1. Trang chủ
  2. » Tất cả

TIỂU LUẬN KINH TẾ ĐẦU TƯ KINH NGHIỆM KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN LIÊN KẾT GIỮA DOANH NGHIỆP FDI VÀ DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC CỦA TRUNG QUỐC VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 2020

36 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận Kinh tế Đầu tư Kinh nghiệm Khuyến khích Phát triển Liên kết Giữa Doanh Nghiệp FDI Và Doanh Nghiệp Trong Nước Của Trung Quốc Và Bài Học Cho Việt Nam Giai Đoạn 2010-2020
Tác giả Nhóm 19, Lớp tín chỉ: KTE311(GD2-HK2-2122).7
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Việt Hoa, ThS. Trần Thanh Phương
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh tế và Quản trị Kinh Doanh
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 686,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LIÊN KẾT GIỮA DOANH NGHIỆP FDI VÀ DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC (6)
    • 1.1. Một vài nét cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài (6)
      • 1.1.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (6)
      • 1.1.2. Vai trò của thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (6)
    • 1.2. Tổng quan về liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước (10)
      • 1.2.1. Hình thức liên kết (10)
      • 1.2.2. Quá trình hình thành liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước (11)
  • PHẦN 2: KINH NGHIỆM KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN LIÊN KẾT GIỮA DOANH NGHIỆP FDI VÀ DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC CỦA TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN 2010-2020 (14)
    • 2.1 Thực trạng việc phát triển liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước của Trung Quốc giai đoạn 2010-2020 (14)
      • 2.1.1. Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào thị trường Trung Quốc (14)
      • 2.1.2. Chính sách thu hút vốn FDI vào Trung Quốc (15)
      • 2.1.3. Kết quả thu hút vốn FDI của Trung Quốc (19)
    • 2.2. Các nhân tố ảnh hưởng liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước của Trung Quốc (20)
    • 2.3. Đánh giá chung về việc phát triển liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp (21)
      • 2.3.1. Mặt tích cực (21)
      • 2.3.2. Mặt hạn chế (22)
    • 2.4. Bài học của Trung Quốc trong việc phát triển liên kết giữa doanh nghiệp FDI và (23)
  • PHẦN 3: BÀI HỌC CHO VIỆT NAM (25)
    • 3.1. Vấn đề phát triển liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước của Việt Nam hiện nay (25)
      • 3.1.1. Thực trạng việc phát triển liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp (25)
      • 3.1.2. Quan điểm và mục tiêu phát triển Việt Nam đến 2025 (26)
      • 3.1.3. Định hướng thu hút vốn đầu tư trong một số ngành (27)
    • 3.3. Đánh giá chung về việc phát triển liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam (29)
      • 3.3.1. Mặt tích cực (29)
      • 3.3.2. Mặt hạn chế (30)
    • 3.4. Bài học cho Việt Nam (31)
      • 3.4.1. Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước trong ổn định kinh tế, chính trị và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách, thể chế về thu hút FDI (31)
      • 3.4.2. Chú trọng và tạo điều kiện đối với doanh nghiệp FDI có khả năng liên kết và tạo ra tính lan tỏa cao (32)
      • 3.4.3 Nâng cao chất lượng nguồn lực (33)
      • 3.4.4 Giải pháp về kết nối doanh nghiệp nhằm nâng cao tính cạnh tranh của môi trường đầu tư (33)
  • KẾT LUẬN (35)

Nội dung

DANH SÁCH THÀNH VIÊN STT Họ và tên MSV Đánh giá hoàn thành 1 Phạm Việt Anh 2014120016 100% 2 Đinh Ngọc Ánh 2011110031 100% 3 Nguyễn Phúc Mỹ Duyên 2014120036 100% 4 Lục Bảo Trân 2014120149 100% 5 Nguyễn Công Sơn 2011110208 100% MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 3 PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LIÊN KẾT GIỮA DOANH NGHIỆP FDI VÀ DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC 4 1.1. Một vài nét cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài 5 1.1.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài 5 1.1.2. Vai trò của thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 5 1.2. Tổng quan về liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước 9 1.2.1. Hình thức liên kết 9 1.2.2. Quá trình hình thành liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước 10 PHẦN 2: KINH NGHIỆM KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN LIÊN KẾT GIỮA DOANH NGHIỆP FDI VÀ DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC CỦA TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN 20102020 13 2.1 Thực trạng việc phát triển liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước của Trung Quốc giai đoạn 20102020 13 2.1.1. Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào thị trường Trung Quốc 13 2.1.2. Chính sách thu hút vốn FDI vào Trung Quốc 14 2.1.3. Kết quả thu hút vốn FDI của Trung Quốc 18 2.2. Các nhân tố ảnh hưởng liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước của Trung Quốc 19 2.3. Đánh giá chung về việc phát triển liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Trung Quốc 20 2.3.1. Mặt tích cực 20 2.3.2. Mặt hạn chế 21 2.4. Bài học của Trung Quốc trong việc phát triển liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước 22 PHẦN 3: BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 24 3.1. Vấn đề phát triển liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước của Việt Nam hiện nay 24 3.1.1. Thực trạng việc phát triển liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước của Việt Nam hiện nay 24 3.1.2. Quan điểm và mục tiêu phát triển Việt Nam đến 2025 25 3.1.3. Định hướng thu hút vốn đầu tư trong một số ngành 26 3.2. Các nhân tố ảnh hưởng liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước của Việt Nam 26 3.3. Đánh giá chung về việc phát triển liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam 28 3.3.1. Mặt tích cực 28 3.3.2. Mặt hạn chế 29 3.4. Bài học cho Việt Nam: 30 3.4.1. Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước trong ổn định kinh tế, chính trị và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách, thể chế về thu hút FDI 30 3.4.2. Chú trọng và tạo điều kiện đối với doanh nghiệp FDI có khả năng liên kết và tạo ra tính lan tỏa cao 31 3.4.3 Nâng cao chất lượng nguồn lực: 32 3.4.4 Giải pháp về kết nối doanh nghiệp nhằm nâng cao tính cạnh tranh của môi trường đầu tư: 32 KẾT LUẬN 34 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 35 LỜI MỞ ĐẦU Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng khẳng định vị trí trong cơ cấu nền kinh tế Việt Nam khi mức đóng góp vào GDP cả nước ngày càng tăng mạnh từ 9,3% năm 1995 lên khoảng 20% trong năm 2020. Suốt 30 năm qua, doanh nghiệp (DN) đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) luôn là nguồn lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế Việt Nam, tạo thêm việc làm, tăng giá trị sản xuất công nghiệp và đẩy mạnh xuất khẩu. Mặc dù đạt được nhiều thành công nhưng một trong những mục tiêu chính đề ra khi thu hút vốn FDI là hiệu ứng lan tỏa về công nghệ và năng suất lao động, kinh nghiệm trong quản trị từ các đối tác nước ngoài đến các doanh nghiệp trong nước vẫn chưa đạt như kỳ vọng. Mong muốn khi thu hút FDI sẽ tạo ra mối liên kết bền chặt, hỗ trợ khối DN trong nước cùng phát triển, tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu và nâng cao giá trị cho hàng hóa Việt Nam lại vẫn chưa đạt được. Điều này xuất phát từ việc liên kết giữa khu vực doanh nghiệp trong nước với khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn rất hạn chế. Vấn đề đặt ra với Việt Nam hiện nay là nâng cao chất lượng dòng vốn FDI và tăng cường các mối liên kết FDI với doanh nghiệp nội địa nhằm tạo ra giá trị nội tại, đưa doanh nghiệp trong nước trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị toàn cầu, để thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững. Có như vậy Việt Nam mới có thể rút ngắn được khoảng cách tụt hậu so với các nước và tránh được bẫy thu nhập trung bình mà nhiều quốc gia gặp phải. Để đạt được hiệu quả trên, chúng em xin chọn đề tài: “Kinh nghiệm khuyến khích phát triển liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước của Trung Quốc và bài học cho Việt Nam giai đoạn 2010 2020” cho bài tiểu luận kinh tế đầu tư của nhóm. Do những hạn chế nhất định về phần kiến thức sẽ khiến em không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được sự nhận xét và góp ý của cô. Em xin chân thành cảm ơn PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LIÊN KẾT GIỮA DOANH NGHIỆP FDI VÀ DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC 1.1. Một vài nét cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.1.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo IMF: FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp. Theo OECD: Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: • Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư • Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có • Tham gia vào một doanh nghiệp mới • Cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm) → FDI là một hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó. 1.1.2. Vai trò của thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài a. Đối với nước chủ đầu tư Các tác động tích cực Đầu tư trực tiếp nước ngoài đem lại lợi nhuận cao hơn ở trong nước là vấn đề quan trọng hàng đầu đối với các nhà đầu tư. Việc đầu tư ra nước ngoài làm cho yêu cầu tương đối về lao động ở trong nước giảm hay năng suất giảm. Ngược lại, tổng lợi nhuận thu được từ đầu tư ra nước ngoài tăng, lợi suất đối với yếu tố lao động giảm và yếu tố tư bản tăng. Như vậy, thu nhập từ việc đầu tư ở nước ngoài có sự tái phân phối thu nhập quốc nội từ lao động thành tư bản. Đầu tư trực tiếp nước ngoài kích thích việc xuất khẩu trực tiếp thiết bị máy móc. Đặc biệt là khi đầu tư vào các nước đang phát triển có nền công nghiệp cơ khí lạc hậu hoặc khi các công ty mẹ cung cấp cho các công ty con ở nước ngoài máy móc thiết bị, linh kiện, phụ tùng và nguyên liệu. Nếu công ty của nước đầu tư muốn chiếm lĩnh thị trường thì đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động vào việc xuất khẩu các linh kiện tương quan, các sản phẩm tương quan để tăng tổng kim ngạch xuất khẩu. Đối với nhập khẩu, nếu các nước đầu tư đầu tư trực tiếp vào ngành khai thác của nước chủ nhà, họ có được nguyên liệu giá rẻ. Trong điều kiện nhập khẩu ngang nhau, họ có thể giảm được giá so với trước đây nhập từ nước khác. Nếu sử dụng giá lao động rẻ của nước ngoài để sản xuất linh kiện rồi xuất về trong nước để sản xuất thành phẩm, họ có thể giảm được giá thành phẩm mà trước đây họ phải nhập khẩu. Trong dài hạn, việc đầu tư ra nước ngoài sẽ đem lại ảnh hưởng tích cực cho cán cân thanh toán quốc tế của nước đầu tư. Đó là do việc xuất khẩu thiết bị máy móc, nguyên vật liệu, … cộng với một phần lợi nhuận được chuyển về nước đã đem ngoại tệ trở lại cho nước đầu tư. Các chuyên gia ước tính thời gian hoàn vốn cho một dòng tư bản trung bình là từ 5 đến 10 năm. Các tác động tiêu cực Trước mắt, do sự lưu động vốn ra nước ngoài mà việc đầu tư trực tiếp này lại gây ra ảnh hưởng tiêu cực tạm thời cho cán cân thanh toán quốc tế. Nguyên nhân là do trong năm có đầu tư ra nước ngoài, chi tiêu bên ngoài của nước đầu tư tăng lên và gây ra sự thâm hụt tạm thời trong cán cân thanh toán ngân sách. Vì vậy, nó khiến một số ngành trong nước sẽ không được đầu tư đầy đủ. Việc xuất khẩu tư bản có nguy cơ tạo ra thất nghiệp ở nước đầu tư. Hãy xem xét một trong những nguyên nhân mà các nhà tư bản đầu tư ra nước ngoài là nhằm sử dụng lao động không lành nghề, giá rẻ của những nước đang phát triển. Điều này tất yếu làm tăng thất nghiệp cơ cấu trong số lao động không lành nghề của nước đầu tư. Thêm vào đó, nước sở tại lại có thể xuất khẩu sang nước đầu tư hoặc thay cho việc nhập khẩu trước đây từ nước đầu tư, họ tự sản xuất được hàng hoá cho mình càng làm cho nguy cơ thất nghiệp này thêm trầm trọng. Xu hướng giảm mức thuê mướn nhân công ở nước chủ đầu tư và tăng mức thuê công nhân ở nước sở tại dẫn đến sự đối kháng về lao động ở nước đầu tư và quyền lợi lao động ở nước chủ nhà. b. Đối với nước tiếp nhận đầu tư Tác động tích cực FDI bổ sung vốn cho nền kinh tế: FDI không chỉ bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển mà còn là một luồng vốn ổn định hơn so với các luồng vốn đầu tư quốc tế khác, bởi FDI dựa trên quan điểm dài hạn về thị trường, về triển vọng tăng trưởng và không tạo ra nợ cho chính phủ nước tiếp nhận đầu tư, do vậy, ít có khuynh hướng thay đổi khi có tình huống bất lợi. FDI cung cấp công nghệ mới cho sự phát triển: Có thể nói công nghệ là yếu tố quyết định tốc độ tăng trưởng và sự phát triển của mọi quốc gia, đối với các nước đang phát triển thì vai trò này càng được khẳng định rõ. Bởi vậy, tăng cường khả năng công nghệ luôn là một trong những mục tiêu ưu tiên phát triển hàng đầu của mọi quốc gia. Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu này đòi hỏi không chỉ cần nhiều vốn mà còn phải có một trình độ phát triển nhất định của khoa học – kỹ thuật. Đầu tư nước ngoài (đặc biệt là FDI) được coi là nguồn quan trọng để phát triển khả năng công nghệ của nước chủ nhà. Vai trò này được thể hiện qua hai khía cạnh chính là chuyển giao công nghệ sẵn có từ bên ngoài vào và sự phát triển khả năng công nghệ của các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng của nước chủ nhà. Đây là những mục tiêu quan trọng được nước chủ nhà mong đợi từ các nhà đầu tư nước ngoài. Chuyển giao công nghệ thông qua con đường FDI thường được thực hiện chủ yếu bởi các TNC (công ty xuyên quốc gia), dưới các hình thức chuyển giao trong nội bộ giữa các chi nhánh của một TNC và chuyển giao giữa các chi nhánh của các TNC. Phần lớn công nghệ được chuyển giao giữa các chi nhánh của các TNC sang nước chủ nhà, nhất là các nước đang phát triển được thông qua các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh mà bên nước ngoài nắm phần lớn cổ phần dưới các hạng mục chủ yếu như tiến bộ công nghệ, sản phẩm công nghệ, công nghệ thiết kế và xây dựng, kỹ thuật kiểm tra chất lượng, công nghệ quản lý, công nghệ marketing. FDI còn giúp phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm. Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu của nhà đầu tư nước ngoài là thu được lợi nhuận tối đa, củng cố chỗ đứng và duy trì thế cạnh tranh trên thị trường thế giới. Do đó, họ đặc biệt quan tâm đến việc tận dụng nguồn lao động rẻ ở các nước tiếp nhận đầu tư. Số lao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp FDI ngày càng tăng nhanh ở các nước đang phát triển. Ngoài ra, các hoạt động cung ứng dịch vụ và gia công cho các dự án FDI cũng tạo ra thêm nhiều cơ hội việc làm. Trên thực tế, ở các nước đang phát triển, các dự án FDI sử dụng nhiều lao động đào tạo nhiều việc làm cho phụ nữ trẻ. Điều này không chỉ mang lại cho họ lợi ích về thu nhập cao mà còn góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng phụ nữ ở các nước này. FDI cũng có tác động tích cực trong phát triển nguồn nhân lực của nước chủ nhà thông qua các dự án đầu tư vào lĩnh vực giáo dục đào tạo. Các cá nhân làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có cơ hội học hỏi, nâng cao trình độ bản thân khi tiếp cận với công nghệ và kỹ năng quản lý tiên tiến. Các doanh nghiệp FDI cũng có thể tác động tích cực đến việc cải thiện nguồn nhân lực ở các công ty khác mà họ có quan hệ, đặc biệt là các công ty bạn hàng. Những cải thiện về nguồn nhân lực ở các nước tiếp nhận đầu tư còn có thể đạt hiệu quả lớn hơn khi những người làm việc trong các doanh nghiệp FDI chuyển sang làm việc cho các doanh nghiệp trong nước hoặc tự mình thành lập doanh nghiệp mới. Đầu tư nước ngoài còn có vai trò đáng kể đối với tăng cường sức khoẻ và dinh dưỡng cho người dân nước chủ nhà thông qua các dự án đầu tư vào ngành y tế, dược phẩm, công nghệ sinh học và chế biến thực phẩm. FDI giúp mở rộng thị trường và thúc đẩy xuất khẩu: Xuất khẩu là yếu tố quan trọng của tăng trưởng. Nhờ có đẩy mạnh xuất khẩu, những lợi thế so sánh của yếu tố sản xuất ở nước chủ nhà được khai thác có hiệu quả hơn trong phân công lao động quốc tế. Các nước đang phát triển tuy có khả năng sản xuất với mức chi phí có thể cạnh tranh được nhưng vẫn rất khó khăn trong việc thâm nhập thị trường quốc tế. Bởi thế, khuyến khích đầu tư nước ngoài hướng vào xuất khẩu luôn là ưu đãi đặc biệt trong chính sách thu hút FDI của các nước này. Thông qua FDI các nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếp cận với thị trường thế giới, vì hầu hết các hoạt động FDI đều do các TNC thực hiện. Ở tất cả các nước đang phát triển, các TNC đều đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu do vị thế và uy tín của chúng trong hệ thống sản xuất và thương mại quốc tế. Đối với các TNC, xuất khẩu cũng đem lại nhiều lợi ích cho họ thông qua sử dụng các yếu tố đầu vào rẻ, khai thác được hiệu quả theo quy mô sản xuất (không bị hạn chế bởi quy mô thị trường của nước chủ nhà) và thực hiện chuyên môn hoá sâu từng chi tiết sản phẩm ở những nơi có lợi thế nhất, sau đó lắp ráp thành phẩm. Bên cạnh đó, FDI thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ là đòi hỏi của bản thân sự phát triển nội tại nền kinh tế mà còn là đòi hỏi của xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay. FDI là một bộ phận quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngọai, thông qua đó các quốc gia sẽ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình liên kết kinh tế giữa các nước trên thế giới, đòi hỏi phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với sự phân công lao động quốc tế. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia phù hợp với trình độ phát triển chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động FDI. Ngược lại, chính FDI lại góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước chủ nhà, vì nó làm xuất hiện nhiều lĩnh vực và ngành nghề kinh tế mới và góp phần nâng cao nhanh chóng trình độ kỹ thuật và công nghệ ở nhiều ngành kinh tế, phát triển năng suất lao động của các ngành này. Mặt khác, dưới tác động của FDI, một số ngành nghề được kích thích phát triển, nhưng cũng có một số ngành nghề bị mai một và dần bị xoá bỏ. Tác động tiêu cực Về lâu dài, việc các công ty xuyên quốc gia (TNCs) đem vốn đến đầu tư và hàng năm lại chuyển lợi nhuận về nước sẽ tạo ra gánh nặng ngoại tệ đối với các nước này, đặc biệt là sau khi TNCs thu hồi vốn. Vấn đề việc làm không phải lúc nào cũng đi theo chiều hướng mong đợi của chúng ta, những nước tiếp nhận vốn đầu tư. Những năm gần đây, do sự phát triển của khoa học công nghệ, lao động không lành nghề trở nên có hiệu suất thấp. Thực tế cho thấy, các công ty có vốn FDI nhìn chung ít sử dụng lao động tại chỗ (trừ những doanh nghiệp gia công xuất khẩu hoặc doanh nghiệp chỉ sử dụng công nhân với lao động giản đơn, dễ đào tạo) và để hạ giá thành sản phẩm, họ đã sử dụng phương thức sản xuất tập trung tư bản nhiều hơn. Nó có tác động làm giảm việc làm, đi ngược với chiến lược việc làm của các nước đang phát triển. Các ngành công nghiệp mới mẻ, hiện đại của các nước công nghiệp phát triển đã có điều kiện xuất hiện ở những quốc gia này song chủ yếu lại bị các nước đầu tư kiểm soát, kết cấu kinh tế thì bị phụ thuộc vào đối tượng ngành hàng sản xuất mà nước đầu tư quyết định kinh doanh. Không chỉ có vậy, sự dịch chuyển những kỹ thuật công nghệ kém tiên tiến, tiêu hao nhiều năng lượng từ các nước đầu tư đã gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức, … 1.2. Tổng quan về liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước 1.2.1. Hình thức liên kết Trên thế giới đã có khá nhiều nghiên cứu về tác động lan tỏa của FDI tới các doanh nghiệp nội địa và các nghiên cứu này thường sử dụng phương pháp phân tích định lượng để kiểm định và lượng hóa các tác động nói trên. Nhiều tài liệu nghiên cứu đã chỉ ra tác động tràn của FDI theo hai kênh chính: (1) Tác động tràn theo chiều ngang, (2) Ảnh hưởng lan tỏa theo chiều dọc (bao gồm các mối liên kết xuôi chiều và lan tỏa ngược cung); cụ thể là: Tác động tràn của FDI theo chiều ngang (nội bộ ngành) (biến Horizontal) được định nghĩa là những tác động có lợi của FDI tới các doanh nghiệp trong nước hoạt động trong cùng ngành, cùng lĩnh vực. Những tác động này có thể làm thay đổi công nghệ, tăng cường khả năng cạnh tranh, cải thiện nguồn lực hoặc thay đổi kỹ năng quản trị trong các nước (Javorcik, 2004; Kokko, 1994; Blomstrom Sjoholm, 1999; Keller Yearple, 2003). Đôi khi các doanh nghiệp nội địa cạnh tranh với các doanh nghiệp đa quốc gia, do những bất lợi về công nghệ, các doanh nghiệp này không thể cạnh tranh với các doanh nghiệp đa quốc gia nên không thể xảy ra ảnh hưởng lan tỏa. Điều này hoàn toàn có thể xảy ra do việc bảo hộ tri thức, bí mật thương mại, chi trả tiền lương cao hơn đối với những ngành mà quốc gia nhận đầu tư bị hạn chế về khả năng bắt chước công nghệ. Ảnh hưởng lan tỏa theo chiều dọc hay chính là những tác động liên ngành bao gồm các mối liên kết ngược và xuôi chiều. Các mối liên kết ngược (Backward Linkages) xảy ra khi các doanh nghiệp FDI mua hàng hóa và dịch vụ từ doanh nghiệp trong nước trong các ngành công nghiệp thượng nguồn. Những ảnh hưởng lan tỏa như vậy xảy ra thông qua chuyển giao tri thức trực tiếp từ các khách hàng nước ngoài tới nhà cung cấp bản địa, những yêu cầu cao hơn về chất lượng sản phẩm và cung cấp hàng hóa đúng thời hạn mà các doanh nghiệp đa quốc gia đặt ra khiến cho các nhà cung cấp nội địa có động cơ cập nhật công nghệ và quản lý sản xuất tốt hơn (Javorcik, 2004; Schoors van de Tol, 2002; Blalock Gertler, 2008). Các mối liên kết xuôi (Forward Linkages) được tạo ra khi các doanh nghiệp FDI đầu tư cho các doanh nghiệp nội địa nhằm cải thiện công nghệ, giảm chi phí đầu vào trung gian cho các sản phẩm. Tuy nhiên, các doanh nghiệp FDI có thể đem đến những khó khăn cho doanh nghiệp nội địa khi họ cũng cung cấp các nguồn đầu vào tương tự như các doanh nghiệp nội địa, do vậy, cũng có thể dẫn đến các kết quả nghiên cứu trái chiều trong các nghiên cứu về từng ngành, lĩnh vực, vùng mà các tác giả Haddad và Harrison (1993), Kokko và cộng sự (1996) hay Caves (1974), Globerman (1979) đã chỉ ra. 1.2.2. Quá trình hình thành liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước Các doanh nghiệp có thể cải thiện hiệu suất của họ thông qua các hoạt động đổi mới. Các hoạt động đổi mới có thể diễn ra dưới các hình thức giới thiệu sản phẩm mới, phương thức sản xuất tốt hơn và các kỹ thuật tổ chức mới (Schumpeter, 1912). Sự đổi mới có thể thay đổi hiệu suất doanh nghiệp thông qua hai kênh: (1) Đầu tiên, sự đổi mới làm tăng doanh số và thị phần bằng các sản phẩm khác biệt so với các đối thủ (Wang Wei, 2005); (2) thứ hai, đổi mới cũng thay đổi công nghệ sản xuất và do đó làm giảm chi phí sản xuất một sản phẩm tăng thêm (Peters, 2008). Bằng cách thúc đẩy tăng doanh số, tăng thị phần và giảm chi phí, sự đổi mới có tác động tích cực đến hiệu suất, hiệu quả của doanh nghiệp về sức mạnh thị trường và biên lợi nhuận hoạt động (Dhanora và cộng sự, 2018). Do đó, sự đổi mới công nghệ có ảnh hưởng đến sức cạnh tranh hiện tại của một doanh nghiệp và một ngành sản phẩm. Đổi mới có thể đi cùng với đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment – FDI). Không chỉ đơn thuần là đầu tư dài hạn liên quan đến việc bơm vốn nước ngoài vào doanh nghiệp, mà FDI có thể giúp các doanh nghiệp trong nước bắt kịp với công nghệ quốc tế. Thông qua việc thiết lập hoạt động mới, sáp nhập và mua lại, liên doanh với đối tác địa phương, FDI có thể có tác động tích cực qua các ngoại tác hoặc tác động lan tỏa về năng suất. Tiền đề cơ bản hỗ trợ hiệu quả tích cực này là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có kiến thức và công nghệ vượt trội có thể được chuyển giao thông qua các tương tác của họ (liên kết ngược và liên kết xuôi) với các doanh nghiệp trong nước (Markusen Venables, 1999).

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG VIỆN KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

-*** -

TIỂU LUẬN KINH TẾ ĐẦU TƯ KINH NGHIỆM KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN LIÊN KẾT GIỮA DOANH NGHIỆP FDI VÀ DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC

CỦA TRUNG QUỐC VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 4

PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LIÊN KẾT GIỮA DOANH NGHIỆP FDI VÀ DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC 5

1.1 Một vài nét cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài 5

1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài 5

1.1.2 Vai trò của thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 5

1.2 Tổng quan về liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước 9

1.2.1 Hình thức liên kết 9

1.2.2 Quá trình hình thành liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước 10

PHẦN 2: KINH NGHIỆM KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN LIÊN KẾT GIỮA DOANH NGHIỆP FDI VÀ DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC CỦA TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN 2010-2020 13

2.1 Thực trạng việc phát triển liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước của Trung Quốc giai đoạn 2010-2020 13

2.1.1 Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào thị trường Trung Quốc 13

2.1.2 Chính sách thu hút vốn FDI vào Trung Quốc 14

2.1.3 Kết quả thu hút vốn FDI của Trung Quốc 18

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước của Trung Quốc 19

2.3 Đánh giá chung về việc phát triển liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Trung Quốc 20

2.3.1 Mặt tích cực 20

2.3.2 Mặt hạn chế 21

2.4 Bài học của Trung Quốc trong việc phát triển liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước 22

PHẦN 3: BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 24

3.1 Vấn đề phát triển liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước của Việt Nam hiện nay 24

3.1.1 Thực trạng việc phát triển liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước của Việt Nam hiện nay 24

3.1.2 Quan điểm và mục tiêu phát triển Việt Nam đến 2025 25

3.1.3 Định hướng thu hút vốn đầu tư trong một số ngành 26

Trang 4

3.2 Các nhân tố ảnh hưởng liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước

của Việt Nam 26

3.3 Đánh giá chung về việc phát triển liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam 28

3.3.1 Mặt tích cực 28

3.3.2 Mặt hạn chế 29

3.4 Bài học cho Việt Nam: 30

3.4.1 Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước trong ổn định kinh tế, chính trị và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách, thể chế về thu hút FDI 30

3.4.2 Chú trọng và tạo điều kiện đối với doanh nghiệp FDI có khả năng liên kết và tạo ra tính lan tỏa cao 31

3.4.3 Nâng cao chất lượng nguồn lực: 32

3.4.4 Giải pháp về kết nối doanh nghiệp nhằm nâng cao tính cạnh tranh của môi trường đầu tư: 32

KẾT LUẬN 34

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 35

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng khẳng định vị trí trong cơ cấu nền kinh tế Việt Nam khi mức đóng góp vào GDP cả nước ngày càng tăng mạnh từ 9,3% năm 1995 lên khoảng 20% trong năm 2020 Suốt 30 năm qua, doanh nghiệp (DN) đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) luôn là nguồn lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế Việt Nam, tạo thêm việc làm, tăng giá trị sản xuất công nghiệp và đẩy mạnh xuất khẩu Mặc dù đạt được nhiều thành công nhưng một trong những mục tiêu chính đề ra khi thu hút vốn FDI là hiệu ứng lan tỏa về công nghệ và năng suất lao động, kinh nghiệm trong quản trị từ các đối tác nước ngoài đến các doanh nghiệp trong nước vẫn chưa đạt như kỳ vọng Mong muốn khi thu hút FDI sẽ tạo ra mối liên kết bền chặt, hỗ trợ khối DN trong nước cùng phát triển, tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu và nâng cao giá trị cho hàng hóa Việt Nam lại vẫn chưa đạt được Điều này xuất phát từ việc liên kết giữa khu vực doanh nghiệp trong nước với khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn rất hạn chế Vấn đề đặt ra với Việt Nam hiện nay là nâng cao chất lượng dòng vốn FDI và tăng cường các mối liên kết FDI với doanh nghiệp nội địa nhằm tạo ra giá trị nội tại, đưa doanh nghiệp trong nước trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị toàn cầu, để thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững Có như vậy Việt Nam mới có thể rút ngắn được khoảng cách tụt hậu so với các nước và tránh được bẫy thu nhập trung bình mà nhiều quốc gia gặp phải

Để đạt được hiệu quả trên, chúng em xin chọn đề tài: “Kinh nghiệm khuyến khích phát

triển liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước của Trung Quốc và bài học cho Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020” cho bài tiểu luận kinh tế đầu tư của nhóm Do

những hạn chế nhất định về phần kiến thức sẽ khiến em không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được sự nhận xét và góp ý của cô Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 6

PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LIÊN KẾT GIỮA DOANH

NGHIỆP FDI VÀ DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC

1.1 Một vài nét cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài

Theo IMF: FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được lợi ích lâu dài

trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp

Theo OECD: Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối

quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách:

• Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư

• Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có

• Tham gia vào một doanh nghiệp mới

• Cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm)

→ FDI là một hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước đầu tư toàn

bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó

1.1.2 Vai trò của thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

a Đối với nước chủ đầu tư

- Các tác động tích cực

Đầu tư trực tiếp nước ngoài đem lại lợi nhuận cao hơn ở trong nước là vấn đề quan trọng hàng đầu đối với các nhà đầu tư Việc đầu tư ra nước ngoài làm cho yêu cầu tương đối về lao động ở trong nước giảm hay năng suất giảm Ngược lại, tổng lợi nhuận thu được từ đầu

tư ra nước ngoài tăng, lợi suất đối với yếu tố lao động giảm và yếu tố tư bản tăng Như vậy, thu nhập từ việc đầu tư ở nước ngoài có sự tái phân phối thu nhập quốc nội từ lao động thành

tư bản

Đầu tư trực tiếp nước ngoài kích thích việc xuất khẩu trực tiếp thiết bị máy móc Đặc biệt là khi đầu tư vào các nước đang phát triển có nền công nghiệp cơ khí lạc hậu hoặc khi các công ty mẹ cung cấp cho các công ty con ở nước ngoài máy móc thiết bị, linh kiện, phụ tùng và nguyên liệu Nếu công ty của nước đầu tư muốn chiếm lĩnh thị trường thì đầu tư trực

Trang 7

tiếp nước ngoài tác động vào việc xuất khẩu các linh kiện tương quan, các sản phẩm tương quan để tăng tổng kim ngạch xuất khẩu

Đối với nhập khẩu, nếu các nước đầu tư đầu tư trực tiếp vào ngành khai thác của nước chủ nhà, họ có được nguyên liệu giá rẻ Trong điều kiện nhập khẩu ngang nhau, họ có thể giảm được giá so với trước đây nhập từ nước khác Nếu sử dụng giá lao động rẻ của nước ngoài để sản xuất linh kiện rồi xuất về trong nước để sản xuất thành phẩm, họ có thể giảm được giá thành phẩm mà trước đây họ phải nhập khẩu

Trong dài hạn, việc đầu tư ra nước ngoài sẽ đem lại ảnh hưởng tích cực cho cán cân thanh toán quốc tế của nước đầu tư Đó là do việc xuất khẩu thiết bị máy móc, nguyên vật liệu, … cộng với một phần lợi nhuận được chuyển về nước đã đem ngoại tệ trở lại cho nước đầu tư Các chuyên gia ước tính thời gian hoàn vốn cho một dòng tư bản trung bình là từ 5 đến 10 năm

- Các tác động tiêu cực

Trước mắt, do sự lưu động vốn ra nước ngoài mà việc đầu tư trực tiếp này lại gây ra ảnh hưởng tiêu cực tạm thời cho cán cân thanh toán quốc tế Nguyên nhân là do trong năm có đầu tư ra nước ngoài, chi tiêu bên ngoài của nước đầu tư tăng lên và gây ra sự thâm hụt tạm thời trong cán cân thanh toán ngân sách Vì vậy, nó khiến một số ngành trong nước sẽ không được đầu tư đầy đủ

Việc xuất khẩu tư bản có nguy cơ tạo ra thất nghiệp ở nước đầu tư Hãy xem xét một trong những nguyên nhân mà các nhà tư bản đầu tư ra nước ngoài là nhằm sử dụng lao động không lành nghề, giá rẻ của những nước đang phát triển Điều này tất yếu làm tăng thất nghiệp cơ cấu trong số lao động không lành nghề của nước đầu tư Thêm vào đó, nước sở tại lại có thể xuất khẩu sang nước đầu tư hoặc thay cho việc nhập khẩu trước đây từ nước đầu tư, họ tự sản xuất được hàng hoá cho mình càng làm cho nguy cơ thất nghiệp này thêm trầm trọng Xu hướng giảm mức thuê mướn nhân công ở nước chủ đầu tư và tăng mức thuê công nhân ở nước sở tại dẫn đến sự đối kháng về lao động ở nước đầu tư và quyền lợi lao động ở nước chủ nhà

b Đối với nước tiếp nhận đầu tư

- Tác động tích cực

FDI bổ sung vốn cho nền kinh tế: FDI không chỉ bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển

mà còn là một luồng vốn ổn định hơn so với các luồng vốn đầu tư quốc tế khác, bởi FDI dựa trên quan điểm dài hạn về thị trường, về triển vọng tăng trưởng và không tạo ra nợ cho chính phủ nước tiếp nhận đầu tư, do vậy, ít có khuynh hướng thay đổi khi có tình huống bất lợi

Trang 8

FDI cung cấp công nghệ mới cho sự phát triển: Có thể nói công nghệ là yếu tố quyết định tốc độ tăng trưởng và sự phát triển của mọi quốc gia, đối với các nước đang phát triển thì vai trò này càng được khẳng định rõ Bởi vậy, tăng cường khả năng công nghệ luôn là một trong những mục tiêu ưu tiên phát triển hàng đầu của mọi quốc gia Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu này đòi hỏi không chỉ cần nhiều vốn mà còn phải có một trình độ phát triển nhất định của khoa học – kỹ thuật

Đầu tư nước ngoài (đặc biệt là FDI) được coi là nguồn quan trọng để phát triển khả năng công nghệ của nước chủ nhà Vai trò này được thể hiện qua hai khía cạnh chính là chuyển giao công nghệ sẵn có từ bên ngoài vào và sự phát triển khả năng công nghệ của các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng của nước chủ nhà Đây là những mục tiêu quan trọng được nước chủ nhà mong đợi từ các nhà đầu tư nước ngoài

Chuyển giao công nghệ thông qua con đường FDI thường được thực hiện chủ yếu bởi các TNC (công ty xuyên quốc gia), dưới các hình thức chuyển giao trong nội bộ giữa các chi nhánh của một TNC và chuyển giao giữa các chi nhánh của các TNC Phần lớn công nghệ được chuyển giao giữa các chi nhánh của các TNC sang nước chủ nhà, nhất là các nước đang phát triển được thông qua các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh mà bên nước ngoài nắm phần lớn cổ phần dưới các hạng mục chủ yếu như tiến bộ công nghệ, sản phẩm công nghệ, công nghệ thiết kế và xây dựng, kỹ thuật kiểm tra chất lượng, công nghệ quản lý, công nghệ marketing

FDI còn giúp phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Mục tiêu của nhà đầu tư nước ngoài là thu được lợi nhuận tối đa, củng cố chỗ đứng và duy trì thế cạnh tranh trên thị trường thế giới Do đó, họ đặc biệt quan tâm đến việc tận dụng nguồn lao động rẻ ở các nước tiếp nhận đầu tư Số lao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp FDI ngày càng tăng nhanh ở các nước đang phát triển Ngoài ra, các hoạt động cung ứng dịch vụ và gia công cho các dự án FDI cũng tạo ra thêm nhiều cơ hội việc làm Trên thực tế, ở các nước đang phát triển, các dự án FDI sử dụng nhiều lao động đào tạo nhiều việc làm cho phụ nữ trẻ Điều này không chỉ mang lại cho họ lợi ích về thu nhập cao mà còn góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng phụ nữ ở các nước này FDI cũng có tác động tích cực trong phát triển nguồn nhân lực của nước chủ nhà thông qua các dự án đầu tư vào lĩnh vực giáo dục đào tạo Các

cá nhân làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có cơ hội học hỏi, nâng cao trình độ bản thân khi tiếp cận với công nghệ và kỹ năng quản lý tiên tiến Các doanh nghiệp FDI cũng có thể tác động tích cực đến việc cải thiện nguồn nhân lực ở các công ty khác mà họ có quan hệ, đặc biệt là các công ty bạn hàng Những cải thiện về nguồn nhân lực

Trang 9

ở các nước tiếp nhận đầu tư còn có thể đạt hiệu quả lớn hơn khi những người làm việc trong các doanh nghiệp FDI chuyển sang làm việc cho các doanh nghiệp trong nước hoặc tự mình thành lập doanh nghiệp mới Đầu tư nước ngoài còn có vai trò đáng kể đối với tăng cường sức khoẻ và dinh dưỡng cho người dân nước chủ nhà thông qua các dự án đầu tư vào ngành

y tế, dược phẩm, công nghệ sinh học và chế biến thực phẩm

FDI giúp mở rộng thị trường và thúc đẩy xuất khẩu: Xuất khẩu là yếu tố quan trọng của tăng trưởng Nhờ có đẩy mạnh xuất khẩu, những lợi thế so sánh của yếu tố sản xuất ở nước chủ nhà được khai thác có hiệu quả hơn trong phân công lao động quốc tế Các nước đang phát triển tuy có khả năng sản xuất với mức chi phí có thể cạnh tranh được nhưng vẫn rất khó khăn trong việc thâm nhập thị trường quốc tế Bởi thế, khuyến khích đầu tư nước ngoài hướng vào xuất khẩu luôn là ưu đãi đặc biệt trong chính sách thu hút FDI của các nước này Thông qua FDI các nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếp cận với thị trường thế giới, vì hầu hết các hoạt động FDI đều do các TNC thực hiện Ở tất cả các nước đang phát triển, các TNC đều đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu do vị thế và uy tín của chúng trong

hệ thống sản xuất và thương mại quốc tế Đối với các TNC, xuất khẩu cũng đem lại nhiều lợi ích cho họ thông qua sử dụng các yếu tố đầu vào rẻ, khai thác được hiệu quả theo quy

mô sản xuất (không bị hạn chế bởi quy mô thị trường của nước chủ nhà) và thực hiện chuyên môn hoá sâu từng chi tiết sản phẩm ở những nơi có lợi thế nhất, sau đó lắp ráp thành phẩm Bên cạnh đó, FDI thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Yêu cầu chuyển dịch

cơ cấu kinh tế không chỉ là đòi hỏi của bản thân sự phát triển nội tại nền kinh tế mà còn là đòi hỏi của xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay FDI là một bộ phận quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngọai, thông qua đó các quốc gia sẽ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình liên kết kinh tế giữa các nước trên thế giới, đòi hỏi phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với sự phân công lao động quốc tế Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia phù hợp với trình độ phát triển chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động FDI Ngược lại, chính FDI lại góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước chủ nhà, vì nó làm xuất hiện nhiều lĩnh vực và ngành nghề kinh tế mới và góp phần nâng cao nhanh chóng trình độ kỹ thuật và công nghệ ở nhiều ngành kinh tế, phát triển năng suất lao động của các ngành này Mặt khác, dưới tác động của FDI, một số ngành nghề được kích thích phát triển, nhưng cũng có một

số ngành nghề bị mai một và dần bị xoá bỏ

- Tác động tiêu cực

Trang 10

Về lâu dài, việc các công ty xuyên quốc gia (TNCs) đem vốn đến đầu tư và hàng năm lại chuyển lợi nhuận về nước sẽ tạo ra gánh nặng ngoại tệ đối với các nước này, đặc biệt là sau khi TNCs thu hồi vốn

Vấn đề việc làm không phải lúc nào cũng đi theo chiều hướng mong đợi của chúng ta, những nước tiếp nhận vốn đầu tư Những năm gần đây, do sự phát triển của khoa học công nghệ, lao động không lành nghề trở nên có hiệu suất thấp Thực tế cho thấy, các công ty có vốn FDI nhìn chung ít sử dụng lao động tại chỗ (trừ những doanh nghiệp gia công xuất khẩu hoặc doanh nghiệp chỉ sử dụng công nhân với lao động giản đơn, dễ đào tạo) và để hạ giá thành sản phẩm, họ đã sử dụng phương thức sản xuất tập trung tư bản nhiều hơn Nó có tác động làm giảm việc làm, đi ngược với chiến lược việc làm của các nước đang phát triển Các ngành công nghiệp mới mẻ, hiện đại của các nước công nghiệp phát triển đã có điều kiện xuất hiện ở những quốc gia này song chủ yếu lại bị các nước đầu tư kiểm soát, kết cấu kinh tế thì bị phụ thuộc vào đối tượng ngành hàng sản xuất mà nước đầu tư quyết định kinh doanh Không chỉ có vậy, sự dịch chuyển những kỹ thuật công nghệ kém tiên tiến, tiêu hao nhiều năng lượng từ các nước đầu tư đã gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức, …

1.2 Tổng quan về liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước

1.2.1 Hình thức liên kết

Trên thế giới đã có khá nhiều nghiên cứu về tác động lan tỏa của FDI tới các doanh nghiệp nội địa và các nghiên cứu này thường sử dụng phương pháp phân tích định lượng để kiểm định và lượng hóa các tác động nói trên Nhiều tài liệu nghiên cứu đã chỉ ra tác động tràn của FDI theo hai kênh chính: (1) Tác động tràn theo chiều ngang, (2) Ảnh hưởng lan tỏa theo chiều dọc (bao gồm các mối liên kết xuôi chiều và lan tỏa ngược cung); cụ thể là:

- Tác động tràn của FDI theo chiều ngang (nội bộ ngành) (biến Horizontal) được định nghĩa là những tác động có lợi của FDI tới các doanh nghiệp trong nước hoạt động trong cùng ngành, cùng lĩnh vực Những tác động này có thể làm thay đổi công nghệ, tăng cường khả năng cạnh tranh, cải thiện nguồn lực hoặc thay đổi kỹ năng quản trị trong các nước (Javorcik, 2004; Kokko, 1994; Blomstrom & Sjoholm, 1999; Keller & Yearple, 2003) Đôi khi các doanh nghiệp nội địa cạnh tranh với các doanh nghiệp đa quốc gia, do những bất lợi

về công nghệ, các doanh nghiệp này không thể cạnh tranh với các doanh nghiệp đa quốc gia nên không thể xảy ra ảnh hưởng lan tỏa Điều này hoàn toàn có thể xảy ra do việc bảo hộ tri thức, bí mật thương mại, chi trả tiền lương cao hơn đối với những ngành mà quốc gia nhận đầu tư bị hạn chế về khả năng bắt chước công nghệ

Trang 11

- Ảnh hưởng lan tỏa theo chiều dọc - hay chính là những tác động liên ngành bao gồm các mối liên kết ngược và xuôi chiều Các mối liên kết ngược (Backward Linkages) xảy ra khi các doanh nghiệp FDI mua hàng hóa và dịch vụ từ doanh nghiệp trong nước trong các ngành công nghiệp thượng nguồn Những ảnh hưởng lan tỏa như vậy xảy ra thông qua chuyển giao tri thức trực tiếp từ các khách hàng nước ngoài tới nhà cung cấp bản địa, những yêu cầu cao hơn về chất lượng sản phẩm và cung cấp hàng hóa đúng thời hạn mà các doanh nghiệp đa quốc gia đặt ra khiến cho các nhà cung cấp nội địa có động cơ cập nhật công nghệ

và quản lý sản xuất tốt hơn (Javorcik, 2004; Schoors & van de Tol, 2002; Blalock & Gertler, 2008) Các mối liên kết xuôi (Forward Linkages) được tạo ra khi các doanh nghiệp FDI đầu

tư cho các doanh nghiệp nội địa nhằm cải thiện công nghệ, giảm chi phí đầu vào trung gian cho các sản phẩm Tuy nhiên, các doanh nghiệp FDI có thể đem đến những khó khăn cho doanh nghiệp nội địa khi họ cũng cung cấp các nguồn đầu vào tương tự như các doanh nghiệp nội địa, do vậy, cũng có thể dẫn đến các kết quả nghiên cứu trái chiều trong các nghiên cứu về từng ngành, lĩnh vực, vùng mà các tác giả Haddad và Harrison (1993), Kokko

và cộng sự (1996) hay Caves (1974), Globerman (1979) đã chỉ ra

1.2.2 Quá trình hình thành liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước

Các doanh nghiệp có thể cải thiện hiệu suất của họ thông qua các hoạt động đổi mới Các hoạt động đổi mới có thể diễn ra dưới các hình thức giới thiệu sản phẩm mới, phương thức sản xuất tốt hơn và các kỹ thuật tổ chức mới (Schumpeter, 1912) Sự đổi mới có thể thay đổi hiệu suất doanh nghiệp thông qua hai kênh: (1) Đầu tiên, sự đổi mới làm tăng doanh

số và thị phần bằng các sản phẩm khác biệt so với các đối thủ (Wang & Wei, 2005); (2) thứ hai, đổi mới cũng thay đổi công nghệ sản xuất và do đó làm giảm chi phí sản xuất một sản phẩm tăng thêm (Peters, 2008) Bằng cách thúc đẩy tăng doanh số, tăng thị phần và giảm chi phí, sự đổi mới có tác động tích cực đến hiệu suất, hiệu quả của doanh nghiệp về sức mạnh thị trường và biên lợi nhuận hoạt động (Dhanora và cộng sự, 2018) Do đó, sự đổi mới công nghệ có ảnh hưởng đến sức cạnh tranh hiện tại của một doanh nghiệp và một ngành sản phẩm

Đổi mới có thể đi cùng với đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment – FDI) Không chỉ đơn thuần là đầu tư dài hạn liên quan đến việc bơm vốn nước ngoài vào doanh nghiệp, mà FDI có thể giúp các doanh nghiệp trong nước bắt kịp với công nghệ quốc

tế Thông qua việc thiết lập hoạt động mới, sáp nhập và mua lại, liên doanh với đối tác địa phương, FDI có thể có tác động tích cực qua các ngoại tác hoặc tác động lan tỏa về năng

Trang 12

suất Tiền đề cơ bản hỗ trợ hiệu quả tích cực này là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có kiến thức và công nghệ vượt trội có thể được chuyển giao thông qua các tương tác của họ (liên kết ngược và liên kết xuôi) với các doanh nghiệp trong nước (Markusen & Venables, 1999)

Sự lan tỏa đã được nghiên cứu trong các tài liệu lý thuyết thông qua hai cơ chế: (1) Đầu tiên, chuyển giao kiến thức và công nghệ theo chiều ngang (hoặc chuyển giao trong nội bộ ngành) có thể mang lại sức lan tỏa trong các doanh nghiệp FDI để cạnh tranh với các đối thủ trong cùng ngành, sự lan tỏa theo chiều ngang trong các lĩnh vực có thể phát sinh khi người lao động chuyển từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang các doanh nghiệp trong nước, mang theo kiến thức họ đã học được từ các doanh nghiệp FDI; (2) tương tự, các doanh nghiệp trong nước có thể quan sát các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực của họ và sao chép các công nghệ được sử dụng Sự hiện diện của các doanh nghiệp FDI về mặt lý thuyết được coi là nguồn lan tỏa tích cực cho các doanh nghiệp trong nước Bởi vì hầu hết các mô hình chuẩn mực của FDI cho rằng các doanh nghiệp FDI có một số kiến thức đặc biệt như: công nghệ sản xuất, các kỹ năng quản lý và bí quyết tiếp thị Trong các nền kinh tế chuyển đổi, đã có một số nghiên cứu về hiệu ứng lan tỏa năng suất Nghiên cứu ở Litva, Javorcik (2004) đã tìm thấy sự lan tỏa tích cực từ các doanh nghiệp liên doanh FDI đến các doanh nghiệp địa phương trong các lĩnh vực khác nhau Ở Trung Quốc, Lin và cộng sự (2009) tìm thấy tác động lan tỏa tích cực đến tăng năng suất từ đầu tư nước ngoài, cả từ các doanh nghiệp cung ứng và các doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu Các doanh nghiệp địa phương cũng có thể cải thiện hiệu quả vì những lan tỏa tương tự khi giao dịch với các nhà cung cấp đa quốc gia Một số nghiên cứu đã tập trung vào xem xét nguồn gốc của các doanh nghiệp FDI có thể giải thích mức độ lan tỏa cho các doanh nghiệp địa phương như thế nào Javorcik và Spatareanu (2011) đã tìm thấy mối liên hệ tích cực giữa

sự hiện diện của các doanh nghiệp Mỹ trong lĩnh vực sử dụng nguồn đầu vào và năng suất của các doanh nghiệp Rumani trong các ngành cung ứng, nhưng không tìm thấy mối quan

hệ đáng kể nào trong trường hợp các chi nhánh doanh nghiệp của châu Âu Nghiên cứu quốc gia xuất xứ của nguồn vốn FDI ở Cộng hòa Séc đã tìm thấy có sự lan tỏa theo chiều ngang

từ nguồn vốn FDI đến từ các nước thành viên liên minh châu Âu (European Union – EU) (Ayyagari & Kosová, 2010) Tại Việt Nam, Ni và cộng sự (2017) cho thấy mối quan hệ tích cực giữa sự hiện diện của các doanh nghiệp FDI đến từ châu Á trong các ngành sử dụng đầu vào của địa phương và năng suất của các doanh nghiệp Việt Nam trong các ngành công nghiệp cung ứng này Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng cho thấy mối quan hệ trở nên không đáng kể khi có sự hiện diện của các doanh nghiệp FDI đến từ châu Âu và Bắc Mỹ Tại

Trang 13

Indonesia, sự hiện diện của doanh nghiệp nước ngoài làm tăng hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp sản xuất (Suyanto và cộng sự, 2014) nhưng lại làm giảm hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp trong ngành dược (Suyanto & Salim, 2013) Ở Trung Quốc, liên kết ngược của các doanh nghiệp nước ngoài giúp cải thiện hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp trong nước (Wang & Wong, 2016)

Các nghiên cứu trước đây mới dừng ở việc xem xét tác động lan tỏa của FDI đến năng suất, chưa nghiên cứu nào tập trung nghiên cứu tác động lan tỏa của FDI đến hiệu quả kỹ thuật Nghiên cứu về hiệu quả kỹ thuật là chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm của các học giả và có nhiều nghiên cứu như: Phạm Lê Thông và Lý Phương Thùy (2016), Vũ Thịnh Trường và Võ Hồng Đức (2015), Đào Lê Thanh (2013), Ảnh hưởng của yếu tố lan tỏa của khu vực FDI đến hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp trong nước tại Việt Nam đã được

đề cập trong bài viết của Nguyen và cộng sự (2008) Sử dụng số liệu của 1.000 doanh nghiệp (1.995 quan sát) trong giai đoạn 2002–2004, Nguyen và cộng sự (2008) đã không tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa yếu tố lan tỏa của doanh nghiệp FDI đến hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp trong nước Nhóm tác giả cho rằng với mẫu quan sát nhỏ và trong giai đoạn ngắn thì khó có thể tìm thấy tác động của sự lan tỏa từ doanh nghiệp FDI lên hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp trong nước

Trang 14

PHẦN 2: KINH NGHIỆM KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN LIÊN KẾT GIỮA DOANH NGHIỆP FDI VÀ DOANH NGHIỆP TRONG

NƯỚC CỦA TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN 2010-2020

2.1 Thực trạng việc phát triển liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước của Trung Quốc giai đoạn 2010-2020

2.1.1 Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào thị trường Trung Quốc

Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, trở thành một trong những nước đầu tàu về tăng trưởng kinh tế thế giới Năm

2020, Trung Quốc chính thức vượt Mỹ trở thành quốc gia giàu có nhất thế giới với tài sản ròng lên tới 120 nghìn tỉ USD so với 90 nghìn tỷ USD của Mỹ Nhiều nhà hoạch định kinh

tế đã cho rằng từ nay cho đến hết thể kỉ XXI vẫn là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của nền kinh

từ một nước nông nghiệp, khai thác tài nguyên, xuất khẩu nguyên liệu là chính trở thành nước sản xuất và xuất khẩu chủ yếu các mặt hàng công nghiệp chế tạo Nhờ có đầu tư trực tiếp nước ngoài mà đất nước Trung Quốc đã thay da đổi thịt Nếu như trước khi mở cửa, Trung Quốc được ví như một hành tinh chết, không sinh sôi, không nảy nở, phát triển thì hiện nay Trung Quốc lớn mạnh đang hình thành, tạo nên một trong những “điều thần kỳ kinh

Trang 15

Bảng 1: Thu hút FDI vào Mỹ và Trung Quốc

Những yếu tố quyết định đối với việc thu hút FDI của Trung Quốc: quy mô thị trường, giá lao động rẻ, cơ sở hạ tầng được cải thiện đi cùng các chính sách FDI cởi mở, đặc biệt là việc thành lập các khu kinh tế mở, Bằng việc khai thác hiệu quả nguồn vốn FDI, Trung Quốc đã thu được những thành công rực rỡ Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao ngay cả khi phải đối mặt với dịch bệnh COVID-19, tỷ lệ đói nghèo giảm đáng kể và khu vực kinh tế ngoài quốc doanh phát triển mạnh

2.1.2 Chính sách thu hút vốn FDI vào Trung Quốc

Được coi như một quốc gia lớn mạnh nắm giữ vai trò quan trọng trong quan hệ kinh tế thế giới, Trung Quốc có vị trí cũng như tác động rất lớn đến việc điều chỉnh, thu hút các dòng vốn và phân bổ hiệu quả

Leo lên vị trí số một trong việc thu hút FDI năm 2020 vừa qua, Trung Quốc được đánh giá là quốc gia thành công nhất trong việc khai thác dòng vốn nước ngoài một cách hiệu quả

để vừa phát triển tối đa nền kinh tế trong nước cũng như giữ vững được lợi ích hợp tác với các tập đoàn đầu tư ở các nước lớn trên thế giới

Trang 16

Bảng 2: Chiến lược phát triển vốn FDI của trung quốc qua các giai đoạn

Từ biểu đồ, có thể thấy rõ chính sách và chiến lược thu hút dòng vốn FDI của Trung Quốc có sự thay đổi rõ rệt qua các giai đoạn về mặt định hướng phát triển Cụ thể, trước năm

2000 Trung Quốc chủ yếu tập trung kêu gọi các doanh nghiệp FDI thiên về xuất khẩu, thông qua việc thành lập các đặc khu kinh tế quan trọng FDI vào Trung Quốc ở giai đoạn này chủ yếu là đầu tư vào các ngành gia công, chế tạo, sử dụng nhiều lao động Bên cạnh đó, để hạn chế các tác động của các doanh nghiệp FDI lên ngành sản xuất trong nước, Trung Quốc áp đặt những hạn chế đối với các doanh nghiệp FDI sản xuất các mặt hàng cho thị trường nội địa Những hạn chế này góp phần giúp cho các doanh nghiệp trong nước có thời gian để học hỏi kinh nghiệm sản xuất của các doanh nghiệp FDI và tranh thủ thiết lập nền tảng thị trường vững chắc cho giai đoạn cạnh tranh sắp tới Cùng với đó, Chính phủ Trung Quốc đưa ra nhiều chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp Trung Quốc có thể xuất khẩu, thông qua các hình thức trợ giá xuất khẩu cũng như việc ưu đãi lãi suất Việc đầu tư xây dựng hạ tầng chất lượng cao trong giai đoạn này ở Trung Quốc cũng góp phần tạo ra giá trị gia tăng cho các doanh nghiệp đang hoạt động ở Trung Quốc khi chi phí logistics của Trung Quốc thấp hơn nhiều so với các quốc gia khác

Từ những năm 2001 về sau, Chính phủ Trung Quốc đã tiến hành cắt giảm bớt các hạn chế đối với các doanh nghiệp FDI hướng đến thị trường nội địa Ngoài ra, việc liên doanh của các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp nội địa được khuyến khích phát triển và mở rộng Có thể nói, chính sách mang tính cởi mở hơn này đã không chỉ khiến thị trường Trung

Trang 17

Quốc trở nên hấp dẫn hơn bởi các doanh nghiệp FDI có thể dễ dàng tiếp cận với thị trường tiêu thụ tỉ dân cực kì tiềm năng mà còn giúp cho các doanh nghiệp nội địa tiếp cận được các công nghệ sản xuất hiện đại từ bên ngoài Ở thời điểm này, các FDI thiên về nghiên cứu phát triển và có trình độ công nghệ cao được Trung Quốc khuyến khích Đồng thời, các doanh nghiệp trong nước được khuyến khích nghiên cứu về công nghệ để đảm bảo khả năng tương thích với xu hướng chuyển giao công nghệ giữa các doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp trong nước

Để đạt được vị trí những quốc gia hàng đầu thu hút FDI, CHND Trung Hoa đã áp dụng nhiều chính sách để khuyến khích, thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, trong đó bao gồm:

Các chính sách đảm bảo đầu tư đã được Trung Quốc đề ra nhằm đảm bảo sự ổn định

hợp tác với các doanh nghiệp FDI ở Trung Quốc Cụ thể, trong hiến pháp của nhà nước Trung Hoa quy định nước CHND Trung Hoa cho phép các cơ sở kinh doanh nước ngoài, tổ chức quốc ngoài và những người với tư cách cá nhân được tiến hành đầu tư vào Trung Quốc

và được tham gia vào hàng loạt các hình thức hợp tác kinh tế với các cơ sở kinh doanh và các tổ chức kinh tế khác của Trung Quốc tuân theo pháp lệnh của CHND Trung Hoa Tất cả các cơ sở kinh doanh nước ngoài và các tổ chức kinh doanh nước ngoài khác, cũng như các

cơ sở đầu tư liên doanh với người Trung Quốc và DTNN tại Trung Quốc phải tuân theo luật pháp nước CHND Trung Hoa Các quyền lợi và lợi ích hợp pháp của họ được pháp luật nước CHND Trung Hoa bảo vệ

Ngoài ra, Trung Quốc còn đa dạng hóa các hình thức đầu tư cho các doanh nghiệp nước

ngoài đổ vốn vào trong nước Hiện Trung quốc có các loại hình FDI chính sau với tính đa

dạng cao nhằm cho các doanh nghiệp có thể linh hoạt trong việc lựa chọn đầu tư: góp vốn liên doanh, liên doanh hợp đồng, đầu tư trực tiếp 100% vốn nước ngoài Đặc biệt, các doanh

nghiệp đầu tư 100% vốn nước ngoài vào Trung Quốc có xu hướng tu mạnh từ nửa sau thập

kỷ kể từ năm 2000 do có các chính sức khuyến khích của trung quốc trung nỗ lực thu hút các dự án với trình độ công nghệ cao từ nước ngoài

Trang 18

Bảng 3: Các loại hình đầu tư FDI qua các năm

Đặc biệt, Trung Quốc còn thành lập khu kinh tế đặc biệt, khu phát triển khoa học kỹ

thuật, mở cửa các thành phố ven biển để tạo điều kiện tập trung thu hút FDI Trọng điểm chiến lược phát triển kinh tế của Trung Quốc là từng bước chuyển về phía tây, kêu gọi thương nhân nước ngoài đầu tư, gia tăng nguồn vốn để xây dựng hạ tầng Chủ trương này cũng thể hiện rõ trong luật pháp của Trung Quốc Trung Quốc thực hiện thu hút FDI thử nghiệm đầu tiên ở các đặc khu kinh tế sau đó mở rộng ra các thành phố ven biển Thái Bình Dương, tạo nên một cánh cung khổng lồ các đặc khu kinh tế và các thành phố ven biển, trở thành địa bàn trọng điểm thu hút FDI, tạo điều kiện thuận lợi cho Trung Quốc thiết lập các quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới, tăng cường hội nhập quốc tế Quá trình điều chỉnh chính sách của Trung Quốc cho thấy sự điều tiết nguồn vốn sang các vùng khác nhau, vừa thu hút các nhà đầu tư nước ngoài nhưng mặt khác tạo ra động lực để rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các vùng Đó chính là đòn bẩy để nền kinh tế Trung Quốc có những bước phát triển ngoạn mục

Các chính sách ưu đãi tài chính cũng được Trung Quốc đề ra nhằm góp phần hỗ trợ

hoạt động FDI từ doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt với các ngành và khu vực trong diện khuyến khích phát triển Cụ thể, các chính sách cắt giảm thuế có thể kể đến như:

Chính sách giảm thuế:

− DN có vốn ĐTTTNN có thể không phải nộp thuế thu nhập DN trong 2 năm sau khi có lãi, nộp 50% trong 3 năm tiếp theo Đối với DN nước ngoài đầu tư vào khu vực khuyến khích ở miền Trung và Tây, sau thời hạn 5 năm giảm và miễn thuế, Chính phủ còn kéo dài

3 năm tiếp theo chỉ nộp 50% vào 6 năm tiếp theo

− Đối với DN xuất khẩu, ngoài phần ưu đãi 2 năm và nộp 50% trong 3 năm tiếp theo, nếu giá trị xuất khẩu hàng năm của công ty vượt số phần trăm nào đó trên tổng doanh thu thì

họ còn được giảm một nửa số thuế thu nhập DN phải nộp

Ngày đăng: 16/01/2023, 12:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước: Thực trạng và một số đề xuất. 2022. Xem 5/2022. <https://kinhtevadubao.vn/lien-ket-giua-doanh-nghiep-fdi-va-doanh-nghiep-trong-nuoc-thuc-trang-va-mot-so-de-xuat-22453.html&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước: Thực trạng và một số đề xuất
5. Nguyễn Thị Cành, Lê Quang Minh, Cai Phúc Thiện Khoa. 2019. Tác động lan tỏa của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đến hiệu quả kỹ thuật của các doanhnghiệp công nghiệp chế biến Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động lan tỏa của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đến hiệu quả kỹ thuật của các doanh "nghiệp công nghiệp chế biến Việt Nam
6. Bài học về luật thu hút đầu tư nước ngoài của Trung Quốc đối với Việt Nam. (n.d.) [online] Xem tại: <https://www.luatanphu.vn/bai-hoc-ve-luat-thu-hut-dau-tu-nuoc-ngoai-cua-trung-quoc-doi-voi-viet-nam.html> [Truy cập ngày 25/05/2022] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài học về luật thu hút đầu tư nước ngoài của Trung Quốc đối với Việt Nam
7. Vũ Long. 2022. Ngành chế biến chế tạo "hút" vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. [online] Xem tại: <https://laodong.vn/kinh-te/nganh-che-bien-che-tao-hut-von-dau-tu-truc-tiep-nuoc-ngoai-1039539.ldo> [Truy cập 25/05/2022] Sách, tạp chí
Tiêu đề: hút
8. Trung Quốc vượt Mỹ hút vốn FDI nhiều nhất thế giới. 2021. <https://vnexpress.net/trung-quoc-vuot-my-hut-von-fdi-nhieu-nhat-the-gioi- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc vượt Mỹ hút vốn FDI nhiều nhất thế giới
1. ThS Nguyễn Thu Hạnh. 2010. Điều chỉnh chính sách FDI của Trung Quốc: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh.[online] Xem tại: <http://tapchi.ueb.edu.vn/Fuploads/20130723095231416.pdf> [Truy cập 26/05/2002] Link
2. Phạm Sĩ Thành (n.d). VỀ VAI TRÒ CỦA VỐN FDI – NGHIÊN CỨU SO SÁNH TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC. [online] Xem tại:<http://vnep.ciem.org.vn/Upload/Vai%20tro%20FDI-1.pdf> [Truy cập ngày 26/05/2022] Link
9. Tô Minh, Hữu Hưng. 2019. Thành tựu công nghiệp Trung Quốc 70 năm qua. [online] Xem tại: <https://nhandan.vn/tin-tuc-the-gioi/thanh-tuu-cong-nghiep-trung-quoc-70-nam-qua-372539/> [Truy cập 26/05/2022] Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w