Dạy học theo dự án là một phương pháp dạy học tích cực, mang tính thực tiễn, đòi hỏi người học tham gia một cách chủ động, sáng tạo trong các hoạt động học tập tự chiếm lĩnh tri thức có
Trang 1I ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế với những ảnh hưởng của xã hội tri thức và toàn cầu hóa tạo ra những cơ hội nhưng đồng thời đặt ra những yêu cầu mới đối với giáo dục trong việc đào tạo ra đội ngũ người lao động Người lao động trong xã hội hiện đại ngoài những năng lực chuyên môn, cần có những năng lực chung, đặc biệt là năng lực hành động, năng lực sáng tạo, linh hoạt, tính trách nhiệm, năng lực cộng tác làm việc, năng lực giải quyết các vấn
đề phức hợp trong những tình huống thay đổi Trong xã hội tri thức, việc phát triển kinh tế - xã hội dựa vào tri thức Vì vậy giáo dục đóng vai trò then chốt trong việc phát triển kinh tế xã hội thông qua việc đào tạo con người, chủ thể sáng tạo và sử dụng tri thức
Từ những đòi hỏi trên đây của sự phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện toàn cầu hóa và xã hội tri thức có thể khẳng định rằng mô hình giáo dục “hàn lâm kinh viện” đào tạo ra những con người thụ động, chạy theo bằng cấp, chú trọng việc truyền thụ những kiến thức lý thuyết xa rời thực tiễn không còn thích hợp với yêu cầu của xã hội mới và thị trường lao động Giáo dục cần đổi mới để đáp ứng được những yêu cầu của sự phát triển kinh tế, xã hội và thị trường lao động
Xuất phát từ những yêu cầu trên, nước ta đã và đang tiến hành đổi mới giáo dục một cách toàn diện, từ mục tiêu đến nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học Hoạt động giáo dục phải thực hiện theo nguyên lý “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội” Nội dung giáo dục phải đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống, gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi người học, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học, bậc học Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên Do đó giáo dục nước ta đã và đang tiếp tục đổi mới, tiếp thu, vận dụng một cách sáng tạo những phương pháp dạy học tích cực nhằm đáp ứng những yêu cầu trên
Dạy học theo dự án là một phương pháp dạy học tích cực, mang tính thực tiễn, đòi hỏi người học tham gia một cách chủ động, sáng tạo trong các hoạt động học tập tự chiếm lĩnh tri thức có sự hợp tác với các thành viên khác Tuy nhiên việc sử dụng dạy học dự án mới chỉ được áp dụng ở các trường đại học và cao đẳng Hiện nay có rất ít giáo viên THCS hiểu biết về dạy học dự án và rất hiếm giáo viên sử dụng hình thức này trong giảng dạy
Để góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học thông qua việc sử dụng PPDH theo dự án, căn cứ vào đặc điểm môn học, và nhằm phát triển năng lực học tập cho học sinh, chúng tôi chọn đề tài:
“PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MÔN SINH HỌC”
Trang 2II MÔ TẢ GIẢI PHÁP
1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
a VỀ PHÍA GIÁO VIÊN:
Phần lớn giáo viên hiện nay có thói quen sử dụng phương pháp dạy học truyền thụ kiến thức lý thuyết một chiều Ngày nay, nhân loại đã bước vào kỉ nguyên thông tin Hằng ngày, con người được tiếp nhận một lượng thông tin rất lớn, từ nhiều kênh, nhiều chiều Thông tin “va chạm” nhau, tác động và hỗ trợ lẫn nhau, liên tục sản sinh ra các thông tin mới, theo cấp số nhân, kích thích tư duy con người, làm nảy sinh tri thức mới, kiến thức mới Lượng kiến thức khổng
lồ như vậy mà GV truyền thụ, HS tiếp thu thì làm sao cho hết, làm sao cho kịp, chất chứa vào đâu Mà GV cũng không cập nhật kịp để truyền thụ Mặt khác, kiến thức đã có để truyền thụ thường gắn với kinh nghiệm đã qua, trong khi cần chuẩn bị cho người học sống và làm việc trong thời gian tới Với truyền thụ kiến thức, người học thường bị giới hạn bởi người thầy, trong khi cần chuẩn bị cho học sinh vượt thầy, vượt sách, để có thể sống và làm việc trong một thế giới biến đổi rất nhanh Vì những lẽ ấy, việc giáo dục chủ yếu là truyền thụ kiến thức không còn phù hợp nữa mà thay vào đó là việc phát triển năng lực Chúng tôi đã phát phiếu điều tra như sau
PHIẾU KHẢO SÁT Phần A: Thông tin cá nhân (Quý thầy cô có thể không cung cấp thông
tin)
Họ và tên: ………
Dạy bộ môn: ………
Trường: ………
SĐT: ………
Phần B: Nội dung
B1 Hãy khoanh tròn vào sự lựa chọn của thầy cô:
Trong các bài giảng của mình, thầy cô:
A Chưa bao giờ sử dụng PPDH tích cực
B Đã từng sử dụng PPDH tích cực
(Nếu chọn đáp án A, thầy cô xin vui lòng tiếp tục trả lời các câu hỏi từ B.2 đến B.7; Nếu chọn đáp án B, thầy cô xin vui lòng trả lời câu hỏi B.8)
B.2 Hãy đánh dấu (×) vào mức độ biết và hiểu khi thầy cô sử dụng các PPDH tích cực
Thang mức độ biết: 1 Biết rất rõ; 2 Biết chút ít, 3 Không biết
Thang mức độ hiểu: 1 Hiểu rõ; 2 Hiểu chút ít, 3 Không hiểu
Trang 3dung Biết Hiểu
Trang 4B.4 Hãy đánh dấu (×) vào mức độ cần thiết của những điều kiện sư phạm khi thầy cô sử dụng PPDH tích cực
Thang mức độ: 1 Rất cần thiết; 2 Cần thiết; 3 Ít cần thiết; 4 Không cần thiết
Xây dựng kĩ thuật riêng nhằm phát huy điểm
mạnh và hạn chế tối đa điểm yếu của bản
PPDH thông qua trò chơi
PPDH nêu và giải quyết vấn đề
PPDH đóng vai
PPDH điều tra
Trang 5PPDH theo hợp đồng
PPDH theo dự án
B.6 Khó khăn mà thầy cô hay gặp phải trong quá trình dạy học theo PPDH tích cực? Hãy đánh dấu (×) vào sự lựa chọn của thầy cô và đánh thứ tự mức độ quan trọng của các khó khăn đó
Tài chính Thời gian Sức lực
Ý tưởng Hiệu quả
Ý kiến khác
….………
……… ………
……… ………
………
B.7 Trong PPDH theo dự án, quý thầy cô hãy cho biết quan điểm cá nhân về việc sử dụng PPDH này cho HS THCS ………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 6………
………
B.8 Lý do thầy cô không áp dụng các PPDH tích cực vào bài giảng của mình? Hãy đánh dấu (×) vào sự lựa chọn của thầy cô và đánh thứ tự mức độ quan trọng của các lý do đó Lý do Lựa chọn Thứ tự Tốn nhiều thời gian Ngại thay đổi PPDH Tốn kém về tài chính Tốn nhiều sức lực Hiệu quả không cao Chưa hiểu rõ về các PPDH tích cực Không cần thiết áp dụng PPDH tích cực Ý kiến khác: ………
………
………
………
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô! Kính chúc quý thầy cô sức khỏe, công tác tốt!
Qua điều tra tình hình thực tế chúng tôi nhận thấy nhận thức, thái độ và kĩ thuật của GV THCS về các phương pháp dạy học tích cực có một số tồn tại sau:
+ Về nhận thức: một số GV chưa hiểu rõ các vấn đề liên quan đến các phương pháp dạy học tích cực như những định hướng về đổi mới phương pháp dạy học ở THCS, khái niệm PPDH tích cực, tầm quan trọng và những ưu, nhược điểm của PPDH tích cực…
+ Về thái độ: phần lớn GV có hứng thú với các PPDH tích cực nhưng chỉ
sử dụng các phương pháp này mang tính chất hình thức, chủ yếu là trong các tiết hội giảng, thi Giáo viên giỏi…
+ Về kĩ thuật, một số GV vẫn còn lúng túng khi sử dụng, kết hợp chưa nhuần nhuyễn, hợp lý, khoa học các PPDH tích cực
Trang 7Đặc biệt một số GV còn chưa phân biệt được đâu là phương pháp, đâu là
kĩ thuật dạy học, đồng thời chưa nắm được rõ tiến trình của từng phương pháp,
kĩ thuật dạy học; chưa lựa chọn được phương pháp, kĩ thuật dạy học phù hợp cho từng nội dung mà chỉ mang tính chất hình thức
GV ở các trường THCS hiện nay thường dựa vào chuẩn kiến thức, kĩ năng để soạn giáo án dạy học thông thường và tiến hành giảng dạy trên lớp theo hình thức lớp – bài để giảng dạy tất cả các bài học nhất là trong bộ môn Sinh học Trong các giáo án đó thường sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, vấn đáp, trực quan Hầu như giáo viên chú ý tới chuẩn kiến thức, kĩ năng của học sinh, trang bị kiến thức cho học sinh, chưa được tiếp cận với một số phương pháp và kĩ thuật dạy học nhằm phát huy năng lực học tập của học sinh Ít chú đến thực tiễn và qua bài dạy tích hợp các vấn đề liên quan thực tiễn: như bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu, sức khỏe sinh sản vị thành niên, tiết kiệm năng lượng Với phương pháp dạy học mà đa số giáo viên hiện nay áp dụng chúng tôi nhận thấy có một số ưu, nhược điểm sau
+ Cho phép giáo viên truyền đạt những nội dung lý thuyết tương đối khó, phức tạp, chứa đựng nhiều thông tin học sinh tự mình không dễ dàng tìm hiểu được một cách sâu sắc
+ Giáo viên có thể truyền đạt một khối lượng tri thức khá lớn cho nhiều học sinh trong cùng một lúc
+ Dễ thực hiện do quen thuộc, đã sử dụng từ lâu
b Nhược điểm và những tồn tại cần được khắc phục:
+ Chưa phù hợp với những đổi mới trong giáo dục hiện nay: dạy học theo chủ đề tích hợp, tăng cường vận dụng các kiến thức để giải quyết các tình huống trong thực tiễn, tăng cường sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực nhằm mục đích hình thành và phát triển năng lực của học sinh, phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh, góp phần đào tạo ra những con người phát triển toàn diện phù hợp với cuộc sống trong thời đại mới
+ Nếu giáo viên không sử dụng linh hoạt các phương pháp dễ làm cho học sinh thụ động, thiếu tính tích cực trong lĩnh hội tri thức, chỉ thường sử dụng chủ yếu thính giác cùng với tư duy tái hiện, do đó làm cho học sinh chóng mệt mỏi, chán nản
+ Kiến thức học sinh nắm được thường không bền vững, ít có giá trị trong thực tiễn sau này của học sinh
Trang 8+ Học sinh hầu như chưa được rèn luện kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng lập kế hoạc hoạt động, kĩ năng khai thác, lựa chọn và sử dụng tài liệu trên mạng internet, kĩ năng sử dụng kiến thức vào thực tiễn, kĩ năng trình bày vấn đề
và tư duy logic…
b VỀ PHÍA HỌC SINH
Tương ứng với phương pháp dạy truyền thống của GV, HS hiện nay khá thụ động trong việc tiếp nhận kiến thức GV truyền thụ kiến thức một chiều và
HS tiếp nhận kiến thức đó một cách máy móc: học thuộc lòng, giải bài theo mẫu, học thuộc các bước giải của một bài toán … Bằng cách này hay cách kia,
HS nhớ được kiến thức và làm được các bài tập lí thuyết, nhưng để vận dụng kiến thức đó vào việc giải các bài toán thực tế thì hầu như HS gặp bế tắc Thực
tế đã chứng minh điều đó: có những SV đỗ tốt nghiệp thủ khoa nhưng khi bắt tay vào công việc thì vô cùng bỡ ngỡ, không áp dụng kiến thức học được vào công việc
Mặt khác, HS chưa được “tôn trọng khả năng”, tức là các trạng thái hứng thú học tập HS chưa phát huy được thế mạnh của cá nhân thông qua cách dạy
và cách học truyền thống
Đặc biệt, các năng lực như năng lực hành động, năng lực sáng tạo, năng lực cộng tác làm việc, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp trong những tình huống thay đổi trong HS đã và đang bị ngủ quên Theo tâm lí học giải phẫu, mỗi
cá nhân đều có một hoặc nhiều năng lực tiềm ẩn Trong điều kiện thuận lợi, chúng sẽ được phát hiện, nuôi dưỡng, trưởng thành và phát triển Cách dạy truyền thống như một con dao hai lưỡi sẵn sàng cắt đứt những năng lực ấy Chúng tôi đã phát phiếu điều tra
PHIẾU ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
(Trước khi áp dụng PPDH theo dự án)
Họ và tên HS: ………
Lớp: ………
Trường: ………
Quận (Huyện)……… Tỉnh (Thành phố): ……… (HS có thể không cung cấp các thông tin trên)
Em hãy cho biết ý kiến của mình qua các câu hỏi sau:
Câu 1: Thái độ của em đối với môn Sinh học
(Đánh dấu × vào 1 trong 3 ô trống hoặc ghi ý kiến khác của em)
Rất thích Bình thường Không thích
Trang 9Ý kiến khác: ………
Câu 2: Những hoạt động của em trong giờ học môn Sinh học
(Với mỗi loại hoạt động, hãy đánh dấu × vào 1 trong 3 cột)
Thường xuyên
Không thường xuyên
Hiếm khi
- Nghe GV giảng bài và ghi chép
- Đọc SGK để trả lời câu hỏi
- Trao đổi, thảo luận với bạn để giải
- Tự đưa ra vấn đề mà em quan tâm
- Đề xuất các hướng giải quyết vấn đề
- Giải quyết vấn đề học tập dựa vào
kiến thức đã học
- Giải quyết vấn đề học tập dựa vào
hiểu biết thực tế của em
- Giải quyết vấn đề thực tiến thông
Trang 10thích
- Nghe GV giảng bài và ghi chép
- Đọc SGK để trả lời câu hỏi
- Trao đổi, thảo luận với bạn để giải
- Tự đưa ra vẫn đề mà em quan tâm
- Đề xuất các hướng giải quyết vấn đề
- Giải quyết vấn đề học tập dựa vào
kiến thức đã học
- Giải quyết vấn đề học tập dựa vào
hiểu biết thực tế của em
- Giải quyết vấn đề thực tiến thông qua
Mong muốn của học sinh Trả lời Kết quả
Hài lòng Không hài
Trang 11Phát triển năng lực thu thập và xử lý
thông tin
Phát triển năng lực giải quyết vấn đề
Phát triển năng lực tự học, tự nghiên
cứu
Ý kiến khác: ………
………
………
… ………
…… ………
……… ………
Câu 5: Cảm xúc của em trong giờ học môn Sinh học (Đánh × vào ô trống hoặc ghi ý kiến khác của em) Giờ học lôi cuốn, hấp dẫn em Em được học tập tích cực, hiểu bài sâu sắc Giờ học tẻ nhạt Ý kiến khác: ………
………
………
… ………
…… ………
……… ……… Phiếu điều tra tình hình học tập của học sinh đã được phát cho 105 học sinh khối
9 trường THCS Nghĩa Hưng và 95 học sinh khối 9 trường THCS Hoàng Nam Kết quả thu về được chúng tôi thống kê và phân tích trong các bảng sau:
Bảng 1 Thái độ của học sinh đối với môn Sinh học
Trang 12Bảng 2: Những hoạt động của học sinh trong giờ học môn Sinh học
Thường xuyên (%)
Không thường xuyên (%)
(%)
- Trao đổi, thảo luận với bạn để giải
- Giải quyết vấn đề học tập dựa vào
kiến thức đã học
- Giải quyết vấn đề học tập dựa vào
hiểu biết thực tế của em
Trang 13- Đọc SGK để trả lời câu hỏi 15 50 35
- Trao đổi, thảo luận với bạn để giải
- Giải quyết vấn đề học tập dựa vào
kiến thức đã học
- Giải quyết vấn đề học tập dựa vào
hiểu biết thực tế của em
Phát triển năng lực thu thập và xử lý
thông tin
Phát triển năng lực tự học, tự nghiên
cứu
Qua kết quả điều tra chúng tôi nhận thấy chỉ có khoảng 30% - 35% số HS trong lớp có hứng thú với môn Sinh học Đây là những HS sẽ tích cực tham gia
Trang 14các hoạt động học tập: chú ý nghe giảng, hăng hái phát biểu xây dựng bài, trao đổi thảo luận với bạn để hoàn thành các vấn đề của bài học Khoảng 55% số
HS lúc có lúc không tùy theo nội dung học tập có hứng thú hay không và khoảng 10- 15% số HS không tương tác với các hoạt động học tập Tuy nhiên đa
số các HS đều có mong muốn được phát triển các năng lực học tập như năng lực
sử dụng công nghệ thông tin, năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn Sinh học
Qua điều tra thực trạng của học sinh chúng tôi nhận thấy ưu, nhược điểm của HS khi học theo phương pháp cũ đó là:
Ưu điểm:
- Trong một khoảng thời gian ngắn, HS được tiếp thu một lượng kiến thức lớn
- Không tốn nhiều thời gian và công sức tìm hiểu kiến thức
- HS chỉ việc ghi nhớ và tái hiện kiến thức học được
- Chỉ chú trọng đến kiến thức “đầu vào”, còn sản phẩm “đầu ra” thì hầu như không được chú ý đến
- HS không phát triển được các năng lực sẵn có và các năng lực tiềm năng như: năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sử dụng công nghệ thông tin, năng lực thuyết trình trước đám đông Vì thế HS rụt rè, thiếu tính chủ động và sáng tạo trong hoàn cảnh mới
- HS không được trải nghiệm, không giải quyết được hoặc gặp khó khăn trong việc giải quyết các tình huống thực tiễn
2 Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
a Lý do chọn giải pháp mới
a.1 Xuất phát từ yêu cầu về nguồn nhân lực trong xã hội hiện nay
Hiện nay chúng ta đang sống ở thời kì mà con người đi vào nền văn minh trí tuệ với các xu thế rõ ràng, đó là sự phát triển của công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông, kinh tế tri thức, xã hội học tập… Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực Để đạt được điều này, học sinh phải được phát triển năng lực một cách toàn diện ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một
Trang 15nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học
a.2 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học cơ sở theo định hướng phát triển năng lực người học của Bộ GD-ĐT
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy
và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này:
Đổi mới phương pháp dạy học phải chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ
đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp
Đổi mới phương pháp phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin ), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc
“Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”
Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học
Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã qui định Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội
Trang 16dung học và phù hợp với đối tượng học sinh Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:
Một là, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp
học sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành các hoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn
Hai là, chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và
các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới Định hướng cho học sinh cách tư duy như phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen… để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo
Ba là, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở
thành môi trường giao tiếp GV - HS và HS - HS nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung
Bốn là, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong
suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học) Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót
Trong những năm gần đây chúng tôi nhận thấy Ngành Giáo dục và Đào tạo đã và đang tiến hành tốt yêu cầu đổi mới chương trình, nội dung SGK và đổi mới PPDH Đổi mới PPDH là cốt lõi và cần thiết, nhưng đổi mới như thế nào để khơi dậy được năng lực học tập của tất cả các đối tượng HS? Có thể nói mấu chốt của đổi mới PPDH là tiến tới hoạt động hóa HS, biến HS thành những chủ thể có khả năng lĩnh hội kiến thức một cách độc lập, chủ động, sáng tạo Mặt khác những kết quả nghiên cứu cho thấy với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, HS tiếp cận với tri thức nhân loại qua rất nhiều kênh thông tin HS trở nên năng động hơn, hay tìm tòi khám phá Vì vậy chúng tôi cho rằng PPDH theo kiểu truyền thống kiểu “thầy truyền đạt, trò tiếp thu” không còn phù hợp, cần phải được thay đổi Xu hướng chung của PPDH trên thế giới hiện nay là biến chủ thể nhận thức thành chủ thể hành động GV là người chỉ đạo, điều khiển để
HS tự lĩnh hội kiến thức Quan điểm của PPDH tích cực là “thầy thiết kế- trò thi công” và quá trình dạy học là dạy cách học chứ không chỉ dạy kiến thức Chính
vì thế trong thời gian gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã khuyến khích giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học tích cực từ đó phát triển năng lực học tập cho học sinh
a.3 Xuất phát từ đặc điểm môn Sinh học
Sinh học là một môn khoa học thực nghiệm, kiến thức của bộ môn Sinh học hầu hết xuất phát từ đời sống và được ứng dụng mạnh mẽ vào sản xuất và đời sống Vì vậy khi dạy học bộ môn này sẽ đòi hỏi những phương pháp dạy học
Trang 17phù hợp để giúp học sinh hình thành, khắc sâu kiến thức một cách chủ động, nâng cao hiệu quả việc học tập Có thể áp dụng những phương pháp dạy học gắn với thực tế hay xuất phát từ vấn đề thực tế trong cuộc sống cần giải quyết
a.4 Xuất phát từ thực trạng phát triển năng lực học tập trong dạy và học môn Sinh học hiện nay
Hiện nay trong nhà trường THCS việc đổi mới phương pháp dạy học vẫn gặp nhiều khó khăn Với những phương pháp dạy học truyền thống hiện nay thì nhiều GV chỉ chú trọng đến việc truyền thụ kiến thức cho HS mà xem nhẹ việc hình thành phương pháp và các kĩ năng học tập cho các em Trong khi đó, kiến thức nhân loại ngày một bùng nổ, lượng kiến thức các em cần tiếp thu cũng càng nhiều Do vậy, nếu HS không được phát triển các kĩ năng học tập cần thiết thì việc tiếp thu kiến thức trở lên quá tải và nặng nề Bên cạnh đó, trong dạy học
bộ môn Sinh Học, cách dạy học của một bộ phận giáo viên hiện nay còn thiên về
lý thuyết, giải bài tập, ít liên hệ với thực tế Tôi lấy ví dụ: khi dạy chủ đề “ Hô hấp” , tôi yêu cầu học sinh kể tên các bệnh hô hấp thường gặp thì có tới 80% số học sinh trả lời sai hoặc không đầy đủ, thậm chí còn có nhiều học sinh kể ra là bệnh: ung thư tim, đi ngoài, đau bụng Học sinh ít khi được giao các bài tập, công việc về nhà liên quan đến thực tế mà chủ yếu là liên quan đến các nội dung sách giáo khoa Do vậy người học ít có cơ hội được phát triển các năng lực học tập của mình thông qua quá trình nghiên cứu khoa học
Do đó, việc hình thành và phát triển năng lực học tập cho HS thông qua
sử dụng các phương pháp dạy học tích cực là một nhiệm vụ quan trọng cần giải quyết của GV và HS trong quá trình dạy, học
a.5 Xuất phát từ ưu điểm của các phương pháp dạy học tích cực trong đó
có phương pháp dạy học theo dự án
Để phát triển năng lực học tập cho học sinh, theo chúng tôi phương pháp dạy học theo dự án là một giải pháp không phải mới nhưng có thể phát triển nhiều năng lực cho học sinh Dạy học theo dự án có nhiều ưu điểm:
- Người học tiếp thu kiến thức mới một cách dễ dàng và khó quên Trong khi tìm hiểu, tập hợp rồi chọn lọc các thông tin theo yêu cầu của dự án, do phải đọc đi đọc lại nhiều lần, người học sẽ nhớ lâu và làm chủ kiến thức, phát huy được tính tự chủ và độc lập trong công việc, có trách nhiệm trong việc làm giàu kiến thức của chính mình Trong mô hình này, giáo viên chỉ đóng vai trò người
tổ chức, điều khiển chứ không phải là người chỉ đường vạch lối
- Đưa các bài học gắn liền với các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày: Dạy học dựa trên dự án là tạo cơ hội cho người học được áp dụng những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống bởi vì các dự án hoặc vấn đề được nêu ra phải xuất phát từ những nhu cầu thực tế, có tính kích thích học sinh Tính thực tế cao cũng chính là động lực để học sinh chủ động và tích cực trong hoạt động học tập của mình
- Rèn luyện kỹ năng hợp tác nhóm: Các thành viên cùng làm việc nhóm phải biết tổ chức phân công, chia sẻ, công việc, học hỏi lẫn nhau, hỗ trợ cho nhau, tăng cường đoàn kết, tăng cường tính kỷ luật, có trách nhiệm với tập thể Những kỹ năng làm việc nhóm là tối cần thiết quyết định sự thành công của phương pháp dạy học này Đây cũng là nhóm kỹ năng sống thiết yếu đối với bất
kỳ cá nhân nào trong cuộc sống hiện đại
Trang 18- Nâng cao kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin: Trong khi thực hiện dự
án, người học buộc phải sử dụng vi tính, Internet để truy cập thông tin và xử lý thông tin cũng như sử dụng các công cụ hổ trợ để hoàn thiện sản phẩm trình bày lại trước tập thể và người hướng dẫn… Những tương tác hữu hiệu giữa các học sinh với nhau và giữa học sinh với giáo viên cho phép đưa mô hình học theo dự
án có thể triển khai trực tuyến, vượt qua giới hạn về không gian: trong quá trình thực hiện dự án các thành viên có thể trao đổi với nhau hoặc với giáo viên qua email, qua FB
- Rèn luyện khả năng trình bày vấn đề và tư duy logic: Trong quá trình học tập theo mô hình này, học sinh thường xuyên phải:
+ Tìm cách trình bày vấn đề 1 cách rõ ràng, logic, lôi cuốn, hấp dẫn người nghe
+ Tư duy sáng tạo để tập trung giải quyết vấn đề phát sinh hoặc tìm lối ra cho những khó khăn;
+ Bảo vệ ý kiến có tính xây dựng và truy cầu kiến thức thông qua thảo luận
- Kỹ năng khai thác thông tin hiệu quả và trực tiếp: Với sự phổ biến của thế giới internet, con người ngày này dường như chịu tác động khủng hoảng thừa thông tin Thư viện không còn là nơi duy nhất để truy cầu kiến thức mà đơn giản chỉ cần một máy tính kết nối internet Trong cuộc sống hiện đại đó, kỹ năng khai thác thông tin, định loại thông tin giúp con người có thể "tìm kim giữa một
bể kim" và trở thành lợi thế cạnh tranh cũng như chìa khóa thành công trong cuộc sống và quá trình học tập
Từ những lí do trên, với mong muốn xây dựng kế hoạch dạy học theo các phương pháp dạy học tích cực nhằm phát triển năng lực học tập cho học sinh, tôi chọn đề tài: PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THÔNG
QUA DẠY HỌC DỰ ÁN MÔN SINH HỌC
b Tính mới của giải pháp mới:
* Vận dụng thuyết đa trí tuệ vào quá trình dạy học :
Giải pháp được đưa ra dựa trên cơ sở là kết quả nghiên cứu về não bộ và quy luật hoạt động não bộ ở người của các nhà khoa học Qua tìm hiểu chúng tôi biết được: Mỗi con người có các năng lực trí tuệ: Vận động, ngôn ngữ, logic, giao tiếp, nội tâm, âm nhạc, không gian, tự nhiên Điều này giúp chúng tôi làm
cơ sở để hình thành, phát triển và đánh giá HS trên cơ sở tôn trọng, chấp nhận những gì là bẩm sinh của học sinh trong quá trình học tập Trong quá trình công tác chúng tôi băn khoăn phải chăng một cô bé không thể giải một bài toán giáo viên đưa ra là một cô bé kém thông minh? Một cầu thủ bóng đá với những pha
xử lí tình huống nhanh nhạy, linh hoạt- khi còn đi học đã từng có kết quả tổng kết môn Văn, Toán, Anh thấp lẹt đẹt- có phải là người không thông minh? Liệu
sự thông minh của một người có phải chỉ được đo bằng chỉ số IQ mà thôi? Tại sao thuật ngữ “thông minh” chỉ được giới hạn trong một khuôn khổ nhỏ của rất nhiều nỗ lực của con người? Ngày nay nhà trường chúng ta đang đào tạo, đánh giá tất cả học sinh theo một cách thức giống nhau có phải là cách ưu việt nhất? Liệu sự thông minh của một người có phải chỉ được đo bằng chỉ số IQ mà thôi ?
Và chỉ khi tìm hiểu thì chúng tôi tìm hiểu về thuyết đa trí tuệ thì mới biết và hiểu
Trang 19được rằng 40 học sinh trong lớp là 40 cá thể có thiên hướng trí tuệ như nhau Năm 1983, tiến sĩ Howard Gardner – một nhà tâm lý học nổi tiếng của Đại học Harvard- đã xuất bản một cuốn sách có nhan đề “Frames of Mind” (tạm dịch
“Cơ cấu của trí tuệ”), trong đó ông công bố các nghiên cứu và lý thuyết của mình về sự đa dạng của trí thông minh (Theory of Multiple Intelligences ) Theo Gardner, trí thông minh (intelligence) được ông quan niệm như sau “là khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra các sản phẩm mà các giải pháp hay sản phẩm này có giá trị trong một hay nhiều môi trường văn hóa” (the ability to solve problems, or to create products, that are valued within one or more cultural settings) và trí thông minh cũng không thể chỉ được đo lường duy nhất qua chỉ
số IQ
Sau đây là 7 loại trí thông minh mà Gardner đã đề nghị tại thời điểm đó:
- Trí thông minh về toán học/logic (mathematical/logical): những người
có trí thông minh này có thiên hướng học tập thông qua các lập luận logic, thích toán học, lập trình, chơi xếp hình,…
- Trí thông minh về ngôn ngữ/lời nói (verbal/linguistic): những người có trí thông minh này có thiên hướng học tập thông qua việc nói và viết, thích đọc, chơi ô chữ,…
- Trí thông minh về thị giác/không gian (visual/spatial): những người có trí thông minh này có thiên hướng học tập thông qua hình ảnh, đồ vật, sử dụng tốt bản đồ và định hướng tốt trong không gian,…chúng ta không nên nghĩ rằng trí thông minh này chỉ gắn với thị giác vì Gardner tin rằng đối với các trẻ em khiếm thị thì trí thông minh về không gian này cũng phát triển
- Trí thông minh về vận động (bodily/kinesthetic): những người có trí thông minh này có thiên hướng học tập thông qua cách vận động và sử dụng động tác, cảm thấy thích thú khi vận động cơ thể, chơi thể thao…
- Trí thông minh về âm nhạc/giai điệu (musical/rhythmic): những người
có trí thông minh này có thiên hướng học tập thông qua các giai điệu, âm nhạc, thích chơi nhạc cụ, hát, đọc truyền cảm các tác phẩm,…
- Trí thông minh hướng ngoại (interpersonal): những người sở hữu trí thông minh này có thiên hướng học tập thông qua sử dụng các kỹ năng xã hội, giao tiếp, hợp tác làm việc với người khác, thích gặp gỡ và trò chuyện, có khả năng thông hiểu người khác,…
- Trí thông minh hướng nội (intrapersonal): những người có trí thông minh này có thiên hướng học tập thông qua tình cảm, cảm giác, điều khiển và làm chủ tốt việc học của mình, hiểu rõ các suy nghĩ của bản thân, từ đó có thể
Vào năm 1996, Gardner có bổ sung thêm 2 loại trí thông minh mà ông và đồng nghiệp đang nghiên cứu
- Trí thông minh hướng về thiên nhiên (naturalist): người có khả năng học tập thông qua hệ thống sắp xếp, phân loại, yêu thích thiên nhiên, các hoạt động ngoài trời,…
Trang 20- Trí thông minh về sự tồn tại (existential): người có khả năng học tập thông qua việc thấy bức tranh tổng thể, thông qua những câu hỏi như “Tại sao chúng ta tồn tại ở đây?”, “Vai trò của tôi trong thế giới này là gì?”, “Vai trò của tôi trong gia đình, nhà trường và cộng đồng là gì?” Loại trí tuệ này tìm kiếm sự kết nối giữa những kiến thức mới học với các ứng dụng, các kiến thức trong thực tế
Lý thuyết của Gardner đã chỉ ra rằng mỗi người trong chúng ta đều tồn tại một vài kiểu thông minh trên, tuy nhiên, sẽ có kiểu thông minh trội hơn trong mỗi người Bên cạnh đó, Gardner đã chỉ ra rằng trong trường học thông thường chỉ đánh giá một học sinh thông qua 2 loại trí thông minh là trí thông minh về ngôn ngữ và trí thông minh về logic/toán học, và điều này là không chính xác Trường học đã bỏ rơi các em có thiên hướng học tập thông qua âm nhạc, vận động, thị giác, giao tiếp…đồng thời lèo lái tất cả mọi học sinh đi theo cùng một con đường và cùng chịu chung một sự đánh giá và phán xét Nhiều học sinh đã
có thể học tập tốt hơn nếu chúng được tiếp thu kiến thức bằng chính thế mạnh của chúng
Thuyết đa trí tuệ đã mang lại một cái nhìn nhân bản và cần thiết nhằm kêu gọi nhà trường và giáo viên coi trọng sự đa dạng về trí tuệ ở mỗi học sinh: mỗi loại trí tuệ đều quan trọng và mỗi học sinh đều có ít nhiều khả năng theo nhiều khuynh hướng khác nhau Nhà trường phải là nơi giúp đỡ, khơi gợi tiềm năng, tạo điều kiện học tập theo các hướng khác nhau cho các chủ nhân tương lai của
xã hội Làm được điều đó, chúng ta sẽ giúp mỗi học sinh tỏa sáng và thành công trong cuộc sống của chúng
Mỗi người trong chúng ta đều có cá tính, sở thích, thị hiếu khác nhau, trẻ
em cũng thế Và do đó, chúng cũng sẽ có cách học khác nhau Giáo viên đánh giá đúng những sự khác biệt này Thông qua quan sát, chúng có thể biết được học trò mình có dạng nổi trội về mặt nào theo Lý thuyết đa trí tuệ và chúng tôi
có thể phát triển các hoạt động phù hợp để phát triển khả năng của học sinh
Học sinh là người có thể học tập thông qua ngôn ngữ / lời nói
- Nhạy cảm với ngữ nghĩa, nhịp điệu, âm thanh của các từ
- Thích thú với việc kể chuyện và viết lách
- Thích đọc, thơ ca, truyện cười và thích thú khi chơi với các trò đố chữ, giải đáp các câu đố, …
Trong quá trình học tập chúng tôi thường:
- Lắng nghe HS một cách chăm chú về những câu hỏi, mối bận tâm, những trải nghiệm của chúng
- Khuyến khích HS kể cho các bạn nghe những câu chuyện, những vấn đề liên quan đến chủ đề học tập mà chúng vừa đọc hoặc chia sẻ với bạn bè, cô giáo những gì chúng vừa viết ra
- Trong các dự án học tập thường khuyên hoặc giao nhiệm vụ cho những học sinh này tìm tài liệu trên thư viện của trường, trên internet…
Trang 21- Khuyến khích HS tham gia viết báo tường của lớp, viết báo cáo dự án Học sinh là người có thể học tập thông qua phân tích logic / toán học (logical)
- Thích chơi các trò chơi liên quan đến các con số, giải quyết vấn đề, làm các thử nghiệm/thí nghiệm
- Có kỹ năng lập luận tốt và biết đặt các câu hỏi có tính logic
- Thích các trật tự và những chỉ dẫn tuần tự từng bước Trong quá trình học tập chúng tôi thường
- Luôn tạo cơ hội cho HS được làm các thí nghiệm/ thử nghiệm
- Yêu cầu hoặc khuyến khích những HS này lên kế hoạch, sắp xếp ý tưởng trong các dự án
- Phân tích, xử lý các số liệu điều tra của dự án
Học sinh là người có thể học tập thông qua thị giác / hình ảnh (visual)
- Thích tạo ra các hoa văn, hình vẽ và cần có sự kích thích về thị giác
- Có năng khiếu về nghệ thuật
Chúng tôi thường:
- Cho phép Hs sáng tạo với các mẫu nghệ thuật, thủ công
- Thường khuyến khích HS này vẽ sơ đồ tư duy lên kế hoạch thực hiện nhiệm vụ của nhóm, vẽ ảnh trong các tập san, trang trí báo cáo trên giấy, thiết kế hoặc trang trí báo cáo của nhóm, giao nhiệm vụ quay phim chụp ảnh các tư liệu thu thập khi thực hiện dự án
HS là người có thể học tập thông qua âm nhạc (musical)
HS là người có thể học tập thông qua vận động (physical)
- Thích đóng kịch, khiêu vũ, thể hiện bản thân với những hành động và chuyển động của cơ thể (hip hop, …)
- Học tập thông qua các chuyển động của cơ thể và thông qua việc chạm vào và cảm giác về sự vật
- Sử dụng các chuyển động, cử chỉ, điệu bộ và các biểu hiện cơ thể để học hỏi và giải quyết vấn đề
Chúng tôi thường:
Trang 22- Khuyến khích HS tham gia vào các hoạt động đóng kịch
- Cung cấp các hoạt động thực nghiệm lôi cuốn
HS là người có thể học tập thông qua hoạt động hướng ngoại (extrovert)
- HS là người thích giao tiếp xã hội
- Có thể “đọc” được các cảm xúc và cách cư xử của người khác
- Là nhà lãnh đạo xuất sắc và thích tham gia đội nhóm
- Có thể giúp đỡ bạn cùng tuổi và làm việc hợp tác với những người khác
Chúng tôi thường:
- Chơi những trò chơi gia đình
- Khuyến khích con bạn tham gia vào các hoạt động nhóm
- Khuyến khích thảo luận và giải quyết vấn đề
- Giao cho trẻ vai trò quản lý nhóm khi chia nhóm học tập trong lớp
HS là người có thể học tập thông qua hoạt động hướng nội (introvert)
- Thích làm việc độc lập
- Biết tự động viên, khuyến khích bản thân và thích các hoạt động một mình
- Thường tách ra và không đi theo xu hướng của đám đông
- Có khả năng hiểu cảm xúc, động lực và tâm trạng của mình
Chúng tôi thường
- Cho trẻ có thời gian làm việc và học tập đọc lập
- Khuyến khích HS lưu giữ nhật ký hoặc các ghi chép hàng ngày thường giao cho HS ghi biên bản, nhật ký hoạt động của nhóm
Qua việc tìm hiểu về thuyết đa trí tuệ chúng tôi nhận thấy mình cần coi trọng sự đa dạng về trí tuệ ở mỗi học sinh, mỗi loại trí tuệ đều quan trọng và mỗi học sinh đều có ít nhiều khả năng theo nhiều khuynh hướng khác nhau Nhà trường, thầy cô giáo, cha mẹ học sinh phải là nơi giúp đỡ, khơi gợi tiềm năng, tạo điều kiện học tập theo các hướng khác nhau cho các chủ nhân tương lai của
xã hội Sau khi nghiên cứu về thuyết đa trí tuệ chúng tôi luôn trăn trở,suy ngẫm
để chọn lựa phương pháp dạy học sao cho hay nhất và phù hợp nhất với bản thân từng học sinh và chúng tôi đã hiểu thấu đáo vì sao phương pháp đó là hiệu quả hoặc chỉ hiệu quả với HS này mà không hiệu quả với HS kia Thuyết này cũng giúp chúng tôi áp dụng linh hoạt hơn các PPDH và kĩ năng sử dụng các tài liệu, các thiết bị dạy học đa dạng hơn, phong phú hơn Trong lớp học đa trí tuệ, chúng tôi phải linh hoạt thay đổi phương pháp và khéo léo chuyển từ lối dạy ngôn ngữ sang lối dạy không gian rồi lối dạy âm nhạc hay vận động, giao tiếp,…Qua nghiên cứu và thực nghiệm cho thấy, việc tổ chức dạy học bằng áp dụng linh hoạt, tổng hợp các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đang tích cực triển khai gần đây như đẩy mạnh ứng dụng
Trang 23công nghệ thông tin, dạy học theo dự án, bản đồ tư duy,… sẽ tạo ra môi trường học tập đa trí tuệ rất hiệu quả
Do đó, để có thể giúp mỗi học sinh phát triển theo đúng thế mạnh của chúng, chúng tôi cố gắng cung cấp một môi trường học tập, lựa chọn phương pháp, hình thức học tập mà mọi học sinh đều cảm thấy thích thú và thành công
* Vận dụng tháp hiệu quả học tập vào việc lựa chọn hình thức tổ chức và
phương pháp học tập
Một nghiên cứu khác đã chỉ rằng con người sẽ ghi nhớ được:
- 5% những gì họ học được thông qua giảng dạy
- 10% những gì họ học được từ văn bản (chẳng hạn đọc sách, báo)
- 20% những gì họ học được thông qua những hình ảnh minh họa (chẳng hạn như các ứng dụng hay video)
- 30% những gì họ học được thông qua hiện vật trưng bày, triển lãm
- 50% những gì họ học được thông qua thảo luận nhóm
- 75% những gì họ học được thông qua thực hành
- 90% những gì họ học được nếu áp dụng ngay lập tức kiến thức đó
Trang 24Như vậy nếu quá trình tiếp thu kiến thức của HS thụ động thì kết quả ghi nhớ rất nhỏ Việc thảo luận nhóm, được làm thực hành và đặc biệt khi hướng dẫn và truyền đạt cho bạn khác thì hiệu quả thu nhận và nhớ kiến thức rất lớn
c Tính sáng tạo của giải pháp mới
Tính sáng tạo của giải pháp trước hết được thể hiện trong tính mới của giải pháp đã được chúng tôi nêu ở trên Đặc biệt khi thực hiện giải pháp này chúng tôi đã chuyển được nội dung kiến thức trong chương trình Sinh học thành các dự án trong cuộc sống Thiết kế giáo án dạy học theo dự án phù hợp và
sử dụng thường xuyên nhằm phát huy tính tích cực chủ động của học sinh khi
chiếm lĩnh tri thức góp phần giúp học sinh phát triển năng lực học tập
d Cách thức thực hiện giải pháp mới
Điều tra, thống kê, phân tích được thực trạng về các năng lực học tập của học sinh để từ đó giáo viên lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp nhằm phát huy năng lực của học sinh
các phương pháp dạy học tích cực đặc biệt là dạy học theo dự án ở trường
THCS
Trang 25Thiết kế một số giáo án dạy học theo dự án mẫu, và dạy cho học sinh trường THCS Hoàng Nam và học sinh trường THCS Nghĩa Hưng trong các năm học 2020 -2021; 2021 - 2022
Đề xuất một số dự án trong chương trình Sinh học ở cấp THCS
Thông qua dạy học theo dự án chúng tôi đã tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục sức khỏe sinh sản, giáo dục tiết kiệm năng lượng, giáo dục các
kĩ năng sống, gắn kiến thức Sinh học với thực tiễn để kích thích lòng đam mê môn học, đam mê học tập Đặc biệt thông qua các dự án học tập học sinh có cơ hội được trải nghiệm ở nhiều vai trò khác nhau để giải quyết các vấn đề thực tiễn
e Các bước triển khai giải pháp mới
* Bước 1: Tìm hiểu về não bộ và quy luật hoạt động của não bộ, thuyết đa trí tuệ, tháp hiệu quả học tập (như phần trình bày ở trên)
* Bước 2: Tìm hiểu về các năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh THCS
* Bước 3: Tìm hiểu về phương pháp dạy học theo dự án
e.1 các năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh THCS
Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã công bố mục tiêu giáo dục học sinh phổ thông rèn luyện tốt 5 phẩm chất và 10 năng lực thiết yếu để từ đó phát huy và vận dụng tối đa khả năng của mình vào thực tiễn
10 năng lực đó được chia ra thành 2 nhóm năng lực chính là năng lực chung và năng lực chuyên môn
Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi, làm nền
tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp Các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người, quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống; đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình hoạt động khác nhau Nhưng năng lực chung sẽ được nhà trường và giáo viên giúp các em học sinh phát triển trong chương trình giáo dục phổ thông là:
để
Năng lực chuyên môn là những năng lực được hình thành và phát triển
trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động Đây cũng được xem như một năng khiếu, giúp các em mở rộng và phát
Trang 26huy bản thân mình nhiều hơn Các năng lực chuyên môn được rèn luyện và phát triển trong chương trình giáo dục phổ thông mới là:
e.2 Thế nào là học theo dự án?
Học theo dự án (Project Learning) còn có tên gọi khác là “Học dựa trên
mô hình dự án” (Project based learning) Trong dạy học dự án, học sinh học theo
dự án Có nhiều các định nghĩa khác nhau về học theo dự án Tuy nhiên, chúng đều thống nhất ở một số nhận định: Học theo dự án là một phương pháp học tập mang tính xây dựng, trong đó học sinh tự đưa ra sáng kiến và thực hiện xây dựng phiếu hỏi, thu thập thông tin, phân tích dữ liệu và đưa ra nhận định, kết luận về các vấn đề cụ thể Học theo dự án (Project Work) là một hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội chohọc sinh tổng kợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập,
và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống Dạy học dự án là một mô hình học tập khác với các hoạt động học tập truyền thống với những bài giảng ngắn, tách biệt và lấy giáo viên làm trung tâm Trong dạy học dự án, các hoạt động học tập được thiết kế một cách cẩn thận, mang tính lâu dài, liên quan đến nhiều lĩnh vực học thuật, lấy người học làm trung tâm và gắn liền với những vấn
đề thực tiễn của thế giới thực tại Xuất phát từ nội dung học, giáo viên đưa ra một dự án hấp dẫn, kích thích người học tham gia thực hiện Dự án là một bài tập tình huống mà người học phải giải quyết bằng các kiến thức theo nội dung học Dạy học dự án đặt người học vào tình huống vấn đề nhưng việc giải quyết vấn đề đòi hỏi sự tự lực cao của người học Khi người học nhận được bài tập hoặc những thông tin chi tiết về dự án của mình, họ sẽ quyết định cách thức giải quyết vấn đề được đưa ra Người học trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao phải tự tìm hiểu những nội dung cần học thông qua các nguồn tài liệu và thông qua trao đổi một cách có định hướng các nhiệm vụ cần thực hiện Hình thức làm việc chủ yếu trong dạy học dự án là theo nhóm, mỗi người học cộng tác với các thành viên khác trong nhóm trong một khoảng thời gian nhất định để giải quyết những vấn đề và cuối cùng trình bày công việc mình đã làm trước nhóm Bước cuối cùng có thể là một buổi thuyết trình có sử dụng các phương tiện nghe nhìn, một ấn phẩm báo chí, một trang Web hoặc một sản phẩm được tạo ra Các loại dự án học tập có thể phân chia theo nội dung, theo thời gian thực hiện hoặc theo hình thức tham gia:
- Phân theo nội dung:
+ Dự án trong một môn học: trọng tâm nội dung nằm trong một môn học
Ví dụ: dự án thiết kế mạng điện trong trường học, dự án thiêt kế mô hình các
Trang 27máy điện (môn vật lí), dự án tìm hiểu virut cúm gia cầm (môn Sinh), dự án thiết
kế mô hình nhà máy hóa chất Sunphat (môn Hóa học),
dự án cải tạo hồ bơi của trường (Môn toán-lí-mỹ thuật-kĩ thuật…)
+ Dự án ngoài môn học: Là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học, ví dụ dự án chuẩn bị cho các lễ hội trong trường, dự án tìm hiểu năng lượng mặt trời, dự án quảng bá du lịch địa phương
- Phân theo sự tham gia của người học: dự án cho nhóm HS, dự án cá nhân Dự án dành cho nhóm HS là hình thức dự án dạy học chủ yếu Trong trường phổ thông còn có dự án toàn trường, dự án dành cho một khối lớp, dự án cho một lớp học
- Phân loại theo quỹ thời gian: K.Frey đề nghị cách phân chia như sau: + Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2-6 giờ học
+ Dự án trung bình: dự án trong một hoặc một số ngày (“Ngày dự án”), nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học
+ Dự án lớn: dự án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần (hay 40 giờ học), có thể kéo dài nhiều tuần (“Tuần dự án”)
- Đặc điểm của dạy học dự án nhấn mạnh đến các định hướng sau:
* Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án gắn với thực tiễn, kết quả dự án phải có ý nghĩa thực tiễn xã hội Dạy học dự án tạo ra kinh nghiệm học tập thu hút người học vào những dự án phức tạp trong thực tiễn xã hội và người học sẽ dựa vào đó để phát triển và ứng dụng các kĩ năng và kiến thức của mình Ví dụ:
Dự án tìm hiểu các nhạc cụ dân tộc (Môn Âm nhạc bậc cao đẳng), dự án tìm hiểu về các đồ dùng bằng nhựa (Môn Tự nhiên xã hội bậc tiểu học), dự án tìm hiểu về sử dụng năng lượng điện (Môn Vật lí bậc trung học cơ sở)
* Định hướng hứng thú: Chủ đề và nội dung của dự án phù hợp với hứng thú của người học, thúc đẩy mong muốn học tập của người học, tăng cường năng lực hoàn thành những công việc quan trọng và mong muốn được đánh giá Khi người học có cơ hội kiểm soát được việc học của chính mình, giá trị của việc học đối với họ cũng tăng lên Cơ hội cộng tác với các bạn cùng lớp cũng làm tăng hứng thú học tập của học sinh
* Tính tự lực cao của người học: Người học tham gia tích cực và tự lực vào các tất cả các giai đoạn của quá trình dạy học: đề xuất vấn đề, lập kế hoạch giải quyết vấn đề, giải quyết vấn đề và trình bày kết quả thực hiện
* Định hướng hành động: Khi thực hiện dự án, đòi hỏi học sinh phải kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, huy động nhiều giác quan Người học khám phá, giải thích và tổng hợp thông tin sao cho có được sản phẩm có ý nghĩa
* Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, việc học mang tính xã hội Dạy học dự án thúc đẩy sự cộng tác giữa
Trang 28người học với giáo viên và giữa người học với nhau Nhiều khi, sự cộng tác được mở rộng đến cộng đồng Sự làm việc mang tính cộng tác của người học có tầm quan trọng làm phong phú và mở rộng sự hiểu biết của người học về những điều họ đang học
Trong dạy học dự án, vai trò của giáo viên (người dạy) và người học là:
- Vai trò của giáo viên:
+ Thúc đẩy vai trò tự chủ của người học và làm sao để gắn sự chủ động của người học trong việc giải quyết vấn đề
+ Hướng dẫn, tham vấn chứ không phải cầm tay chỉ việc Không phải dạy kiến thức mà tạo ra sự hỗ trợ cần thiết Năng lực, vai trò của giáo viên thể hiện ở các hỗ trợ đối với người học (không chỉ bằng các chỉ dẫn mà bằng các sản phẩm mẫu, các tài liệu, các nguồn thông tin, cách chuyển giao công việc, cách xây dựng các phiếu đánh giá )
- Vai trò của người học
+Tham gia tích cực ở cả ba giai đoạn học tập (thu thập thông tin, xử lí thông tin, truyền đạt thông tin) Giai đoạn ba là giai đoạn hoạt động quan trọng, thể hiện kết quả của hai giai đoạn trước và là giai đoạn người học được phát huy khả năng sáng tạo, khả năng giải quyết vấn đề của mình
+ Người học đóng vai là những “chuyên gia” thuộc những ngành nghề khác nhau trong xã hội, hoàn thành vai trò của mình dựa trên những kiến thức,
kĩ năng nhất định (người học chủ động trong việc tiếp nhận kiến thức)
+ Người học tự quyết định cách tiếp cận vấn đề và các hoạt động
+ Người học phải hoàn thành dự án và trình bày qua các sản phẩm cụ thể: Bài trình diễn, sản phẩm, trang web
e.3 Quy trình thực hiện của dạy học dự án
Dựa trên cấu trúc chung của một dự án trong lĩnh vực sản xuất, kinh tế nhiều tác giả phân chia cấu trúc của dạy học dự án có thể phân chia thành qua 4 giai đoạn sau: Quyết định, lập kế hoạch, thực hiện, kết thúc dự án Tuy nhiên, dựa trên cấu trúc của tiến trình phương pháp, người ta có thể chia cấu trúc của DHDA làm nhiều giai đoạn nhỏ hơn Sau đây trình bày một cách phân chia các
giai đoạn của dạy học dự án theo 3 giai đoạn như sau:
- Giai đoạn quyết định chủ đề dự án và xây dựng kế hoạch: Giáo viên
tạo điều kiện để học sinh đề xuất chủ đề, xác định mục tiêu dự án Học sinh lập
kế hoạch làm việc, phân công lao động Trong giai đoạn này bao gồm:
+ Lựa chọn chủ đề dự án
+ Xây dựng các tiểu chủ đề
+ Xác định kế hoạch thực hiện dự án Chủ đề dự án trước hết phải gắn với các bài học cụ thể trong chương trình nhằm giải quyết một nhiệm vụ nào đó Các nhiệm vụ này phải có ý nghĩa với học sinh, gợi được sự quan tâm và hứng thú của người học Nó có thể khởi đầu bằng một ý tưởng mà học sinh quan tâm
Ví dụ: ô nhiễm môi trường, sử dụng năng lượng sạch, du lịch địa phương, nhà trường, gia đình, Khi lựa chọn chủ đề và xây dựng các tiểu chủ đề để thiết kế
dự án, sơ đồ tư duy là công cụ có hiệu quả để xác định, lựa chọn ý tưởng dự án cũng như những vấn đề cần giải quyết xung quanh chủ đề dự án, nói cách khác
là xác định quy mô nghiên cứu của dự án Khi thiết kế dự án, sơ đồ KWL sẽ
Trang 29hướng dẫn thực hiện việc lựa chọn chủ đề dự án một cách Sơ đồ này đặc biệt thích hợp khi sử dụng trong dạy học dự án ở các lớp tiểu học và trung học cơ sở
Điều đã biết (K) Điều muốn biết (W) Điều đã học được (L)
Khi xây dựng kế hoạch thực hiện dự án, trong giai đoạn này, HS với sự hướng dẫn của GV xây dựng đề cương cũng như kế hoạch cho việc thực hiện dự
án Trong việc xây dựng kế hoạch cần xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm Để thuận lợi khi xây dựng ý tưởng mới xung quanh chủ đề đã lựa chọn nhằm xây dựng kế hoạch thực hiện dự án, giáo viên cũng có thể hướng dẫn học sinh sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi 5W1H Trong các câu hỏi này, câu hỏi Tại sao và Như thế nào là quan trọng nhất Ngoài các chủ đề dự án phải gắn liền với các bài học cụ thể trong chương trình Khi Bộ giáo dục và đào tạo có quyết định dành quĩ thời gian trong chương trình để tổ chức dạy học dự án thì chủ đề dự án
có thể được lựa chọn do sự hấp dẫn với một nhóm học sinh, với cả lớp, hay với một học sinh nhất định Khi đó, bằng việc quan sát và thảo luận trên lớp, giáo viên sẽ phát hiện ra học sinh quan tâm tới vấn đề gì, vấn đề gì thực sự hấp dẫn đối với các em Ngoài ra, cũng còn có các cách làm khác như: hộp thư gợi ý thu thập sáng kiến, đề nghị của học sinh, báo tường – sự kiện mang tính thời sự – thảo luận lấy ý kiến Chủ đề được diễn đạt tốt nhất dưới dạng một vấn đề Nên bắt đầu bằng mộtvấn đề cần phải giải quyết Kết quả cuối cùng của dự án sẽ là lời giải cho vấn đề đó Điều này kích thích học sinh hoạt động, lên kế hoạch và đặt mục tiêu đề ra Có thể dựa vào các ý tưởng sau để không đi chệch hướng khi lựa chọn chủ đề:
+ Đảm bảo đa số học sinh ủng hộ ý tưởng bằng cách kiểm tra xem các chủ
đề nào có liên quan tới nhau và tại sao
+ Xác định một số tiêu chí mà dự án cần đạt được
Ví dụ:
- Câu hỏi/nhiệm vụ đặt ra có phải là một vấn đề hay không?
- Liệu tất cả học sinh đều có thể tham gia được hay không?
- Có thể đạt được sản phẩm cuối cùng hay không?
- Có thể dành một khoảng thời gian nhất định cho dự án hay không?
- Học sinh có thể hoạt động cùng nhau được hay không?
- Có thể học được điều gì đó từ hoạt động dự án hay không?
- Có thể áp dụng sau tuần được hay không?
- Vấn đề có mới mẻ và mang tính thách thức hay không?
- Chi phí như thế nào?
Trang 30- Thực hiện dự án: Học sinh làm việc nhóm và cá nhân theo kế hoạch
Kết hợp lý thuyết và thực hành, tạo ra sản phẩm Quá trình thực hiện dự án bao gồm:
+ Thu thập thông tin
+ Thực hiện điều tra
+ Thảo luận với các thành viên khác
+ Tham vấn giáo viên hướng dẫn
Trong giai đoạn này, dự án được định hình Người học học bằng cách nghiên cứu, biến đổi hoặc tạo ra thông tin mới trong sự hợp tác để đi đến kết quả chung Họ thu thập dữ liệu, tiến hành các thí nghiệm, gặp gỡ các nhân vật cần thiết, phân tích, so sánh, cân, đo, tính toán, viết, vẽ, tranh luận Máy tính cung cấp dữ liệu cập nhật về một số lớn các thông tin và các vấn đề thực tế, tạo thuận lợi cho sự hợp tác giữa các thành viên của cùng lớp học hoặc với các lớp học khác Tổng hợp những đóng góp là một hoạt động cần thiết của việc thực hiện
dự án Hoạt động này thường thể hiện ở hai mặt: việc giới thiệu cho toàn lớp những đóng góp của nhóm nhỏ, đồng thời là dịp để thành viên này hay thành viên khác điều chỉnh bởi chính họ để có sản phẩm của tập thể, của cả lớp Những đóng góp khác nhau sẽ được giới thiệu và mỗi đóng góp nhằm theo đuổi một câu hỏi để mang đến những sản phẩm chung Trong quá trình này, giáo viên tôn trọng về kế hoạch đã xây dựng và sự hợp tác giữa các cá nhân người học nhằm tạo ra một cộng đồng trong đó trung tâm là việc học tập Giáo viên tạo thuận lợi cho sự trao đổi thường xuyên và cởi mở giữa các thành viên, tạo sự tìm kiếm thông tin từ các nguồn tài liệu có sẵn bên cạnh sự chịu trách nhiệm về những nhiệm vụ, mời các nhóm thường xuyên đánh giá sự tiến triển của công việc và tận dụng dịp này để động viên, kích thích, và chỉnh sửa để nhằm đến đích Những chiến lược người học sử dụng cần phải trở thành đối tượng của sự quan sát liên tục của giáo viên Tuy nhiên, tác động của giáo viên cần mang đến một không khí cởi mở Những câu hỏi về các hoạt động của nhóm, về sự chịu trách nhiệm, về phương pháp nghiên cứu, về sự phân biệt giữa cái đúng và cái sai, sẽ dẫn đến những đề nghị hấp dẫn đối với các dự án tương lai
Khi thực hiện dự án, các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã
đề ra cho nhóm và cá nhân, HS thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành Những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau, như:
+ Thu thập các đồ dùng, tài liệu cần thiết
+ Nghiên cứu trong lớp
+ Nghiên cứu trong thư viện
+ Có sự tham gia của phụ huynh học sinh
+ Xin “chuyên gia” tư vấn – viết thư - phỏng vấn - gọi điện thoại xin hẹn - Phiếu hỏi – thu thập tạp chí để tìm thông tin – videos – sách trẻ em - Thu thập các bài báo, chỉnh sửa và viết lại sao cho dễ hiểu
Trong quá trình đó sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra
- Tổng hợp kết quả: Học sinh thu thập sản phẩm, giới thiệu, công bố sản
phẩm dự án Giáo viên và học sinh đánh giá kết quả và quá trình Rút ra kinh nghiệm Tổng hợp kết quả Tổng hợp kết quả bao gồm:
+Thu thập kết quả và công bố sản phẩm
Trang 31+ Đánh giá dự án: Kết quả thực hiện dự án có thể được công bố dưới dạng bài thu hoạch, báo cáo bằngvăn bản, bài trình diễn powerpoint Trong nhiều dự
án, các sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực hành như: mô hình máy phát điện, mô hình mạng điện, Sản phẩm của dự án cũng có thể là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu diễn một vở kịch, việc tổ chức một buổi tuyên truyền nhằm tạo ra các tác động xã hội, phòng triển lãm trưng bày tranh ảnh Sản phẩm của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm học sinh trong một lớp, có thể được giới thiệu trước toàn trường, hay ngoài xã hội Đánh giá dự án do cả GV và HS thực hiện nhằm đánh giá quá trình thực hiện và kết quả cũng như kinh nghiệm đạt được Cần phải trả lời các câu hỏi:
+ Dự án vừa thực hiện có cho phép một sự học tập tích cực hay không? + Trong tương lai dự án có thể thực hiện khác được không?
+ Hướng phát triển tiếp theo của dự án là gì? Do đó cần tiến hành hoạt động xem xét lại dự án: trở lại dự án để thực hiện việc tổng kết và đưa ra các kết luận rộng hơn Nó có thể xoay quanh câu hỏi: Mục đích học tập đạt được hay chưa? Liệu sản phẩm của dự án có dùng được hay không? Những thiếu sót gì đã
bỏ qua? Các yếu tố khác như cảm giác thoải mái của học sinh trong quá trình hoạt động nhóm – thời gian thực hiện dự án – các vấn đề gặp phải và sự hỗ trợ, đều phải được đề cập tới và đánh giá một cách chu đáo Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc phát triển dự án hoặc thực hiện các dự án tiếp theo khác Có những phương pháp đánh giá khác nhau như: trao đổi bằng thư, đánh giá toàn lớp, đánh giá đồng đẳng, tự đánh giá, học sinh nêu câu hỏi, đánh giá các nhóm… Việc phân chia các giai đoạn trên đây chỉ mang tính chất tương đối Trong thực
tế chúng có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau Việc tự kiểm tra, điều chỉnh cần được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của dự án Với những dạng dự án khác nhau có thể xây dựng cấu trúc chi tiết riêng phù hợp với nhiệm vụ dự án
e.4 Ưu điểm, hạn chế của dạy học dự án
Khi áp dụng dạy học dự án, ta có thể thấy những ưu điểm nổi bật như:
- Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học
- Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm, sáng tạo
- Phát triển năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp
- Phát triển năng lực cộng tác làm việc, hỗ trợ kĩ năng giao tiếp
- Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn
- Phát triển năng lực đánh giá
Tuy nhiên, dạy học dự án cũng có những hạn chế và thách thức nhất định:
- Dạy học dự án đòi hỏi nhiều thời gian, không thích hợp trong việc truyền thụ những tri thức lý thuyết có tính hệ thống
- Dự án không khuyến khích thực hiện vào phần kiến thức then chốt được chỉ định phải truyền đạt chính xác, đầy đủ cho người học Giáo viên có thể chọn một vài nội dung học có ý nghĩa thực tiễn cao để dạy theo mô hình này
- Người học không quen với việc chủ động định hướng quá trình học tập nên sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình học tập
- Đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp
- Dự án cần sự tích hợp công nghệ, đặc biệt là CNTT nên đòi hỏi người học phải có kiến thức nền nhất định về tin học
Trang 32- Dạy học dự án yêu cầu giáo viên phải có trình độ chuyên môn cao và nghiệp vụ vững vàng
e.5 Điều kiện thực hiện dạy học dự án có hiệu quả
Bước đầu tiên trong việc thiết kế dự án là phải xác định những chuẩn kiến thức mà giáo viên muốn học sinh của mình đáp ứng được khi hoàn thành dự án Sau đó, từ những chuẩn kiến thức này phát triển các mục tiêu học tập và những câu hỏi có ý nghĩa Cả 3 mục tiêu học tập cần phải nhằm tới đó là: mục tiêu về kiến thức, mục tiêu về kĩ năng và mục tiêu về thái độ Trong đó chú ý thiết lập những mục tiêu tập trung vào tư duy bậc cao chứ không chỉ là những kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin Từ nội dung bài học (thường là những bài học có nhiều ứng dụng trong thực tiễn), giáo viên hình thành ý đồ tổ chức bài học thành
+ Các dự án được khởi đầu bằng một ý tưởng mà các em quan tâm
Ví dụ như: Trường học của tôi; Gia đình tôi; Vấn đề thực phẩm; Du lịch; Hoạt động thể thao,
+ Các dự án liên quan đến việc khai thác, sử dụng năng lượng mặt trời, sức nước, sức gió…
+ Các dự án liên quan đến các ứng dụng của nội dung học trong kĩ thuật
và đời sống (các sản phẩm kĩ thuật thông dụng như: động cơ, máy phát điện, thiết bị điện gia dụng, các máy móc, công cụ lao động, các phương tiện thông tin liên lạc, nghe nhìn…)
+ Các dự án có tính chất tạo mối quan hệ liên môn như sử dụng vật liệu (hóa, lí, công nghệ), các phương tiện kĩ thuật dùng trong ngành y, sinh, môi trường
+ Các dự án có tầm vóc thời đại mang tính liên môn cao có thể thực hiện chung với các môn học khác như: an toàn phóng xạ, chế ngự thiên tai, ngăn ngừa thảm họa, xử lí môi trường
Tóm lại DHDA là một phương pháp dạy học để thực hiện quan điểm dạy học định hướng vào người học, quan điểm dạy học định hướng hoạt động DHDA góp phần gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường
và xã hội, tham gia tích cực vào việc đào tạo năng lực làm việc tự lực, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng tác làm việc của người học Qua nghiên cứu về phương pháp dạy học theo dự án chúng tôi rút ra bảng so sánh về phương pháp dạy học truyền thống
và phương pháp dạy học theo dự án như sau:
So sánh phương pháp dạy học dự án và phương pháp truyền thống
Trang 33PP
Vấn đề
Dạy học truyền thống Dạy học dự án
biết vận dụng kiến thức để giải bài tập
HS hiểu kiến thức, biết vận dụng kiến thức để giải quyết những nhiệm vụ thực tiễn
sở năng lực và hứng thú của HS Phương
pháp
- Người dạy là trung tâm, tổ chức kiến thức thành các nhiệm vụ giao cho học sinh
- GV đưa ra phương pháp làm việc
- Hiểu biết mới dẫn đến thành công, sai lầm là không tốt
- Người học là trung tâm, thực hiện các nhiệm vụ dưới sự hỗ trợ của GV để xây dựng kiến thức cho mình
- HS tự lựa chọn phương pháp làm việc và có thể làm trong hoặc ngoài trường học
- Thành công sẽ dẫn đến hiểu biết, sai lầm là bình thường Phương tiện - Có sẵn và do giáo viên lựa
- HS hình dung trước về sản phẩm và hiện thực hóa nó trong quá trình học
- Đánh giá là việc của GV
- Được thực hiện trong suốt quá trình học tập
- Bao gồm đánh giá của GV, tự đánh giá của HS và đánh giá lẫn nhau giữa các HS
Dưới đây chúng tôi xin phép giới thiệu một số dự án hoàn chỉnh mà
chúng tôi đã xây dựng và thực hiện
CHỦ ĐỀ: Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG VÀ SỨC KHOẺ CỦA CHÚNG TA
Trang 34+ Học sinh chỉ ra được việc những hậu quả của việc chặt phá rừng;
+ Giải thích được sử dụng quá mức năng lượng và các nguồn tài nguyên khác dẫn đến cạn kiệt tài nguyên và suy thoái môi trường;
+ Hiểu được sự tăng dân số, công nghiệp hóa và đô thị hóa, đã làm suy thoái môi trường;
+ Giải thích được nguyên nhân của các hiện tượng hiệu ứng nhà kính, thủng tầng ozon, mưa axit và hậu quả của chúng
- Nêu được khái niệm ô nhiễm môi trường
- Nêu được một số chất gây ô nhiễm môi trường: các khí thải công nghiệp, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, các tác nhân gây đột biến
- Nêu được hậu quả của ô nhiễm ảnh hưởng tới sức khỏe, gây ra nhiều bệnh tật cho con người: các bệnh về hô hấp, tiêu hóa, các bệnh truyền nhiễm, các
bệnh nan y
- Nêu được các biện pháp của con người nhằm khắc phục ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường
b Môn hóa học:
- Học sinh hiểu được: nguyên nhân gây ra hiện tượng mưa axit là do các khí
SO2, NOx được sinh ra trong quá trình đốt các nhiên liệu tự nhiên Khi mưa xuống các khí này hòa tan với nước mưa, theo nước mưa ngấm xuống đất làm thay đổi độ pH của đất
- Học sinh nêu được CO2 được thải ra do các hoạt động của con người là nguyên nhân chính gây nên hiện tượng hiệu ứng nhà kính
- Học sinh biết tác hại của việc lạm dụng, sử dụng không đúng cách các chất kích thích, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật
- Học sinh biết được vai trò của nước, không khí đối với con người và các sinh vật Nhận biết được không khí sạch, nước sạch
- Học sinh biết được nguyên nhân của hiện tượng thủng tầng ozon là do chất CFC- một chất hóa học thải ra do các loại máy điều hóa, tủ lạnh…
- Học sinh biết được các hợp chất polime cũng là tác nhân gây ô nhiễm môi trường
c Môn lịch sử:
Học sinh nêu được lịch sử phát triển của con người qua các giai đoạn và tác động của con người đến môi trường qua các giai đoạn lịch sử
d Môn địa lý:
Trang 35Hiểu được vấn đề sức ép của dân số và các hoạt động kinh tế của con người
đã ảnh hưởng tới tài nguyên, môi trường như thế nào
e Môn vật lý:
Học sinh biết được ảnh hưởng của chất phóng xạ lên đời sống con người và các sinh vật
2 Kỹ năng
- Kĩ năng nghiên cứu khoa học
- Kỹ năngthu thập, thống kê, phân tích số liệu
- Kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin
- Kỹ năng tra cứu tài liệu, kĩ năng viết và trình bày báo cáo
- Kỹ năng vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống thực tiễn tại địa phương
- Kỹ năng làm việc theo nhóm
- Kỹ năng thuyết trình trước lớp
4 Định hướng các năng lực cần hình thành cho học sinh
- Năng lực giải quyết vấn đề
- Năng lực giao tiếp
- Năng lực hợp tác
- Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ
- Năng lực tự học
II Đối tượng dạy học của bài học
- Học sinh: khối 9 trường THCS Nghĩa Hưng và khối 9 trường THCS Hoàng Nam
+ Số học sinh: 96
Trang 36III Ý nghĩa của bài học
- Trong dạy học, giáo dục:
+ Qua việc thực hiện dự án, học sinh sẽ được làm việc độc lập, chủ động tìm
ra các kiến thức mới phục vụ cho bài học, từ đó củng cố và khắc sâu hơn những kiến thức đã được học
+ Đặc biệt, việc học qua dự án, giúp các em củng cố những kĩ năng trong quá trình học tập như thu thập, thống kê, phân tích số liệu, sử dụng công nghệ thông tin, tra cứu tài liệu
+ Học sinh bước đầu làm quen với việc nghiên cứu khoa học
+ Học sinh biết cách tự tổ chức các sự kiện, biết cách thức triển khai một dự
án như thế nào…
- Trong thực tiễn đời sống:
+ Rèn cho học sinh nhiều kĩ năng sống: Tìm kiếm và xử lí thông tin, kĩ năng nghiên cứu khoa học, kĩ năng giao tiếp, làm việc tập thể, ngoại giao để tìm kiếm thông tin, kĩ năng trình bày, diễn thuyết trước tập thể từ đó rèn tính tự tin, bản lĩnh hoạt động độc lập cho học sinh
+ Giáo dục cho học sinh kĩ năng sống ứng phó với biến đổi khí hậu, hình thành ý thức bảo vệ môi trường sống
IV Thiết bị dạy học, học liệu
1 Phương tiện dạy học
- Các phần mềm ứng dụng như Word, PowerPoint; phần mềm xử lý ảnh, phần mềm vẽ sơ đồ tư duy Imindmap, trình duyệt Web…
- Các thiết bị được sử dụng như: máy tính, máy in, máy chiếu, máy quay- chụp ảnh
- Các hình ảnh, đoạn video liên quan đến nội dung bài học…
2 Các phương pháp và kỹ thuật dạy học
- Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề
- Phương pháp dạy học theo dự án
- Kỹ thuật đặt câu hỏi
- Kỹ thuật động não
- Kỹ thuật chia nhóm
- Kỹ thuật KWL
Trang 373 Chuẩn bị
a Chuẩn bị của giáo viên
- Sách giáo khoa, sách giáo viên sinh học 9
- Một số tài liệu (tài liệu chuẩn KT – KN, tài liệu về các PP dạy học tích cực, tài liệu đổi mới KT - ĐG theo định hướng phát triển năng lực học sinh)
- Phiếu định hướng nội dung học tập
- Phiếu đánh giá học sinh, phiếu hướng dẫn chi tiết việc đánh giá học sinh
- Phiếu điều tra nhu cầu học sinh
b Chuẩn bị của học sinh
- Xem trước bài học, sưu tầm thông tin về vấn đề con người và môi trường
- Hoàn thành phiếu điều tra nhu cầu học sinh (Phiếu số 1) (Nộp trước tiết học đầu tiên của chủ đề):
PHIẾU ĐIỀU TRA NHU CẦU CỦA HỌC SINH
(Trước khi thực hiện dự án)
2 Em muốn đóng vai trò nào sau đây?
1 Đoàn TNCS Hồ Chí Minh triển khai “Chiến lược Bảo
vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030” của Bộ Tài nguyên Môi trường
2 Đội Xung kích măng non của nhà trường xây dựng
một tiểu phẩm tuyên truyền giáo dục môi trường cho các
bạn đội viên
3 Trưởng ban khoa giáo Đài truyền hình Việt Nam xây
dựng một bộ phim nhằm giáo dục môi trường cho mọi
người
4 Nhà khoa học phân tích, đánh giá ảnh hưởng các tác
Trang 38động của con người đến môi trường từ đó đưa ra các giải
pháp tốt nhất để hạn chế các tác động xấu đó
3 Mong muốn của em khi tham gia vào dự án học tập:
GV dựa vào năng lực và sở thích của HS để phân HS vào các nhóm cho phù hợp
V HOẠT ĐỘNG VÀ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1 Lập kế hoạch dạy học cho chủ đề
- Thực hiện hoạt động 2: Giới thiệu dự
án và chuyển giao nhiệm vụ
+ Giới thiệu dự án A
+ Tổ chức chia nhóm, giao nhiệm vụ từng nhóm
Trang 39-Thực hiện hoạt động 3: Triển khai dự
án A
+ Trong tiết này học sinh lên kế hoạch thực hiện dự án, phân công nhiệm vụ cho từng thành viên (diễn ra trên lớp) + Học sinh sẽ thực hiện nhiệm vụ của mình được giao trong dự án (diễn ra ngoài giờ lên lớp) trong thời gian là 2 tuần
- Tiết 2 (Diễn ra sau 2 tuần kể từ khi kết thúc tiết 1)
Thực hiện hoạt động 4: Kết thúc dự án A (phần I)
Nhóm 1 và 4 báo cáo dự án nhóm mình thực hiện sau đó các nhóm khác đánh giá
Trang 40+ Học sinh sẽ thực hiện nhiệm vụ của mình được giao dự án (diễn ra ngoài giờ lên lớp)
Trong quá trình thực hiện, GV theo dõi, đôn đốc HS, định kỳ kiểm tra tiến
độ thực hiện Các nhóm trao đổi, chia sẻ, thông báo cho nhau về những công việc (kết quả) đã thực hiện được GV gặp HS theo lịch để giải đáp các câu hỏi
và hỗ trợ HS về công nghệ
3.Tiến trình dạy học của chủ đề:
DỰ ÁN A: “Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sức khoẻ của chúng ta”
Hoạt động 1: Khái quát nội dung của chủ đề
Mục tiêu: HS biết được một cách khái quát các vấn đề cần nghiên cứu
của chủ đề “Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sức khoẻ của chúng ta”
Phương pháp dạy học: Phương pháp vấn đáp
Kĩ thuật dạy học: Kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ thuật động não, kĩ thuật KWL Hình thức tổ chức: Hoạt động nhóm, hoạt động cá nhân
Hoạt động của giáo viên Hoạt động
của học sinh
Nội dung
- Ôn định lớp học