Tỷ lệ vòng quay các khoản phải thu: Đây là một chỉ số cho thấy tính hiệu quả của chính sách tín dụng mà doanh nghiệp áp dụng đối với các bạn hàng.. Vòng quay các khoản phải trả=doanh số
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH Bài tiểu luận cá nhân
Đề tài:
BÁO CÁO PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT AN
Sàn niêm yết: HOSE
Mã chứng khoán: AVF Ngành: Thủy Sản
SVTH: HỒ NAM ĐÔNG MSSV: 7701100015 LỚP: ĐÊM 1 – K20 GVHD: NGÔ QUANG HUÂN
Tp Hồ Chí Minh, 09/2012
Trang 2MỤC LỤC
Trang
PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 1
PHẦN II: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT AN (AVF) 2-3 PHẦN III: PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH 4
PHẦN IV: ĐỊNH GIÁ CHỨNG KHOÁN AVF 13
PHẦN V: THIẾT LẬP DANH MỤC ĐẦU TƯ CÓ HIỆU QUẢ 15
PHẦN VI: NHẬN XÉT 18
Trang 3PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đã và đang hội nhập với nền kinh tế thế giới với nhiều thành tựu trong những năm vừa qua Với việc trở thành thành viên của tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nền kinh tế Việt Nam nhận được nhiều thuận lợi và thách thức lớn, có thể đem đến những động lực để Việt Nam phát triển nhanh chóng và hòa nhập với nền kinh tế toàn cầu
Chúng ta có thể thấy nền kinh tế ngày càng đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong tất
cả các ngành nghề và tác động đến mọi lĩnh vực của xã hội, và ngành thủy sản Việt Nam không nằm ngoài xu thế phát triển này Với những lợi thế vốn có của mình như địa hình, khí hậu, tài nguyên, xã hội… cộng với sự đầu tư khuyến khích của Chính phủ, ngành thủy sản hiện đang đứng trước tiềm năng phát triển to lớn
Trong khuôn khổ bài tiểu luận này, chúng tôi sẽ đi sâu vào phân tích tài chính của một trong những công ty trong lĩnh vực thủy sản hàng đầu hiện nay, Công ty Cổ phần Việt
An (AVF) Thông qua các chỉ tiêu tài chính được thể hiện trong các báo cáo tài chính trong quá khứ, hiện tại và dự kiến trong tương lai Chúng tôi sẽ đưa ra một cái nhìn bao quát về tình hình của Công ty này, về tiềm năng, giá cổ phiếu, rủi ro, lợi thế….để người sử dụng báo cáo phân tích, đặc biệt là nhà đầu tư có thể tham khảo khi đưa ra quyết định của mình Ngoài ra, chúng tôi cũng sẽ đưa ra kiến nghị về một cổ phiếu khác trên thị trường có thể kết hợp với AVF để tạo thành một danh mục đầu tư ít rủi ro nhất
Trang 4PHẦN II: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN
VIỆT AN (AVF)
1/ Thông tin chung:
Tên công ty : Công ty Cổ phần Việt An
- Tên giao dịch : Anvifish Joint-Stock Company
- Tên viết tắt : Anvifish Co
- Địa chỉ : Quốc lộ 91, khóm Thạnh An, phường Mỹ Thới,
thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang
- Điện thoại : (0763) 932 545
- Fax : (0763) 932 554
- Website : www.anvifish.com
- Email : info@anvifish.com
- Giấy CNĐKKD: số 1600720555, đăng ký lần đầu ngày 27/02/2007 do Sở Kế hoạch lần đầu ngày 27/02/2007 do Sở Kế hoạch Đầu tư An Giang cấp Đăng ký lần đầu ngày 27/02/2007 do Sở Kế hoạch lại lần thứ 1: ngày 21/12/2009, đăng ký lần đầu ngày 27/02/2007 do Sở Kế hoạch thay đổi lần thứ 3: ngày 26/08/2010
- Mã số thuế : 1600 720 555
- Vốn điều lệ : 225.000.000.000 đồng (đến 31/12/2011)
2/ Lịch sử hình thành:
Công ty cổ phần Việt An có tiền thân là công ty
TNHH An Giang – Ba Sa được thành lập vào tháng 08
năm 2004 Đến tháng 02 năm 2007, Công ty chính thức
được chuyển đổi mô hình hoạt động từ công ty trách
nhiệm hữu hạn sang công ty cổ phần với tên là Công ty cổ
phần Việt An và niêm yết tại Hose vào ngày 23 tháng 11
năm 2010 với mã chứng khoán là AVF
3/ Ngành nghề kinh doanh:
Theo giấy chứng nhận đăng ký lần đầu ngày 27/02/2007 do Sở Kế hoạch kinh doanh ngành nghề
kinh doanh của Công ty là: Khai thác, nuôi trồng thủy sản;
Chế biến thủy hải sả n; Mua bán thủy hải sản; Sản xuất thức
ăn gia súc; Mua bán thực phẩm; Kinh doanh lữ hành nội địa
(tuân theo những quy định pháp luật về Luật Du lịch); Các
hoạt động trợ giúp và trung gian tài chính; Đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng dân cư nông thôn và đô thị
Hoạt động sản xuất kinh doanh của AVF tập trung chủ yếu vào sản xuất chế biến xuất khẩu các sản phẩm từ cá tra fillet các loại, cá tra cắt khúc, cá tra nguyên con cấp đông các loại… Trong đó, doanh thu cá tra fillet các loại chiếm tới 90% doanh thu trung bình hàng năm của Công ty
Trang 54/ Tình hình kinh doanh:
Năm 2008, Anvifish thành công trong vụ kiện chống phá giá tại thị trường Mỹ, được công nhận không bán chống phá giá mặt hàng cá Tra vào thị trường này và được áp mức thuế là 0%, tạo cho Anvifish có lợi thế rất lớn so với các Doanh nghiệp trong ngành, trong khi đó các Doanh nghiệp khác tại Việt Nam phải chịu mức thuế là 63,88%
Với nổ lực không ngừng suốt 6 năm qua, Anvifish đã đưa sản phẩm fillet cá tra, basa đến khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là các thị trường truyền thống như châu Âu, Mỹ
và Nga Để thâm nhập vững chắc vào các thị trường này, Anvifish đã liên kết thành lập các công ty Anvifish- Australia, Anvifish-Europe để hình thành nên mạng phân phối rộng lớn và đa dạng với trên 100 khách hàng lớn thường xuyên - gắn bó lâu dài; đặc biệt là các khách hàng đang sở hữu hệ thống đại lý lần đầu ngày 27/02/2007 do Sở Kế hoạch , siêu thị ở châu Âu và châu Mỹ
Hiện nay, Anvifish là doanh nghiệp nuôi trồng và chế biến xuất khẩu cá tra, basa có quy mô ở Đồng bằng sông Cửu Long với 2 xí nghiệp chế biến là An Thịnh (công suất 100 tấn/ngày) và Việt Thắng (công suất 150 tấn/ngày) và có 01 vùng nuôi cá tra (hơn 17 ha) và
5 vùng liên kết - cơ bản chủ động nguồn nguyên liệu đầu vào Anvifish còn sở hữu hệ thống kho lạnh với công suất 40.000 tấn tại khu công nghiệp Long Hậu vừa phục vụ xuất khẩu vừa kinh doanh dịch vụ ở khu vực TP HCM
Với mục tiêu phát triển bền vững nghề nuôi trồng, chế biến, xuất khẩu sản phẩm cá tra, basa Anvifish từng bước đầu tư các vùng nuôi cá theo chuẩn GlobalGAP - thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu - đã được tổ chức quốc tế SGS cấp giấy phép chứng nhận đạt tiêu chuẩn, điều đó giúp cho công ty tăng 20% giá trị xuất khẩu và là giấy thông hành để đưa sản phẩm đi khắp thế giới
Việc thâm nhập thành công vào thị trường khó tính như châu Âu và Mỹ cho thấy chất lượng sản phẩm rất được Anvifish chú trọng Ngoài việc sở hữu vùng nuôi nguyên liệu với chứng nhận GlobalGAP, các xí nghiệp chế biến
của Anvifish đều được công nhận đạt các tiêu chuẩn
ISO, HACCP, HALAL, BRC, IFS, EU CODE,…
Nhờ vậy, sau 6 năm tham gia vào lĩnh vực chế
biến xuất khẩu, kết quả năm 2009 của Anvifish nằm
trong vị trí dẫn đầu các công ty xuất khẩu cá tra ở Việt
Nam Thực tế, kim ngạch xuất khẩu của Anvifish tăng
từ 32 triệu USD năm 2007 lên 47 triệu USD năm 2008,
rồi 57,9 triệu USD năm 2009; với lợi nhuận sau thuế
năm 2009 là hơn 74 tỷ đồng
Trang 6
PHẦN III: PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1/ Phân tích tỷ lệ
1.1 Tỷ lệ khả năng thanh toán
a Tỷ lệ thanh toán hiện hành (Current Ratio ) : Đây là chỉ số đo lường khả năng doanh
nghiệp đáp ứng các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn Nói chung thì chỉ số này ở mức 2-3 được xem là tốt Chỉ số này càng thấp ám chỉ doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn đối với việc thực hiện các nghĩa vụ của mình nhưng một chỉ số thanh toán hiện hành quá cao cũng không luôn là dấu hiệu tốt, bởi vì nó cho thấy tài sản của doanh nghiệp bị cột chặt vào “ tài sản lưu động” quá nhiều và như vậy thì hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp là không cao
Chỉ số thanh toán hiện hành= tài sản lưu động/ nợ ngắn hạn
Công ty AVF có tỷ lệ thanh toán hiện thời lần lượt là: năm 2009:0,92 năm 2010: 1,15 và năm 2011: 1,09 Có thể thấy tỷ lệ lưu động của Công ty không theo xu hướng ổn định qua các năm, và giảm trong năm gần đây, điều này có thể ảnh hưởng đến tính đảm bảo trong thanh khoản của Công ty nếu như tỷ lệ này thấp và nhỏ dần hơn nữa
b Tỷ lệ thanh toán nhanh ( quick ratio): Chỉ số thanh toán nhanh đo lường mức thanh
khoản cao hơn Chỉ những tài sản có tính thanh khoản cao mới được đưa vào để tính toán Hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác được bỏ ra vì khi cần tiền để trả nợ, tính thanh khoản của chúng rất thấp
Chỉ số thanh toán nhanh=( tiền mặt+ chứng khoán khả mại+ các khoản phải thu)/ nợ ngắn hạn
Công ty AVF có tỷ lê thanh toán nhanh lần lượt là năm 2009:0,52 năm 2010: 0,82
và năm 2011: 0,62 Có thể thấy tỷ lệ thanh khoản nhanh của AVF qua các năm là thấp, điều này có thể ảnh hưởng đến rủi ro trong việc thanh toán của Công ty nếu các điều kiện kinh doanh gặp khó khăn và các khoản nợ ngắn hạn được yêu cầu thanh toán tức thời
1.2 Tỷ lệ hiệu quả hoạt động/ quản lý tài sản
a Tỷ lệ vòng quay các khoản phải thu: Đây là một chỉ số cho thấy tính hiệu quả của
chính sách tín dụng mà doanh nghiệp áp dụng đối với các bạn hàng Chỉ số vòng quay càng cao sẽ cho thấy doanh nghiệp được khách hàng trả nợ càng nhanh Nhưng nếu so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành mà chỉ số này vẫn quá cao thì có thể doanh nghiệp
sẽ có thể bị mất khách hàng vì các khách hàng sẽ chuyển sang tiêu thụ sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh cung cấp thời gian tín dụng dài hơn Và như vậy thì doanh nghiệp chúng ta sẽ bị sụp giảm doanh số Khi so sánh chỉ số này qua từng năm, nhận thấy sự sụt giảm thì rất có thể là doanh nghiệp đang gặp khó khăn với việc thu nợ từ khách hàng và cũng có thể là dấu hiệu cho thấy doanh số đã vượt quá mức
Vòng quay các khoản phải thu= doanh số thuần hàng năm/ các khoản phải thu trung bình
Trong đó: các khoản phải thu trung bình= (các khoản phải thu còn lại trong báo cáo của
năm trước và các khoản phải thu năm nay)/2 Công ty AVF có tỷ lệ vòng quay khoản phải thu lần lượt giảm qua các năm (2009: 5,78 2010: 3,87 2011: 3,05), tuy tỷ lệ vòng quay khoản phải thu vẫn cao hơn các doanh
Trang 7nghiệp trong ngành nhưng Công ty đã có những cải thiện đáng kể khả năng xoay vòng dòng tiền và sử dụng hiệu quả nguồn vốn
b Tỷ lệ vòng quay hàng tồn kho: Chỉ số này thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho
hiệu quả như thế nào Chỉ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều trong doanh nghiệp Có nghĩa là doanh nghiệp sẽ ít rủi ro hơn nếu nhìn thấy trong báo cáo tài chính, khoản mục hàng tồn kho có giá trị giảm qua các năm Tuy nhiên chỉ số này quá cao cũng không tốt vì như thế có nghĩa là lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần Thêm nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ
có thể khiến cho dây chuyền bị ngưng trệ Vì vậy chỉ số vòng quay hàng tồn kho cần phải
đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất đáp ứng được nhu cầu khách hàng
Vòng quay hàng tồn kho=giá vốn hàng bán/hàng tồn kho trung bình
Trong đó: hàng tồn kho trung bình= (hàng tồn kho trong báo cáo năm trước+ hàng tồn kho
năm nay)/2 Công ty AVF có tỷ lệ vòng quay hàng tồn kho ngày càng tăng, cụ thể: 2009: 3,61 2010: 3,87 2011: 4,02 Điều này cho ta thấy AVF đang hoạt động ngày càng có hiệu quả trong vấn đề quản trị hàng tồn kho, cải thiện được thời gian đặt hàng, sản xuất và phân phối để lượng hàng tồn kho đạt mức phù hợp
c Tỷ số vòng quay các khoản phải trả: Chỉ số này cho biết doanh nghiệp đã sử dụng
chính sách tín dụng của nhà cung cấp như thế nào Chỉ số vòng quay các khoản phải trả quá thấp có thể ảnh hưởng không tốt đến xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp
Vòng quay các khoản phải trả=doanh số mua hàng thường niên/ phải trả bình quân
trong đó doanh số mua hàng thường niên= giá vốn hàng bán+hàng tồn kho cuối kỳ - hàng tồn kho
đầu kỳ phải trả bình quân=(phải trả trong báo cáo năm trước + phải trả năm nay)/2
Công ty AVF có tỷ lệ vòng quay các khoản phải trả là cao so với các doanh nghiệp trong ngành, điều này cho ta thấy tình hình hoạt động kinh doanh và tài chính của AVF ngày càng vững mạnh, đặc biệt là năm 2011 ( 2009:8,07 2010: 8,75 2011: 13,40)
d Tỷ số vòng quay tổng tài sản: Hệ số vòng quay tổng tài sản dùng để đánh giá hiệu quả
của việc sử dụng tài sản của công ty Thông qua hệ số này chúng ta có thể biết được với mỗi một đồng tài sản có bao nhiêu đồng doanh thu được tạo ra Hệ số vòng quay tổng tài sản càng cao đồng nghĩa với việc sử dụng tài sản của công ty vào các hoạt động sản xuất kinh doanh càng hiệu quả Tuy nhiên muốn có kết luận chính xác về mức độ hiệu quả của việc sử dụng tài sản của một công ty chúng ta cần so sánh hệ số vòng quay tài sản của công ty đó với hệ số vòng quay tài sản bình quân của ngành
Vòng quay tổng tài sản = Doanh thu thuần / tổng tài sản
Công ty có các chỉ số vòng quay tổng tài sản là cao so với các doanh nghiệp khác trong ngành (cụ thể 2009: 1,12 2010: 1,11 2011: 0,99), điều này phản ánh mức độ hiệu quả sử dụng tài sản của AVF là rất có hiệu quả Tuy nhiên, tỷ lệ này đang theo xu hướng giảm xuống do Tài sản của Công ty tăng liên tục trong khi tốc độ tăng doanh thu không theo kịp tỷ lệ
Trang 81.3 Quản trị nợ
a Tỷ lệ tổng nợ: Hệ số tổng nợ cho biết mức độ nợ phải trả của Công ty trên tổng số tài
sản, là sự đảm bảo của tổng tài sản trên tổng công nợ phải trả Mức độ này càng thấp thì Công ty càng có tình hình công nợ phù hợp, đảm bảo khả năng chi trả các khoản phải trả đến hạn
Công ty AVF có tỷ lệ tổng nợ lần lượt là (2009: 0,84 2010: 0,74 2011:0,79) Là mức độ cao hơn so với các doanh nghiệp cùng ngành nghề, điều này cho thấy công ty đang ở hệ số thiếu an toàn hơn nến các hệ số này tiếp tục tăng trong tương lại
b Tỷ lệ khả năng trả lãi: Hệ số khả năng thanh toán lãi vay cho biết mức độ lợi nhuận
đảm bảo khả năng trả lãi như thế nào Nếu công ty quá yếu về mặt này, các chủ nợ có thể
đi đến gây sức ép lên công ty, thậm chí dẫn tới phá sản công ty Hệ số khả năng thanh toán lãi vay được tính bằng tỷ số giữa lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) trên lãi vay Trong đó Lãi trước thuế và lãi vay cũng như Lãi vay là của năm cuối hoặc là tổng của 4 quý lần đầu ngày 27/02/2007 do Sở Kế hoạch gần nhất Việc tìm xem một công ty có thể thực hiện trả lãi đến mức độ nào cũng rất quan trọng Rõ ràng, khả năng thanh toán lãi vay càng cao thì khả năng thanh toán lãi của doanh nghiệp cho các chủ nợ của mình càng lớn
Tỷ lệ khả năng trang trãi lãi vay của AVF ngày càng giảm (năm 2009: 4,93 năm 2010: 2,80 năm 2011: 1,71) cho ta thấy mức độ lợi nhuận của AVF so với chi phí lãi vay ngày càng thấp Điều này có thể có nguyên nhân từ tốc độ tăng chi phí lãi vay tăng cao hơn tốc độ tăng lợi nhuận (lãi suất ngày càng tăng), vì vậy qua chỉ số này đánh giá hoạt động gia tăng lợi nhuận của AVF không cao như tình hình tăng lãi suất vay
c Tỷ lệ nợ trên vốn: Tỷ số này cho biết quan hệ giữa vốn huy động bằng đi vay và vốn
chủ sở hữu Tỷ số này nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp ít phụ thuộc vào hình thức huy động vốn bằng vay nợ; có thể hàm ý lần đầu ngày 27/02/2007 do Sở Kế hoạch doanh nghiệp chịu độ rủi ro thấp Tuy nhiên, nó cũng có thể chứng tỏ doanh nghiệp chưa biết cách vay nợ để kinh doanh và khai thác lợi ích của hiệu quả tiết kiệm thuế Khi dùng tỷ số này để đánh giá cần so sánh tỷ số của một doanh nghiệp cá biệt nào đó với tỷ số bình quân của toàn ngành
Tỷ lệ nợ trên vốn của AVF là tương đối đồng đều với các doanh nghiệp trong ngành, mặc dù năm 2009 Công ty có tỷ lệ nợ trên vốn cao nhưng Công ty đã tăng vốn để đảm bảo hiệu quả hoạt động tài chính bằng việc sử dụng phần lợi nhuận để lại (năm 2009: 5,11 Năm 2010: 2,84 Năm 2011: 3,85)
1.4 Tỷ lệ khả năng sinh lợi
a Hệ số biên lợi nhuận gộp: Hệ số biên lợi nhuận gộp còn gọi là hệ số tổng lợi nhuận
hoặc tỷ lệ lãi gộp được tính bằng cách lấy tổng lợi nhuận gộp chia cho doanh thu Chỉ số này cho biết mỗi đồng doanh thu thu về tạo ra được bao nhiêu đồng thu nhập Hệ số biên lợi nhuận gộp là một chỉ số rất hữu ích khi tiến hành so sánh các doanh nghiệp trong cùng một ngành.Doanh nghiệp nào có hệ số biên lợi nhuận gộp cao hơn chứng tỏ doanh nghiệp
đó có lãi hơn và kiểm soát chi phí
Công ty AVF có chỉ số lãi gộp hàng năm 2009, 2010, 2011 lần lượt là 0,19 0,20 0,17, điều này cho thấy hoạt động sản xuất tạo lợi nhuận của Công ty tương đối ổn định,
Trang 9và chỉ số này cũng cao hơn các doanh nghiệp trong ngành nên hiệu quả hoạt động của Công ty là rất khả quan cho dù tỷ lệ này có giảm ở năm 2011
b Hệ số biên lợi nhuận ròng: Hệ số biên lợi nhuận ròng phản ánh khoản thu nhập ròng
(lợi nhuận sau thuế) của một doanh nghiệp so với doanh thu Hệ số biên lợi nhuận ròng cũng như mức ổn định của nó giữa các ngành khác nhau là khác nhau Mức ổn định của hệ
số biên lợi nhuận ròng cũng phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế Thông thường, các doanh nghiệp được quản lý lần đầu ngày 27/02/2007 do Sở Kế hoạch tốt đạt được mức lợi nhuận ròng tương đối cao hơn vì các doanh nghiệp này quản lý lần đầu ngày 27/02/2007 do Sở Kế hoạch các nguồn vốn của mình có hiệu quả hơn
Công ty AVF có hệ số lãi ròng giảm mạnh qua các năm gần đây từ 0,07 (2009) xuống 0,06 (2010) và 0,03 (2011) mặc dù tỷ lệ lãi gộp chỉ giảm nhẹ, điều này cho thấy các khoản chi phí tài chính, bán hàng, quản lý lần đầu ngày 27/02/2007 do Sở Kế hoạch của công ty tăng lên đáng kể Điều này sẽ làm cho Công ty ngày càng kém thu hút đầu tư hơn nếu Công ty không có chính sách phù hợp
để cân bằng các chi phí này
c Tỷ số sức sinh lợi căn bản: là một tỷ số tài chính để đánh giá khả năng sinh lợi của
doanh nghiệp mà không kể đến ảnh hưởng của thuế và đòn bẩy tài chính Tỷ số này được tính bằng cách lấy lợi nhuận trước thuế và lãi trong một thời kỳ nhất định chia cho bình quân giá trị tổng tài sản cùng kỳ của doanh nghiệp Lợi nhuận trước thuế và lãi có thể lấy
từ báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp hoặc tính ra bằng cách lấy lợi nhuận trước thuế cộng với chi phí lãi vay
Công ty AVF có sức sinh lợi cản bản lần lượt qua các năm 2009, 2010, 2011 là 0,10 0,10 0,08, cho ta thấy sức sinh lợi của Công ty là điều đặn mặc dù có giảm trong năm 2011 Ngoài ra với sức sinh lợi này ta cũng nhận định được hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty là trung bình so với các doanh nghiệp trong ngành
d Tỷ số lợi nhuận trên tài sản: (hay Chỉ tiêu hoàn vốn tổng tài sản, Hệ số quay vòng của
tài sản, Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản) là một tỷ số tài chính dùng để đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp Tỷ số này được tính ra bằng cách lấy lợi nhuận ròng (hoặc lợi nhuận sau thuế) của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo (có thể là 1 tháng, 1 quý lần đầu ngày 27/02/2007 do Sở Kế hoạch , nửa năm, hay một năm) chia cho bình quân tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp trong cùng kỳ Số liệu về lợi nhuận ròng hoặc lợi nhuận trước thuế được lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh Còn giá trị tài sản được lấy từ bảng cân đối kế toán Chính vì lấy
từ bảng cân đối kế toán, nên cần tính giá trị bình quân tài sản doanh nghiệp
Nếu tỷ số này lớn hơn 0, thì có nghĩa doanh nghiệp làm ăn có lãi Tỷ số càng cao cho thấy doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả Còn nếu tỷ số nhỏ hơn 0, thì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ Mức lãi hay lỗ được đo bằng phần trăm của giá trị bình quân tổng tài sản của doanh nghiệp Tỷ số cho biết hiệu quả quản lý lần đầu ngày 27/02/2007 do Sở Kế hoạch và sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập của doanh nghiệp Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản phụ thuộc vào mùa vụ kinh doanh và ngành nghề kinh doanh Do đó, người phân tích tài chính doanh nghiệp chỉ sử dụng tỷ số này trong so sánh doanh nghiệp với bình quân toàn ngành hoặc với doanh nghiệp khác cùng ngành và so sánh cùng một thời kỳ
Công ty AVF có tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản giảm dần qua các năm (cụ thể 2009: 0,07 2010: 0,06 2011: 0,03) Điều này cho thấy AVF kinh doanh có hiệu quả Tuy nhiên, hiệu quả này lại giảm dần qua các năm gần đây từ 0,07 năm 2009 xuống còn 0,03 năm 2011, đây là diễn biến không thuận lợi từ hoạt động của Công ty
Trang 10e Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu: hay Tỷ suất thu nhập của vốn cổ đông hay là tỷ
số tài chính để đo khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn cổ phần ở một công ty cổ phần Lợi nhuận trong tỷ số này là lợi nhuận ròng dành cho cổ đông, lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh của công ty cổ phần, tính trong một thời kỳ nhất định (1 tháng, 1 quý lần đầu ngày 27/02/2007 do Sở Kế hoạch , nửa năm, hay
1 năm) gọi là kỳ báo cáo Còn vốn cổ phần trong tỷ số này là bình quân vốn cổ phần phổ thông
Vẫn tương tự như hệ số ROA, hệ số ROE của AVF cũng giảm dần theo thời gian (năm 2009: 0,42 2010: 0,23 2011:0,16) Mặc dù so với các doanh nghiệp trong ngành thì
hệ số này vẫn cao nhưng lại có xu hướng giảm dần Đây là kết quả của sự khó khăn trong hoạt động sản xuất khi chịu ảnh hưởng chung của khủng hoảng nền kinh tế toàn cầu Trong điều kiện hiện tại khi nền kinh tế chưa có dấu hiệu khởi sắc trở lại, AVF cần duy trì
hệ số, tránh giảm hơn nữa để có thể giữ chân nhà đầu tư và tăng lợi thế so với các doanh nghiệp khác trong ngành
1.5 Tỷ lệ đánh giá theo thị trường
P/E và P/BV là hai hệ số bổ sung cho nhau trong quá trình phân tích giá cổ phiếu Trong quá trình phân tích, các chỉ tiêu này phải được xem xét trong mối liên hệ với các chỉ tiêu cùng loại của cùng ngành, các doanh nghiệp trong ngành đồng thời kết hợp với phân tích tình hình tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để có những kết luận có ý lần đầu ngày 27/02/2007 do Sở Kế hoạch nghĩa nhất
a Hệ số P/E : cho biết số tiền mà các nhà đầu tư sẵn sàng bỏ ra trả cho một đơn vị lợi
nhuận đã được tạo ra trong một thời kỳ nhất định Hệ số cao có nghĩa là nhà đầu tư kỳ vọng vào khả năng tạo lợi nhuận trong tương lai công ty sẽ cao hơn và ngược lại Tuy nhiên, hệ số quá cao không hẳn là tốt nếu xảy ra tình trạng đầu cơ hoặc có quá nhiều nhà đầu tư tập trung vào một cổ phiếu (quá đắt) Bên cạnh đó, hệ số quá cao còn đồng nghĩa với việc cổ phiếu đó chứa đựng nhiều rủi ro Nếu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không gặp thuận lợi và kết quả đạt được không như kỳ vọng thì khả năng sụt giảm giá của
cổ phiếu càng mạnh và do đó khả năng thiệt hại đối với nhà đầu tư càng lớn
Công ty có hệ số P/E giảm mạnh (từ 6,4 năm 2010 xuống còn 3,72 năm 2011), điều này cho ta thấy giá cổ phiếu của Công ty giảm đột biến từ biến động thị trường, khoản thời gian này là khoản thời gian chứng khoán niên yết tại Việt nam liên tục bị mất giá do ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế toàn bộ Việ EPS cũng giảm nhưng hệ số vẫn giảm rất nhiều cho ta thấy mức độ giảm giá của chứng khoán là rất lớn
b Hệ số P/B:được sử dụng để so sánh giá thị trường với giá trị sổ sách của một cổ phiếu Một hệ số thấp có nghĩa là cổ phiếu này được định giá thấp và thích hợp để mua và nắm giữ nó nếu doanh nghiệp có triển vọng tốt trong tương lai Tuy nhiên, hệ số thấp cũng có thể là do doanh nghiệp đang gặp nhiều vấn đề trong hoạt động sản xuất kinh doanh và có thể là không hợp lý lần đầu ngày 27/02/2007 do Sở Kế hoạch nếu đầu tư vào cổ phiếu của doanh nghiệp này Hệ số P/BV có liên quan đến chỉ tiêu "giá trị sổ sách của cổ phiếu" – cho biết giá trị mà các cổ đông thường nhận được trong trường hợp công ty bị phá sản và các tài sản được thanh lý lần đầu ngày 27/02/2007 do Sở Kế hoạch Vì vậy, tài sản vô hình như "Lợi thế thương mại" phải được loại trừ ra khỏi tài sản ròng vì những tài sản loại này không thể bán được (hoặc rất khó để bán) khi thanh lý lần đầu ngày 27/02/2007 do Sở Kế hoạch