Bệnh niêm mạc miệng chủ yếu biểu hiện dưới dạng các sang thương niêm mạc miệng, từ những sang thương dạng phẳng, với sự thay đổi màu sắc cho đến những sang thương gồ chứa dịch như mụn nư
Trang 1BỆNH NIÊM MẠC MIỆNG
BS.CKI Trần Kim Trinh
Mục tiêu:
1 Mô tả được 4 sang thương cơ bản niêm mạc miệng
2 Trình bày 4 dạng viêm miệng phổ biến
3 Nhận diện được tổn thương niêm mạc miệng trên bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS
4 Phát hiện được tổn thương ung thư xoang miệng trên lâm sàng
5 Xếp hạng lâm sàng ung thư xoang miệng theo TNM (UICC)
1 KHÁI QUÁT VỀ BỆNH NIÊM MẠC MIỆNG
Bệnh niêm mạc miệng bao gồm những bệnh lý tại chỗ các cấu trúc niêm mạc miệng cũng như biểu hiện các bệnh lý toàn thân tại niêm mạc miệng Bệnh lý niêm mạc miệng, được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ đơn thuần là bệnh lý niêm mạc miệng mà còn bao gồm bệnh
lý các cấu trúc dưới niêm mạc Bệnh niêm mạc miệng chủ yếu biểu hiện dưới dạng các sang thương niêm mạc miệng, từ những sang thương dạng phẳng, với sự thay đổi màu sắc cho đến những sang thương gồ chứa dịch như mụn nước, bóng nước hoặc sang thương đặc dạng hòn, dạng chồi sùi cho đến những sang thương lõm xuống dưới như dạng chợt loét của niêm mạc
Sang thương niêm mạc miệng có thể là một sang thương lành tính hay là một sang thương ác tính Sang thương niêm mạc miệng do nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể là một sang thương do các tác nhân vật lý, hoá học; cũng có thể do nhiễm trùng như virus, vi khuẩn,
vi nấm; hoặc đó là bệnh lý tự miễn, với các biểu hiện vừa toàn thân, vừa tại chỗ; hoặc đó là các dạng ung thư niêm mạc miệng như ung thư biểu mô tế bào gai, ung thư tế bào đáy…
Kiến thức về bệnh lý niêm mạc miệng là cần thiết không chỉ đối với bác sĩ chuyên khoa RHM mà còn rất cần thiết với BS Y khoa nói chung, nhằm có thể giúp bệnh nhân phát hiện sớm những sang thương niêm mạc miệng nguy hiểm, nhất là ung thư niêm mạc miệng, một loại ung thư phổ biến, giúp cải thiện tỉ lệ tử vong trong cộng đồng và nâng cao chất lượng cuộc sống
2 SANG THƯƠNG CƠ BẢN NIÊM MẠC MIỆNG
Sang thương cơ bản niêm mạc miệng là những sang thương niêm mạc và tổ chức dưới niêm mạc, chưa bị biến đổi do điều trị Sang thương cơ bản niêm mạc miệng có thể phân chia thành 4 nhóm khác nhau, theo độ nhô so với bề mặt niêm mạc, bao gồm:
Sang thương phẳng có đặc điểm không nhô lên
cũng như lõm xuống và khác màu với mô chung quanh (có
thể màu đỏ, màu xanh, màu nâu hay nâu đen) Sang thương
được đặt tên theo kích thước và màu sắc Khi sang thương
nhỏ hơn 1cm, được gọi là dát (macule) và khi lớn hơn 1cm,
được gọi là bệt (patch) Trên thực tế lâm sàng, sang thương
Hình 5.1: Mô hình sang thương phẳng, phân loại theo kích thước
là dát và bệt
Trang 2dát là sang thương chủ yếu, được phân loại theo màu sắc và tính chất sang thương như: dát sắc
tố, dát hồng ban và dát xuất huyết
2.1.1 Dát sắc tố
Dát sắc tố niêm mạc miệng là do sắc tố lắng đọng dưới niêm mạc, ánh màu lên bề mặt niêm mạc, đậm hay nhạt tuỳ theo lượng sắc tố lắng đọng Dát sắc tố không phải là bệnh lý và sắc tố lắng đọng có thể do nguyên nhân nội tại hoặc ngoại lai Dát sắc tố do nguyên nhân nội tại phổ biến nhất là do lắng đọng sắc tố melanin (hình 5.2), còn gọi là dát hắc tố Dát sắc tố do nguyên nhân ngoại lai phổ biến nhất là do nhiễm sắc amalgam (hình 5.3)
Nguồn: http://www.exodontia.info/Amalgam_Tattoo.html
2.1.2 Hồng ban
Hồng ban là một loại dát sắc tố đặc biệt, có màu đỏ hay hồng là có tính chất viêm Nguyên nhân viêm có thể do nhiễm vi sinh vật như virus, nấm (hình 5.4) hoặc là viêm dị ứng (hình 5.5) hoặc viêm miệng liên quan đến các bệnh tự miễn
Nguồn: https://pocketdentistry.com/35-oral-mucosal-and-salivary-gland-infections/
2.1.3 Dát xuất huyết
Dát xuất huyết niêm mạc có màu đỏ tươi hoặc đỏ sậm, xảy ra khi hồng cầu thoát mạch
và đi vào mô dưới niêm mạc, do chấn thương hoặc do bệnh lý toàn thân Tuỳ theo kích thước,
Hình 5.2: Dát hắc tố môi dưới Hình 5.3: Dát sắc tố do nhiễm sắc Amalgam
Hình 5.4: Viêm miệng dạng hồng
ban do nấm Candida albicans
Hình 5.5: Viêm miệng dạng hồng ban do dị ứng nhựa hàm giả
Trang 3dát xuất huyết có thể được phân loại là xuất huyết điểm (hình 5.6), xuất huyết đốm (hình 5.7) hay xuất huyết mảng (hình 5.8) Dát xuất huyết có đặc điểm đè không biến mất và tự tiêu trong một đến hai tuần sau khi đổi màu tuần tự màu đỏ qua tím, nâu, vàng
Hình 5.6: Xuất huyết điểm
khẩu cái mềm và lưỡi gà
Hình 5.7: Xuất huyết đốm rải rác khẩu cái mềm và khẩu cái cứng
Hình 5.8: Mảng xuất huyết môi dưới
Nguồn: http://www.newhealthadvisor.com/Red-Spots-on-Roof-of-Mouth.html
2.2 Sang thương gồ dạng đặc
Sang thương gồ dạng đặc là sang thương nhô
lên khỏi bề mặt niêm mạc, có bề mặt nhẵn, hay thô
ráp, sần sùi, với nhiều kích thước khác nhau, Sang
thương gồ thường phát triển về phía bề mặt, nhưng
cũng có thể lan sâu vào lớp bì bên dưới với nhiều
mức độ khác nhau tuỳ loại sang thương Sang
thương gồ dạng đặc, có kích thước nhỏ hơn 1cm gọi
là sần (papule) và khi lớn hơn 1cm gọi là mảng
(plaque) (hình 5.9)
Sang thương dạng mảng phổ biến hơn trên
lâm sàng, có thể có màu sắc bề mặt màu trắng hay
hồng, trơn láng hay thô ráp (hình 5.10)
Trường hợp bề mặt sang thương sần sùi, do sự tăng sinh các nhú bì, phát triển kết thành một vùng mô nhô cao trên bề mặt, được gọi là sùi (hình 5.11)
Hình 5.10: Bạch sản niêm mạc má (P)
với biểu hiện sang thương dạng mảng
Hình 5.11: Ung thư tế bào gai niêm mạc miệng với biểu hiện sang tương dạng sùi lan rộng
Nguồn: http://dentallecnotes.blogspot.com/2011/07/leukoplakia-is-most-common-premalignant.html
Hình 5.9: Mô hình sang thương gồ dạng đặc với kích thước nhỏ (sần) và kích thước lớn (mảng)
Trang 42.3 Sang thương gồ chứa dịch
Sang thương gồ chứa dịch là sang thương nhô lên khỏi bề mặt niêm mạc, có bề mặt trơn láng, hình thành những túi nhỏ chứa dịch hoặc mủ Sang thương có kích thước nhỏ hơn 5mm, xuất hiện đơn lẻ hay từng chùm, chứa dịch được gọi là mụn nước (vescicle) hay mụn
mủ (pustule), tuỳ theo dịch chứa là dịch trong hay
mủ Trường hợp túi chứa dịch có kích thước lớn hơn
5mm, có thể đến vài cm, gọi là bóng nước (bulla)
(hình 5.12) Sang thương mụn nước ban đầu có thể
chuyển thành mụn mủ hay bóng nước
Sang thương mụn nước hay bóng nước
thường không tồn tại lâu mà vỡ để lại những sang
thương dạng chợt hay loét
Sang thương dạng mụn nước thường gặp
trong những trường hợp viêm miệng do virus như
viêm miệng herpes (hình 5.13), thuỷ đậu, zona…
Sang thương bóng nước thường gâp trong
trường hợp viêm miệng liên quan đến dị ứng hay
bệnh tự miễn như lichen dạng bóng nước hay
Hình 5.15: Lichen phẳng dạng bóng nước
Nguồn http://www.myhealth.gov.my/en/oral-herpes-simplex-infection/
http://oral-lichen-planus.blogspot.com/2006/01/bullous-oral lichen-planus.html
2.4 Sang thương lõm
Sang thương lõm niêm mạc miệng là tổn thương
mất chất, phá vỡ cấu trúc bề mặt niêm mạc và có thể lan
sâu xuống các cấu trúc dưới niêm mạc Sang thương
lõm được phân biệt theo độ sâu là sang thương chợt
(erosion), nếu chưa phá huỷ màng đáy và sang thương
loét (ulcer), nếu phá huỷ vượt qua màng đáy (hình
5.16) Trong các sang thương phá huỷ, loại sang
thương phát huỷ sâu và hẹp được gọi là vết nứt
Hình 5.12: Mô hình sang thương gồ chứa dịch, với kích thước nhỏ (mun nước, mụn mủ) và kích thước lớn (bóng nước)
Hình 5.16: Mô hình sang thương gồ chứa dịch, với kích thước nhỏ (mun nước, mụn mủ) và kích thước lớn (bóng
Trang 5(hình 5.16), tuy nhiên không được trình bày ở đây
(Nguồn hình 5.1, 5.9, 5.12, 5.16: https://en.wikipedia.org/wiki/Cutaneous_condition)
Sang thương dạng chợt có kích thước thay đổi từ 1mm đến vài cm, thường hình thành
do các mụn nước hoặc bóng nước vỡ (hình 5.17) Sang thương chợt cũng có thể do nguyên
nhân chấn thương do hàm giả hoặc các bệnh lý viêm tự miễn như lichen phẳng dạng chợt (hình 5.18) Đáy sang thương chợt thường xuyên tiết dịch và ánh mạch máu từ mô liên kết bên dưới, nên có màu đỏ
Sang thương dạng loét có kích thước tương tự sang thương chợt, nhưng phá huỷ lan qua màng đáy ở nhiều mức độ khác nhau Sang thương loét cũng có thể do nguyên nhân chấn thương do hàm giả hoặc các bệnh lý viêm tự miễn như như sang thương chợt (hình 5.19) Đặc biệt, sang thương loét phá huỷ sâu có thể là sang thương ung thư niêm mạc miệng (hình 5.20) Khác với sang thương chợt đáy vết loét là mô liên kết, mô sợi có thấm nhập bạch cầu đa nhân, nếu viêm cấp và có thể phủ giả mạc trên bề mặt
Hình 5.19: Sang thương loét áp tơ
Nguồn: http://www.thewavelength.org/journals/volume-2-january-2014/case-4-outside-the-box/
Trang 63 BỆNH VIÊM MIỆNG PHỔ BIẾN
Viêm miệng là bệnh lý niêm mạc miệng phổ biến, gồm hai nhóm chính là viêm miệng nhiễm trùng và viêm miệng không nhiễm trùng
Viêm miệng nhiễm trùng có thể do virus, vi khuẩn hay nấm, trong đó vi khuẩn gây viêm miệng có thể là vi khuẩn đặc hiệu như vi khuẩn lao, giang mai, cùi hay vi khuẩn không đăc hiệu Hai dạng viêm miệng nhiễm trùng phổ biến nhất là viêm miệng virus và viêm miệng nấm Candida albicans
Viêm miệng không nhiễm trùng, chủ yếu liên quan bệnh tự miễn, với hai dạng bệnh chiếm tỉ lệ hàng đầu là viêm miệng áp tơ (apthous ulceration) và lichen phẳng (lichen plan)
3.1 Viêm miệng virus
Viêm miệng virus xảy ra khá phổ biến, do nhiều loại virus khác nhau như virus Herpes simplex, Varicella- Zoster, Herpagina…, trong đó nguyên nhân do virus Herpex simplex là
thường gặp nhất
Đặc điểm chung viêm miệng virus là
sang thuơng nguyên phát dạng mụn nước, sau
đó sớm vỡ để lại những vết loét (hình 5.21)
Những vết loét nhỏ lân cận có thể gom tụ
thành viết loét lớn hơn Các vết loét thường
lành sau 1 – 2 tuần, dù không điều trị Đặc
điểm chung của vết loét do nhiễm virus là
không để lại sẹo Ngoài ra, đặc điểm vết loét
còn mang tính đặc thù cho từng loại virus
khác nhau Ví dụ như mụn nước do virus
Herpes simplex tập trung thành từng cụm,
thường xảy ra ở môi, còn mụn nước do
virus Varicella- Zoster phân bố dọc
đường đi thần kinh V và gây đau nhức
nhiều và lâu lành hơn so với viêm miệng
do các virus khác
Viêm miệng virus chủ yếu do lây truyền qua tiếp xúc trực tiếp, liên quan đến một số yếu tố thuận lợi như suy nhược cơ thể, chấn động tâm lý hay giảm sức đề kháng Trong các
bệnh viêm miệng do virus, viêm miệng do Herpex simplex là bệnh có nguy cơ lây nhiễm cao
nhất trong điều trị nha khoa
Thời gian ủ bệnh của viêm miệng virus từ vài ngày đến 2 tuần và triệu chứng toàn thân thường gặp bao gồm sốt, mệt mỏi, nổi hạch vùng trước khi nổi mụn nước
Viêm miệng herpes có hai dạng là herpes nguyên phát và herpes thứ phát Herpes nguyên phát đa phần xảy ra ở trẻ em tử 6 tháng đến 6 tuổi Tuy nhiên nó có thể xảy ra ở bất kỳ
tuổi nào nếu như chưa nhiễm trước đó Herpes thứ phát là tình trạng tái phát do virus Herpes simplex ở trạng thái tiềm ẩn ở mô thần kinh của hạch sinh ba sau đợt nhiễm virus lần đầu và
biểu hiện khi có yếu tố thuận lợi như suy nhược, sang chấn tâm lý hay giảm sức đề kháng Herpes thứ phát đa số ở bờ môi nên còn gọi là herpes môi (Herpes labialis) (hình 5.13)
Hình 5.21: Viêm miệng herpes nguyên phát, với biểu hiện dạng vết loét do vỡ mụn nước ở khẩu cái cứng và khẩu cái mềm
Nguồn: http://www.entusa.com/oral_photos.htm
Trang 7Điều trị viêm miệng do virus các loại theo nguyên tắc chung là nâng tổng trạng và sử dụng thuốc kháng virus dạng uống hoặc dạng thoa như acyclovir
3.2 Nấm miệng Candida albicans
Nấm miệng do Candida albicans là loại
thường gặp nhất trong miệng Sự phát triển của nấm
thường theo sau một số điều kiện thuận lợi tại chỗ
hoặc toàn thân Yếu tố tại chỗ bao gồm rối loạn chủng
vi khuẩn thường trú trong miệng do sử dụng kháng
sinh hoặc súc miệng sát trùng kéo dài, khô miệng do
nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc biệt là sau xạ trị
Yếu tố toàn thân chủ yếu là suy giảm sức đề kháng
như bệnh nhân tiểu đường, sử dụng corticoide kéo
dài, bệnh HIV/AIDS
Biểu hiện lâm sàng nấm miệng khá đa dạng,
như dạng màng giả (hình 5.22), dạng hồng ban (hình
5.23), dạng tăng sinh (hình 5.24)…
Hình 5.23: Nấm Candida albicans
dạng hồng ban ở niêm mạc khẩu cái
Hình 5.24: Nấm Candida albicans dạng tăng sinh ở lưỡi Nguồn:
http://www.hivdent.org/_picturegallery_/ErythematousCandidiasis10.htm
http://yeastinfectioncause.net/2015/05/21/candida-albicans-infection-tongue-6/
Candida albicans thường ở nông trên bề mặt biểu mô nên việc chẩn đoán khá dễ dàng,
chỉ cần làm phết niêm mạc và soi tươi hoặc nhuộm
Nguyên tắc điều trị nấm miệng bao gồm sử dụng kháng sinh kháng nấm tại chỗ hoặc toàn thân, kết hợp nâng tổng trạng Sử dụng tăng tiết nước bọt hoặc nước bọt nhân tạo trong trường hợp khô miệng sau xạ trị là yếu tố quan trọng cần lưu ý trong điều trị nấm miệng
3.3 Viêm miệng áp tơ
Viêm miệng áp tơ là loại bệnh lý phổ biến nhất, biểu hiện dưới dạng những vết loét tái phát và chiếm tỉ lệ khoảng 20% trong cộng đồng, nữ nhiều hơn nam
Hình 5.22: Nấm Candida albicans miệng dạng màng giả ở toàn bộ khẩu cái cứng, khẩu cái mềm và sống hàm
Trang 8Nguyên nhân áp tơ cho đến nay vẫn chưa được biết rõ Tuy nhiên các yếu tố liên quan được ghi nhận bao gồm yếu tố tại chỗ, yếu tố toàn thân và yếu tố di truyền Yếu tố tại chỗ là yếu tố khởi phát thường gặp nhất của áp tơ, có thể là chấn thương trong thao tác vệ sinh răng miệng (trượt bàn chải) hay trong điều trị nha khoa (vị trí gây tê, vị trí đặt film) Yếu tố toàn thân bao gồm sang chấn tâm lý, chu kỳ kinh nguyệt và một số bệnh toàn thân như hội chứng Behcet, bệnh Crohn Yếu tố di truyền có liên quan là một số nhóm HLA, có nguy cơ áp tơ cao hơn
Mặc dù chưa biết rõ nguyên nhân, nhưng trong diễn tiến vết loét áp tơ, có sự hoạt động của các enzym MMP (matrix metaloproteinase) là collagenase gây huỷ khung mô liên kết dưới niêm mạc trước khi xảy ra vết loét Đây là phát hiện quan trọng, góp phần trong chiến lược điều trị áp tơ bằng cách sử dụng các chất có tác dụng ức chế collagenase
Viêm miệng áp tơ có ba hình thái lâm sàng theo mức độ phổ biến là áp tơ nhỏ tái phát ((minor aphthous ulcers), áp tơ dạng herpes (hepertiform aphthous ulcers) và áp tơ khổng lồ (major aphthous ulcers) Áp tơ khổng lồ thường liên quan đến yếu tố toàn thân hơn so với áp
tơ nhỏ tái phát và áp tơ dạng herpes
Thường có triệu chứng báo trước 1 – 2 ngày, kèm cảm
giác rát bỏng hoặc đau ở vùng sẽ xuất hiện vết loét và cùng
một lúc có thể có nhiều vết loét Vết loét áp tơ gây đau rát khó
chịu cho bệnh nhân, nhất là khi ăn và thông thường sẽ tự khỏi
sau 7 – 10 ngày Đặc điểm chính của áp tơ nhỏ tái phát là cơn
tái phát Cơn tái phát mỗi bệnh nhân mỗi khác nhau, có thể vài
tháng 1 lần hoặc tái phát hàng tháng
Nguyên tắc điều trị áp tơ nhỏ tái phát là làm thưa
khoảng tái phát, rút ngắn thời gian vết loét, tứ nhanh lành
thương và giảm đau trong khi vết loét hiện diện
Làm thưa khoảng tái phát và rút ngắn thời gian loét
dựa trên cơ chế hình thành vết loét Các chất có tác dụng ức
chế collagenase được sử dụng như chlorexidine 0,12% hoặc
kháng sinh họ tetracycline, một kháng sinh có đặc tính ức chế collagenase, được sử dụng khi
có tiền triệu Kết quả, có thể ngăn ngừa vết loét xảy ra và rút ngắn thời gian loét
Tăng lành thương cũng giúp rút ngắn thời gian loét bằng vitamin C liều cao (1 – 2g/ngày) giúp đầy nhanh tổng hợp khung collagen dưới niêm mạc bị phá huỷ do enzym collagenase, nhờ khả năng vận chuyển điện tử hình thành hydroxyproline, một a xit amin quan trọng thành phần collagen
Điều trị giảm đau có thể bằng các loại thuốc tê bôi tại chỗ hoặc chuyển sang thường áp
tơ thành một loại sang thương khác ít đau và nhanh lành hơn Các biện pháp sử dụng laser
Hình 5.25: Viêm miệng áp
tơ nhỏ tái phát với biểu hiện vết loét ở vị trí môi dưới, gần ngách lợi
Trang 9giúp chuyển vết thuơng áp tơ thành vết thuơng laser hoặc đốt tại chỗ bằng hoá chất hay đốt nhiệt đều có tác dụng trên lâm sàng
3.3.2 Áp tơ dạng herpes
Dạng này ít gặp hơn áp tơ nhỏ tái phát và có biểu
hiện lâm sàng rất giống sang thương do herpes, gồm
nhiều vết loét nhỏ tập trung thành từng cụm (hình 5.26)
Tuy nhiên, sang thương áp tơ này không trải qua giai
đoạn mụn nước như herpes và gây đau nhức nhiều hơn,
giống như áp tơ nhỏ tái phát Áp tơ dạng herpes không tái
phát với tần suất nhiều như áp tơ nhỏ tái phát
Điều trị áp tơ dạng herpes về nguyên tắc tương tự
như điều trị áp tơ nhỏ tái phát
3.3.3 Áp tơ khổng lồ
Áp tơ khổng lồ biểu hiện dưới dạng những vết
loét lớn, thường trên 1cm, phá huỷ sâu xuống dưới niêm
mạc (hỉnh 5.27) và kéo dài, từ vài tuần cho đến 1 Một số
trường hợp áp tơ không lồ có thể kéo dài đến 2 tháng Do
phá huỷ sâu, áp tơ khổng lồ thường để lại sẹo sau khi
lành Để phân biệt với các tổn thương dạng loét phá huỷ
khác như ung thư dạng loét, vết loét lao hay nhiễm nấm
sâu, cần thiết phải sinh thiết để xác định chẩn đoán
Dạng áp tơ khổng lồ này thường gặp ở bệnh nhân nhiễm
3.4 Liken phẳng (Lichen planus)
Lichen phẳng là một bệnh viêm mạn tính của da và niêm mạc, với tỉ lệ từ 1 – 2% trong cộng đồng ở tuổi trung niên, nữ nhiều hơn nam Một số bệnh nhân bị đồng thời ở cả da và niêm mạc trong đó niêm mạc miệng là nơi thường gặp Đặc trưng là những đường trắng sừng hóa đan nhau hình mạng lưới hay hình nhẫn trên bề mặt niêm mạc gọi là sọc Wickham (Wickham ,s striae)
Nguyên nhân lichen phẳng chưa biết rõ, nhưng một số nghiên cứu cho rằng lichen phẳng có thể liên quan với căng thẳng tinh thần, thuốc lá Cần lưu ý là một số bệnh lý toàn thân như cao huyết áp, tiểu đường, một số thuốc hay hóa chất được ghi nhân nhưng gây ra phản ứng dạng liken (lichenoid reaction) hơn là liken phẳng thực thụ
Lichen phẳng thường gặp ở niêm mạc má, thường đối xứng hai bên Ngoài ra, lichen phẳng còn có thể gặp ở lưỡi, môi, sàn miệng và nướu Lichen phẳng thường không gây triệu
Hình 5.26: Viêm miệng áp tơ dạng herpes ở hông lưỡi
Ng
Hình 5.27: Áp tơ khổng lồ môi dưới
Nguồn: http://www.moderndentistry.com.au/mouth_ulcers.php
Trang 10chứng hoặc chỉ đau rát nhẹ và đa số được phát hiện chủ yếu qua việc khám răng miệng định
kỳ
Lichen phẳng có biểu hiện lâm sàng đa dạng, với 6 dạng là dạng lưới (hình 5.28), dạng mảng, dạng sần, dạng teo (ban đỏ), dạng chợt (hình 5.29) và dạng bóng nước, trong đó dạng lưới thường gặp nhất
Hình 5.28: Lichen phẳng dạng
lưới niêm mạc má
Hình 5.29: Lichen phẳng dạng chợt niêm mạc má
Nguồn: the-box/
http://www.thewavelength.org/journals/volume-2-january-2014/case-4-outside-Điều trị lichen phẳng tuỳ thuộc thể lâm sàng Những trường hợp lichen phẳng không triệu chứng chỉ cần giữa vệ sinh miệng và phòng ngừa bội nhiễm nấm Những sang thương dạng lichen (lichenoid) có thể điều trị bằng cách loại bỏ yếu tố kích thích có khả năng là nguyên nhân
Với lichen phẳng dạng chợt, thường gây triệu chứng đau rát, có thể sử dụng corticoide tại chỗ hoặc toàn thân Tuy nhiên, khả năng tái phát sau điều trị corticoide khá cao Ngoài ra, lichen phẳng dạng chợt có thể là sang thuơng tiền ung thư cần phải lưu ý theo dõi
Lichen dạng sừng hoá (dạng lưới) có thể sử dụng thuốc chống sừng hoá như tacrolimus hoặc phẫu thuật Laser liệu pháp với hiệu ứng bóc vỏ (peel off) khá hiệu quả với lichen phẳng dạng sừng hoá này
4 BIỂU HIỆN MIỆNG TRÊN BỆNH NHÂN HIV/AIDS
Các tổn thương miệng thường là biểu hiện sớm của bệnh HIV/AIDS Ngày nay người
ta nhận thấy có gần 95% bệnh nhân nhiễm HIV có một hoặc nhiều tổn thương ở miệng Vì vậy, khám xoang miệng là cần thiết và rất có ý nghĩa trong việc góp phần chẩn đoán nhiễm HIV/AIDS cũng như đánh giá mức độ, giai đoạn của bệnh Những tổn thương miệng có thể chia làm 3 nhóm:
Nhóm 1: Những sang thương kết hợp chặt chẽ nhiễm HIV
Trang 11Nhóm 2: Những sang thương ít kết hợp với HIV
- Nhiễm Herpes simplex virus
- Nhiễm Varicella – Zoster
- Bệnh viêm loét không đặc hiệu
Các biểu hiện miệng trên bệnh nhân HIV/AIDS được trình bày ở đây chủ yếu thuộc
nhóm 1, là nấm miệng do Candida albicans, bệnh nha chu, bạch sản lông và sarcome Kaposi
4.1 Nấm miệng Candida albicans
Nấm miệng Candida albicans gặp ở giai đoạn suy giảm miễn dịch nặng Nghiên cứu cho thấy có khoảng 35% nấm miệng Candida albicans ở người nhiễm HIV và 75% ở bệnh
nhân AIDS giai đoạn nặng Nấm miệng có đặc điểm thường xuất hiện bất ngờ ở người trẻ, không có nguyên nhân rõ ràng, không đáp ứng với những điều trị thông thường và dễ tái phát
Nấm miệng Candida albicans có nhiều dạng:
4.1.2 Dạng teo
Thường gặp ở lưng lưỡi, đôi khi ở khẩu cái (hình 5.23) Lưỡi có những vùng mất gai chỉ, trơn láng Bệnh nhân có thể cảm thấy đau rát khi ăn hoặc không có triệu chứng Dạng này bình thường có thể gặp ở những người sử dụng kháng sinh lâu ngày