Lý do chọn đề tài Nhà máy Xi măng Sông Đà là đơn vị thành viên của Công ty Sông Đà 12 thuộc Tập đoàn Sông Đà đã trở thành Công ty cổ phần xi măng Sông Đà hoạt động theo Luật doanh nghiệp
Trang 1Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG SÔNG ĐÀ
Trang 2Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà
MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
Chương І: Giới thiệu ngành xi măng và công ty xi măng Sông Đà 4
1.1 Ngành xi măng trên thế giới 4
1.2 Tổng quan ngành xi măng Việt Nam 4
1.2.1 Vị trí ngành xi măng trong nền kinh tế 4
1.2.2 Các loại sản phẩm chính 5
1.2.3 Một số đặc điểm ngành xi măng Việt Nam 5
1.2.4 Nhận xét về thị trường xi măng Việt Nam năm 2010 7
1.3 Giới thiệu công ty cổ phần xi măng Sông Đà 9
1.3.1 Lịch sử hình thành 9
1.3.2 Quá trình phát triển 9
1.3.3 Ngành nghề kinh doanh 10
1.3.4 Vị thế công ty 11
1.3.5 Cơ cấu cổ đông 12
Chương ІІ Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng sông Đà 13
2.1 Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh 13
2.1.1 Phân tích doanh thu, chi phí 13
2.1.2 Lợi nhuận 17
2.2 Phân tích các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động 17
2.2.1 Vòng quay khoản phải thu – kỳ thu tiền bình quân 17
2.2.2 Vòng quay khoản phải trả - kỳ trả tiền bình quân 19
2.2.3 Vòng quay hàng tồn kho – số ngày lưu chuyển hàng tồn kho 21
2.2.4 Vòng quay tổng tài sản 22
2.3 Phân tích khả năng thanh toán và dòng tiền 23
2.3.1 Phân tích khả năng thanh toán 23
2.3.2 Phân tích dòng tiền 26
2.4 Phân tích hoạt động tài chính 32
2.4.1 Chính sách tài trợ 32
Trang 3Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà
2.4.2 Cơ cấu nợ 33
2.4.3 Đòn bẩy 34
2.5 Phân tích hoạt động đầu tư 35
2.5.1 Đầu tư TSLĐ 35
2.5.2 Hoạt động đầu tư tài sản cố định của công ty 37
2.6 Phân tích khả năng sinh lời 39
2.6.1 Phân tích các chỉ tiêu cơ bản 39
2.6.2 Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu ROE 42
2.6.3 Tỷ suất sinh lời tài sản ROA 43
2.6.4 Phân tích theo phương trình Dupont 43
2.7 Phân tích SWOT công ty Cổ phần xi măng Sông Đà 44
2.7.1 Điểm mạnh 44
2.7.2 Điểm yếu 45
2.7.3 Cơ hội 45
2.7.4 Thách thức 46
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính công ty 47
cổ phần xi măng Sông Đà 47
3.1 Về tình hình công nợ 47
3.2 Về hoạt động kinh doanh 48
3.3 Về tình hình quản lý và sử dụng vốn kinh doanh 49
3.4 Tăng cường công tác quản lý lao động 50
Kết luận 52
Danh mục tham khảo 53
Phụ lục 54
Trang 4Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 1
LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhà máy Xi măng Sông Đà là đơn vị thành viên của Công ty Sông Đà 12 thuộc Tập đoàn Sông Đà đã trở thành Công ty cổ phần xi măng Sông Đà hoạt động theo Luật doanh nghiệp theo Quyết định số 1461 QĐ/BXD ngày 01/11/2002 với số vốn Điều lệ khi thành lập là 17 tỷ đồng (trong đó Tổng công ty Sông Đà giữ cổ phần chi phối chiếm tỷ lệ 52,7%) Cổ phiếu của Công ty được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) vào ngày 20 tháng 12 năm 2006
Công ty có lợi thế là thành viên của Tổng Công ty Sông Đà, nên Công ty được tham gia cung cấp xi măng cho các dự án lớn của Tổng Công ty Sông Đà Với uy tín
từ tổng công ty Sông Đà, với thị trường tiêu thụ ổn định do 60% sản lượng dùng để cung cấp cho các dự án của công ty sông Đà, doanh nghiệp có nhiều lợi thế cạnh tranh
so với các doanh nghiệp trong ngành
Tuy nhiên, với đặc thù là một công ty xi măng với quy mô tài sản nhỏ, sản lượng sản xuất và tiêu thụ còn hạn chế, công ty cũng rất dễ chịu những ảnh hưởng của biến động thị trường Đồng thời, với những đặc thù tài chính khác biệt với các doanh nghiệp cùng ngành như không sử dụng vốn vay, quy mô tổng tài sản có xu hướng giảm, dùng vốn chủ sở hữu tài trợ chủ yếu cho tài sản…doanh nghiệp vừa có những lợi thế nhưng cũng có không ít những khó khăn trong quá trình sản xuất kinh doanh Năm 2010 vừa qua, trong số các công ty xi măng niêm yết, đây là doanh nghiệp duy nhất bị lỗ và đã bị đưa vào diện cảnh báo Thực trạng này có nguyên nhân khách quan hay xuất phát từ sự yếu kém trong hoạt động của doanh nghiêp?
Từ những thực trạng đó, nhóm đã quyết định chọn công ty xi măng Sông Đà để phân tích nhằm xem xét tình hình tài chính nói riêng cũng như tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, đánh giá hiệu quả cũng như những tồn tại hạn chế của công ty, đặc biệt là nguyên nhân hoạt động yếu kém của công ty; từ đó kiến nghị một
số giải pháp nhằm giúp công ty hoạt động tốt hơn trong tương lai
Trang 5Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 2
2 Mục tiêu nghiên cứu
Bài phân tích đứng trên quan điển của một Giám đốc tài chính, trên cơ sở phân tích và đánh hoạt động tài chính nói riêng cũng như tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung để rút ra những mặt đạt được, hạn chế cũng như những cơ hội và thách thức của công ty, từ đó kiến nghị một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của công ty, nâng cao hiệu quả hoạt động nhằm thoát khỏi tình trạng khó khăn
3 Phương pháp phân tích
Để đánh giá tình hình hoạt động của công ty, nhóm đã sử dụng kết hợp các phương pháp so sánh, phương pháp đồ thị và phân tích Dupont Nhóm sử dụng các số liệu từ bảng cáo tài chính của công ty qua các năm 2008, 2009 và 2010 trên webside chính thức của công ty và những số liệu tài chính khác chủ yếu từ 2 trang web về thông tin chứng khoán là www.cophieu68.com và www.vndirect.vn Các số liệu của các công ty trong ngành cũng được thu thập chủ yếu từ 2 trang web này Trên cơ sở
đó, nhóm đã tính toán các chi tiêu trung bình ngành dựa vào việc tính trung bình cộng giản đơn các số liệu và chỉ tiêu tài chính của 5 công ty thuộc ngành xi măng có quy mô tổng tài sản tương đương gần nhất với công ty và có thời gian niêm yết trên thị trường
ít nhất là 3 năm, đó là các công ty có mã chứng khoán là CCM, SDY, TBX, TXM và YBC Trên cơ sở đó so sánh số liệu, chỉ tiêu của công ty với các doanh nghiệp trong ngành cũng như với trung bình ngành để rút ra những nhận xét
4 Phạm vi nghiên cứu
Bài nghiên cứu về công ty cổ phần xi măng sông Đà hoạt động chủ yếu là sản xuất xi măng Công ty được đặt trong thị trường xi măng nói riêng và nền kinh tế nói chung để xem xét đầy đủ những yếu tố bên trong và bên ngoài công ty
5 Cấu trúc bài phân tích
Bài phân tích gồm có 3 phần: Lời mở đầu, Nội dung và Kết luận Phần nội dung của bài gồm các phần:
Chương I Giới thiệu ngành xi măng và công ty cổ phần xi măng Sông Đà Chương II Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà
Chương III Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính công ty cổ
phần xi măng sông Đà.
Trang 6Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 3
Do kiến thức còn hạn chế và thông tin chưa được đầy đủ, trong quá trình phân tích, đề tài không tránh khỏi những sai lầm và thiếu sót Nhóm mong nhận được sự đánh giá và góp ý của cô để bài phân tích được hoàn thiện hơn
Trang 7Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 4
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGÀNH XI MĂNG VÀ CÔNG TY
XI MĂNG SÔNG ĐÀ
1.1 Ngành xi măng trên thế giới
Nền kinh tế thế giới trong những năm qua, đã đạt được những bước phát triển đáng nói, mặc dù trải qua cuộc khủng hoảng tài chính 2008 nhưng nền kinh tế thế giới đang dần hồi phục và trên đà phát triển trở lại Xu hướng phát triển kinh tế thế giới có thiên hướng chú vào khu vực châu Á Tiêu dùng xi măng trong những năm qua không ngừng tăng trưởng và cũng là động lực cho ngành công nghiệp xi măng phát triển tại một số nước trong khu vực như Trung Quốc, Ấn độ, Thái Lan…
Theo dự báo nhu cầu sử dụng xi măng từ nay đến năm 2020: Nhu cầu xi măng tăng hàng năm khoảng 3.6 %/ năm Nhu cầu sử dụng xi măng có sự chênh lệch giữa các khu vực trên thế giới Dự báo cho rằng nhu cầu sử dụng xi măng sẽ tăng mạnh ở khu vực châu Á, và các nước đang phát triển, trong đó có Việ Nam
Các nước tiêu thụ xi măng lớn trong thời gian vừa qua có thể kể đến như: Trung quốc, Hàn quốc, Ấn độ, Nhật bản, Thái lan, Việt nam…
1.2 Tổng quan ngành xi măng Việt Nam
1.2.1 Vị trí ngành xi măng trong nền kinh tế
Xi măng là một trong những ngành ra đời sớm nhất tại Việt Nam cùng với các ngành như: dệt, than , đường sắt…
Ngành xi măng đánh dấu bước phát triển vào ngày25/12/1989 khi khởi công xây dựng nhà máy xi măng đầu tiên của ngành công nghiệp xi măng Việt Nam tại Hải Phòng Đến nay ngành xi măng Việt nam đã có khoảng trên dưới 100 công ty, đơn vị trực tiếp tham gia vào sản xuất xi măng trong cả nước trong đó có khoảng 1/3 trong số các đơn vị sản xuất là thuộc tổng công ty xi măng Việt Nam, ngoài ra còn có các công
ty liên doanh cũng như các nhà máy xi măng địa phương
Trong giai đoạn khoảng 15 năm đầu phát triển ngành xi măng, sản lượng ngành
xi măng không đáp ứng được nhu cầu trong nước, tuy nhiên khoảng 2-3 năm trở lại đây do sự phát triển quá nóng nghành xi măng, có dấu hiệu khủng hoảng thừa xuất hiện ở ngành xi măng Làm cho sự cạch tranh trong nghành xi măng trở nên gay gắt,
Trang 8Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 5
nhiều doanh nghiệp sản xuất xi măng gặp khó khăn, đặc biệt là các nhà máy nhỏ do không cạnh tranh được về giá cũng như chất lượng so với các nhà máy lớn
Trong những năm vừa qua, ngành xi măng đóng góp không nhở vào tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam, trung bình từ 10- 12% GDP Do vậy sự phát triển của ngành
xi măng cũng góp phần hỗ trợ phát triển kinh tế
1.2.3 Một số đặc điểm ngành xi măng Việt Nam
1.2.3.1 Phân phối ngành xi măng khá rải rác do phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu
Tại Việt Nam, đá vôi – nguyên liệu chính sản xuất ra xi măng – có trữ lượng khá dồi dào tạo điều kiện cho ngành công nghiệp xi măng phát triển Với tổng số khoảng 190 mỏ đá vôi có khả năng sản xuất ra khoảng 22 tỷ tấn xi măng Tuy vậy các
mỏ đá vôi phân bổ khá giải giác và khác nhau về quy mô điều này cũng ảnh hưởng đến phân bổ ngành xi măng, các nhà máy xi măng lớn chủ yếu tập chung ở các tỉnh miền bắc và các tỉnh cực nam
Tuy có nguồn nguyên liệu khá dồi dào để sản xuất ra xi măng nhưng ngành xi măng Việt Nam Vẫn phải lệ thuộc vào nguồn clinke nhập khẩu từ các quốc gia khác như: Thái Lan, Hàn Quốc…Ngành xi măng mới chỉ đáp ưng được khoảng 55% nhu cầu Clinke để sản xuất ra xi măng còn lại phải nhập khẩu Điều này gây ra rất nhiều khó khăn khi mà nguồn clinke (nguồn nguyên liệu chính để sản xuất xi măng) tăng mạnh và thời điểm những năm 2009, 2010 Mà nguồn nguyên liệu nhập khẩu này chủ yếu để đáp ứng cho các nhà máy và các trạm nghiền ở khu vực phía nam
Trang 9Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 6
Những nhà máy sản xuất được xem là dẫn đầu trong ngành sản xuất xi măng có công xuất hơn 1 triệu tấn/ năm, chiếm hơn 60% thị phần xi măng cả nước và chủ yếu
là của tổng công ty xi măng Việt Nam Do vậy vai trò chi phối thị trường chủ yếu tập chung ở tổng công ty xi măng Việt Nam
1.2.3.2 Công suất ngành xi măng đang tăng mạnh – tuy nhiên vẫn mất cân đối giữa các vùng
Chỉ tính riêng trong năm 2010 đã có khoảng 45 dự án nhà máy mới đi vào hoạt động và đều là các dự án có quy mô lớn Sở dĩ như vậy là để tận dụng lợi thế về quy
mô và nguồn nguyên liệu có sẵn Tuy nhiên các dự án chủ yếu tập trung ở miền bắc và bắc miền trung nơi có trữ lượng nguyên liệu dồi dào như mỏ đá vôi, đất sét…Chỉ có 4 nhà máy trong số này nằm ở khu vực miền nam Vì vậy công suất sản xuất của ngành hiện nay đã tăng mạnh nhưng sự mất cân đối giữa các vùng miền vẫn chưa được cải thiện Miền bắc thừa, còn miền nam thì thiếu xi măng
1.2.3.3 Mức độ cạnh tranh trong ngành xi măng chưa cao
Hiện nay, giống như ngành thép, xi măng là ngành chịu sự quản lý và điều tiết của nhà nước Chính sách giá xi măng chịu sự điều chỉnh chung của chính phủ nên việc điều chỉnh giá thị trường là không linh hoạt Cụ thể như năm 2008, khi giá nguyên vật liệu tăng mạnh thì giá bán xi măng tăng rất ít để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát Bên cạnh đó với sự bảo hộ của nhà nước, việc điều tiết lượng xi măng nhập khẩu thông qua chính sách thuế làm cho mức độ cạnh tranh trong ngành xi măng còn thấp
1.2.3.4 Nhu cầu tiêu thụ xi măng tăng mạnh vào quý II và quý IV
Trung bình lượng tiêu thụ xi măng tăng mạnh vào quý 2 và quý 4 Do vậy, điều này ảnh hưởng đến lượng tồn kho và clinke tại các nhà máy: tăng vào quý 1 và thiếu hụt vào quý 3 Thông thường nhu cầu tiêu thụ xi măng vào quý 2 và quý 4 thường xấp
sỉ 30 % Điều này ảnh hưởng đến chính sách quản lí hàng tồn kho cũng như chiến lược kinh doanh tại các nhà máy
Trang 10Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 7
1.2.3.5 Thị trường miền bắc chiếm tỷ trọng lớn nhưng nhu cầu ở miền nam đang tăng mạnh
Thị trường tiêu thụ xi măng tại miền bắc chiếm tỷ trọng lớn nhất cả nước Thông thường từ 42 – 52% sản lượng tiêu thụ toàn quốc Thị trường miền nam khoảng
33 – 37 % Thị trường miền trung thấp nhất trung bình chỉ chiểm khoảng 11- 22 % lượng tiêu thụ cả nước
Tuy lượng tiêu thụ hiện nay khu vực phía bắc đang chiếm ưu thế nhưng tốc độ tăng trưởng lượng tiêu thụ xi măng đang tăng mạnh tại các tỉnh phía nam Trung bình hàng năm khoảng trên 10%, cao nhất trong cả nước
1.2.3.6 Giá xi măng tại khu vực miền nam cao hơn miền bắc khoảng 20%
Do đặc điểm chi phí vận chuyển chiếm tỷ trọng khá cao trong giá bán xi măng nên xi măng sản xuất và tiêu thụ tại địa phương thường dẻ hơn và có lợi thế cạnh tranh
vể giá so với xi măng tại các vùng khác Với lợi thế nguồn nguyên liệu dồi dào và nhiều nhà máy xi măng tập trung tại miền bắc, do vậy mà thị trường xi măng tại miền bắc gặp nhiều sự cạnh tranh hơn so với khu vực miền nam Trong khi đó tại thị trường miền nam, do nguồn cung thường xuyên không đáp ứng đủ nhu cầu nên giá xi măng khu vực miền bắc thường thấp hơn miền nam khoảng 20%
Các doanh nghiệp phía nam có lợi thế quyết định thị trường hơn các doanh nghiệp phía bắc do thị trường chịu ít áp lực hơn Giá xi măng cao nhất nước có thể kể đến xi măng Hà tiên 1 và hà tiên 2
1.2.4 Nhận xét về thị trường xi măng Việt Nam năm 2010
Năm 2010 chứng kiến những biến động không tốt của ngành xi măng.
Giai đoạn đầu năm, cùng với sự phục hồi của nền kinh tế sau khủng hoảng, đầu
tư phát triển được kích thích, thị trường bất động sản ấm trở lại, các dự án nhà ở
và khu đô thị được tiếp tục triển khai đã đẩy nhu cầu tiêu thụ xi măng tiếp tục tăng so với năm 2009 Tuy nhiên do nguồn cung xi măng vẫn khá dồi dào (nguyên nhân: Do lượng tồn kho khá lớn từ năm 2009, nhiều dự án sản xuất xi măng tiếp tục đi vào hoạt động) nên giá xi măng chỉ tăng nhẹ Theo thống kê của Cục Quản lý giá, trong quí, giá xi măng tại các nhà máy đã 2 lần tăng: Lần
Trang 11Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 8
thứ nhất là vào tháng 1, tăng 5% do chính sách tính thuế VAT mới vào giá bán
xi măng Lần 2 vào tháng 2, tăng bình quân khoảng 4% (tương đương tăng 30.000 - 50.000 đ/tấn) do chi phí đầu vào tăng như giá than, giá xăng dầu Còn đến tháng 3, giá bán tại các nhà máy đang ở mức ổn định so cuối tháng 2.
Tuy nhiên, những quý tiếp theo đã bắt đầu xuất hiện hiện tượng cung vượt quá cầu và chênh lệch ngày càng lớn Hiện cả nước có khoảng 105 nhà máy sản xuất xi măng, công suất toàn ngành có thể lên tới 61 triệu tấn/năm Nhưng trong năm 2010, theo kế hoạch các doanh nghiệp chỉ sản xuất ở mức 53 triệu tấn Trong khi đó, ước tính nhu cầu xi măng của cả nước trong năm 2010 này chỉ vào khoảng 50 triệu tấn Điều này có nghĩa là lượng xi măng dư thừa trong 2010
ở mức khoảng 3 triệu tấn.
Hiện tượng cung lớn hơn cầu đã dẫn đến sự cạnh tranh giữa các công ty Thậm chí xuất hiện một số công ty bán xi măng theo giá thấp hơn giá thị trường
đã ảnh hưởng nặng nề đến các doanh nghiệp trong ngành.
Trong bối cảnh đầu ra gặp khó khăn, giá nguyên liệu đầu vào cũng liên tục tăng gây trở ngại cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp, khi không có được lợi ích theo quy mô Theo thống kê, than tăng 35-60%; điện tăng 6,8%; xăng, dầu tăng 9%
Những khó khăn này có ảnh hưởng nhiều đến các công ty trong ngành, trong đó có công ty xi măng Sông Đà.
Trang 12Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 9
1.3 Giới thiệu công ty cổ phần xi măng Sông Đà
Tên Tiếng Việt Công ty Cổ phần xi măng sông đà
bị công nghệ và nguồn nhân lực hiện có Công ty có tư cách pháp nhân đầy đủ theo quy định của Pháp luật Việt Nam, có con dấu riêng và độc lập về tài sản, có Điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty
Niêm yết: ngày 20 tháng 12 năm 2006 cổ phiếu của Công ty được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội
1.3.2 Quá trình phát triển
Nhà máy được chính thức khởi công xây dựng từ tháng 02 năm 1993 với tổng diện tích đất đai là 35.333 m2, trong đó diện tích nhà xưởng là 32.600 m2, diện tích sân bãi là 2.733 m2 Dây chuyền thiết bị tương đối hoàn chỉnh và hiện đại kể từ khâu nghiền sấy phối liệu cho đến khâu đóng bao xi măng
Sau gần một năm kể từ khi bắt đầu đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, sản phẩm
xi măng của đơn vị đã được Tổng cục đo lường chất lượng chứng nhận phù hợp với
Trang 13Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 10
tiêu chuẩn Việt Nam và sản phẩm đã được đưa vào xây dựng các công trình dân dụng, một số các công trình trọng điểm tại địa phương
Đến tháng 6 năm 1996, sản phẩm của đơn vị tiếp tục được cấp dấu chất lượng hợp chuẩn và công suất thực tế đã khai thác đạt khoảng 80% so với công suất thiết kế Tháng 3 năm 1998, sản phẩm của Nhà máy đạt Huy chương Bạc về chất lượng xi măng quốc gia, đạt 100% công suất thiết kế và tiêu thụ Năm 2000, Tổng công ty Sông
Đà giao kế hoạch sản xuất và tiêu thụ 75.000 tấn xi măng/năm, thực tế đã sản xuất và tiêu thụ đạt 85.000 tấn
Tháng 10 năm 2001, Nhà máy được cấp chứng nhận Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001-2000 Hiện nay, Công ty vẫn duy trì áp dụng hệ thống quản lý chất lượng này và cải tiến hệ thống quản lý chất lượng ngày càng phù hợp
Năm 2002, kế hoạch sản xuất và tiêu thụ đặt ra là 90.000 tấn xi măng/ năm, thực
tế đã sản xuất và tiêu thụ 110.000 tấn, đạt 122% so với kế hoạch và đạt 134% so với công suất thiết kế Từ năm 2003 cho đến nay, sản lượng sản xuất và tiêu thụ luôn được giữ vững, đạt từ 100.000 tấn đến 110.000 tấn/ năm
Năm 2005, Công ty cổ phần xi măng Sông Đà đã vinh dự được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương lao động hạng III cho những đóng góp của đơn vị trong
sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
Năm 2010, kế hoạch sản xuất và tiêu thụ của Công ty là: 110.000 tấn , Thực tế sản xuất: 68.855 tấn, tiêu thụ: 69.579tấn đạt 63,3% kế hoạch
Tổng giá trị sản lượng 66,7 tỷ đồng đạt 67,36%, Lợi nhuận: lỗ không đạt kế hoạch
1.3.3 Ngành nghề kinh doanh
Ngành nghề kinh doanh chính của công ty hiện nay là:
- Sản xuất và tiêu thụ sản phẩm xi măng pooclăng
- Khai thác và tận thu khoáng sản ( đá vôi, đất sét, cát, sỏi, nguyên liệu sản xuất
xi măng), mua bán vật liệu xây dựng
- Vận tải hàng hóa đường bộ
- Xây dựng các công trình dân dụng và các công trình kỹ thuật
Trang 14Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 11
- Sản xuất và tiêu thụ vỏ bao xi măng
Thị trường chủ yếu của công ty : chủ yếu là các tỉnh phía Tây Bắc Việt Nam (Sơn
La, Việt Trì, Phú Thọ, Hòa Bình …) và hình thức tiêu thụ qua đại lý bán lẻ hoặc các đầu mối tiêu thụ Ngoài ra, công ty còn tiêu thụ sản phẩm ở Hà Nội, trung bình khoảng
1000 tấn/tháng
1.3.4 Vị thế công ty
Công ty có lợi thế là thành viên của Tổng Công ty Sông Đà, nên Công ty được tham gia cung cấp xi măng cho các dự án lớn của Tổng Công ty Sông Đà Sản lượng hàng năm Công ty cung cấp cho Tổng công ty Sông Đà chiếm tới 60% sản lượng của nhà máy và lượng tiêu thụ còn lại chủ yếu phục vụ thị trường bên ngoài
Thị trường của Công ty chủ yếu là các tỉnh ở phía Tây bắc Việt Nam (Sơn La, Việt trì, Phú Thọ, Hòa Bình, ) và hình thức tiêu thụ là qua các đại lý bán lẻ hoặc các đầu mối tiêu thụ Ngoài ra, Công ty còn tiêu thụ sản phẩm ở Hà Nội, Hà Tây, trung bình khoảng 1000 tấn/ tháng
Trang 15Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 12
1.3.5 Cơ cấu cổ đông
Chỉ tiêu Sở hữu nhà nước Sở hữu nước ngoài Sở hữu khác
Biểu đồ 1 Cơ cấu cổ đông công ty xi măng Sông Đà
Trang 16Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 13
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN
XI MĂNG SÔNG ĐÀ
2.1 Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh
2.1.1 Phân tích doanh thu, chi phí
2.1.1.1.Xu hướng biến động
Doanh thu:
Biểu đồ 2 Doanh thu thuần và giá vốn hàng bán giai đoạn 2007 - 2010
Trong 3 năm 2007 – 2009: Doanh thu thuần đều tăng, trong đó mức tăng năm
2009 cao hơn so với năm 2008 Năm 2008, tốc độ tăng doanh thu là 13,57% so với năm 2007, trong khi năm 2009 mức tăng là 38,75%
Năm 2010, doanh thu giảm đột biến, giảm 5,23% so với năm 2007
Giá vốn hàng bán:
Từ năm 2008 – 2010, giá vốn hàng bán đều tăng so với năm 2007, trong đó tốc
độ tăng năm 2009 lớn nhất là 40,83% Năm 2010, giá vốn hàng bán giảm mạnh so với năm 2009, chỉ tăng 5% so với năm 2007
Trang 17Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 14
Chi phí bán hàng: Năm 2008 – 2009 đều tăng so với năm 2007 với mức tăng lần lượt là 24,82% và 34,19% Năm 2010, Chi phí bán hàng giảm đột biến với mức giảm so với năm 2007
Chi phí quản lý doanh nghiệp: CP Quản lý doanh nghiệp tăng rất mạnh qua các năm 2008, 2009 với mức tăng lần lượt là 88,06% và 97,63% so với năm 2007 Năm
2010, chi phí này có giảm nhưng vẫn tăng cao so với năm 2007
Nhận xét chung:
- Trong các loại chi phí, giá vốn hàng bán luôn chiếm tỷ trọng cao nhất so với
tổng doanh thu, luôn ở mức từ 85% - 95% Đây là khoản mục có ảnh hưởng lớn nhất đến tổng chi phí của doanh nghiệp
- Từ năm 2007 – 2009, tỷ trọng của giá vốn hàng bán/DT thuần xấp xỉ 85%, nhưng đến năm 2010, tỷ trọng giá vốn/DT thuần tăng đột biến là 95,98%
=> So với mặt bằng chung về chi phí giá vốn hàng bán của các doanh nghiệp cùng ngành vào khoảng 80% qua các năm Điều đó cho thấy việc quản lý chi phí trực tiếp của công ty kém so với năm các công ty trong ngành Đặc biệt năm 2010, giá vốn hàng bán chiếm tỷ trọng rất lớn so với tổng doanh thu Điều này là do: Giá nguyên vật liệu đầu vào năm 2010 tăng mạnh và việc quản lý chi phí trực tiếp của công ty chưa tốt
- Chi phí quản lý doanh nghiệp của doanh nghiệp cũng liên tục tăng cao so với mức tăng của doanh thu và giá vốn hàng bán Điều đó cũng cho thấy việc quản lý chi phí gián tiếp của công ty cũng còn nhiều hạn chế
2.1.1.2 Nguyên nhân
Doanh thu:
- Doanh thu các năm 2007 – 2009 có thể tăng do một số nguyên nhân:
+ Sản lượng tiêu thụ tăng lên
Trang 18Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 15
Năm 2008: Sản lượng tiêu thụ của công ty giảm 11,83% nhưng doanh thu công
ty tăng 13,47% => Giá xi măng 2008 công ty tăng mạnh so với năm 2007
Năm 2009: Sản lượng 2009 tăng 4,23% so với năm 2007 Tuy nhiên, do giá xi
măng tiếp tục tăng so với năm 2007, 2008, dẫn đến doanh thu năm 2009 tăng mạnh so với năm 2007 (38,75%)
Như vậy: Trong giai đoạn 2007 – 2009, nhu cầu xi măng trên thị trường tăng cao hơn so với lượng cung trên thị trường, đẩy giá xi măng lên cao, dẫn đến doanh thu tăng
Năm 2010: Sản lượng tiêu thụ giảm đột biến: Giảm 36,% Trong khi doanh thu
giảm 5% so với năm 2007 Như vậy, giá xi măng cũng đã tăng, nhưng do sản lượng tiêu thụ quá thấp làm cho doanh thu vẫn giảm
Lý do dẫn đến sản lượng tiêu thụ xi măng của công ty thấp: Giá nguyên vật liệu đầu vào tăng mạnh, doanh nghiệp đã tăng giá bán nhưng không bù đắp được doanh thu, Hơn nữa, chính việc tăng giá bán, làm cho việc bán sản phẩm trở nên khó hơn
- Việc giá vốn hàng bán tăng giai đoạn 2008 – 2010 do nguyên nhân:
+ Chi phí nguyên vật liệu tăng cao trong 3 năm này ảnh hưởng đến giá vốn hàng bán Bởi lẽ đối với ngành xi măng, chi phí nguyên vật liệu thường chiếm từ 35 – 45% trong giá vốn hàng bán
+ Giá điện các năm tăng lên, chi phí điện chiếm khoảng 18% trong giá vốn sản xuất xi măng
+ Đồng thời giá bán than qua các năm cũng tăng lên
+ Việc quản lý chi phí của doanh nghiệp kém
Qua 2 chỉ tiêu, doanh thu và chi phí có thể thấy tình hình sản xuất của công ty nhìn chung là kém hơn so với các doanh nghiệp cùng ngành Doanh thu của công ty
Trang 19Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 16
giai đoạn 2007 – 2009 có thể tăng nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp cùng ngành
2.2 Phân tích các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động
2 2.1 Vòng quay khoản phải thu – kỳ thu tiền bình quân
Doanh thu thuần Vòng quay khoản phải thu =
Phải thu bình quân
365
Kỳ thu tiền bình quân =
Vòng quay khoản phải thu
Hệ số Vòng quay khoản phải thu phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thu thành tiền mặt Chỉ tiêu Kỳ thu tiền bình quân cho biết số ngày bình quân để DN thu hồi một khoản phải thu
Từ năm 2007 – 2010 vòng quay khoản phải thu có xu hướng giảm đi, do đó kỳ thu tiền bình quân của doanh nghiệp có xu hướng tăng lên Đặc biệt năm 2010 tăng
Trang 20Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 17
Kỳ thu tiền bình quân
Kỳ thu tiền trung bình ngành
mạnh so với 3 năm trước Năm 2007 - 2009 kỳ thu kì bình quân có xu hướng tăng nhưng không nhiều, nguyên nhân là do doanh thu thuần và các khoản phải thu đều tăng lên nhưng gần như là cùng tốc độ Có thể thấy trong 3 năm 2007 – 2009 công ty gần như không thay đổi chính sách bán hàng của mình Năm 2010, nguyên nhân của
kỳ thu tiền bình quân tăng đột biến là do doanh thu của công ty giảm mạnh, trong khi
đó các khoản phải thu lại có xu hướng tăng lên
Biểu đồ 4: Kỳ thu tiền bình quân qua các năm của công ty và trung bình ngành
Qua đây có thể thấy năm 2010, công ty gặp khó khăn trong việc bán hàng, chính sách tín dụng thương mại có chiều hướng mở rộng nhưng không hiệu quả Kì
Trang 21Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 18
thu tiền bình quân đã tăng 59% so với năm 2009 nhưng doanh thu bán hàng lại giảm 32% so với năm 2009
So với trung bình ngành kỳ thu tiền bình quân của doanh nghiệp năm 2008 và
2009 nhỏ hơn nhiều so với các doanh nghiệp trong ngành cùng quy mô ( chỉ bằng khoảng 50% so với trung bình ngành) Trong giai đoạn này thị trường xi măng trong thời kỳ khan hiếm cung không đáp ứng được cầu dẫn đến việc bán hàng của doanh nghiệp trở nên dễ dàng hơn, hơn nữa sản lượng sản xuất của doanh nghiệp nhỏ, do vậy
mà chính sách thương mại của doanh nghiệp không mở rộng như các doanh nghiệp khác trong ngành mà vẫn bán được hàng, hơn nữa chính sách thu hồi nợ của doanh nghiệp trong giai đoạn này là khá tốt, đảm bảo việc thu hồi nợ được thực hiện
Tuy nhiên, đến năm 2010 thị trường xi măng ứ đọng, doanh nghiệp chủ động
mở rộng chính sách tín dụng thương mại để tăng doanh thu bán hàng nhưng doanh thu của doanh nghiệp lại giảm mạnh Số liệu cho thấy kỳ thu tiền bình quân của doanh nghiệp tăng mạnh so với các năm trước nhưng cũng chỉ xấp xỉ trung bình ngành Năm
2010 là năm thị trường xi măng giảm sút, hơn nữa lại có nhiều nhà máy xi măng với công suất lớn đi vào hoạt động, nhà máy lại gặp khó khăn trong khâu sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm mới dẫn đến việc doanh thu giảm đột ngột khi thị trường gặp khó khăn Có thể thấy chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp trong các năm 2007 – 2009 là chưa hợp lý, khi các chính sách tín dụng thương mại trong giai đoạn này chưa được hợp lý khi thắt chặt hơn nhiều so với các doanh nghiệp trong ngành dẫn đến việc khách hàng bị các đối thủ lôi kéo trong giai đoạn này Mặt khác, sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường là không tốt, việc bán hàng của doanh nghiệp rất bị động trên thị trường
2.2.2 Vòng quay khoản phải trả - kỳ trả tiền bình quân
Giá vốn hàng bánVòng quay khoản phải trả =
Trang 22Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 19
Hệ số vòng quay khoản phải trả phản ánh tốc độ thanh toán của DN cho các khoản phải trả Chỉ tiêu Kỳ trả tiền bình quân cho biết số ngày bình quân DN thực hiện một khoản phải trả
Qua các năm có thể thấy vòng quay khoản phải trả có xu hướng giảm xuống,
số ngày trả tiền bình quân có xu hướng tăng lên
Đơn vị: tấn
Sản lượng tiêu thụ các năm 69570 113745 96213 109127
So với trung bình ngành kỳ trả tiền bình quân đều nhỏ hơn trong các năm Có thể thấy khả năng chi trả của doanh nghiệp là khá tốt Tuy nhiên, điều này cũng cho thấy doanh nghiệp chưa tận dụng được nguồn vốn không phải trả lãi của doanh nghiệp khác, nói cach khác doanh nghiệp không chiếm dụng được vốn như các doanh nghiệp cùng ngành hoặc cũng có thể doanh nghiệp không có uy tín như các doanh nghiệp khác
Trang 23Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 20
Biểu đồ 5: Kỳ trả tiền bình quân của công ty và trung bình ngành
Doanh nghiệp nên cải thiện chỉ tiêu này về gần với trung bình ngành, tạo điều
kiện có thêm vốn phục vụ sản xuất kinh doanh
2.2.3 Vòng quay hàng tồn kho – số ngày lưu chuyển hàng tồn kho
Giá vốn hàng bánVòng quay HTK =
HTK bình quân365
Kỳ lưu chuyển HTK =
Vòng quay HTKVòng quay HTK cho biết số lần hàng tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ
Kỳ lưu chuyển HTK cho biết tốc độ giải phóng HTK của Doanh nghiệp
Qua các năm, ta thấy vòng quay hàng tồn kho có xu hướng giảm, kỳ luân
chuyển hàng tồn kho có xu hướng tăng Đặc biệt vào năm 2010 kỳ luân chuyển hàng
tồn kho đã tăng mạnh so với các năm trước
bán không thấp hơn các năm 2008 và 2009 nhưng lượng hàng tồn kho so với các năm
khác, cung như tỉ trọng hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán thấp hơn rất nhiều (chỉ
Trang 24Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 21
Kỳ luân chuy ển HTK TB ngành
xấp xỉ 53% so với 2008, 2009) Năm 2008, 2009, kỳ lưu chuyển hàng tồn kho tăng lên
là do tốc độ tăng của giá vốn nhở hơn so với tốc độ tăng của hàng tồn kho Đến năm
2010 kỳ lưu chuyển hàng tồn kho tăng mạnh là do giá vốn hàng bán giảm mạnh trong khi đo thì hàng tồn kho vẫn tăng lên Nguyên nhân của việc này xuất phát từ việc ứ đọng xi măng của doanh nghiệp do không bán được hàng, đã làm giá vốn hàng bán giảm mạnh so với các năm trước, đồng thời chính sách quản lí hàng tồn kho của doanh
nghiệp
là chưa tốt khi
dự trữ quá nhiều nguyên vật liệu trong điều
Biểu đồ 6 Kỳ luân chuyển hàng tồn kho của công ty và trung bình ngành
So với trung bình ngành, kỳ luân chuyển hàng tồn kho của doanh nghiệp luôn cao hơn so với trung bình ngành Cho thấy việc quản lí hàng tồn kho của doanh nghiệp
là không tốt, doanh nghiệp bị ứ đọng vốn do dự trữ quá nhiều nguyên vật liệu để phục
vụ sản xuất kinh doanh
Trang 25Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 22
vòng quay tổng tài sản không thay đổi vào các năm 2007 và 2008, tăng mạnh vào năm
2009 rồi giảm mạnh vào năm 2010
đổi của doanh thu thuần Năm 2009, doanh thu thuần tăng mạnh và cao nhất trong các
năm, cũng như 2010 doanh thu giảm đột ngột và thấp nhất trong các năm mà ảnh
hưởng tới vòng quay tổng tài sản
Biểu đồ 7 Vòng quay tổng tài sản của công ty và trung bình ngành
Trang 26Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 23
2.3 Phân tích khả năng thanh toán và dòng tiền
2.3.1 Phân tích khả năng thanh toán
2.3.1.1 Khả năng thanh toán chung
Khả năng thanh toán chung 4.64 4.61 4.77 8.86
Giai đoạn năm 2007-2010 khả năng thanh toán chung của doanh nghiệp nhìn
chung có xu hướng giảm xuống.Nguyên nhân do tốc độ tăng của tài sản ngắn hạn ít
hơn so với mức tăng của nợ ngắn hạn.Đặc biệt năm 2008 thể hiện rõ nét cho xu hướng
này,chí số khả năng thanh toán ngắn hạn năm 2008 là 4.77 giảm gần 1 nửa so với năm
2007.Nguyên nhân do nợ ngắn hạn tăng mạnh gấp 2.237 lần so với năm 2007 trong
khi đó tài sản ngắn hạn chỉ tăng 1.258 lần.Đây có thể là 1 thay đổi trong chính sách
của công ty “dùng vốn nợ” để tài trợ cho tài sản lưu động.Tuy nhiên giai đoạn
2008-2010 chỉ số này xấp xỉ 4.6 rất cao cho thấy việc tăng tỷ trọng nợ trong cơ cấu vốn là
Trang 27Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 24
Khả năng thanh toán chung của doanh nghiệp cao hơn trung bình ngành rất
nhiều (gấp khoảng 4 lần so với trung bình ngành).Điều này chứng tỏ khả năng tự chủ
về tài chính của công ty khá tốt , dùng nhiều vốn chủ sở hữu cho hoạt động sản xuất
kinh doanh.Đây được coi như 1 lợi thế so với các công ty khác trong ngành có cùng
mạnh trong khi đó tài sản tăng chậm,chỉ số này gần như không đổi khoảng 3 (lần)
trong giai đoạn 2008-2010
Trang 28Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 25
Biểu đồ 9 Khả năng thanh toán nhanh của công ty và trung bình ngành
So với trung bình ngành chỉ số này khá cao.Điều này chứng tỏ việc đảm bảo các khoản nợ đến hạn của công ty tốt.Trong giai đoạn này,khả năng thanh toán nhanh giảm mạnh so với khả năng thanh toán chung nguyên nhân do hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu với tổng tài sản ngắn hạn(trên 20%)
2.3.1.3.Khả năng thanh toán tức thời
Khả năng thanh toán tức thời 0.23 1.87 0.24 3.08
Biểu đồ 10 Khả năng thanh toán tức thời của công ty và trung bình ngành
Giai đoạn năm 2007-2010 khả năng thanh toán tức thời công ty tăng giảm thất thường.Năm 2009 chỉ số này tăng mạnh trong khi đó năm 2010 giảm mạnh.Nguyên nhân năm 2009 có sự tăng đột biến của lượng tương đương tiền chiếm gần ¼ trong tổng tài sản ngắn hạn.Khả năng thanh toán tức thời không cao,thấp hơn so với trung bình ngành.Nguyên nhân:công ty có quy mô nhỏ ,khả năng cạnh tranh thấp do đó để tăng doanh giai đoạn này công ty đã thực hiện chính sách tín dụng mở rộng làm tăng các khoản phải thu.Tuy nhiên vẫn không bán được hàng vì thế hàng tồn kho luôn ở
Trang 29Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 26
mức cao.Do đó giai đoạn 2007-2010,khoản phải thu và hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn so với tổng tài sản(trên 50%) ,khả năng tức thời công ty không cao.Điều này thực
sự không tốt vì các khoản phải thu và hàng tồn kho là những tài sản không vận động không sinh lời
Trang 30Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 27
-9680 -8407
13961
-14196 -20000
2007 2008 2009 2010 lưu chuyển tiền thuần
Biểu đồ 11 Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ
Qua bảng trên ta thấy dòng tiền của công ty biến động khá lớn Ngoại trừ năm
2009 doanh nghiệp lưu chuyển tiền tệ dương, các năm còn lại, lưu chuyển tiền của công ty đều âm Tuy nhiên, từ năm 2007 – 2010, ta nhận thấy xu hướng chung của các dòng lưu chuyển tiền là giảm
Trong 4 năm, khoản mục ảnh hưởng lớn nhất đến dòng tiền của doanh nghiệp là lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh, tiếp đến là hoạt động tài chính và hoạt động đầu tư Trong đó, hưởng ảnh của 2 hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính chủ yếu là âm (ngoại trừ năm 2009), còn hoạt động đầu tư có ảnh hưởng dương đến dòng tiền nhưng lại chỉ có ảnh hưởng nhỏ
2.3.2.1.Phân tích lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh
Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế -898 7396 5400 5435
Chi phí khấu hao tài sản cố định 1008 1200 2501 2664
Dự phòng giảm giá các khoản đầu tư ngắn hạn, dài
Lãi, lỗ chênh lệch tỷ giá hối đoái chưa thực hiện -1097
Trang 31Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 28
Lãi, lỗ từ hoạt động đầu tư -1,604 -3987 -2.281
Trong đó: Chi phí lãi vay
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trước thay
Tăng, giảm các khoản phải thu -8,097 9,140 -9,196 -2,599Tăng, giảm hàng tồn kho -917 2,538 -7,406 -1,988Tăng, giảm các khoản phải trả (Không kể lãi vay phải
trả, thuế TNDN phải nộp) -932 781 4,082 -6,443Tăng, giảm chi phí trả trước -30 -141 -73 -62Tiền lãi vay đã trả
Thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp -445 -482 -308 -1,342Tiền thu khác từ hoạt động kinh doanh 10 319 255 389Tiền chi khác cho hoạt động kinh doanh -750 -474 -305 -686
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh -11,310 16,396 -7,350 -6,776
Từ năm 2007 – 2010, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của công ty có xu hướng giảm, ngoại trừ năm 2010 tăng đột biến Có thể nhận thấy, hai khoản mục gây nên ảnh hưởng lớn nhất đến xu hướng này của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh là các khoản phải thu và hàng tồn kho, tiếp đến là các khoản phải trả và lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trước thay đổi vốn lưu động
Năm 2007, mặc dù lợi nhuận từ kinh doanh trước thay đổi vốn lưu động là dương, nhưng việc các khoản phải thu và hàng tồn kho tăng lên, đồng thời các khoản phải trả giảm xuống mạnh (từ 3689 lên 8253 triệu) khiến cho dòng tiền từ hoạt động kinh doanh âm
Năm 2008, lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trước thay đổi vốn lưu động dương và các khoản phải trả tăng nhẹ Tuy nhiên do các khoản phải thu và hàng tồn kho tăng lên mạnh (khoản phải thu tăng lên từ 3655 triệu đồng lên 8615 triệu, trong khi hàng tồn kho tăng từ 6093 triệu lên13498 triệu), chính vì thế lưu chuyển tiền thuần
từ hoạt động kinh doanh âm
Trang 32Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 29
Năm 2009 là năm mà hoạt động kinh doanh của công ty tốt nhất Các dòng tiền
từ lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trước thay đổi vốn lưu động, các khoản phải thu, hàng tồn kho và khoản phải trả đều ảnh hưởng dương đến dòng tiền
Năm 2010, do tình hình sản xuất kinh doanh khó khăn, doanh nghiệp mở rộng chính sách tín dụng thương mại làm cho các khoản phải thu tăng lên, đồng thời do chính sách hàng tồn kho kém nên dù tiêu thụ gặp khó khăn, tích trữ hàng tồn kho (chủ yếu là nguyên vật liệu) của công ty vẫn tăng lên
Tuy nhiên, nhận thấy việc xây dựng lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không hợp lý Trong giai đoạn 2007 – 2010, các khoản phải thu của doanh nghiệp đều tăng lên Nhưng biến động tăng giảm các khoản phải thu của doanh nghiệp thì không tương ứng, thậm chí là khác biệt
Năm 2009, mặc dù các khoản phải thu trên bảng CĐKT tăng nhẹ (551 triệu), tuy nhiên trên BCLCTT, dòng tiền từ các khoản phải thu lại tăng đột biến ở mức 9140 triệu chênh lệch rất lớn so với năm 2008
Như vậy, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh có xu hướng giảm và âm chủ yếu là do chính sách quản lý từ hàng tồn kho và khoản phải thu của doanh nghiệp không tốt
2.3.2.2.Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư
LƯU CHUYỂN TIỀN TỪ HOẠT ĐỘNG
Tiền thu từ thanh lý, nhượng bán TSCĐ và các 485
Trang 33Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 30
Tiền chi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác
Tiền thu hồi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác 1,814
Tiền thu lãi cho vay, cổ tức và lợi nhuận được
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư 1,312 2,479 2,105 827
Dòng tiền từ hoạt động đầu tư của doanh nghiệp có xu hướng tăng lên trong giai đoạn 2007 – 2009 Dòng tiền này chủ yếu là khoản tiền thu lãi cho vay, cổ tức và
lợi nhuận được chia Nguyên nhân là do doanh nghiệp có cả các khoản đầu tư tài chính
ngắn hạn và dài hạn Trong đó các khoản đầu tư tài chính dài hạn ở mức khoảng 4 tỷ
đồng, đầu tư tài chính ngắn hạn năm 2007 và 2008 tăng mạnh (ở mức 9 tỷ đồng và 13
tỷ đồng) nên doanh nghiệp có được các khoản thu từ lãi đầu tư Tuy nhiên 2 năm 2009
và 2010, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn đã giảm mạnh