1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

5 benh niem mac mieng y5 bs trinh

23 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bệnh Niêm Mạc Miệng
Tác giả Bs.Cki Trần Kim Trinh
Trường học Trường Đại Học Y Dược
Chuyên ngành Y Khoa
Thể loại Bài Giảng
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh niêm mạc miệng chủ yếu biểu hiện dưới dạng các sang thương niêm mạc miệng, từ những sang thương dạng phẳng, với sự thay đổi màu sắc cho đến những sang thương gồ chứa dịch như mụn nư

Trang 1

BỆNH NIÊM MẠC MIỆNG

BS.CKI Trần Kim Trinh

Mục tiêu:

1 Mô tả được 4 sang thương cơ bản niêm mạc miệng

2 Trình bày 4 dạng viêm miệng phổ biến

3 Nhận diện được tổn thương niêm mạc miệng trên bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS

4 Phát hiện được tổn thương ung thư xoang miệng trên lâm sàng

5 Xếp hạng lâm sàng ung thư xoang miệng theo TNM (UICC)

1 KHÁI QUÁT VỀ BỆNH NIÊM MẠC MIỆNG

Bệnh niêm mạc miệng bao gồm những bệnh lý tại chỗ các cấu trúc niêm mạc miệng cũng như biểu hiện các bệnh lý toàn thân tại niêm mạc miệng Bệnh lý niêm mạc miệng, được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ đơn thuần là bệnh lý niêm mạc miệng mà còn bao gồm bệnh

lý các cấu trúc dưới niêm mạc Bệnh niêm mạc miệng chủ yếu biểu hiện dưới dạng các sang thương niêm mạc miệng, từ những sang thương dạng phẳng, với sự thay đổi màu sắc cho đến những sang thương gồ chứa dịch như mụn nước, bóng nước hoặc sang thương đặc dạng hòn, dạng chồi sùi cho đến những sang thương lõm xuống dưới như dạng chợt loét của niêm mạc

Sang thương niêm mạc miệng có thể là một sang thương lành tính hay là một sang thương ác tính Sang thương niêm mạc miệng do nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể là một sang thương do các tác nhân vật lý, hoá học; cũng có thể do nhiễm trùng như virus, vi khuẩn,

vi nấm; hoặc đó là bệnh lý tự miễn, với các biểu hiện vừa toàn thân, vừa tại chỗ; hoặc đó là các dạng ung thư niêm mạc miệng như ung thư biểu mô tế bào gai, ung thư tế bào đáy…

Kiến thức về bệnh lý niêm mạc miệng là cần thiết không chỉ đối với bác sĩ chuyên khoa RHM mà còn rất cần thiết với BS Y khoa nói chung, nhằm có thể giúp bệnh nhân phát hiện sớm những sang thương niêm mạc miệng nguy hiểm, nhất là ung thư niêm mạc miệng, một loại ung thư phổ biến, giúp cải thiện tỉ lệ tử vong trong cộng đồng và nâng cao chất lượng cuộc sống

2 SANG THƯƠNG CƠ BẢN NIÊM MẠC MIỆNG

Sang thương cơ bản niêm mạc miệng là những sang thương niêm mạc và tổ chức dưới niêm mạc, chưa bị biến đổi do điều trị Sang thương cơ bản niêm mạc miệng có thể phân chia thành 4 nhóm khác nhau, theo độ nhô so với bề mặt niêm mạc, bao gồm:

Sang thương phẳng có đặc điểm không nhô lên

cũng như lõm xuống và khác màu với mô chung quanh (có

thể màu đỏ, màu xanh, màu nâu hay nâu đen) Sang thương

được đặt tên theo kích thước và màu sắc Khi sang thương

nhỏ hơn 1cm, được gọi là dát (macule) và khi lớn hơn 1cm,

được gọi là bệt (patch) Trên thực tế lâm sàng, sang thương

Hình 5.1: Mô hình sang thương phẳng, phân loại theo kích thước

là dát và bệt

Trang 2

dát là sang thương chủ yếu, được phân loại theo màu sắc và tính chất sang thương như: dát sắc

tố, dát hồng ban và dát xuất huyết

2.1.1 Dát sắc tố

Dát sắc tố niêm mạc miệng là do sắc tố lắng đọng dưới niêm mạc, ánh màu lên bề mặt niêm mạc, đậm hay nhạt tuỳ theo lượng sắc tố lắng đọng Dát sắc tố không phải là bệnh lý và sắc tố lắng đọng có thể do nguyên nhân nội tại hoặc ngoại lai Dát sắc tố do nguyên nhân nội tại phổ biến nhất là do lắng đọng sắc tố melanin (hình 5.2), còn gọi là dát hắc tố Dát sắc tố do nguyên nhân ngoại lai phổ biến nhất là do nhiễm sắc amalgam (hình 5.3)

Nguồn: http://www.exodontia.info/Amalgam_Tattoo.html

2.1.2 Hồng ban

Hồng ban là một loại dát sắc tố đặc biệt, có màu đỏ hay hồng là có tính chất viêm Nguyên nhân viêm có thể do nhiễm vi sinh vật như virus, nấm (hình 5.4) hoặc là viêm dị ứng (hình 5.5) hoặc viêm miệng liên quan đến các bệnh tự miễn

Nguồn: https://pocketdentistry.com/35-oral-mucosal-and-salivary-gland-infections/

2.1.3 Dát xuất huyết

Dát xuất huyết niêm mạc có màu đỏ tươi hoặc đỏ sậm, xảy ra khi hồng cầu thoát mạch

và đi vào mô dưới niêm mạc, do chấn thương hoặc do bệnh lý toàn thân Tuỳ theo kích thước,

Hình 5.2: Dát hắc tố môi dưới Hình 5.3: Dát sắc tố do nhiễm sắc Amalgam

Hình 5.4: Viêm miệng dạng hồng

ban do nấm Candida albicans

Hình 5.5: Viêm miệng dạng hồng ban do dị ứng nhựa hàm giả

Trang 3

dát xuất huyết có thể được phân loại là xuất huyết điểm (hình 5.6), xuất huyết đốm (hình 5.7) hay xuất huyết mảng (hình 5.8) Dát xuất huyết có đặc điểm đè không biến mất và tự tiêu trong một đến hai tuần sau khi đổi màu tuần tự màu đỏ qua tím, nâu, vàng

Hình 5.6: Xuất huyết điểm

khẩu cái mềm và lưỡi gà

Hình 5.7: Xuất huyết đốm rải rác khẩu cái mềm và khẩu cái cứng

Hình 5.8: Mảng xuất huyết môi dưới

Nguồn: http://www.newhealthadvisor.com/Red-Spots-on-Roof-of-Mouth.html

2.2 Sang thương gồ dạng đặc

Sang thương gồ dạng đặc là sang thương nhô

lên khỏi bề mặt niêm mạc, có bề mặt nhẵn, hay thô

ráp, sần sùi, với nhiều kích thước khác nhau, Sang

thương gồ thường phát triển về phía bề mặt, nhưng

cũng có thể lan sâu vào lớp bì bên dưới với nhiều

mức độ khác nhau tuỳ loại sang thương Sang

thương gồ dạng đặc, có kích thước nhỏ hơn 1cm gọi

là sần (papule) và khi lớn hơn 1cm gọi là mảng

(plaque) (hình 5.9)

Sang thương dạng mảng phổ biến hơn trên

lâm sàng, có thể có màu sắc bề mặt màu trắng hay

hồng, trơn láng hay thô ráp (hình 5.10)

Trường hợp bề mặt sang thương sần sùi, do sự tăng sinh các nhú bì, phát triển kết thành một vùng mô nhô cao trên bề mặt, được gọi là sùi (hình 5.11)

Hình 5.10: Bạch sản niêm mạc má (P)

với biểu hiện sang thương dạng mảng

Hình 5.11: Ung thư tế bào gai niêm mạc miệng với biểu hiện sang tương dạng sùi lan rộng

Nguồn: http://dentallecnotes.blogspot.com/2011/07/leukoplakia-is-most-common-premalignant.html

Hình 5.9: Mô hình sang thương gồ dạng đặc với kích thước nhỏ (sần) và kích thước lớn (mảng)

Trang 4

2.3 Sang thương gồ chứa dịch

Sang thương gồ chứa dịch là sang thương nhô lên khỏi bề mặt niêm mạc, có bề mặt trơn láng, hình thành những túi nhỏ chứa dịch hoặc mủ Sang thương có kích thước nhỏ hơn 5mm, xuất hiện đơn lẻ hay từng chùm, chứa dịch được gọi là mụn nước (vescicle) hay mụn

mủ (pustule), tuỳ theo dịch chứa là dịch trong hay

mủ Trường hợp túi chứa dịch có kích thước lớn hơn

5mm, có thể đến vài cm, gọi là bóng nước (bulla)

(hình 5.12) Sang thương mụn nước ban đầu có thể

chuyển thành mụn mủ hay bóng nước

Sang thương mụn nước hay bóng nước

thường không tồn tại lâu mà vỡ để lại những sang

thương dạng chợt hay loét

Sang thương dạng mụn nước thường gặp

trong những trường hợp viêm miệng do virus như

viêm miệng herpes (hình 5.13), thuỷ đậu, zona…

Sang thương bóng nước thường gâp trong

trường hợp viêm miệng liên quan đến dị ứng hay

bệnh tự miễn như lichen dạng bóng nước hay

Hình 5.15: Lichen phẳng dạng bóng nước

Nguồn http://www.myhealth.gov.my/en/oral-herpes-simplex-infection/

http://oral-lichen-planus.blogspot.com/2006/01/bullous-oral lichen-planus.html

2.4 Sang thương lõm

Sang thương lõm niêm mạc miệng là tổn thương

mất chất, phá vỡ cấu trúc bề mặt niêm mạc và có thể lan

sâu xuống các cấu trúc dưới niêm mạc Sang thương

lõm được phân biệt theo độ sâu là sang thương chợt

(erosion), nếu chưa phá huỷ màng đáy và sang thương

loét (ulcer), nếu phá huỷ vượt qua màng đáy (hình

5.16) Trong các sang thương phá huỷ, loại sang

thương phát huỷ sâu và hẹp được gọi là vết nứt

Hình 5.12: Mô hình sang thương gồ chứa dịch, với kích thước nhỏ (mun nước, mụn mủ) và kích thước lớn (bóng nước)

Hình 5.16: Mô hình sang thương gồ chứa dịch, với kích thước nhỏ (mun nước, mụn mủ) và kích thước lớn (bóng

Trang 5

(hình 5.16), tuy nhiên không được trình bày ở đây

(Nguồn hình 5.1, 5.9, 5.12, 5.16: https://en.wikipedia.org/wiki/Cutaneous_condition)

Sang thương dạng chợt có kích thước thay đổi từ 1mm đến vài cm, thường hình thành

do các mụn nước hoặc bóng nước vỡ (hình 5.17) Sang thương chợt cũng có thể do nguyên

nhân chấn thương do hàm giả hoặc các bệnh lý viêm tự miễn như lichen phẳng dạng chợt (hình 5.18) Đáy sang thương chợt thường xuyên tiết dịch và ánh mạch máu từ mô liên kết bên dưới, nên có màu đỏ

Sang thương dạng loét có kích thước tương tự sang thương chợt, nhưng phá huỷ lan qua màng đáy ở nhiều mức độ khác nhau Sang thương loét cũng có thể do nguyên nhân chấn thương do hàm giả hoặc các bệnh lý viêm tự miễn như như sang thương chợt (hình 5.19) Đặc biệt, sang thương loét phá huỷ sâu có thể là sang thương ung thư niêm mạc miệng (hình 5.20) Khác với sang thương chợt đáy vết loét là mô liên kết, mô sợi có thấm nhập bạch cầu đa nhân, nếu viêm cấp và có thể phủ giả mạc trên bề mặt

Hình 5.19: Sang thương loét áp tơ

Nguồn: http://www.thewavelength.org/journals/volume-2-january-2014/case-4-outside-the-box/

Trang 6

3 BỆNH VIÊM MIỆNG PHỔ BIẾN

Viêm miệng là bệnh lý niêm mạc miệng phổ biến, gồm hai nhóm chính là viêm miệng nhiễm trùng và viêm miệng không nhiễm trùng

Viêm miệng nhiễm trùng có thể do virus, vi khuẩn hay nấm, trong đó vi khuẩn gây viêm miệng có thể là vi khuẩn đặc hiệu như vi khuẩn lao, giang mai, cùi hay vi khuẩn không đăc hiệu Hai dạng viêm miệng nhiễm trùng phổ biến nhất là viêm miệng virus và viêm miệng nấm Candida albicans

Viêm miệng không nhiễm trùng, chủ yếu liên quan bệnh tự miễn, với hai dạng bệnh chiếm tỉ lệ hàng đầu là viêm miệng áp tơ (apthous ulceration) và lichen phẳng (lichen plan)

3.1 Viêm miệng virus

Viêm miệng virus xảy ra khá phổ biến, do nhiều loại virus khác nhau như virus Herpes simplex, Varicella- Zoster, Herpagina…, trong đó nguyên nhân do virus Herpex simplex là

thường gặp nhất

Đặc điểm chung viêm miệng virus là

sang thuơng nguyên phát dạng mụn nước, sau

đó sớm vỡ để lại những vết loét (hình 5.21)

Những vết loét nhỏ lân cận có thể gom tụ

thành viết loét lớn hơn Các vết loét thường

lành sau 1 – 2 tuần, dù không điều trị Đặc

điểm chung của vết loét do nhiễm virus là

không để lại sẹo Ngoài ra, đặc điểm vết loét

còn mang tính đặc thù cho từng loại virus

khác nhau Ví dụ như mụn nước do virus

Herpes simplex tập trung thành từng cụm,

thường xảy ra ở môi, còn mụn nước do

virus Varicella- Zoster phân bố dọc

đường đi thần kinh V và gây đau nhức

nhiều và lâu lành hơn so với viêm miệng

do các virus khác

Viêm miệng virus chủ yếu do lây truyền qua tiếp xúc trực tiếp, liên quan đến một số yếu tố thuận lợi như suy nhược cơ thể, chấn động tâm lý hay giảm sức đề kháng Trong các

bệnh viêm miệng do virus, viêm miệng do Herpex simplex là bệnh có nguy cơ lây nhiễm cao

nhất trong điều trị nha khoa

Thời gian ủ bệnh của viêm miệng virus từ vài ngày đến 2 tuần và triệu chứng toàn thân thường gặp bao gồm sốt, mệt mỏi, nổi hạch vùng trước khi nổi mụn nước

Viêm miệng herpes có hai dạng là herpes nguyên phát và herpes thứ phát Herpes nguyên phát đa phần xảy ra ở trẻ em tử 6 tháng đến 6 tuổi Tuy nhiên nó có thể xảy ra ở bất kỳ

tuổi nào nếu như chưa nhiễm trước đó Herpes thứ phát là tình trạng tái phát do virus Herpes simplex ở trạng thái tiềm ẩn ở mô thần kinh của hạch sinh ba sau đợt nhiễm virus lần đầu và

biểu hiện khi có yếu tố thuận lợi như suy nhược, sang chấn tâm lý hay giảm sức đề kháng Herpes thứ phát đa số ở bờ môi nên còn gọi là herpes môi (Herpes labialis) (hình 5.13)

Hình 5.21: Viêm miệng herpes nguyên phát, với biểu hiện dạng vết loét do vỡ mụn nước ở khẩu cái cứng và khẩu cái mềm

Nguồn: http://www.entusa.com/oral_photos.htm

Trang 7

Điều trị viêm miệng do virus các loại theo nguyên tắc chung là nâng tổng trạng và sử dụng thuốc kháng virus dạng uống hoặc dạng thoa như acyclovir

3.2 Nấm miệng Candida albicans

Nấm miệng do Candida albicans là loại

thường gặp nhất trong miệng Sự phát triển của nấm

thường theo sau một số điều kiện thuận lợi tại chỗ

hoặc toàn thân Yếu tố tại chỗ bao gồm rối loạn chủng

vi khuẩn thường trú trong miệng do sử dụng kháng

sinh hoặc súc miệng sát trùng kéo dài, khô miệng do

nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc biệt là sau xạ trị

Yếu tố toàn thân chủ yếu là suy giảm sức đề kháng

như bệnh nhân tiểu đường, sử dụng corticoide kéo

dài, bệnh HIV/AIDS

Biểu hiện lâm sàng nấm miệng khá đa dạng,

như dạng màng giả (hình 5.22), dạng hồng ban (hình

5.23), dạng tăng sinh (hình 5.24)…

Hình 5.23: Nấm Candida albicans

dạng hồng ban ở niêm mạc khẩu cái

Hình 5.24: Nấm Candida albicans dạng tăng sinh ở lưỡi Nguồn:

http://www.hivdent.org/_picturegallery_/ErythematousCandidiasis10.htm

http://yeastinfectioncause.net/2015/05/21/candida-albicans-infection-tongue-6/

Candida albicans thường ở nông trên bề mặt biểu mô nên việc chẩn đoán khá dễ dàng,

chỉ cần làm phết niêm mạc và soi tươi hoặc nhuộm

Nguyên tắc điều trị nấm miệng bao gồm sử dụng kháng sinh kháng nấm tại chỗ hoặc toàn thân, kết hợp nâng tổng trạng Sử dụng tăng tiết nước bọt hoặc nước bọt nhân tạo trong trường hợp khô miệng sau xạ trị là yếu tố quan trọng cần lưu ý trong điều trị nấm miệng

3.3 Viêm miệng áp tơ

Viêm miệng áp tơ là loại bệnh lý phổ biến nhất, biểu hiện dưới dạng những vết loét tái phát và chiếm tỉ lệ khoảng 20% trong cộng đồng, nữ nhiều hơn nam

Hình 5.22: Nấm Candida albicans miệng dạng màng giả ở toàn bộ khẩu cái cứng, khẩu cái mềm và sống hàm

Trang 8

Nguyên nhân áp tơ cho đến nay vẫn chưa được biết rõ Tuy nhiên các yếu tố liên quan được ghi nhận bao gồm yếu tố tại chỗ, yếu tố toàn thân và yếu tố di truyền Yếu tố tại chỗ là yếu tố khởi phát thường gặp nhất của áp tơ, có thể là chấn thương trong thao tác vệ sinh răng miệng (trượt bàn chải) hay trong điều trị nha khoa (vị trí gây tê, vị trí đặt film) Yếu tố toàn thân bao gồm sang chấn tâm lý, chu kỳ kinh nguyệt và một số bệnh toàn thân như hội chứng Behcet, bệnh Crohn Yếu tố di truyền có liên quan là một số nhóm HLA, có nguy cơ áp tơ cao hơn

Mặc dù chưa biết rõ nguyên nhân, nhưng trong diễn tiến vết loét áp tơ, có sự hoạt động của các enzym MMP (matrix metaloproteinase) là collagenase gây huỷ khung mô liên kết dưới niêm mạc trước khi xảy ra vết loét Đây là phát hiện quan trọng, góp phần trong chiến lược điều trị áp tơ bằng cách sử dụng các chất có tác dụng ức chế collagenase

Viêm miệng áp tơ có ba hình thái lâm sàng theo mức độ phổ biến là áp tơ nhỏ tái phát ((minor aphthous ulcers), áp tơ dạng herpes (hepertiform aphthous ulcers) và áp tơ khổng lồ (major aphthous ulcers) Áp tơ khổng lồ thường liên quan đến yếu tố toàn thân hơn so với áp

tơ nhỏ tái phát và áp tơ dạng herpes

Thường có triệu chứng báo trước 1 – 2 ngày, kèm cảm

giác rát bỏng hoặc đau ở vùng sẽ xuất hiện vết loét và cùng

một lúc có thể có nhiều vết loét Vết loét áp tơ gây đau rát khó

chịu cho bệnh nhân, nhất là khi ăn và thông thường sẽ tự khỏi

sau 7 – 10 ngày Đặc điểm chính của áp tơ nhỏ tái phát là cơn

tái phát Cơn tái phát mỗi bệnh nhân mỗi khác nhau, có thể vài

tháng 1 lần hoặc tái phát hàng tháng

Nguyên tắc điều trị áp tơ nhỏ tái phát là làm thưa

khoảng tái phát, rút ngắn thời gian vết loét, tứ nhanh lành

thương và giảm đau trong khi vết loét hiện diện

Làm thưa khoảng tái phát và rút ngắn thời gian loét

dựa trên cơ chế hình thành vết loét Các chất có tác dụng ức

chế collagenase được sử dụng như chlorexidine 0,12% hoặc

kháng sinh họ tetracycline, một kháng sinh có đặc tính ức chế collagenase, được sử dụng khi

có tiền triệu Kết quả, có thể ngăn ngừa vết loét xảy ra và rút ngắn thời gian loét

Tăng lành thương cũng giúp rút ngắn thời gian loét bằng vitamin C liều cao (1 – 2g/ngày) giúp đầy nhanh tổng hợp khung collagen dưới niêm mạc bị phá huỷ do enzym collagenase, nhờ khả năng vận chuyển điện tử hình thành hydroxyproline, một a xit amin quan trọng thành phần collagen

Điều trị giảm đau có thể bằng các loại thuốc tê bôi tại chỗ hoặc chuyển sang thường áp

tơ thành một loại sang thương khác ít đau và nhanh lành hơn Các biện pháp sử dụng laser

Hình 5.25: Viêm miệng áp

tơ nhỏ tái phát với biểu hiện vết loét ở vị trí môi dưới, gần ngách lợi

Trang 9

giúp chuyển vết thuơng áp tơ thành vết thuơng laser hoặc đốt tại chỗ bằng hoá chất hay đốt nhiệt đều có tác dụng trên lâm sàng

3.3.2 Áp tơ dạng herpes

Dạng này ít gặp hơn áp tơ nhỏ tái phát và có biểu

hiện lâm sàng rất giống sang thương do herpes, gồm

nhiều vết loét nhỏ tập trung thành từng cụm (hình 5.26)

Tuy nhiên, sang thương áp tơ này không trải qua giai

đoạn mụn nước như herpes và gây đau nhức nhiều hơn,

giống như áp tơ nhỏ tái phát Áp tơ dạng herpes không tái

phát với tần suất nhiều như áp tơ nhỏ tái phát

Điều trị áp tơ dạng herpes về nguyên tắc tương tự

như điều trị áp tơ nhỏ tái phát

3.3.3 Áp tơ khổng lồ

Áp tơ khổng lồ biểu hiện dưới dạng những vết

loét lớn, thường trên 1cm, phá huỷ sâu xuống dưới niêm

mạc (hỉnh 5.27) và kéo dài, từ vài tuần cho đến 1 Một số

trường hợp áp tơ không lồ có thể kéo dài đến 2 tháng Do

phá huỷ sâu, áp tơ khổng lồ thường để lại sẹo sau khi

lành Để phân biệt với các tổn thương dạng loét phá huỷ

khác như ung thư dạng loét, vết loét lao hay nhiễm nấm

sâu, cần thiết phải sinh thiết để xác định chẩn đoán

Dạng áp tơ khổng lồ này thường gặp ở bệnh nhân nhiễm

3.4 Liken phẳng (Lichen planus)

Lichen phẳng là một bệnh viêm mạn tính của da và niêm mạc, với tỉ lệ từ 1 – 2% trong cộng đồng ở tuổi trung niên, nữ nhiều hơn nam Một số bệnh nhân bị đồng thời ở cả da và niêm mạc trong đó niêm mạc miệng là nơi thường gặp Đặc trưng là những đường trắng sừng hóa đan nhau hình mạng lưới hay hình nhẫn trên bề mặt niêm mạc gọi là sọc Wickham (Wickham ,s striae)

Nguyên nhân lichen phẳng chưa biết rõ, nhưng một số nghiên cứu cho rằng lichen phẳng có thể liên quan với căng thẳng tinh thần, thuốc lá Cần lưu ý là một số bệnh lý toàn thân như cao huyết áp, tiểu đường, một số thuốc hay hóa chất được ghi nhân nhưng gây ra phản ứng dạng liken (lichenoid reaction) hơn là liken phẳng thực thụ

Lichen phẳng thường gặp ở niêm mạc má, thường đối xứng hai bên Ngoài ra, lichen phẳng còn có thể gặp ở lưỡi, môi, sàn miệng và nướu Lichen phẳng thường không gây triệu

Hình 5.26: Viêm miệng áp tơ dạng herpes ở hông lưỡi

Ng

Hình 5.27: Áp tơ khổng lồ môi dưới

Nguồn: http://www.moderndentistry.com.au/mouth_ulcers.php

Trang 10

chứng hoặc chỉ đau rát nhẹ và đa số được phát hiện chủ yếu qua việc khám răng miệng định

kỳ

Lichen phẳng có biểu hiện lâm sàng đa dạng, với 6 dạng là dạng lưới (hình 5.28), dạng mảng, dạng sần, dạng teo (ban đỏ), dạng chợt (hình 5.29) và dạng bóng nước, trong đó dạng lưới thường gặp nhất

Hình 5.28: Lichen phẳng dạng

lưới niêm mạc má

Hình 5.29: Lichen phẳng dạng chợt niêm mạc má

Nguồn: the-box/

http://www.thewavelength.org/journals/volume-2-january-2014/case-4-outside-Điều trị lichen phẳng tuỳ thuộc thể lâm sàng Những trường hợp lichen phẳng không triệu chứng chỉ cần giữa vệ sinh miệng và phòng ngừa bội nhiễm nấm Những sang thương dạng lichen (lichenoid) có thể điều trị bằng cách loại bỏ yếu tố kích thích có khả năng là nguyên nhân

Với lichen phẳng dạng chợt, thường gây triệu chứng đau rát, có thể sử dụng corticoide tại chỗ hoặc toàn thân Tuy nhiên, khả năng tái phát sau điều trị corticoide khá cao Ngoài ra, lichen phẳng dạng chợt có thể là sang thuơng tiền ung thư cần phải lưu ý theo dõi

Lichen dạng sừng hoá (dạng lưới) có thể sử dụng thuốc chống sừng hoá như tacrolimus hoặc phẫu thuật Laser liệu pháp với hiệu ứng bóc vỏ (peel off) khá hiệu quả với lichen phẳng dạng sừng hoá này

4 BIỂU HIỆN MIỆNG TRÊN BỆNH NHÂN HIV/AIDS

Các tổn thương miệng thường là biểu hiện sớm của bệnh HIV/AIDS Ngày nay người

ta nhận thấy có gần 95% bệnh nhân nhiễm HIV có một hoặc nhiều tổn thương ở miệng Vì vậy, khám xoang miệng là cần thiết và rất có ý nghĩa trong việc góp phần chẩn đoán nhiễm HIV/AIDS cũng như đánh giá mức độ, giai đoạn của bệnh Những tổn thương miệng có thể chia làm 3 nhóm:

Nhóm 1: Những sang thương kết hợp chặt chẽ nhiễm HIV

Trang 11

Nhóm 2: Những sang thương ít kết hợp với HIV

- Nhiễm Herpes simplex virus

- Nhiễm Varicella – Zoster

- Bệnh viêm loét không đặc hiệu

Các biểu hiện miệng trên bệnh nhân HIV/AIDS được trình bày ở đây chủ yếu thuộc

nhóm 1, là nấm miệng do Candida albicans, bệnh nha chu, bạch sản lông và sarcome Kaposi

4.1 Nấm miệng Candida albicans

Nấm miệng Candida albicans gặp ở giai đoạn suy giảm miễn dịch nặng Nghiên cứu cho thấy có khoảng 35% nấm miệng Candida albicans ở người nhiễm HIV và 75% ở bệnh

nhân AIDS giai đoạn nặng Nấm miệng có đặc điểm thường xuất hiện bất ngờ ở người trẻ, không có nguyên nhân rõ ràng, không đáp ứng với những điều trị thông thường và dễ tái phát

Nấm miệng Candida albicans có nhiều dạng:

4.1.2 Dạng teo

Thường gặp ở lưng lưỡi, đôi khi ở khẩu cái (hình 5.23) Lưỡi có những vùng mất gai chỉ, trơn láng Bệnh nhân có thể cảm thấy đau rát khi ăn hoặc không có triệu chứng Dạng này bình thường có thể gặp ở những người sử dụng kháng sinh lâu ngày

Ngày đăng: 12/04/2023, 21:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Huỳnh Anh Lan và cs, Bệnh học miệng tập 1, Khoa RHM, ĐHYD TpHCM, NXB Y học , 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học miệng tập 1
Nhà XB: NXB Y học
2. Huỳnh Anh Lan, Bài giảng Biểu hiện vùng miệng của nhiễm HIV ở người trưởng thành, Khoa RHM, ĐHYD TpHCM,1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Biểu hiện vùng miệng của nhiễm HIV ở người trưởng thành
5. Nguyễn Chấn Hùng (2004), "Ung bướu học nội khoa", NXB Y học Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ung bướu học nội khoa
Tác giả: Nguyễn Chấn Hùng
Nhà XB: NXB Y học Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2004
7. Cawson R.A, Odell E.W, Essentials of oral pathology and oral medecine, Churchill Livingstone, eighth edition, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Essentials of oral pathology and oral medecine
8. Ibsen O.A.C, Phelan J.A, Oral pathology for the dental hygienist, Saunders, fifth edition, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oral pathology for the dental hygienist
3. Nguyễn Thị Hồng: Ung thư nướu răng, nhận định lâm sàng qua 80 trường hợp điều trị tại TT Ung bướu TP. HCM 1988 – 1989, luận văn tốt nghiệp CKI hệ nội trú khóa 1986 – 1989 Khác
4. Nguyễn chấn Hùng: Ung thư hốc miệng và khẩu hầu. Ung thư học lâm sàng tập 2, 1986, 89 –108 Khác
6. Trần Đặng Ngọc Linh: Khảo sát dịch tễ học, bệnh học, lâm sàng, điều trị ung thư hốc miệng. Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú khóa 1995 – 1998 Khác
9. Sciubba J.J: Oral precancer and cancer: Etiology, Clinical presentation, Diagnostic and Management. Compendium of Continuing Education in Dentistry : 21 ( 10A) : 892 –905, 2000 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 5.2: Dát hắc tố môi dưới              Hình 5.3: Dát sắc tố do nhiễm sắc Amalgam - 5  benh niem mac mieng y5   bs trinh
Hình 5.2 Dát hắc tố môi dưới Hình 5.3: Dát sắc tố do nhiễm sắc Amalgam (Trang 2)
Hình  5.6:  Xuất  huyết  điểm - 5  benh niem mac mieng y5   bs trinh
nh 5.6: Xuất huyết điểm (Trang 3)
Hình  5.8:  Mảng  xuất  huyết  môi dưới - 5  benh niem mac mieng y5   bs trinh
nh 5.8: Mảng xuất huyết môi dưới (Trang 3)
Hình 5.7: Xuất huyết đốm rải  rác  khẩu  cái  mềm  và  khẩu  cái cứng - 5  benh niem mac mieng y5   bs trinh
Hình 5.7 Xuất huyết đốm rải rác khẩu cái mềm và khẩu cái cứng (Trang 3)
Hình  5.13:  Viêm  miệng - 5  benh niem mac mieng y5   bs trinh
nh 5.13: Viêm miệng (Trang 4)
Hình 5.17: Sang thương dạng chợt do - 5  benh niem mac mieng y5   bs trinh
Hình 5.17 Sang thương dạng chợt do (Trang 5)
Hình 5.18: Lichen phẳng niêm mạc má  dạng chợt - 5  benh niem mac mieng y5   bs trinh
Hình 5.18 Lichen phẳng niêm mạc má dạng chợt (Trang 5)
Hình  5.23:  Nấm  Candida  albicans - 5  benh niem mac mieng y5   bs trinh
nh 5.23: Nấm Candida albicans (Trang 7)
Hình  5.22:  Nấm  Candida  albicans  miệng dạng màng giả ở toàn bộ khẩu  cái cứng, khẩu cái mềm và sống hàm - 5  benh niem mac mieng y5   bs trinh
nh 5.22: Nấm Candida albicans miệng dạng màng giả ở toàn bộ khẩu cái cứng, khẩu cái mềm và sống hàm (Trang 7)
Hình  5.24:  Nấm  Candida  albicans dạng tăng sinh ở lưỡi - 5  benh niem mac mieng y5   bs trinh
nh 5.24: Nấm Candida albicans dạng tăng sinh ở lưỡi (Trang 7)
Hình  5.28:  Lichen  phẳng  dạng - 5  benh niem mac mieng y5   bs trinh
nh 5.28: Lichen phẳng dạng (Trang 10)
Hình 5.30: Viêm nướu viền trên  bệnh nhân HIV/AIDS - 5  benh niem mac mieng y5   bs trinh
Hình 5.30 Viêm nướu viền trên bệnh nhân HIV/AIDS (Trang 12)
Hình  5.31:  Viêm  nướu  –  nha  chu  hoại  tử  lở  loét  trên  bệnh  nhân HIV/AIDS - 5  benh niem mac mieng y5   bs trinh
nh 5.31: Viêm nướu – nha chu hoại tử lở loét trên bệnh nhân HIV/AIDS (Trang 12)
Hình 5.34: Bạch sản  Hình 5.35: Bạch sản không - 5  benh niem mac mieng y5   bs trinh
Hình 5.34 Bạch sản Hình 5.35: Bạch sản không (Trang 16)
Hình 5.37: Carcinôm dạng loét  Nguồn: http://www.imscnd.com/procedures/oral-cancer - 5  benh niem mac mieng y5   bs trinh
Hình 5.37 Carcinôm dạng loét Nguồn: http://www.imscnd.com/procedures/oral-cancer (Trang 17)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN