khích các doanh nghiệp sử dụngthiết bị hiện đại có hàm lượng công nghệ cao vào sản xuất, song đó cũng là một điểm hấpdẫn các nhà ĐTNN muốn đầu tư các thiết bị hiện đại ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh
Hỗ trợ nghiên cứu và phát triển (R&D)
Chương trình hỗ trợ R&D được tiến hành bởi Hội đồng khoa học Singapore, quyđịnh về trợ cấp tài chính cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư để tiến hànhnghiên cứu và phát triển công nghệ quan trọng Mỗi chương trình trợ cấp tài chính đóchiếm khoảng 30% - 70% chi phí trực tiếp của dự án, trong đó bao gồm cả chi phí vềnhân công, thiết bị, nguyên liệu, và chi phí sử dụng Nếu dự án này mang lại những lợi
Trang 15ích kinh tế quan trọng thì một phần chi phí của dự án sẽ được chia cho các cổ động củacông ty Điều này có tác động kích thích, khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư vào các dự
án R&D, vì nếu dự án đó không mang lại kết quả như mong muốn thì họ cũng đượcChính phủ hỗ trợ tới 30%- 70% chi phí
2.3 Kết quả triển khai thực hiện chính sách xúc tiến thu hút FDI tại Singapore
Các chính sách đã phân tích ở trên đã biến Singapore thành “ngôi sao sáng”, mộttrong những điểm thu hút đầu tư nhất trên thế giới Năm 2013, Singapore được đề cử làthành phố có đầu tư trực tiếp lớn thứ 8 thế giới và thứ nhất châu Á
2.3.1 Lượng vốn FDI vào Singapore giai đoạn 2010-2020
Nhìn chung dòng FDI đi vào Singapore tăng đáng kể, quốc gia này luôn đảm bảothuộc nhóm 10 quốc gia thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hàng đầu thế giới Bảngdưới sẽ cho ta thấy số liệu cụ thể về dòng vốn FDI vào Singapore giai đoạn 2010-2020
Bảng 2.1: Vốn FDI vào Singapore giai đoạn 2010-2020
Đơn vị: tỷ USDNăm 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020Tổng vốn 55,32 49,16 55,31 64,39 68,7 69,77 67,91 100,79 83,11 120,44 90,6
Nguồn: Tổng hợp từ Viện thống kê SingaporeDòng FDI vào Singapore lên xuống thất thường Singapore đã vượt qua khủnghoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 ngoạn mục, FDI chảy vào tăng đột phá năm 2010 sovới 2009 Sau đó giảm nhẹ năm 2011 Từ 2011 đến 2015, dòng vốn này tăng trưởng ổnđịnh, giảm một chút năm 2016 và bắt đầu vào thời kỳ tăng giảm liên tục Cụ thể:
FDI vào Singapore năm 2016 là 67,91 tỷ USD, giảm 2,67% so với năm 2015 Dùvậy, đây là năm Singapore lọt TOP 5 quốc gia và vùng lãnh thổ thu hút FDI hàng đầu thếgiới sau Mỹ, Anh, Trung Quốc và Hongkong (năm 2015, Singapore đứng thứ 7)
FDI vào Singapore 2017 là 100,79 tỷ USD, tăng 48,41% so với 2016, nhờ sự khởisắc trở lại của nền kinh tế toàn cầu, điều đã đặt ra nhiều tín hiệu tích cực cho bối cảnhthương mại thế giới nói chung Singapore đã tận dụng tối đa lợi thế này để tiếp tục thựcthi và phát huy các chính sách ưu tiên thu hút đầu tư từ ngoài nước
Con số năm 2018 là 83,11 tỷ USD, giảm 17,54% Trái với ước tính 110 tỷ USD củaUNCTAD FDI dự tính tích cực do Singapore tham gia vào các nền kinh tế đang pháttriển Đông Nam Á, đồng thời là trung tâm khu vực hàng nghìn công ty đa quốc gia
Trang 16Năm 2019 là 120,44 tỷ USD, tăng 44,91% so với 2018 do trong năm, việc xử lý cácgiấy phép xây dựng đã được tạo thuận lợi
Năm 2020 là 90,6 tỷ USD, giảm 24,77%, chủ yếu do tình cảnh tiêu cực của đại dịchCOVID-19 So với toàn cầu thì FDI Singapore có sức sống bởi sụt giảm nhẹ đáng kể sovới mức giảm toàn cầu là 42%, xuống 859 tỷ USD từ 1,5 nghìn tỷ USD năm 2019
2.3.2 Cơ cấu vốn FDI vào Singapore giai đoạn 2010-2020
a Theo đối tác đầu tư:
Các nhà đầu tư chính ở Singapore giai đoạn này là Mỹ, Quần đảo Cayman, Quầnđảo Virgin thuộc Anh, Anh, Nhật Bản và Hà Lan Tuy nhiên lượng đầu tư vào Singaporecủa Hà Lan gần đây giảm mạnh, tụt sau Bermuda, Hồng Kông, Thụy Sĩ, Canada,Luxembourg
Bảng 2.2: FDI vào Singapore theo các đối tác đầu tư chính
Đơn vị: tỷ SGDNăm Tổng
Trên đây là các nhà đầu tư chiến lược mà Singapore luôn hướng tới trong thu hútFDI, Singapore muốn không chỉ tranh thủ nguồn vốn đầu tư mà còn tranh thủ được cảcác công nghệ tiên tiến, kỹ thuật hiện đại và trình độ quản lý cao của họ
Trang 17Biểu đồ 2.1: FDI vào Singapore theo khu vực năm 2020
Nguồn: Tổng hợp từ Viện thống kê SingaporeTại Châu Á, Nhật Bản luôn dẫn đầu FDI vào Singapore Năm 2010, chiếm 33,3%FDI vào Singapore của khu vực Châu Á, đến 2020, con số này là 32,4% Điều này đạtđược do mối quan hệ song phương bền chặt giữa hai nước Đứng thứ hai là HongKongvới số vốn đầu tư khiêm tốn hơn so với Nhật Bản là 98,7 tỷ SGD năm 2020
Châu Âu luôn đầu tư nhiều nhất vào Singapore với Anh và Hà Lan là hai nhà đầu tưtruyền thống 2010, Anh chiếm 21% tổng FDI vào Singapore, sau Hà Lan là 26,6% Anhsau Hà Lan đến tận 2018, khi FDI từ Hà Lan đột ngột giảm vào 2019 và 2020 2020, FDI
từ Anh đã tăng và chiếm đến 24,5% khu vực Châu Á, trong khi con số của Hà Lan chỉcòn 8% Các vị trí tiếp theo là Thụy Sỹ, Na-uy, Đức và cuối cùng là Pháp
Ở Trung, Nam Mỹ và Caribe, FDI từ Quần đảo Cayman và Quần đảo Virgin thuộcAnh cao vượt trội Năm 2020, Quần đảo Cayman đầu tư 246,72 tỷ SGD, chiếm 46% FDItoàn khu vực vào Singapore, Quần đảo Virgin là 163,58 tỷ SGD, chiếm 30,6% Mỹ lànhà đầu tư lớn nhất Bắc Mỹ Kỷ lục năm 2020, FDI từ Mỹ chiếm 24,7% FDI vàoSingapore với 528,74 tỷ SGD, tăng vụt so với đầu giai đoạn là 67,2 tỷ SGD
b Theo lĩnh vực đầu tư:
Thu hút FDI của Singapore gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế Từ 1965 đến
1970, Singapore thực hiện công nghiệp hóa ưu tiên xuất khẩu nên chú trọng tới thu hútFDI vào các ngành công nghiệp sản xuất Cuối thập niên 80, với sự chuyển hướng ưu tiên
đa dạng hóa hoạt động công nghiệp và dịch vụ, FDI vào ngành dịch vụ, tài chính tănglên, năm 1990 đã chiếm 33,9% tổng vốn FDI, năm 1995 là 37,3%
Hiện nay, giai đoạn 2010-2020, FDI vào ngành dịch vụ tài chính đã tăng lên nhanhchóng và đã vượt xa ngành sản xuất, vươn lên vị trí dẫn đầu
Biểu đồ 2.2: Đầu tư trực tiếp vào Singapore theo ngành