1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thu hoach dien an dan su 06 (1)

13 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thu Hoạch Diễn Án Dân Sự 06 (1)
Tác giả Kiều Anh Vũ
Người hướng dẫn Họ và tên: Kiều Anh Vũ
Trường học Học Viện Tư Pháp
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Bài thu hoạch diễn án
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 244,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN Môn Kỹ năng của Luật sư trong vụ án Dân sự Mã số hồ sơ LS DS LĐ 02 Diễn lần 03 Ngày diễn 19/11/2012 Giáo viên hướng dẫn Tp Hồ Chí Minh, ngày[.]

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

Môn: Kỹ năng của Luật sư trong vụ án Dân sự

Mã số hồ sơ: LS.DS - LĐ 02

Diễn lần: 03

Ngày diễn: 19/11/2012

Giáo viên hướng dẫn:

Họ và tên: KIỀU ANH VŨ

Sinh ngày: 11 tháng 01 năm 198_

SBD: LS13.1HCM – 755 Lớp: A Khóa: XIII (TP HCM)

Trang 2

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

Môn: Kỹ năng của Luật sư trong vụ án Dân sự

H ồ sơ số: LS.DS 06 – Diễn án lần 01

I TÓM TẮT DIỄN BIẾN VỤ ÁN

1.1 Đương sự

Nguyên đơn: Ông Trần Văn Hậu.

Cư trú tại: nhà 200 tổ 11A phố Long Châu Sa, Thọ Sơn, Việt Trì, Phú Thọ

Bị đơn: Ông Trần Văn Hùng và bà Trần Thị Nhân.

Cư trú tại: khu 1, xã Vân Phú, Việt Trì, Phú Thọ

1.2 Tóm tắt nội dung vụ án và quá trình tố tụng

Theo trình bày của ông Trần Văn Hậu thì nội dung vụ án như sau:

Ngày 30/5/2004 ông Trần Văn Hậu và ông Trần Văn Hùng ký kết “Thỏa thuận chuyển

nhượng quyền sử dụng đất”, theo đó, ông Hậu nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ

chồng ông Hùng với diện tích đất có chiều rộng 3m, chiều sâu 17m, tiếp giáp quốc lộ 2 tại ngã ba

Đền Hùng với giá 1,2 tỷ đồng Trong tờ thỏa thuận này, ông Hùng và vợ là Trần Thị Nhân cùng

ký nhận với tư cách bên nhượng và đã xác nhận đã nhận 01 tỷ đồng từ ông Hậu

Tháng 1 năm 2005, ông Hậu đã xây nhà cấp 4 trên diện tích đó Sau khi xây dựng, con gái

ông Hậu sử dụng căn nhà xây này để bán vật liệu xây dựng Sau đó con trai ông Hậu tiếp tục sử dụng căn nhà trên mảnh đất này để sửa chữa xe đạp, xe máy rồi đi nghĩa vụ quân sự

Vì ông Hậu phải về quê trông nom bố mẹ già nên ông đã cho ông Hùng mượn căn nhà nói trên cho đến nay

Nay ông Hậu yêu cầu vợ chồng ông Hùng làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất thì ông Hùng không thực hiện với lý do ông Hùng chỉ vay tiền chứ không chuyển nhượng quyền sử dụng

đất Tranh chấp phát sinh

Ngày 21/01/2011, vụ việc được hòa giải tại cơ sở

Ngày 24/7/2011, ông Hậu khởi kiện vụ án ra Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, yêu cầu:

- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông và vợ chồng ông

Hùng được xác lập ngày 30/05/2004

- Buộc vợ chồng ông Hùng, bà Nhân trả lại nhà và đất mà vợ chồng ông Hùng đang chiếm hữu

Trang 3

Ngày 10/8/2011, TAND thành phố Việt Trì ra Thông báo thụ lý vụ án “tranh chấp nhà đất” Ngày 06/9/2011, ông Trần Văn Hậu có đơn đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ

Ngày 08/9/2011, TAND thành phố Việt Trì ra Quyết định thu thập chứng cứ số 24/QĐ-TA ngày 08/9/2011, xác minh tại UBND xã Vân PHú về quyền sử dụng đất chuyển nhượng, các biến

động về quyền sử dụng đất, lấy lời khai của những người làm chứng (Biên bản xác minh ngày

08/9/2011).

Ngày 15/9/2011, Tòa án tiến hành hòa giải và lập Biên bản hòa giải không thnàh

Ngày 20/9/2011, TAND thành phố Việt Trì ra quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ đối

với nhà, đất tại khu 1 xã Vân PHú, Việt Trì (Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ).

Ngày 21/9/2011, TAND thành phố Việt Trì tiến hành xác minh tại UBND xã Thụy Vân, thành phố Việt Trì về người làm chứng Cao Văn Minh

Ngày 16/11/2011, ông Hậu có Đơn đề nghị xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản có tranh chấp

Ngày 23/11/2011, TAND thành phố Việt Trì ra Quyết định thành lập Hội đồng định giá tài sản

Ngày 30/11/2011, Hội đồng định giá xem xét, thẩm định tại chỗ, lập Biên bản định giá tài sản

Ngày 09/01/2012, TAND thành phố Việt Trì ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, xét xử vụ

án vào ngày 23/01/2012

- Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011) (“BLTTDS”);

- Bộ luật Dân sự 2005 (“BLDS 2005”);

- Bộ luật Dân sự 1995 (“BLDS 1995”) ;

- Luật Đất đai 2003 (và một số văn bản hướng dẫn có liên quan);

- Luật Đất đai 1993 đã được sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2001 (và một số văn bản hướng dẫn

có liên quan);

- Nghị quyết 60/2011/QH12 ngày 29/3/2011 về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số

điều của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Nghị quyết 15/2005-QH11 ngày 14/6/2005 về việc thi hành BLDS 2005;

Trang 4

- Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hon nhân và

gia đình (“Nghị quyết 02/2004”).

Tư cách tham gia xét hỏi: Luật sư bào vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn Trần

Văn Hậu

- Giấy “Thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất” là do ông viết có phải không?

- Ông và vợ ông là bà Trần Thị Nân đã cùng ký tên vào “Bên nhượng” của “Thỏa thuận chuyển nhượng quyến sử dụng đất” ngày 30/5/2004 có phải không?

- Vợ chồng ông đã nhận 1 tỷ đồng do ông Hậu thanh toán và ký xác nhận vào giấy thỏa thuận có đúng không?

- Ông cho biết rõ ông không thừa nhận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất hay có

“chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng không thành” do ông Hậu chưa trả đủ tiền?

- Ông nói rằng ông chỉ vay tiền của ông Hậu thì tại sao lại lập giao kết ghi rõ “thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, ông tự tay viết nội dung và vợ chồng ông ký vào?

phải không?

- Khi ông Hậu xây dựng căn nhà vào tháng 01/2005, vợ chồng ông không có ý kiến phản đối

gì mà còn phụ giúp nữa có đúng không?

- Ông có chứng cứ gì chứng minh việc ông đã sửa chữa căn nhà này hay không?

- Chữ ký Trần Thị Nhân trong Giấy “thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ngày 30/52004 là của bà có phải không?

- Ông Hậu đã thanh toán cho vợ chồng bà 1 tỷ đồng có phải không?

- Vì sao ông Hùng, bà Nhân lại chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông?

- Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông và vợ chồng ông HÙng, bà NHân có ai làm chứng?

Trang 5

- Ông Hùng cho rằng vợ chồng ông Hùng chỉ vay tiền của ông, ông nghĩ thế nào?

- Ông thanh toán cho bà Nhân 200 triệu đồng khi nào?

- Ông cho ông Hùng, bà Nhận mượn căn nhà khi nào?

- Trong thời gian ông cho ông Hùng, bà Nhân mượn căn nhà, ông Hùng, bà Nhân có đề cập với ông về việc sửa chữa căn nhà hay không?

Kính thưa HĐXX,

Thưa vị đại diện Viện kiểm sát và các Luật sư đồng nghiệp,

Tôi là Kiều Anh Vũ, là Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư , Đoàn Luật sư TP

Hồ Chí Minh Tôi có mặt tại Phiên tòa ngày hôm nay để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho

nguyên đơn là ông Trần Văn Hậu

1 Tóm tắt diễn biến vụ án

Theo lời trình bày của nguyên đơn Trần Văn Hậu, qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa ngày hôm nay, tôi xin nêu lại một số nét chính về diễn biến vụ án như sau:

Ngày 30/5/2004 ông Trần Văn Hậu và ông Trần Văn Hùng ký kết “Thỏa thuận chuyển

nhượng quyền sử dụng đất” Theo đó, ông Hậu nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ

chồng ông Hùng với diện tích đất có chiều rộng 3m, chiều sâu 17m, tiếp giáp quốc lộ 2 tại ngã ba

Đền Hùng với giá 1,2 tỷ đồng Trong tờ thỏa thuận này, ông Hùng và vợ là Trần Thị Nhân cùng

ký nhận với tư cách bên chuyển nhượng và đã xác nhận đã nhận 01 tỷ đồng từ ông Hậu

Tháng 1 năm 2005, ông Hậu đã xây nhà cấp 4 trên diện tích đó Sau khi xây dựng, con gái

ông Hậu sử dụng căn nhà xây này để bán vật liệu xây dựng Sau đó con trai ông Hậu tiếp tục sử dụng căn nhà trên mảnh đất này để sửa chữa xe đạp, xe máy rồi đi nghĩa vụ quân sự

Vì ông Hậu phải về quê trông nom bố mẹ già nên ông đã cho ông Hùng mượn căn nhà nói

trên cho đến nay

Nay ông Hậu yêu cầu vợ chồng ông Hùng làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất thì ông Hùng không thực hiện với lý do ông Hùng chỉ vay tiền chứ không chuyển nhượng quyền sử dụng

đất Tranh chấp phát sinh

Ngày 21/01/2011, vụ việc được hòa giải tại cơ sở

Ngày 24/7/2011, ông Hậu khởi kiện vụ án ra Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, yêu cầu:

- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông và vợ chồng ông

Hùng được xác lập ngày 30/05/2004

Trang 6

- Buộc vợ chồng ông Hùng, bà Nhân trả lại nhà và đất mà vợ chồng ông Hùng đang chiếm hữu

2 Quan điểm pháp lý

Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa ngày hôm nay, tôi xin trình bày các

quan điểm pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn Trần Văn Hậu như sau:

2.1 Về thủ tục tố tụng

Theo khoản 2 Điều 135 Luật Đất đai 2003 và khoản 2 Điều 159 Nghị định

181/2004/NĐ-CP, tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp để hòa giải Thực hiện theo quy định này, ông Trần

Văn Hậu đã có đơn đề nghị hòa giải gửi UBND phường Ngày 21/1/2011, phường đã tiến hành

hòa hòa giải tại cơ sở nhưng các bên không thỏa thuận được với nhau Do đó, ông Hậu đã khởi kiện vụ án Việc khởi kiện của ông Trần Văn Hậu sau khi đã hòa giải tại cơ sở là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp

Tranh chấp giữa ông Trần Văn Hậu và Trần Văn Hùng là tranh chấp hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 7 Điều 25 BLTTDS TAND TP Việt Trì thụ lý và giải quyết vụ án là hoàn toàn đúng quy định

pháp luật

2.2 Về nội dung

Theo Giấy “thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất” lập ngày 30/5/2004 giữa bên chuyển nhượng là vợ chồng ông Trần Văn Hùng và bên nhận chuyển nhượng là Trần Văn Hậu, lời khai của các bên, lời khai của người làm chứng và quy định của pháp luật, có đầy đủ cơ sở để

xác định vợ chồng ông Trần Văn Hùng, Trần Thị Nhân đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại

ngã ba Đền Hùng với diện tích chiều rộng 3m, chiều sâu 17m cho ông Trần Văn Hậu Bởi lẽ:

- Thứ nhất, Giấy thỏa thuận này đã ghi rõ “thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất”

- Thứ hai, nội dung thỏa thuận giữa hai bên đã thể hiện bản chất của giao dịch chuyển

nhượng quyền sử dụng đất: “Kể từ khi bàn giao quyền sử dụng đất cho anh Hậu, vợ chồng

em chấm dứt mọi quyền và nghĩa vụ với diện tích đất này Khi nào anh Hậu có nhu cầu chuyển tên trong giấy tờ đất, hai vợ chồng em là Trần Văn Hùng và Trần Thị Nhân cam kết làm đầy đủ thủ tục theo quy định của pháp luật”.

Nếu theo trình bày của ông Hùng, bà Nhân, vợ chồng ông chỉ vay tiền của ông Hậu, có thế chấp quyền sử dụng thì tại sao lại không lập thỏa thuận cho vay tiền mà lại lập “thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất”? Chưa kể trong nội dung Giấy thỏa thuận, vợ chồng ông Hùng xác nhận “châm dứt mọi quyền và nghĩa vụ với diện tích đất này” và “cam kết làm đầy đủ thủ tục theo quy định”?

- Thứ ba, các bên đã thực hiện một phần quyền và nghĩa vụ theo thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã ký kết: Ông Hậu đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán theo khoản

1 Điều 712 BLDS 1995: thanh toán lần đầu 1 tỷ động khi ký thỏa thuận, có xác nhận của

Trang 7

vợ chồng ông Hùng Ông Hậu cũng đã thanh toán 200 triệu còn lại cho bà Nhân, vợ ông Hùng Vợ chồng ông Hùng cũng đã thực hiện nghĩa vụ chuyển giao đất cho ông Hậu theo

quy định tại khoản 3 Điều 709 BLDS 1995 Trên cở đó, ông Hậu đã tiến hành xây nhà trên

diện tích đất Trong quá trình ông Hậu xây nhà, vợ chồng ông Hùng còn giúp đỡ cho ông Hậu

- Thứ tư, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Hùng và ông Hậu, việc ông Hậu xây dựng nhà trên phần đất đã được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng từ vợ chồng ông Hùng còn được nhiều người làm chứng xác nhận Cụ thể:

+ Ông Nguyễn Minh Quang xác nhận trong Giấy làm chứng đề ngày 22/11/2011: “Việc

ông Hùng chuyển nhượng đất cho anh Hậu ô đất quán sát nhà ông Hùng với diện tích như các giấy tờ ông Hùng và anh Hậu viết trên là đúng Sau đó anh Hậu khi mua xong đã chở vật liệu làm nhà, bán hàng tại ô đất đó Sau bán hàng một thời gian, do điều kiện gia đình anh Hậu không bán hàng nữa, quán đó vẫn còn đấy Khi nhận chuyển nhượng đất anh Hậu

có nhờ tôi, anh Dậu, chị Sách lên làm chứng Hai bên đã thoả thuận với nhau, có cam kết việc mua bán của hai bên về ô đất mua bán Hai bên nhất trí với nhau vì quyền lợi anh Hậu được hưởng Những việc thỏa thuận như anh Hậu trình bày là đúng sự thật” Trong Bản tự

khai ngày 18/9/2011, ông cũng giữ nguyên lời khai của mình

+ Ông Bùi Quốc Sự, người đã chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông Hùng, trong Biên bản

lấy lời khai ngày 06/11/2011, cũng xác nhận: “Tôi có thấy ông Hậu xây nhà và cho con đến

bán hàng”.

+ Ông Hà Văn Dậu, trong Biên bản lấy lời khai ngày 20/10/2011, xác nhận: “Khi ông Hậu

xây nhà cho con bán hàng tại chỗ đất mà ông Hậu mua của ông Hùng, tôi cũng có lên giúp ông Hậu dọn dẹp một buổi, tôi thấy thái độ của ông Hùng cùng vợ rất vui vẻ, ủng hộ việc xây dựng (nấu cơm nước, thợ thuyền tất bên ông Hùng)”, “tôi khẳng định: việc chuyển nhượng đất giữa hai ông là có thât, đề nghị tòa giải quyết công bằng”.

+ Bà Trần Thị Sách, trong Bản tự khai ngày 13/11/2011, bà Sách xác nhận: “Anh Hậu có mua đất của chú Hùng Việc mua bán, đất giữa hai anh em là có thật, chú Hùng có viết giấy cho anh Hậu, giấy đó anh Hậu đang cầm.

Khi đã có đất, anh Hậu tiến hành xây nhà cho con anh Hậu làm dịch vụ trong phạm vi nhà

ở đó.

Có một dịp, mấy anh em ngồi với nhau trao đổi việc chú Hùng bán đất cho anh Hậu là có thật Chú Hùng đã viết giấy cho anh Hậu đến khi nào muốn đứng tên chính chủ thì sẽ tạo điều kiện hỗ trợ về thủ tục hành chính, anh em thống nhất thế là xong.

Là anh em họ hàng trong nội tộc, tôi biết và viết lên những sự việc giữa anh Hậu và chú Hùng là có thật trong việc anh Hậu có mua đất của chú Hùng.

+ Ông Bùi Công Uẩn, trong Bản tự khai ngày 16/11/2011, xác nhận: “Chú Hậu có mua đất của chú Hùng Việc mua bán đất giữa 2 anh em là có thật Từ việc mua đất của chú Hùng tôi thấy chú Hùng có xây nhà làm quán bán hàng và sửa chữa xe máy Cháu Vân là con

Trang 8

trai chú Hậu có bán hàng và sửa xe máy ở đó một thời gian Sau đó vì kinh doanh không được, cháu Vân nghỉ không sửa chữa xe máy nữa.

Là anh em họ trong nội tộc tôi biết và viết những sự việc mua bán đất trên của chú Hậu và chú Hùng là có thật”.

- Thứ năm, chính ông Hùng, bà Nhân cũng đã nhiều lần xác nhận có việc thỏa thuận chuyển

nhượng quyền sử dụng đất giữa hai bên Trong Biên bản đối chất ngày 16/10/2011, ông

Hùng và bà Nhân có trình bày: “Vào ngày 30/5/2004 chúng tôi có thoả thuận với ông Hậu

chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng thoả thuận này không thành vì ông Hậu chưa trả tiền cho chúng tôi Thoả thuận vào ngày 30/5/2004 là do tôi (Hùng), vợ tôi và ông Hậu cùng ký tên ở dưới”; “bản cam kết ngày 30/05/2004 là có thực, do tôi tự viết”, “khi ông Hậu xây nhà thì chúng tôi có đồng ý và việc xây dựng cũng không bị xử phạt vi phạm hành chính Chúng tôi đồng ý trả tiền đền bù giá trị xây dựng nhà còn lại cho ông Hậu” Trong

Biên bản hòa giải ngày 15/9/2011, ông Hùng, bà Nhân xác nhận: “Đúng là có thỏa thuận

chuyển nhượng đất nhưng ông Hậu chưa trả cho chúng tôi tiền”.

- Mặc dù Giấy thỏa thuận của các bên chưa có công chứng, chứng thực nhưng theo quy định

tại điểm b.3, tiểu mục 2.3 Nghị quyết số 02/2004, “đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất vi phạm điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 và điểm a.6 (vi phạm về hình thức hợp đồng: không có công cứng, chứng thực) tiểu mục 2.3 mục 2 này, nếu sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng đã trồng cây lâu năm, đã làm nhà kiên cố và bên chuyển nhượng không phản đối và cũng không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, thì Toà án công nhận hợp đồng” 1

Như vậy, với những quy định pháp luật và chứng cứ nêu trên, có đầy đủ cơ sở pháp lý và

chứng cứ để chứng minh giữa ông Trần Văn Hậu và ông Trần Văn Hùng, Trần Thị Nhân có việc thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đẩt và thực tế là thực hiện theo thỏa thuận này, hay nói ccáh khác thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 30/5/2004 giữa ông Trần Văn Hậu

và ông Trần Văn Hùngg, Trần Thị Nhân là hợp pháp, có hiệu lực và giá trị pháp lý ràng buộc quyền và nghĩa vụ đối với hai bên

Do đó, ông Trần Văn Hùng, bà Trần Thị Nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đúng thỏa thuận

và đúng quy định của pháp luật: chuyển giao lại đất cho ông Trần Văn Hậu theo quy định tại

khoản 3 Điều 709 BLDS 1995; thiện hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Hậu

theo thỏa thuận: “Khi nào anh Hậu có nhu cầu chuyển tên trong giấy tờ đất, hai vợ chồng em là

Trần Văn Hùng và Trần Thị Nhân cam kết làm đầy đủ thủ tục theo quy định của pháp luật”.

Về căn nhà, như các luận điểm và chứng cứ nêu trên có đề cập, căn nhà hiện tại trên đất

đang tranh chấp do ông Hậu xây Vì vậy, ông Hùng, bà Nhân phải trả lại căn nhà cho ông Hậu Ông HÙng, bà NHân có khai đã sửa chữa căn nhà nhưng không có chứng cứ cụ thể chứng minh nên không có cơ sở xem xét thanh toán chi phí sửa chữa nhà cho ông, bà

Từ những phân tích và chứng cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận:

1

Luận điểm này dùng để bác bỏ quan điểm của phía bị đơn nếu họ tranh luận về hình thức của Thỏa thuận chuyển

Trang 9

- Thỏa thuận chuyển nhượng quyến sử dụng đất giữa ông Trần Văn Hậu và ông Trần Văn Hùng, Trần Thị Nhân là có thật, đã thực hiện trên thực tế, có hiệu lực và giá trị pháp lý ràng buộc đối với các bên

Vì vậy, kính đề nghị Hội đồng xét xử chấp thuận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Trần Văn Hậu, tuyên xử: thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử vdụng đất giữa ông Trần Văn Hậu và ông Trần Văn Hùng, bà Trần Thị Nhân là hợp pháp và có hiệu lực; buộc ông Trần Văn Hậu, bà Trần Thị Nhân thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận, chuyển giao lại phần đất cho ông Hậu và cùng với ông Hậu tiến hành các thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định; buộc ông Trần

Văn Hùng, bà Trần Thị Nhân trả lại căn nhà trên đất cho ông Hậu

Trên đây là quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cho nguyên đơn Trần Văn

Hậu Kính mong Hội đồng xét xử quan tâm xem xét để có phán quyết công minh

Tôi xin chân thành cảm ơn

Trân trọng,

Luật sư Kiều Anh Vũ

1 Hội đồng xét xử

1.1 Thẩm phán:

1.2 Hội thẩm 1

Trang 10

1.3 Hội thẩm 2

2 Nguyên đơn

3 Bị đơn

Ngày đăng: 18/04/2023, 09:58

w