1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích tài chính công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải

100 612 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích tài chính công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải
Tác giả Nguyễn Đức Đại
Người hướng dẫn ThS. Lê Thu Thuỷ
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài chính doanh nghiệp
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 125,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong một nền kinh tế hội nhập như hiện nay ở Việt Nam, sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt giữa các thành phần kinh tế là một điều tất yếu. Nó vừa tạo động lực cho các doanh nghiệp phát triển, vừa là một trở ngại lớn nếu doanh nghiệp không bắt kịp với nhịp độ phát triển của nền kinh tế. Do đó, để có thể tồn tại và phát triển được, mỗi doanh nghiệp cần phải nắm vững được tình hình tài chính, tình hình sản xuất - kinh doanh của mình để từ đó có những bước đi phù hợp với tiến trình hội nhập. Để làm được điều này, doanh nghiệp phải thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính, điều này sẽ giúp cho các doanh nghiệp và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ được thực trạng hoạt động tài chính, kết quả hoạt động sản xuất - kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp cũng như xác định được một cách đầy đủ, đúng đắn nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố thông tin, đánh giá được tiềm năng, hiệu quả sản xuất - kinh doanh nghiệp, rủi ro và triển vọng trong tương lai của doanh nghiệp. Từ đó, họ có thể đưa ra những giải pháp hữu hiệu, những quyết định chính xác nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh tế, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.

Trang 1

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.1 Biểu kê khai năng lực cán bộ chuyên môn và kỹ thuật

Bảng 2.2 Biểu kê khai công nhân kỹ thuật, thợ lành nghề

Bảng 2.3 Biểu kê khai số công nhân hợp đồng ngắn hạn

Bảng 2.4 Bảng phân tích cơ cấu nguồn vốn và tài sản

Bảng 2.5 Bảng các tỷ số về đảm bảo nguồn vốn

Bảng 2.6 Bảng phân tích tình hình đầu tư

Bảng 2.7 Bảng tình hình thanh toán của công ty

Bảng 2.8 Bảng các tỷ số phản ánh khả năng thanh toán của công

ty Bảng 2.9 Bảng các tỷ số phản ánh hiệu quả sử dụng vốn

Bảng

2.10 Bảng phân tích khả năng sinh lời

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý công ty

Bảng 3.1 Bảng các chỉ tiêu phấn đấu trong năm 2010

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

Trong một nền kinh tế hội nhập như hiện nay ở Việt Nam, sự cạnhtranh ngày càng quyết liệt giữa các thành phần kinh tế là một điều tất yếu Nóvừa tạo động lực cho các doanh nghiệp phát triển, vừa là một trở ngại lớn nếudoanh nghiệp không bắt kịp với nhịp độ phát triển của nền kinh tế Do đó, để

có thể tồn tại và phát triển được, mỗi doanh nghiệp cần phải nắm vững đượctình hình tài chính, tình hình sản xuất - kinh doanh của mình để từ đó cónhững bước đi phù hợp với tiến trình hội nhập Để làm được điều này, doanhnghiệp phải thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính, điều này sẽgiúp cho các doanh nghiệp và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ đượcthực trạng hoạt động tài chính, kết quả hoạt động sản xuất - kinh doanh trong

kỳ của doanh nghiệp cũng như xác định được một cách đầy đủ, đúng đắnnguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố thông tin, đánh giá đượctiềm năng, hiệu quả sản xuất - kinh doanh nghiệp, rủi ro và triển vọng trongtương lai của doanh nghiệp Từ đó, họ có thể đưa ra những giải pháp hữuhiệu, những quyết định chính xác nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lýkinh tế, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp

Một thực tế có thể nhận thấy là tình hình tài chính của một doanhnghiệp không chỉ là sự quan tâm của chính bản thân doanh nghiệp mà nó còn

là đối tượng quan tâm của rất nhiều chủ thể khác như các nhà đầu tư, các cổđông tương lai của công ty cổ phần, người cho vay, Nhà nước, các đối thủcạnh tranh của doanh nghiệp, người lao động, các nhà nghiên cứu kinh tế Vìthế, phân tích tình hình tài chính của một doanh nghiệp sẽ không phải chỉ làcông việc của một mình các nhà quản trị doanh nghiệp mà nó sẽ là đối tượng

Trang 3

để các chủ thể khác phân tích tùy thuộc vào mục đích của họ sử dụng thôngtin phân tích để làm gì.

Hiện nay, loại hình tổ chức công ty cổ phần đang dần dần chiếm ưu thế

do những lợi thế mà nó mang lại Từ năm 2001 đến nay, số doanh nghiệp Nhànước đã được cổ phần hóa và trở thành các công ty cổ phần tăng khá nhanh cả

về số lượng công ty lẫn năng lực vốn, lao động, tài sản và kết quả hoạt động.Hoạt động của các công ty này nhìn chung là có hiệu quả hơn so với trước khi

cổ phần hóa tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề cần quan tâm

Nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc phân tích tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp nói chung và trong các công ty cổ phần nói riêng đối với sựphát triển của nền kinh tế, kết hợp với những kiến thức lý luận được tiếp thu ởnhà trường, các tài liệu tham khảo thực tế, cùng với sự hướng dẫn nhiệt tìnhcủa cô giáo – ThS Lê Thu Thuỷ, sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi trongviệc cung cấp các thông tin cần thiết của các cô chú trong phòng kế toán công

ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải, em đã lựa chọn đề tài cho chuyên đề

thực tập của mình là: “ Phân tích tài chính công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải.”

Chuyên đề này ngoài phần mở đầu và kết luận, bao gồm các nội dungchính sau:

Chương 1 Những vấn đề cơ bản về phân tích tài chính trong công ty

Trang 4

Chương 1 Những vấn đề cơ bản về phân tích tài chính trong

công ty cổ phần.

1.1 Những vấn đề lý luận hoạt động tài chính trong các công ty cổ phần.

1.1.1 Khái niệm và những đặc điểm cơ bản của công ty cổ phần.

1.1.1.1 Khái niệm về công ty cổ phần:

Công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp lần đầu tiên được hìnhthành trên Thế giới là cách đây hơn 400 năm Loại hình doanh nghiệp nàyđược phôi thai từ đầu thế kỷ thứ XV ở châu Âu, đến thế kỷ thứ XVI, dưới sựtác động của chủ nghĩa trọng thương cùng với sự phát triển mạnh mẽ củathương mại quốc tế đã hình thành nên các công ty hoạt động chủ yếu dựa trênvốn góp cổ phần Và từ đó đến nay, hình thức công ty cổ phần ngày càng pháttriển và đã chứng tỏ được những ưu thế của nó so với hình thức doanh nghiệpkhác Theo đó, công ty cổ phần là một doanh nghiệp trong đó các thành viêncùng góp vốn, cùng hưởng lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần gópvốn và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ khác của công tytrong phạm vi phần góp vốn của mình

1.1.1.2 Những đặc điểm cơ bản của công ty cổ phần:

Hình thức công ty cổ phần có những đặc điểm cơ bản sau:

 Công ty cổ phần là một doanh nghiệp tổ chức kinh doanh, có tưcách pháp nhân, tồn tại riêng biệt và độc lập với chủ sở hữu của nó Đượcthành lập theo pháp luật, được Nhà nước phê duyệt điều lệ hoạt động, có condấu riêng, có quyền ký kết các hợp đồng kinh tế với các tổ chức và các cánhân khác trong và ngoài nước, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạtđộng sản xuất – kinh doanh của mình

 Công ty cổ phần được tự ấn định mục tiêu và xác định các phươngtiện sử dụng để thực hiện các mục tiêu đó, được tự do phát triển mọi hoạt

Trang 5

động sản xuất - kinh doanh theo pháp luật quy định, được đa dạng hóa, đượcthay đổi các hoạt động kinh doanh, được đình chỉ hoạt động theo ý công ty màkhông phải tham khảo bất cứ một thẩm quyền nào.

 Tài sản (vốn) trong các công ty cổ phần được hình thành từ nhữngnguồn mang đặc điểm riêng biệt, bao gồm:

 Vốn điều lệ: là vốn do các cổ đông dùng tiền hoặc tài sản của mìnhgóp vào công ty dưới hình thức mua cổ phiếu Vốn góp cổ phần là vốn chủ sởhữu, công ty được toàn quyền sử dụng vốn góp này Tỷ lệ góp vốn của các cổđông là căn cứ để công ty chia lợi nhuận sau mỗi kỳ hạch toán kinh doanh

Các cổ đông của công ty cổ phần có trách nhiệm góp vốn vào công tynhưng không được quyền rút vốn khỏi công ty trong thời gian công ty hoạtđộng để đảm bảo cho sự hoạt động của công ty Tuy nhiên, các cổ đông cóquyền bán lại cổ phiếu của mình cho người khác Mọi hoạt động chuyểnnhượng cổ phần này diễn ra với tư cách là cách là các giao dịch cá biệt nênkhông ảnh hưởng đến vốn điều lệ và hoạt động của công ty

 Vốn tự có: là lợi nhuận không chia hết cho các cổ đông mà đượcgiữ lại để làm tăng vốn cho công ty Đây chính là phần vốn mà công ty tự tạo

ra trong quá trình sản xuất – kinh doanh

 Vốn vay: là nguồn mà công ty có được nhờ hình thức đi vay hoặcchiếm dụng vốn của các đơn vị khác, công ty chỉ được quyền sử dụng trongmột thời gian nhất định, sau đó phải hoàn trả lại cho chủ nợ kèm theo mộtkhoản nhất định cho chủ nợ, chẳng hạn như lãi suất cho khoản vay ngân hàng,trái tức cho người mua trái phiếu của công ty Khoản vốn vay bao gồm:

- Vốn vay tín dụng ngân hàng: là số vốn mà công ty đi vay của ngânhàng hoặc các tổ chức tín dụng khác Đến thời hạn hoàn trả, công ty phải trả

số tiền gốc đã vay kèm theo một khoản chi phí nữa là lãi phải trả cho cho chủnợ

Trang 6

- Vay từ phát hành trái phiếu trên thị trường vốn: khoản vốn nàythường là vốn trung và dài hạn, được huy động trên thị trường vốn, các cánhân, đơn vị đều có thể là chủ nợ.

- Vay từ tín dụng thương mại: đây là hình thức công ty mua chịu hàngcủa nhà cung cấp, khi đó, công ty được sử dụng vốn của người khác và chi phícho việc này là một khoản tiền phải trả do chiếm dụng vốn của đơn vị cungcấp

 Cổ đông trong công ty cổ phần chỉ chịu trách nhiệm về các khoản

nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp.Trong trường hợp công ty không đủ tài sản để thanh toán các khoản nợ chokhách hàng thì cổ đông không chịu trách nhiệm về các khoản nợ này

 Chức năng kinh tế của các công ty cổ phần trong nền kinh tế thịtrương: sản xuất sản phẩm, hàng hóa , dịch vụ để bán trên thị trường, bằngcách sử dụng các phương tiện vật chất, tài chính và nhân sự nhằm mục đíchthu lợi nhuận

 Cơ cấu lãnh đạo trong mỗi công ty cổ phần gồm ba bộ phận:

 Đại hội cổ đông : là cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất củacông ty, đại biểu bao gồm tất cả các cổ đông

 Hội đồng quản trị : là cơ quan quản lý công ty, được đại hội cổ đôngbầu ra nhằm thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu mà đại hội cổ đông đã biểuquyết

 Ban giám đốc : do hội đồng quản trị bổ nhiệm gồm giám đốc và cácphó giám đốc để điều hành công việc hằng ngày, tuân thủ theo chỉ thị và ýchí của đại hội cổ đông và hội đồng quản trị

Trang 7

1.1.2 Những lợi thế và những hạn chế của công ty cổ phần

1.1.2.1 Lợi thế:

Từ khi được hình thành và phát triển cho tới nay, công ty cổ phần làmột trong những hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh được ưu chuộng trênthế giới So với các hình thức công ty hợp doanh, công ty tư nhân và công tyTNHH thì hình thức công ty cổ phần có nhiều lợi thế hơn Những lợi thế cơbản của hình thức công ty cổ phần được thể hiện ở những điểm sau đây:

 Trách nhiệm của các cổ đông trong công ty cổ phần chỉ nằm trongphạm vi số vốn đã góp vào công ty (giống các thành viên góp vốn của công tytrách nhiệm hữu hạn) Ưu điểm này làm cho hình thức công ty cổ phần rất hấpdẫn các nhà đầu tư vì việc đầu tư vào các công ty với trách nhiệm hữu hạnnhư vậy sẽ ít rủi ro hơn là đầu tư và công ty trách nhiệm vô hạn

 Vốn kinh doanh của công ty cổ phần được hình thành từ nhiềunguồn khác nhau, do đó đa dạng về phương thức huy động vốn Một trongnhững phương thức mà các công ty cổ phần thường sử dụng để tìm kiếmnguồn vốn cho mình đó là phát hành cổ phiếu ra thị trường (lợi thế hơn so vớicông ty TNHH và công ty hợp doanh) Nhờ ưu điểm này mà công ty cổ phần

ít bị hạn chế về vốn kinh doanh, do đó có thể thực hiện được các dự án kinhdoanh đòi hỏi nhiều vốn đầu tư

 Cổ phiếu trong các công ty cổ phần, đặc biệt là các công ty lớn có tỷsuất lợi nhuận cao có thể dễ dàng chuyển nhượng quyền sở hữu qua việc muabán cổ phiếu trên thị trường mà không cần thay đổi tổ chức công ty Cổ phiếucủa các công ty đã niêm yết trên thị trường chứng khoán thường có thể dễdàng được chuyển đổi thành tiền sự dễ dàng chuyển đổi chủ sở hữu của các

cổ phần này cho phép các công ty cổ phần tồn tại và phát triển lâu dài

 Một đặc điểm nổi bật nữa về ưu thế của hình thức tổ chức công ty

cổ phần là sự tách biệt giữa chủ sở hữu với những người điều hành công ty

Trang 8

Do vậy họ thường phải lựa chọn những người điều hành có đủ năng lực vàkinh nghiệm chuyên môn thay mình quản lý sản xuất – kinh doanh của côngty.

1.1.2.2 Hạn chế:

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu thế có được của hình thức này, hình thức

tổ chức công ty cổ phần cũng có những hạn chế nhất định, biểu hiện ở một sốmặt như sau:

 Chi phí cho việc thành lập và điều hành công ty thường tốn kémhơn so với các loại hình tổ chức công ty khác

 Hàng kỳ (thường là quý hoặc năm), các công ty cổ phần phải côngkhai và báo cáo với các cổ đông (theo nghị quyết và điều lệ của đại hội cổđông) về tình hình sản xuất – kinh doanh và tình hình tài chính của mình Do

đó khả năng bảo mật kinh doanh và tài chính trong các công ty cổ phầnthường bị hạn chế, nhiều khi gây bất lợi cho công ty trong quá trình cạnhtranh với các đơn vị khác

 Phần lớn các cổ đông thường không có kiến thức về kinh doanh vàkhông hiểu biết lẫn nhau (thường 6 tháng hoặc 1 năm mới tổ chức họp đại hộiđồng cổ đông một lần) Số lượng cổ đông lớn cũng dễ dẫn đến sự phân hóakiểm soát và tranh chấp về quyền lợi giữa các nhóm cổ đông

1.1.3 Nội dung của hoạt động tài chính trong các công ty cổ phần.

1.1.3.1 Hoạt động tài chính trong các công ty cổ phần.

Hoạt động tài chính trong bất cứ hình thức tổ chức doanh nghiệp nàocũng đóng vai trò hết sức quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạtđộng sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Có thể nói, không một nền kinh

tế nào hoạt động được mà không có tiền Và để đồng tiền có được được quản

lý và sử dụng một cách hiệu quả thì hoạt động tài chính trong doanh nghiệpphải được thực hiện một cách triệt để nhất Chính vì thế, hoạt động tài chính

Trang 9

doanh nghiệp trong công ty cổ phần nói riêng và trong các doanh nghiệp nóichung là một trong những nội dung cơ bản của hoạt động sản xuất - kinhdoanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết các mối quan hệ kinh tế phát sinhtrong quá trình sản xuất - kinh doanh và được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ.

Hoạt động tài chính trong các doanh nghiệp bao gồm việc thu – chi vàquản lý thu – chi tiền tệ phát sinh trong doanh nghiệp từ quá trình thực hiện kếhoạch sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Hoạt động tài chính trongdoanh nghiệp và kết quả kinh doanh có mối quan hệ hai chiều Hoạt động tàichính của doanh nghiệp thực hiện được tốt hay xấu sẽ có tác động thúc đẩyhay cản trở mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp, và ngượclại, hoạt động sản xuất - kinh doanh tốt hay xấu lại có tác động trở lại đối vớihoạt động tài chính của doanh nghiệp Chẳng hạn, trong một kỳ kinh doanhnào đó, tài chính của doanh nghiệp không cung ứng đầy đủ vốn để doanhnghiệp thực hiện các hoạt động mua các yếu tố đầu vào thì quá trình sản xuất -kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị trì trệ, không diễn ra liên tục được, ảnhhưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ Ngược lại, trong

kỳ, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp không được tốt lắm do bán được íthàng, điều này làm giảm doanh thu cũng như lợi nhuận, và do đó hoạt độngtài chính của doanh nghiệp cũng sẽ không hoạt động được trơn tru nữa

1.1.3.2 Nguyên tắc của hoạt động tài chính trong các công ty cổ phần.

Để hoạt động tài chính của doanh nghiệp thực sự trở thành công cụ đắclực, thúc đẩy hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp đạt kết quảcao thì hoạt động tài chính của doanh nghiệp trước hết phải dựa trên nguyêntắc cơ bản sau: sử dụng vốn có mục đích, tiết kiệm và có lợi nhằm khôngngừng nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn một cách hợp pháp

Vốn dùng để sản xuất - kinh doanh trong các công ty cổ phần phải được

sử dụng theo đúng mục đích mà đại hội đồng cổ đông đã biểu quyết hoặc theo

Trang 10

đúng điều lệ tổ chức công ty đã được Nhà nước phê duyệt, theo đúng nhiệm

vụ và quyền hạn khi được phép thành lập công ty

Việc sử dụng vốn của công ty cổ phần phải tuân thủ theo các quy địnhtài chính, kỷ luật tín dụng và kỷ luật thanh toán của Nhà nước đã ban hành.Việc cấp phát và thu – chi trong quá trình sản xuất - kinh doanh của doanhnghiệp phải theo đúng chế độ thu – chi của Nhà nước, của đại hội đồng cổđông và hội đồng quản trị Không chi sai phạm vi quy định, không chiếmdụng vốn của ngân sách Nhà nước, của ngân hàng, của các đơn vị và cá nhânkhác Đồng thời, cũng không để các đơn vị khác chiếm dụng vốn của doanhnghiệp Tức là phải sử dụng vốn một cách tiết kiệm và có lợi để từ đó khôngngừng nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn của mình, tăng lợi nhuận cho toàncông ty

1.1.3.3 Mục tiêu của hoạt động tài chính trong các công ty cổ phần.

Như trên ta đã biết, hoạt động tài chính là những quan hệ tiền tệ gắntrực tiếp với việc tổ chức, huy động, phân phối, sử dụng và quản lý vốn trongquá trình sản xuất - kinh doanh, nó là một trong những nội dung cơ bản củahoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết các mốiquan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất - kinh doanh Do đó, mụctiêu của hoạt động tài chính trong các doanh nghiệp nói chung và trong công

ty cổ phần nói riêng là hướng tới việc giải quyết tốt các mối quan hệ kinh tếthể hiện qua việc thanh toán với các đơn vị có liên quan như ngân hàng, cácđơn vị kinh tế khác, các đối tượng có liên quan mật thiết với doanh nghiệpnhư các cổ đông, người lao động, các cơ quan chức năng Nhà nước mốiquan hệ này được cụ thể hóa bằng các chỉ tiêu đánh giá về mặt lượng, mặtchất và thời gian; hoạt động tài chính phải đảm bảo nguyên tắc hiệu quả,nguyên tắc này đòi hỏi phải tối đa hóa việc sử dụng các nguồn vốn nhưng vẫnđảm bảo quá trình sản xuất - kinh doanh được hoạt động bình thường và mang

Trang 11

lại hiệu quả; hoạt động tài chính được thực hiện trên cơ sở tôn trọng pháp luật,tuân thủ và chấp hành các chế độ về tài chính tín dụng, nghĩa vụ với Nhànước, kỷ luật với các tổ chức, đơn vị kinh tế có liên quan.

 Mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với Nhà nước:

Doanh nghiệp phải thực hiện đủ, đúng thời hạn các nghĩa vụ về cáckhoản phải nộp ngân sách Nhà nước như thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhậpkhẩu (nếu có), thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có), thuế thu nhập doanh nghiệp ,không để nợ nần dây dưa kéo dài, gây khó khăn cho các cơ quan chức năngcủa Nhà nước tính toán và thu các khoản nghĩa vụ đó

 Mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các đơn vị khác :

Doanh nghiệp phải thanh toán đầy đủ và đúng kỳ hạn các khoản nợphát sinh khi thực hiện các hoạt động mua hàng hóa, nguyên vật liệu, các dịch

vụ đầu vào, không chiếm dụng vốn của các đơn vị đó một cách bất hợp pháp.Mặt khác, khi cung cấp các hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ do mình tạo ra,doanh nghiệp phải có nghĩa vụ ghi nhận đầy đủ các nghiệp vụ liên quan, vừatạo sự minh bạch trong việc tính toán nghĩa vụ đối với Nhà nước của doanhnghiệp mình, vừa tạo thuận lợi cho các cơ quan chức năng của Nhà nước kiểmtra việc thực hiện nghĩa vụ của đơn vị đối tác Và doanh nghiệp cũng khôngđược để các đơn vị đó chiếm dụng vốn của mình một cách không hợp lý, điềunày sẽ có ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến tình hình tài chính của doanhnghiệp do vốn bị ứ đọng ở khâu bán hàng, quay vòng sản xuất chậm

 Mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với cán bộ công nhân viên :

Tài chính doanh nghiệp có nghĩa vụ phải thanh toán đầy đủ tiền lương

và các khoản khác thuộc về thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp,không được sử dụng các khoản thu nhập nói trên vào các mục đích khác, gâyảnh hưởng đến đời sống của người lao động

Trang 12

 Mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các cổ đông :

Đây là mối quan hệ giữa những nhà quản lý doanh nghiệp với chủ sở hữu

về tài sản Mục tiêu của hoạt động tài chính trong giải quyết mối quan hệ này làtạo sự công bằng, hợp lý, công khai trong việc phân chia lợi nhuận theo quyềnlợi và nghĩa vụ của mỗi cổ đông đúng như Đại hội cổ đông đã biểu quyết

1.1.3.4 Nội dung cơ bản hoạt động tài chính trong các công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường.

 Xác định nhu cầu về vốn của doanh nghiệp:

Sự hình thành, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc phầnlớn vào hoạt động tài chính mà doanh nghiệp thực hiện Vai trò đó của hoạtđộng tài chính được thể hiện ngay từ khi thành lập doanh nghiệp, trong việcthiết lập các dự án đầu tư ban đầu, dự kiến hoạt động, gọi vốn đầu tư

Trong cơ chế thị trường, mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh củadoanh nghiệp đều chịu sự tác động về nhu cầu tài chính Vì vậy, để đảm bảocho quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành được liên tục,thường xuyên và đạt hiệu quả cao thì khâu đầu tiên là phải xác định được vàđảm bảo thỏa mãn đầy đủ nhu cầu về vốn kinh doanh của doanh nghiệp Việcxác định nhu cầu về vốn kinh doanh của doanh nghiệp phải căn cứ vào chu kỳkinh doanh của doanh nghiệp và nhiệm vụ sản xuất - kinh doanh của doanhnghiệp trong kỳ Khi xác định được nhu cầu về vốn kinh doanh của doanhnghiệp rồi thì các nhà quản lý doanh nghiệp cũng có thể căn cứ vào đó để tìm

ra các hướng làm giảm đến mức tối thiểu nhu cầu đó Do đó xác định nhu cầu

về vốn kinh doanh của doanh nghiệp là một trong những nội dung cơ bản củahoạt động tài chính trong các công ty cổ phần

Trang 13

 Tìm kiếm và huy động nguồn vốn để thỏa mãn một cách tốt nhất nhu cầu về vốn kinh doanh đã xác định.

Trong các công ty cổ phần, vốn kinh doanh được hình thành từ nhiềunguồn khác nhau: vốn góp ban đầu của các cổ đông; vốn vay từ các nguồn ngắnhạn và dài hạn như phát hành trái phiếu công ty, vay tín dụng ngân hàng, tíndụng thương mại ; vốn bổ sung từ lợi nhuận đạt được của quá trình sản xuất -kinh doanh; vốn từ các quỹ được hình thành trong doanh nghiệp như quỹ đầu

tư phát triển, quỹ khen thưởng phúc lợi, nguồn vốn xây dựng cơ bản

Căn cứ vào việc phân tích tình hình tài chính, đánh giá thực trạng hoạtđộng tài chính của doanh nghiệp mình, các nhà quản lý doanh nghiệp sẽ xácđịnh rõ những nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến việchuy động mọi nguồn lực, tài lực, nguồn vốn đã có nhằm luôn luôn đáp ứngmọi nhu cầu về vốn cho mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanhnghiệp, đảm bảo sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có

 Sử dụng vốn hợp lý, đạt hiệu quả cao nhất trong sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.

Sau khi đã xác định được nhu cầu về nguồn vốn kinh doanh và huyđộng được các nguồn vốn cần thiết để đáp ứng nhu cầu đó, doanh nghiệp cầnphải sử dụng nguồn vốn đó một cách hợp lý và đạt hiệu quá cao nhất trongsản xuất - kinh doanh nghiệp Đó chính là một nội dung của hoạt động tàichính trong các công ty cổ phần

Mặt khác, việc sử dụng vốn hợp lý và đạt hiệu quả cao còn được biểuhiện ở chỗ: Phải biết kết hợp hài hòa giữa việc sử dụng tiết kiệm vốn hiện có,vừa đảm bảo cho quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp luôn luônđược tiến hành liên tục, không bị ngừng trệ trong quá trình sản xuất - kinhdoanh vì thiếu vốn, thiếu tiền

Trang 14

1.2 Phân tích tài chính trong công ty cổ phần.

1.2.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp.

Phân tích tài chính doanh nghiệp là một khâu cơ bản trong tài chínhdoanh nghiệp, có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động khác của doanh nghiệp.Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là một tập hợp các khái niệm,phương pháp và công cụ cho phép thu thập, xử lý các thông tin kế toán và cácthông tin khác trong quản lý doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính,khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp cho người sử dụng thông tin đưa

ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp

Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá rủi

ro phá sản tác động tới doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanhtoán, đánh giá khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năngsinh lãi của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tụcnghiên cứu và đưa ra những dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mứcdoanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai Nói cách khác, phântích tài chính là cơ sở để dự đoán tài chính – một trong các hướng dự đoán củadoanh nghiệp Phân tích tài chính có thể được ứng dụng theo nhiều hướngkhác nhau: với mục đích tác nghiệp (chuẩn bị các quyết định nội bộ), với mụcđích nghiên cứu, thông tin hoặc theo vị trí của nhà phân tích (trong doanhnghiệp hoặc ngoài doanh nghiệp)

1.2.2 Vai trò và mục tiêu của phân tích tài chính trong các công ty cổ phần.

1.2.2.1.Vai trò của phân tích tài chính trong hệ thống quản lý của các công ty

Trang 15

kinh doanh Do vậy sẽ có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp như : chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, kháchhàng kể cả các cơ quan Nhà nước và người làm công, mỗi đối tượng quantâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các góc độ khác nhau Cácđối tượng quan tâm đến thông tin về công ty cổ phần có thể được chia thànhhai nhóm: nhóm có quyền lợi trực tiếp và nhóm có quyền lợi gián tiếp:

 Nhóm có quyền lợi trực tiếp:

 Các cổ đông hiện tại và cổ đông tương lai:

Trong công ty cổ phần, các cổ đông là người đã bỏ vốn đầu tư vào công

ty và họ có thể phải gánh chịu rủi ro Những rủi ro này liên quan tới việcgiảm giá cổ phiếu trên thị trường, dẫn đến nguy cơ phá sản của doanh nghiệp Chính vì vậy, quyết định của họ đưa ra luôn có sự cân nhắc giữa mức độ rủi

ro và doanh lợi đạt được Vì thế, mối quan tâm hàng đầu của các cổ đông làkhả năng tăng trưởng, tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trị chủ sở hữu trongcông ty cổ phần Trước hết họ quan tâm tới lĩnh vực đầu tư và nguồn tài trợ.Trên cơ sở phân tích các thông tin về tình hình hoạt động, về kết quả kinhdoanh hàng năm, các nhà đầu tư sẽ đánh giá được khả năng sinh lợi và triểnvọng phát triển của doanh nghiệp; từ đó đưa ra những quyết định phù hợp.Các nhà đầu tư sẽ chỉ chấp thuận đầu tư vào một dự án nếu ít nhất có một điềukiện là giá trị hiện tại ròng của nó dương Khi đó lượng tiền của dự án tạo ra

sẽ lớn hơn lượng tiền cần thiết để trả nợ và cung cấp một mức lãi suất yêu cầucho nhà đầu tư Số tiền vượt quá đó mang lại sự giàu có cho những người sởhữu doanh nghiệp Bên cạnh đó, chính sách phân phối cổ tức và cơ cấu nguồntài trợ của công ty cổ phần cũng là vấn đề được các nhà đầu tư hết sức coitrọng vì nó trực tiếp tác động đến thu nhập của họ Ta biết rằng thu nhập của

cổ đông bao gồm phần cổ tức được chia hàng năm và phần giá trị tăng thêmcủa cổ phiếu trên thị trường Một nguồn tài trợ với tỷ trọng nợ và vốn chủ sở

Trang 16

hữu hợp lý sẽ tạo đòn bẩy tài chính tích cực vừa giúp doanh nghiệp tăng vốnđầu tư vừa làm tăng giá cổ phiếu và thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) Hơnnữa các cổ đông chỉ chấp nhận đầu tư mở rộng quy mô doanh nghiệp khiquyền lợi của họ ít nhất không bị ảnh hưởng Bởi vậy, các yếu tố như tổng sốlợi nhuận ròng trong kỳ có thể dùng để trả lợi tức cổ phần, mức chia lãi trênmột cổ phiếu năm trước, sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn địnhcủa thị giá cổ phiếu của doanh nghiệp cũng như hiệu quả của việc tái đầu tưluôn được các nhà đầu tư xem xét trước tiên khi thực hiện phân tích tài chính.

 Ngân hàng và các nhà cung cấp tín dụng:

Vai trò của phân tích tình hình tài chính công ty cổ phần đối với cácngân hàng và các nhà cung cấp tín dụng là giúp các đối tượng này đánh giáđược khả năng trả nợ của doanh nghiệp để từ đó đưa ra quyết định có cho vayhay hưởng các chính sách tín dụng hay không Họ chú ý đặc biệt đến số lượngtiền và các tài sản khác có thể chuyển nhanh thành tiền, từ đó so sánh với số

nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp Bêncạnh đó, các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm tới

số vốn của chủ sở hữu, bởi vì số vốn này là khoản bảo hiểm cho họ trongtrường hợp doanh nghiệp bị rủi ro Như vậy, kỹ thuật phân tích có thể thay đổitheo bản chất và theo thời hạn của các khoản nợ, nhưng cho dù đó là cho vaydài hạn hay ngắn hạn thì người cho vay đều quan tâm đến cơ cấu tài chínhbiểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay

 Các nhà quản trị doanh nghiệp:

Đối tượng này cần các thông tin để kiểm soát và chỉ đạo tình hình sảnxuất - kinh doanh của doanh nghiệp Các thông tin do các báo cáo tài chínhcung cấp thường không đáp ứng đủ cho nhu cầu thông tin của họ Nhằm đápứng thông tin cho đối tượng này, các công ty cổ phần cũng như các doanhnghiệp khác thường phải tiến hành các hoạt động nghiên cứu tài chính trong

Trang 17

nội bộ doanh nghiệp được gọi là phân tích tài chính nội bộ, khác với phân tíchtài chính bên ngoài do nhà phân tích ngoài doanh nghiệp tiến hành Mục đíchcủa phân tích tài chính nội bộ là cung cấp thông tin phục vụ cho việc quản lýdoanh nghiệp và giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đánh giá tình hình tàichính đã qua, từ đó tiến hành cân đối tài chính, hợp lý hóa các chỉ tiêu về khảnăng sinh lời, khả năng thanh toán, trả nợ, rủi ro tài chính của doanh nghiệp.Bên cạnh đó định hướng các quyết định của ban giám đốc tài chính, quyếtđịnh đầu tư, tài trợ, phân tích lợi tức cổ phần Các thông tin do quá trình phântích tài chính nội bộ cung cấp chỉ được sử dụng trong nội bộ doanh nghiệp,theo yêu cầu quản lý của các nhà quản trị mà không được cung cấp cho cácđối tượng sử dụng ở bên ngoài.

 Cơ quan thuế:

Tất cả các tổ chức kinh tế đều phải thực hiện các nghĩa vụ về thuế đối với Nhànước Do đó, để các cơ quan thuế có thể xác định được đúng số thuế màdoanh nghiệp phải nộp, việc nghiên cứu hoạt động tài chính có ý nghĩa quantrọng

 Nhóm có quyền lợi gián tiếp:

 Các cơ quan quản lý Nhà nước khác ngoài cơ quan thuế:

Đối với cơ quan quản lý Nhà nước, qua việc phân tích tình hình tàichính doanh nghiệp, sẽ đánh giá được năng lực lãnh đạo của Ban giám đốc, từ

đó đưa ra các quyết định quản lý vĩ mô nền kinh tế cũng các quyết định đầu tư

bổ sung vốn cho các công ty cổ phần mà Nhà nước có nắm giữ cổ phần

 Người lao động trong doanh nghiệp:

Bên cạnh các nhà đầu tư, nhà quản lý và các chủ nợ của doanh nghiệp,người được hưởng lương trong các công ty cổ phần cũng rất quan tâm tới cácthông tin tài chính của của doanh nghiệp Điều này cũng dễ hiểu bởi kết quảhoạt động của doanh nghiệp có tác động trực tiếp tới tiền lương, khoản thu

Trang 18

nhập chính của người lao động Ngoài ra trong một số công ty cổ phần, ngườilao động được tham gia góp vốn mua một lượng cổ phần nhất định Như vậy,

họ cũng là những người chủ doanh nghiệp nên có quyền lợi và trách nhiệmgắn với doanh nghiệp

 Các đối thủ cạnh tranh:

Trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay,các doanh nghiệp ngoài việc quan tâm đến tình hình tài chính của mình còncần phải quan tâm đến khả năng sinh lợi, doanh thu cũng như các chỉ tiêu tàichính khác của các đối thủ cạnh tranh với doanh nghiệp mình trong điều kiện

có thể để tìm biện pháp cạnh tranh hiệu quả nhất Do đó, việc phân tích tìnhhình tài chính các công ty cổ phần cũng có vai trò đối với các đối thủ cạnhtranh của các công ty cổ phần

 Các nhà nghiên cứu, các sinh viên chuyên ngành kinh tế:

Ngoài các đối tượng trên, việc phân tích tình hình tài chính trong cáccông ty cổ phần còn có vai trò khá quan trọng đối với các nhà nghiên cứu vềkinh tế và các sinh viên, học viên trong ngành kinh tế Các đối tượng này sửdụng các thông tin này để nghiên cứu, phân tích, phục vụ cho những mục đích

cụ thể của họ

1.2.2.2 Mục tiêu chủ yếu của phân tích tài chính trong các công ty cổ phần.

Như chúng ta đã biết, mọi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp đều nằmtrong thể tác động liên hoàn với nhau Bởi vậy, chỉ có thể phân tích tình hìnhtài chính của doanh nghiệp mới đánh giá đầy đủ và sâu sắc mọi hoạt độngkinh tế trong trạng thái thực của chúng Trên cơ sở đó, nêu lên một cách tổnghợp về trình độ hoàn thành các mục tiêu, biểu hiện bằng hệ thống chỉ tiêu kinh

tế - kỹ thuật – tài chính của doanh nghiệp Trong điều kiện kinh doanh theo cơchế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, các doanh nghiệp đều bìnhđẳng trước pháp luật trong kinh doanh Mỗi doanh nghiệp đều có rất nhiều đối

Trang 19

tượng quan tâm đến tình hình tài chính của mình như các nhà đầu tư, nhà chovay, nhà cung cấp, nhà quản trị doanh nghiệp, các cổ đông, người laođộng Mỗi đối tượng này quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệptrên những góc độ khác nhau Song nhìn chung, họ đều quan tâm đến khảnăng tạo ra dòng tiền mặt, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và mức lợinhuận tối đa Bởi vậy phân tích tình hình tài chính và phân tích tình hình tàichính trong các công ty cổ phần nói riêng phải đạt được các mục tiêu sau:

 Một là : Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp đầy đủ, kịp thời,

trung thực hệ thống các thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, các nhà cho vay

và những người sử dụng thông tin tài chính khác để giúp họ có những quyếtđịnh đúng đắn khi ra các quyết định đầu tư, quyết định cho vay

 Hai là : Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp đầy đủ những

thông tin quan trọng nhất cho các chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các nhàcho vay và những người sử dụng thông tin khác trong việc đánh giá khả năng

và tính chắc chắn của dòng tiền mặt vào ra và tình hình sử dụng có hiệu quảnhất vốn kinh doanh, tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp

 Ba là : Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp những thông tin

về nguồn vốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả của quá trình hoạt động sảnxuất - kinh doanh nghiệp, sự kiện và các tình huống làm biến đổi các nguồnvốn và các khoản nợ của doanh nghiệp

Trên đây là các mục tiêu chủ yếu của phân tích tài chính trong các công

ty cổ phần Các mục tiêu này có quan hệ mật thiết với nhau, chúng góp phầncung cấp những thông tin nền tảng đặc biệt quan trọng cho bộ phận quản trị ởcác công ty cổ phần, giúp cho quản trị doanh nghiệp khắc phục được nhữngthiếu sót, phát huy những mặt tích cực và dự đoán được tình hình phát triểncủa doanh nghiệp trong tương lai Trên cơ sở đó, quản trị doanh nghiệp đề ra

Trang 20

được những giải pháp hữu hiệu nhằm lựa chọn quyết định phương án tối ưucho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

1.2.3 Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp.

Phân tích tài chính có mục tiêu đưa ra những dự báo tài chính giúp choviệc ra quyết định về mặt tài chính và giúp cho việc dự kiến kết quả tương laicủa doanh nghiệp nên thông tin sử dụng để phân tích tài chính không chỉ giớihạn trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp mà còn sử dụng đến các thông tin bênngoài doanh nghiệp Tất cả những thông tin đó đều giúp cho các nhà phân tích

có thể đưa ra được những nhận xét, kết luận tinh tế và thích đáng, để từ đó cóthể có được những quyết định đúng đắn

1.2.3.1 Thông tin của bản thân công ty cổ phần:

Để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của doanh nghiệp thìnhững thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp được xem là nguồn thôngtin quan trọng bậc nhất Với những đặc trưng hệ thống, đồng nhất và phongphú, kế toán hoạt động như một nhà cung cấp quan trọng những thông tinđáng giá cho phân tích tài chính Phân tích tình hình tài chính công ty cổ phầnđược thực hiện trên cơ sở những thông tin về chiến lược, sách lược kinhdoanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, những thông tin về tình hình vàkết quả sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp, tình hình tạo lập, phân phối

và sử dụng vốn, tình hình và khả năng thanh toán Những thông tin này đượcthể hiện qua những giải trình của các nhà quản lý, qua các báo cáo tài chính(Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền

tệ, bảng thuyết minh báo cáo tài chính)

1.2.3.2 Thông tin ngoài doanh nghiệp.

Những thông tin liên quan đến doanh nghiệp rất phong phú và đa dạng,khi phân tích tình hình tài chính, các nhà phân tích không chỉ sử dụng nhữngthông tin và giới hạn ở việc nghiên cứu những báo cáo tài chính của một công

Trang 21

ty cổ phần, mà phải tập hợp đầy đủ các thông tin bên ngoài liên quan đến tìnhhình tài chính của doanh nghiệp, bao gồm các thông tin về tình hình kinh tế vĩmô; thông tin về các chính sách quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước; thôngtin về ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp Các thông tin này

có tác động mạnh mẽ tới kết quả kinh doanh của công ty cổ phần, chúng cóảnh hưởng lớn đến chiến lược và sách lược kinh doanh của doanh nghiệptrong từng thời kỳ

 Thông tin kinh tế vĩ mô:

Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp cần phải được đặt trongbối cảnh chung của nền kinh tế trong nước, trong khu vực và Thế giới Do đó,cần phải xem xét, kết hợp những thông tin về tình hình nền kinh tế trong quátrình phân tích, có như vậy mới có thể đánh giá được đầy đủ, toàn diện hơntình hình tài chính của doanh nghiệp Các thông tin vĩ mô cần được quan tâmbao gồm: tình hình chính trị, môi trường pháp lý, kinh tế có liên quan đến cơhội kinh tế, cơ hội đầu tư, cơ hội về kỹ thuật – công nghệ, nhịp độ phát triểncủa các chu kỳ kinh tế, sự tăng trưởng hoặc suy thoái của nền kinh tế, độ lớncủa thị trường, lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái, lạm phát

 Thông tin về các chính sách quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước:

Các chính sách kinh tế của Nhà nước có tác động mạnh mẽ đối với hoạtđộng sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và tình hình tài chínhnói riêng từ khi doanh nghiệp được thành lập và đi vào hoạt động Chỉ cầnmột sự thay đổi nhỏ trong các chính sách quản lý, điều hành nền kinh tế củaNhà nước cũng đã tạo ra những biến đổi lớn trong hoạt động của doanhnghiệp, buộc các doanh nghiệp phải có những điều chỉnh trong hoạt động củamình để thích ứng Do đó, khi phân tích, các nhà phân tích phải đặc biệt chútrọng tới những thông tin về chính sách kinh tế của Nhà nước cũng như sựthay đổi có thể có của chúng trong tương lai gần để có những xử lý thích hợp

Trang 22

 Thông tin về ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp:

Các thông tin này bao gồm: nhịp độ tăng trưởng và xu hướng phát triểncủa ngành; cơ cấu và vị trí của ngành trong nền kinh tế; nhu cầu của thịtrường đối với sản phẩm của ngành; mức độ cạnh tranh và nguy cơ từ phía cácđối thủ cạnh tranh tiềm ẩn

Tuy nhiên, những thông tin thu thập được khi tiến hành phân tích tàichính không phải tất cả đều được biểu hiện bằng số liệu cụ thể, mà có nhữngtài liệu chỉ được thể hiện thông qua sự miêu tả đời sống kinh tế của doanhnghiệp hoặc của ngành nghề liên quan đến doanh nghiệp mà không có số liệuhoặc số lượng cụ thể Do đó, để có những thông tin cần thiết phục vụ cho quátrình phân tích tài chính, người làm công tác phân tích phải sưu tầm đầy đủ vàthích hợp những thông tin liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp Tínhđầy đủ thể hiện ở thước đo số lượng của thông tin và tính thích hợp được phảnánh bởi chất lượng của thông tin

1.2.4 Các phương pháp phân tích tài chính trong các công ty cổ phần.

Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp, bao gồm hệ thống cáccông cụ, biện pháp, các kỹ thuật và cách thức nhằm tiếp cận, nghiên cứu các

sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịchchuyển và biến đổi tình hình hoạt động tài chính doanh nghiệp, các chỉ tiêutổng hợp, các chỉ tiêu chi tiết, các chỉ tiêu tổng quát chung, các chỉ tiêu có tínhchất đặc thù nhằm đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động tài chính củadoanh nghiệp Từ đó giúp các đối tượng sử dụng các thông tin có được đưa rađược những quyết định phù hợp tùy theo mục đích và yêu cầu của mình Đểđáp ứng nhu cầu của mọi đối tượng sử dụng thông tin phân tích tình hình tàichính doanh nghiệp, người ta có nhiều phương pháp phân tích khác nhau Cácphương pháp cơ bản thường được vận dụng trong phân tích tình hình tài chínhdoanh nghiệp nói chung và trong công ty cổ phần nói riêng bao gồm: phương

Trang 23

pháp so sánh, phương pháp phân tích tỷ số, phương pháp loại trừ, phươngpháp liên hệ

1.2.4.1 Phương pháp so sánh.

Phương pháp so sánh là một trong những phương pháp rất quan trọng

Nó được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất trong bất kỳ một hoạt động phântích nào của doanh nghiệp Trong phân tích tình hình hoạt động tài chính củadoanh nghiệp, nó được sử dụng rất đa dạng và linh hoạt nhằm nghiên cứu sựbiến động và xác định mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích, đồng thời chobiết được xu hướng và tính chất liên hệ giữa các chỉ tiêu đó Điều đó được thểhiện: các chỉ tiêu riêng biệt hay các chỉ tiêu tổng cộng trên báo cáo tài chínhđược xem xét trong mối quan hệ với các chỉ tiêu phản ánh quy mô chung vàchúng có thể được xem xét trong nhiều kỳ để phản ánh rõ hơn xu hướng pháttriển của các hiện tượng kinh tế - tài chính của doanh nghiệp

Để áp dụng phương pháp so sánh vào phân tích các báo cáo tài chínhcủa doanh nghiệp, trước hết phải xác định số gốc để so sánh Việc xác định sốgốc để so sánh là tùy thuộc vào mục đích cụ thể của phân tích Gốc để so sánhđược chọn là gốc về mặt thời gian và không gian Kỳ phân tích được chọn là

ký thực hiện hoặc kỳ kế hoạch, hoặc là kỳ kinh doanh trước Giá trị so sánh cóthể chọn là số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân

 Điều kiện so sánh:

Để đảm bảo tính chất so sánh được của chỉ tiêu qua thời gian, cần đảmbảo thỏa mãn các điều kiện so sánh sau đây:

 Phải đảm bảo sự thống nhất về nội dung kinh tế của chỉ tiêu

 Phải đảm bảo sự thống nhất về phương pháp tính các chỉ tiêu

 Phải đảm bảo sự thống nhất về đơn vị tính các chỉ tiêu (kể cả đơn vịhiện vật, giá trị và thời gian)

Trang 24

Khi so sánh mức đạt được trên các chỉ tiêu ở các đơn vị khác nhau,ngoài các điều kiện đã nêu, cần đảm bảo các điều kiện khác như cùng phươnghướng kinh doanh, điều kiện kinh doanh tương tự nhau.

Tất cả các điều kiện trên đây gọi chung là đặc tính “có thể so sánhđược” hay tính chất “so sánh được” của các chỉ tiêu phân tích

 Mục tiêu so sánh:

Khi thực hiện phân tích tài chính bằng phương pháp so sánh, cần xácđịnh mục tiêu so sánh trong phân tích các báo cáo tài chính Mục tiêu so sánhtrong phân tích là nhằm xác định mức biến động tuyệt đối và mức biến độngtương đối cùng xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích (năng suất tăng, giáthành giảm)

 Mức biến động tuyệt đối: là kết quả so sánh trị số của chỉ tiêu giữahai kỳ Kỳ thực tế với kỳ kế hoạch, hoặc kỳ thực tế với kỳ kinh doanh trước

 Mức biến động tương đối: là kết quả so sánh trị số của chỉ tiêu ở kỳnày với trị số của chỉ tiêu ở kỳ gốc nhưng đã được điều chỉnh theo một hệ sốcủa chỉ tiêu có liên quan, mà chỉ tiêu liên quan này quyết định quy mô của chỉtiêu phân tích

 Nội dung so sánh:

Khi vận dụng phương pháp so sánh trong phân tích tài chính, người ta

so sánh ba nội dung chủ yếu sau đây:

 So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số thực tế của kỳ kinhdoanh trước nhằm xác định rõ xu hướng thay đổi về tình hình hoạt động tàichính của doanh nghiệp Đánh giá tốc độ tăng trưởng hay giảm đi của các hoạtđộng tài chính của doanh nghiệp

 So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích vói số kỳ kế hoạch nhằm xácđịnh mức phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch trong mọi hoạt động tàichính của doanh nghiệp

Trang 25

 So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình tiêntiến của ngành, của doanh nghiệp khác nhằm đánh giá tình hình hoạt động sảnxuất - kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay xấu, khả quan hay không khảquan.

mô của từng khoản mục, trên từng báo cáo tài chính của doanh nghiệp Qua

đó xác định được mức biến động (tăng hay giảm) về quy mô của chỉ tiêu phântích và mức độ ảnh hưởng của từng chỉ tiêu nhân tố đến chỉ tiêu phân tích.Chẳng hạn, phân tích tình hình hoạt động về quy mô tài sản, nguồn hình thànhtài sản (số tổng cộng), tình hình biến động về quy mô của từng khoản, từngmục ở cả hai bên tài sản và nguồn hình thành tài sản trên bảng cân đối kế toáncủa doanh nghiệp

 So sánh theo chiều dọc: là việc sử dụng các tỷ lệ, các hệ số thể hiệnmối tương quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tài chính, giữa các báocáo tài chính của doanh nghiệp Thực chất của việc phân tích theo chiều dọctrên các báo cáo tài chính là việc phân tích sự biến động về cơ cấu hay nhữngquan hệ tỷ lệ giữa các chỉ tiêu trong hệ thống báo cáo tài chính của doanhnghiệp Chẳng hạn, phân tích tình hình biến động về cơ cấu tài sản và nguồnvốn trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, hoặc phân tích các mối quan

hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận với doanh thu, với tổng giá vốn hàng bán, với tổng tàisản trên các báo cáo tài chính doanh nghiệp

Trang 26

 So sánh xác định xu hướng và tính chất liên hệ giữa các chỉ tiêu:Điều đó được thể hiện: các chỉ tiêu riêng biệt hay các chỉ tiêu tổng cộng trên báocáo tài chính được xem xét trong mối quan hệ với các chỉ tiêu phản ánh quy môchung và chúng có thể được xem xét trong nhiều kỳ để phản ánh rõ hơn xuhướng phát triển của các hiện tượng kinh tế - tài chính của doanh nghiệp.

1.2.4.2 Phương pháp phân tích tỷ số

Đây là phương pháp truyền thống được áp dụng phổ biến trong phântích tài chính Phương pháp phân tích tỷ số là phương pháp trong đó các tỷ sốđược sử dụng để phân tích Đó là các chỉ số đơn được thiết lập bởi chỉ tiêunày so với chỉ tiêu khác Phương pháp này có tính hiện thực cao với các điềukiện áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện Nguyên nhân là do càngngày, nguồn thông tin kế toán và tài chính càng được cải thiện và được cungcấp đầy đủ hơn Đó là cơ sở để hình thành những tỷ lệ tham chiếu tin cậy choviệc đánh giá một tỷ số của một doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp

Lý do thứ hai cho việc sử dụng ngày càng phổ biến phương pháp tỷ số là việc

áp dụng công nghệ tin học cho phép tích lũy số liệu và thúc đẩy nhanh quátrình tính toán hàng loạt các tỷ số Nguyên nhân thứ ba là khi vận dụngphương pháp phân tích tỷ số, các nhà phân tích sẽ khai thác có hiệu quảnhững số liệu và phân tích một cách hệ thống các tỷ số theo chuỗi thời gianliên tục hoặc theo từng giai đoạn

Người ta sử dụng phương pháp này kết hợp với phương pháp so sánh

Để đánh giá tình trạng tài chính của một doanh nghiệp bằng phương pháp tỷ

số này, người ta phải so sánh các tỷ số tính được với các tỷ số tham chiếu Khiphân tích, các nhà phân tích thường so sánh các tỷ số theo thời gian (so sánh

kỳ này với kỳ trước) để nhận biết xu hướng thay đổi tình hình tài chính củadoanh nghiệp, hoặc so sánh theo không gian (so sánh với mức trung bình

Trang 27

ngành hoặc với các đơn vị khác cùng ngành nghề kinh doanh, cùng quy mô )

để đánh giá vị thế của doanh nghiệp đó

Trong phương pháp này, các tỷ số tài chính chủ yếu thường sử dụngđược phân thành các nhóm tỷ số đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bảntheo các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm:

 Tỷ số về khả năng thanh toán : đây là nhóm chỉ tiêu được sử dụng

để đánh giá khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp

 Tỷ số về khả năng cân đối vốn hoặc cơ cấu vốn : nhóm chỉ tiêu này

phản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính cũng như khả năng sử dụng nợvay của doanh nghiệp

 Tỷ số về khả năng hoạt động: đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho

việc sử dụng tài nguyên, nguồn lực của doanh nghiệp

 Tỷ số về khả năng sinh lãi : nhóm chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sản

xuất - kinh doanh tổng hợp nhất của một doanh nghiệp

Mỗi nhóm tỷ số trên bao gồm nhiều tỷ số, các tỷ số sẽ được lựa chọn đểphân tích tùy thuộc vào bản chất và quy mô của hoạt động phân tích Và mỗinhóm tỷ số sẽ được các nhà phân tích chú trọng nhiều hay ít hơn các nhóm tỷ

số kia phụ thuộc vào mục tiêu phân tích tài chính Chẳng hạn, các nhà đầu tư

sẽ đặc biệt quan tâm đến khả năng hoạt động và hiệu quả sản xuất - kinhdoanh nghiệp Trong khi đó, các nhà cho vay thì quan tâm nhiều hơn đến khảnăng thanh toán Tuy nhiên, một hoặc một nhóm tỷ số độc lập chỉ phản ánhmột khía cạnh về tình hình tài chính của doanh nghiệp Do đó, bất cứ đốitượng nào cũng không chỉ xem xét riêng các chỉ tiêu mình cần quan tâm mà

họ sẽ xem xét chúng trong tổng thể các chỉ tiêu có liên quan Chẳng hạn, cácnhà đầu tư ngoài xem xét đặc biệt tới hiệu quả sản xuất - kinh doanh thì họcũng cần nghiên cứu về tình hình khả năng thanh toán để đánh giá khả năngcủa doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu thanh toán hiện tại và xem xét lợi nhuận để

Trang 28

dự tính khả năng trả nợ cuối cùng của doanh nghiệp Bên cạnh đó, họ cũngchú trọng tới tỷ số về cơ cấu vốn vì sự thay đổi của tỷ số này sẽ ảnh hưởngđáng kể tới lợi ích của họ Chính vì vậy cần phân tích hệ thống các chỉ tiêumột cách đầy đủ mới có được những đánh giá toàn diện.

Trong thực tế, phương pháp loại trừ sử dụng trong phân tích tài chính

có thể được thực hiện bằng hai cách: phương pháp thay thế liên hoàn vàphương pháp số chênh lệch

 Phương pháp thay thế liên hoàn:

Đây là phương pháp xác định ảnh hưởng của các nhân tố bằng cáchthay thế lần lượt và liên tiếp các nhân tố từ giá trị kỳ gốc sang kỳ phân tích đểxác định trị số của chỉ tiêu khi nhân tố đó thay đổi Sau đó so sánh trị số củachỉ tiêu vừa tính được với trị số của chỉ tiêu khi chưa có biến đổi của nhân tốcần xác định sẽ tính được mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó

Điều kiện áp dụng phương pháp thay thế liên hoàn này là mối liên hệgiữa nhân tố cần đo ảnh hưởng và chỉ tiêu phân tích phải được thể hiện dướidạng công thức Ngoài ra, việc sắp xếp các nhân tố ảnh hưởng và xác định ảnhhưởng của chúng đối với các chỉ tiêu phân tích phải theo thứ tự từ nhân tố sốlượng đến nhân tố chất lượng Trình tự thay thế các nhân tố phải tuân theo

Trang 29

nguyên tắc nhất định, nguyên tắc này vừa phải phù hợp với ý nghĩa của hiệntượng nghiên cứu, vừa phải đảm bảo mối liên hệ chặt chẽ về thực chất của cácnhân tố.

Ưu điểm của phương pháp này là xác định được mức độ và chiềuhướng ảnh hưởng của các nhân tố, sắp xếp các nhân tố theo mức độ ảnhhưởng của chúng, từ đó sẽ có biện pháp nhằm khai thác, thúc đẩy những nhân

tố tích cực và hạn chế những nhân tố có tác động tiêu cực tới chỉ tiêu phântích Tuy nhiên, phương pháp thay thế liên hoàn cũng có nhiều nhược điểmnên ít được sử dụng trong phân tích tài chính Thứ nhất, việc sắp xếp các nhân

tố ảnh hưởng và xác định ảnh hưởng của chúng đối với các chỉ tiêu phân tíchtheo tiêu thức nhân tố số lượng và nhân tố chất lượng là không có căn cứ cụthể, rõ ràng, gây phức tạp trong quá trình phân tích, điều này càng thấy rõ hơnkhi có nhiều nhân tố tác động tới chỉ tiêu cần phân tích Thứ hai, trên thực tế,các nhân tố luôn có mối quan hệ qua lại lẫn nhau, sự thay đổi của nhân tố này

sẽ tác động tới các nhân tố, do đó nếu chỉ xem xét riêng rẽ, tách rời sự biếnđộng của từng nhân tố sẽ làm cho kết quả phân tích không được chính xác

 Phương pháp số chênh lệch:

Theo phương pháp này, mức độ ảnh hưởng của nhân tố nào đó đối vớichỉ tiêu tổng hợp được các định bằng số chênh lệch của nhân tố đó với cácnhân tố khác được cố định trong khi lập tích số

Trình tự tiến hành phương pháp số chênh lệch là:

 Xác định số chênh lệch tuyệt đối với dấu tương ứng của mỗi mộtnhân tố

 Nhân số chênh lệch vừa nhận được với số kế hoạch của các nhân tốkhác chưa đo ảnh hưởng và với số thực tế của các nhân tố khác đã đo ảnhhưởng

Trang 30

Phương pháp số chênh lệch thực chất là phương pháp rút gọn củaphương pháp thay thế liên hoàn, do đó nó cũng đòi hỏi những điều kiện vàcũng có những ưu điểm, nhược điểm như phương pháp thay thế liên hoàn Vàphương pháp này cũng không được sử dụng phổ biến như phương pháp tỷ số

và phương pháp so sánh

1.2.4.4 Phương pháp liên hệ.

Ngoài các phương pháp trên, phương pháp liên hệ cũng là một phươngpháp phân tích tài chính cơ bản Phương pháp này được sử dụng để lượng hóacác mối liên hệ giữa các mặt, các bộ phận, các phần khác nhau của quá trìnhsản xuất - kinh doanh trong doanh nghiệp Phương pháp này bao gồm liên hệcân đối, liên hệ thuận nghịch, liên hệ tương quan Trong đó phương pháp liên

hệ cân đối thường được sử dụng hơn cả

Phương pháp liên hệ cân đối có cơ sở là sự cân bằng về lượng giữa haimặt của các yếu tố và quá trình kinh doanh, do đó nó thường thể hiện dướihình thức phương trình kinh tế hoặc bảng cân đối kinh tế Nội dung chủ yếucủa bảng cân đối kinh tế bao gồm hai hệ thống chỉ tiêu có quan hệ trực tiếpvới nhau về mặt chỉ tiêu Khi thay đổi một thành phần của hệ thống chỉ tiêunày sẽ dẫn tới sự thay đổi của một hoặc một số thành phần của hệ thống chỉtiêu còn lại, nhưng sự thay đổi đó vẫn đảm bảo sự cân bằng của bảng cân đốikinh tế

Trên đây là các phương pháp phân tích tài chính cơ bản thường được ápdụng trong phân tích tình hình tài chính của các doanh nghiệp cũng như cáccông ty cổ phần nói riêng Giữa các phương pháp trên có mối liên hệ mật thiếthữu cơ, bổ sung cho nhau nhằm đáp ứng tính đa dạng và phức tạp của nộidung phân tích Tùy thuộc vào mối liên hệ giữa các chỉ tiêu nhân tố với chỉtiêu phân tích mà người ta vận dụng phương pháp này hay phương pháp kiahoặc sử dụng đồng thời nhiều phương pháp cho phù hợp

Trang 31

1.2.5 Nội dung phân tích tình hình tài chính trong các công ty cổ phần.

1.2.5.1 Phân tích tình hình biến động về quy mô, cơ cấu tài sản và nguồn vốn.

Quy mô, cơ cấu tài sản và nguồn vốn của một doanh nghiệp được thểhiện rõ nhất trên bảng cân đối kế toán trong bộ các báo cáo tài chính củadoanh nghiệp Do đó, bảng cân đối kế toán là tài liệu sát thực nhất trong quátrình phân tích sự biến động về quy mô và cơ cấu của tài sản và nguồn vốncủa doanh nghiệp

Tài sản của doanh nghiệp bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.Tài sản nhiều hay ít, tăng hay giảm, phân bổ cho từng khâu, từng giai đoạnhợp lý hay không sẽ ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất - kinh doanh và tìnhhình tài chính của doanh nghiệp

Nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm nợ phải trả và nguồn vốn chủ sởhữu Nguồn vốn của doanh nghiệp như thế nào, tỷ trọng từng loại nguồn vốn rasao sẽ thể hiện chính sách huy động vốn và chính sách sử dụng các đòn bẩy tàichính trong việc tìm kiếm lợi nhuận cho các cổ đông trong công ty cổ phần

Kết hợp giữa việc so sánh dọc và so sánh ngang bảng cân đối kế toáncùng với các thông tin khác sẽ thấy được sự biến động về quy mô kinh doanh,năng lực kinh doanh của doanh nghiệp, tình hình về vốn và nguồn vốn cũngnhư đánh giá khả năng tác động tích cực hay tiêu cực trong chính sách huyđộng vốn cũng như chính sách sử dụng đòn bẩy tài chính Đồng thời, đánh giákhái quát khả năng và tình hình tài chính của doanh nghiệp

Khi phân tích sự biến động về quy mô, cơ cấu tài sản và nguồn vốn, cầnđặc biệt quan tâm đến tác động của từng loại tài sản đối với quá trình kinhdoanh và chính sách tài chính của doanh nghiệp trong việc tổ chức huy độngvốn Có như thế mới có thể xác định được quy mô vốn, cơ cấu vốn của doanhnghiệp như thế nào là hợp lý

Trang 32

- Hệ số nợ

Tổng nợ

=

Tổng tài sản

Cụ thể việc phân tích như thế nào sẽ được làm rõ ở chương 2

1.2.5.2 Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.

Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho sản xuất - kinh doanh làviệc đo lường phần tài trợ của các chủ sở hữu doanh nghiệp so với phần tài trợcủa các chủ nợ để đánh giá xem mức độ ổn định và tự chủ tài chính cũng nhưkhả năng sử dụng nợ vay của doanh nghiệp như thế nào Nhóm tỷ số sử dụngtrong việc phân tích còn được gọi là nhóm tỷ số về khả năng cân đối vốn

Hệ số này cho biết trong 1 đồng vốn hình thành nên tài sản của doanhnghiệp thì có bao nhiêu đồng được tài trợ bằng vốn nợ, qua đó xác định nghĩa

vụ của chủ doanh nghiệp đối với các chủ nợ

Thông thường, các chủ nợ với mục tiêu an toàn cho các khoản cho vaythì mong muốn tỷ số này là vừa phải, không quá cao để đảm bảo thu hồi được

cả gốc và lãi vay đúng hạn Tuy nhiên, các chủ doanh nghiệp với mục đích giatăng lợi nhuận thì lại thích tỷ số này cao Trong điều kiện kinh doanh bìnhthường, việc tăng hệ số nợ sẽ làm tăng thêm lợi nhuận dành cho chủ sở hữu vìchi phí của việc sử dụng vốn nợ thường thấp hơn so với chi phí sử dụng vốnchủ sở hữu Tuy nhiên, khi doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả thì việctăng hệ số nợ lên quá cao sẽ làm cho doanh lợi vốn chủ sở hữu giảm sút đinhanh chóng, doanh nghiệp có thể bị rơi vào tình trạng không thanh toán đượccác khoản nợ đến hạn, tăng nguy cơ phá sản của doanh nghiệp

Trang 33

- Hệ số tự tài

trợ vốn

Vốn chủ sở hữu

=Tổng nguồn vốn = 1 – Hệ số nợ

Hệ số này cho biết trong 1 đồng nguồn vốn của doanh nghiệp huy độngđược, nguồn vốn chủ sở hữu chiếm mấy đồng Nó phản ánh khả năng tự tàitrợ về vốn cho hoạt động đầu tư cũng như hoạt động sản xuất - kinh doanhcủa doanh nghiệp Hệ số này càng cao chứng tỏ khả năng tự đảm bảo về mặttài chính và mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngượclại

Tuy nhiên, tùy thuộc vào tình hình sản xuất - kinh doanh của doanhnghiệp và đặc điểm lĩnh vực kinh doanh mà các doanh nghiệp lựa chọn cơ cấuvốn hợp lý cho mình Một cơ cấu vốn hợp lý sẽ là một trong những nhân tốtiên quyết tới sự thành bại của doanh nghiệp

1.2.5.3 Phân tích tình hình đầu tư của doanh nghiệp.

Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực có sẵn hoặc huy động được

từ bên ngoài nhằm đạt được mục tiêu nhất định trong một thời gian xác định.Một doanh nghiệp có chính sách đầu tư đúng đắn sẽ mang lại hiệu quả choquá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp mình Do đó, phân tích tìnhhình đầu tư của doanh nghiệp cũng là một trong những nội dung quan trọngtrong phân tích tình hình tài chính của công ty cổ phần nói riêng và các doanhnghiệp nói chung

Khi thực hiện phân tích tình hình đầu tư của một doanh nghiệp nào đó,cần phải đánh giá một số mặt cụ thể sau: hướng đầu tư, loại hình đầu tư, quy

mô đầu tư và hiệu quả đầu tư Các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá là:

Trang 34

- Tỷ suất đầu tư

Tỷ suất này cho biết trong 1đồng đầu tư vào tài sản thì có bao nhiêuđồng đầu tư tài chính ngắn hạn

Tỷ suất này cho biết trong 1đồng đầu tư vào tài sản thì có bao nhiêuđồng đầu tư tài chính dài hạn

Tùy thuộc vào lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp mà tỷ suất đầu tưtài chính ngắn hạn và dài hạn thấp hay cao là hợp lý Do đó, khi phân tích cầnphải quan tâm đến thông tin về lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 35

- Tỷ suất đầu tư tài sản cố định =

Tài sản cố địnhTổng tài sản

Ngoài ra, để đánh giá hiệu quả vốn đầu tư, người ta còn xem xét việcđầu tư có được sử dụng đúng mục đích, đúng thời hạn theo kế hoạch đề ra haykhông, đồng thời xem xét việc đầu tư như vậy có mức độ thu hút lao độngtham gia như thế nào và đóng góp được vào ngân sách Nhà nước là bao nhiêu

Từ việc phân tích tình hình đầu tư của doanh nghiệp, có thể trả lời đượccác câu hỏi: có nên tiếp tục đầu tư hay không? Có cần phải thu hẹp hay mởrộng đầu tư? Cơ cấu đầu tư có nên thay đổi hay không? Tùy thuộc vào mụcđích của người phân tích và sử dụng thông tin phân tích mà đưa ra các quyếtđịnh cho mình

1.2.5.4 Phân tích tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp:

Phân tích tình hình thanh toán các khoản phải trả:

Đầu tiên phải so sánh số tổng cộng cuối kỳ và đầu kỳ để thấy được sự biến động tổng quát của khoản phải trả Nếu cuối kỳ so với đầu kỳ giảm chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều cố gắng trong việc thanh toán các khoản nợ phải trả Đồng thời, xem xét tình hình thanh toán của các khoản phải trả chiếm

tỷ trọng lớn bởi những khoản mục này mang lại nhiều rủi ro cho doanh nghiệp

và cũng phản ánh được khả năng tài chính của doanh nghiệp trong việc thanh toán chúng

Các chỉ tiêu được sử dụng được sử dụng:

Trang 36

- Tỷ suất nợ phải

Nợ phải trảTổng nguồn vốn

Tỷ suất này cho biết được trong 100 đồng nguồn vốn có bao nhiêu đồng

là nợ phải trả Trị số của nó càng cao cho thấy công nợ của doanh nghiệp lớn,khả năng tự tài trợ thấp, do đó rủi ro về tài chính càng cao Tuy nhiên tỷ suấtnày bao nhiêu là phù hợp tùy thuộc vào lĩnh vực kinh doanh của doanhnghiệp Nếu doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại thì tỷ suất nàythường cao do việc chiếm dụng vốn giữa các đơn vị là thường xuyên xảy ravới giá trị lớn

Tỷ suất này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn ngắn hạncàng nhiều Nếu các khoản nợ này sắp đến hạn phải trả trong khi tài sản củadoanh nghiệp đảm bảo thanh toán thấp thì như vậy sẽ gây khó khăn cho doanhnghiệp trong việc thanh toán, dễ dẫn đến phá sản cho doanh nghiệp

Đây cũng là một chỉ tiêu rất quan trọng cần được các nhà quản trịdoanh nghiệp theo dõi cẩn thận, chi tiết để đảm bảo khả năng thanh toán đúnghạn cho các khoản nợ phải trả dài hạn của doanh nghiệp

Phân tích khả năng thanh toán

Nợ phải trả ngắn hạn

Trang 37

Chỉ tiêu này sử dụng để đánh giá khả năng thanh toán tổng quát củadoanh nghiệp, nó cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạnđược trang trải bằng các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền trong một giaiđoạn tương đương với thời hạn của các khoản nợ đó.

Tỷ số này bằng 2 là hợp lý Nếu lớn hơn nữa thì doanh nghiệp đang đầu

tư thừa vào tài sản ngắn hạn Còn nếu tỷ số này < 1 thì doanh nghiệp đang gặpkhó khăn trong thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Thông thường, chỉ cần tỷ

số này ≥ 1 thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp đã được đảm bảo, ít rủi

ro trong thanh toán

Tỷ số này cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn không phụthuộc vào việc bán các tài sản dự trữ (hàng tồn kho) Nếu tỷ số này ≥ 1 thì tìnhhình thanh toán của doanh nghiệp tương đối khả quan, còn nếu tỷ số này <1thì doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc trả các khoản nợ ngắn hạn.Điều này cho thấy tỷ số này là một tiêu chuẩn khắt khe hơn so với tỷ số khảnăng thanh toán hiện hành

Trang 38

Doanh thu

=

Tài sản cố định bình quân

- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản

1.2.5.5 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn.

Doanh nghiệp phải đầu tư mua sắm tài sản để tiến hành hoạt động sảnxuất - kinh doanh từ các nguồn khác nhau Kết quả của việc quản lý và sửdụng vốn có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

Do đó, cần phải phân tích hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp để cóhướng đầu tư thích hợp, mang lại hiệu quả lớn nhất

Các chỉ tiêu thường được sử dụng để phân tích:

Tỷ số này cho biết 1 đồng tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồngdoanh thu trong kỳ Tài sản cố định ở đây được tính theo giá trị còn lại đếnthời điểm lập báo cáo tài chính Trị số càng cao chứng tỏ việc khai thác, sửdụng tài sản cố định là hiệu quả

Trang 39

Các khoản phải thu bình quân

Đây là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Giá trị của chỉ tiêu này càng lớn càng cho thấyhàng tồn kho quay vòng nhanh, chi phí bảo quản giảm đi, rủi ro về tài chínhcũng giảm, doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả và ngược lại

-Chỉ tiêu này được dùng để đánh giá khả năng thu tiền trong thanh toántrên cơ sở các khoản phải thu bình quân và doanh thu bình quân một ngày Cáckhoản phải thu lớn hay nhỏ phụ thuộc vào chính sách tín dụng thương mại củadoanh nghiệp Do đó, chỉ tiêu này có giá trị bao nhiêu là hợp lý sẽ phụ thuộcvào từng loại hình doanh nghiệp cũng như lĩnh vực kinh doanh Thông thường,chỉ tiêu này càng thấp càng tốt, vì nếu quá cao trong khi doanh thu không tăngchứng tỏ vốn của doanh nghiệp đang bị ứ đọng ở khâu thanh toán

1.2.5.6 Phân tích kết quả kinh doanh và khả năng sinh lời của doanh nghiệp.

Trang 40

- Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm(doanh lợi doanh

đã có các biện pháp đúng đắn để tăng doanh thu, giảm chi phí

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu và đượccác nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanhnghiệp Nó đo lường tính hiệu quả của đồng vốn của các chủ sở hữu doanhnghiệp, nó xem xét lợi nhuận trên mỗi đồng vốn chủ sở hữu đầu tư sẽ manglại được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế, hay nói cách khác, đó là % lợinhuận thu được của chủ sở hữu trên vốn đầu tư của mình.Tăng ROE là mộtmục tiêu quan trọng nhất trong hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp

Sử dụng phương pháp phân tích tài chính Dupont, người ta tách tỷ sốnày để đánh giá tác động tương hỗ giữa các tỷ số tài chính

Ngày đăng: 05/10/2013, 17:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Biểu kê khai năng lực cán bộ chuyên môn và kỹ thuật Bảng 2.2 Biểu kê khai công nhân kỹ thuật, thợ lành nghề - Phân tích tài chính công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải
Bảng 2.1 Biểu kê khai năng lực cán bộ chuyên môn và kỹ thuật Bảng 2.2 Biểu kê khai công nhân kỹ thuật, thợ lành nghề (Trang 1)
Bảng 2.2. BIỂU KÊ KHAI CÔNG NHÂN KỸ THUẬT, THỢ LÀNH NGHỀ - Phân tích tài chính công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải
Bảng 2.2. BIỂU KÊ KHAI CÔNG NHÂN KỸ THUẬT, THỢ LÀNH NGHỀ (Trang 52)
Bảng 2.5. BẢNG CÁC TỶ SỐ VỀ ĐẢM BẢO NGUỒN VỐN - Phân tích tài chính công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải
Bảng 2.5. BẢNG CÁC TỶ SỐ VỀ ĐẢM BẢO NGUỒN VỐN (Trang 61)
Bảng 2.10. BẢNG PHÂN TÍCH KHẢ NĂNG SINH LỜI - Phân tích tài chính công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải
Bảng 2.10. BẢNG PHÂN TÍCH KHẢ NĂNG SINH LỜI (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w