1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

sáng kiến kinh nghiệm sinh học thcs

119 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Dục Kiến Thức Sinh Sản Cho Học Sinh
Chuyên ngành Sinh Học
Thể loại Báo Cáo Sáng Kiến
Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 7,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi dạy học môn sinh học, giáo viên không chỉ giúp học sinh hiểu được kiến thức sinh học mà quan trọng hơn là giúp các em nhận thức được kiến thức đó có vai trò quan trọng như thế nào vớ

Trang 1

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

I Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến

Nghị quyết 29 - NQ/TW hội nghị lần thứ VIII ngày 04/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã khẳng định: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong kinh

tế thị trường theo định hướng XHCN và hội nhập quốc tế Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc, tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích năng lực tự học, sáng tạo của học sinh…Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu quả

Đây chính là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp thiết của ngành Giáo dục

và đào tạo nói chung, các nhà trường phổ thông nói riêng Nói cách khác, mục tiêu dạy học hiện nay trong nhà trường là phát huy được phẩm chất, năng lực của người học, giúp học sinh vận dụng có hiệu quả các kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống Và việc dạy môn sinh học trong nhà trường cũng không nằm ngoài định hướng đó

Môn sinh học trong nhà trường là môn học có sứ mệnh đặc biệt Đây là môn học góp phần hình thành và phát triển ở học sinh năng lực, kiến thức sinh học, năng lực tìm tòi, khám phá thế giới sống, năng lực vận dụng, ứng dụng kiến thức sinh học, những tiến bộ trong công nghệ sinh học vào thực tiễn cuộc sống

Khi dạy học môn sinh học, giáo viên không chỉ giúp học sinh hiểu được kiến thức sinh học mà quan trọng hơn là giúp các em nhận thức được kiến thức đó có vai trò quan trọng như thế nào với bản thân, với cộng đồng, xã hội Để rồi từ việc chiếm lĩnh kiến thức sinh học đó học sinh biết vận dụng vào cuộc sống, vào thực tiễn của bản thân, của mọi người, của cộng đồng Một trong nhiều kiến thức quan trọng mà giáo viên cần giáo dục cho học sinh là kiến thức sinh sản Kiến thức sinh sản là kiến thức vô cùng quan trọng và cần thiết đối với tất

cả mọi người trong đời sống.Kiến thức đó được giáo dục ở mọi lứa tuổi theo từng giai đoạn phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý của con người Giáo dục kiến thức sinh sản đang là thách thức lớn, là vấn đề nóng bỏng đối với nhóm dân

số đặc thù: Vị thành niên, bởi đây là nguồn nhân lực đặc biệt quan trọng, nguồn nhân lực kế cận trong xã hội Nếu không có kiến thức về sức khỏe sinh sản thì trẻ vị thành niên sẽ có những hành vi lệch lạc so với chuẩn mực văn hóa, thậm chí vi phạm pháp luật, gây mất trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng

Trang 3

đến tương lai giống nòi Vì thế giáo dục sức khỏe sinh sản cho trẻ vị thành niên nói chung, học sinh nói riêng cần có sự chung tay của mỗi gia đình, nhà trường

và toàn xã hội

Muốn thực hiện được điều đó thì việc phổ biến các kiến thức chuyên môn về

cơ thể học, sinh lí học, tâm lí học và các quan điểm về đời sống tình dục phải được trình bày một cách công khai, và kết hợp một cách nhuần nhuyễn, chuẩn mực, hài hòa

Như vậy: Giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản hiện nay đã trở thành một nhu cầu cấp bách của xã hội Nhưng trong nhà trường hiện nay việc giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản chỉ dừng ở mức lồng ghép vào một số tiết cuả một

số môn học, chỉ dừng lại ở việc cung cấp cho học sinh những thông tin cơ bản

về đặc điểm các cơ quan sinh dục, các biện pháp tình dục an toàn để tránh có thai ngoài ý muốn và tránh các bệnh lây qua đường sinh dục Còn ngoài xã hội, các cơ sở tôn giáo, trong các câu lạc bộ hôn nhân và gia đình chỉ đề cập một cách chung chung, chưa giám trình bày một cách rõ ràng, khoa học Theo tôi đó không phải là giáo dục kiến thức sinh sản một cách đích thực

Muốn giáo dục kiến thức sinh sản một cách đích thực thì bản thân người dạy

và người học phải có nhu cầu tìm hiểu và mong muốn Vì thế, trong các môn học trong trường trung học cơ sở môn sinh học lớp 8 là môn học được xây dựng dạy cho học sinh kiến thức về sinh sản Về cơ bản, phần kiến thức này trong môn sinh học lớp 8 có thể giúp các em có hiểu biết về sự phát triển cơ thể đồng thời có ý thức vệ sinh bảo vệ cơ thể, sống lành mạnh, có phẩm chất đạo đức cao đẹp, có kĩ năng sống tốt đẹp

Tuy nhiên, trong những năm qua, do nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân khách quan ( do những yêu cầu mới của xã hội), có nguyên nhân chủ quan (do nhận thức, quan niệm còn lệch lạc) việc dạy và việc học môn sinh học ở các cấp học hiện nay, đặc biệt là cấp THCS còn gặp nhiều khó khăn, việc giáo dục giới tính và kiến thức sinh sản ở cấp này cũng còn nhiều tồn tại cần phải khắc phục ? Hơn nữa vấn đề giới tính, vấn đề về sức khỏe sinh sảnvẫn được coi là vấn

đề “nhạy cảm”, “khó nói” của nhiều học sinh Nhiều em thu mình lại, né tránh Một số em lại học để làm theo người khác mà không biết đúng hay sai Các em cũng không dám tâm sự những băn khoăn, thắc mắc của mình với ai Một phần

vì e dè, ngại ngùng, phần khác các em cũng khó khăn trong tìm được người tin cậy để chia sẻ…

Vậy làm thế nào để giáo dục cho học sinh kiến thức sinh sản đạt hiệu quả ? Làm thế nào giúp các em hiểu, vận dụng đúng đắn kiến thức sinh sản đã được học vào trong đời sống mà phát huy được tốt nhất phẩm chất và năng lực của mỗi cá nhân ? Làm thế nào để các em tự tin chia sẻ những hiểu biết của mình về

Trang 4

sức khỏe sinh sản vừa để giúp bảo vệ bản thân, vừa giúp cho bạn bè cùng trang lứa tránh khỏi những nguy hại với bản thân ? Đó là câu hỏi cần phải có lời giải đáp, cũng là những trăn trở của tôi trong nhiều năm qua khi dạy môn sinh học tại trường THCS Thịnh Long

Từ những lý do trên tôi đã đầu tư thời gian nghiên cứu và có sáng kiến:

“Giáo dục kiến thức sinh sản theo định hướng phát triển phẩm chất và năng

lực cho học sinh lớp 8 ở trường THCS”

II Mô tả giải pháp

1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến

Trước khi có sáng kiến tôi đã đi sâu nghiên cứu thực trạng về vấn đề giáo dục kiến thức sinh sản cho học sinh THCS nói chung, học sinh lớp 8 ở trường THCS nói riêng

Theo tổ chức Y tế thế giới WHO: Sức khỏe sinh sản là trạng thái khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và hòa hợp xã hội về tất cả các phương diện liên quan đến hệ thống sinh sản trong các giai đoạn của cuộc đời Sức khỏe sinh sản

là vấn đề mà tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm và coi trọng Với nhiều quốc gia phát triển, đặc biệt là các nước phương Tây, họ có quan niệm phóng khoáng về tình yêu, về quan hệ tình dục… cả hai phía nam và nữ đều chủ động trong mối quan hệ của mình Vì vậy, bản thân họ có kiến thức đầy đủ, sâu sắc hơn, có kĩ năng cần thiết để bảo vệ bản thân và sức khỏe sinh sản cá nhân

Ở các nước Phương Đông và ở Việt Nam quan niệm về tình yêu, về quan hệ tình dục có điểm khác biệt: Tình yêu là cơ sở quan trọng của hôn nhân, hôn nhân

là kết quả của tình yêu, còn tình dục là sản phẩm của tình yêu Quan hệ tình dục khi yêu và trước hôn nhân bị coi là hành động sai trái…Vì vậy nói đến sức khỏe sinh sản, tình dục họ thường dè dặt, thiếu tự tin nên dẫn tới thiếu kiến thức, thiếu

kĩ năng để bảo vệ bản thân

Thực tiễn cho thấy: Thanh niên Việt Nam lập gia đình ở độ tuổi muộn hơn

và gia tăng quan hệ tình dục trước hôn nhân Tỷ lệ lây nhiễm qua đường tình dục tăng lên 10 lần trong thập kỷ qua Thách thức lớn nhất trong vấn đề sức khỏe sinh sản chính là việc nạo phá thai, vấn đề mang thai ngoài ý muốn ở độ tuổi vị thành niên, trong đó có học sinh THCS

Vị thành niên Việt Nam, trong đó nhóm dân số từ 10-14 tuổi theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới chiếm khoảng 22% dân số Đây là độ tuổi của học sinh đang học tại các trường THCS Mặc dù đã nỗ lực tuyên truyền giáo dục song tình trạng quan hệ sớm, xâm hại tình dục, quan hệ tình dục không an toàn, mang thai ngoài ý muốn và phá thai không an toàn, nguy cơ lây nhiễm bệnh tình dục, nhiễm HIV nhóm dân số này đang có xu hướng tăng

Trang 5

Chính vì thế đã từ rất lâu, Nhà nước Việt Nam đã quan tâm tuyên truyền giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên Đảng ta đã xác định: Chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên vì tương lai giống nòi Đây chính

là chủ đề của tháng hành động quốc gia về dân số và ngày dân số Việt Nam năm

2018 được Bộ Y tế phát động.Vấn đề sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên cũng được Bộ Y tế xác định là nội dung ưu tiên trong chiến lược dân số- sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020.Bởi vì vị thành niênlà yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực và tương lai của giống nòi

Việc dạy kiến thức sinh sản cho nhóm dân số nói trên cũng được Bộ Giáo Dục quan tâm chỉ đạo trong các nhà trường, từ việc chỉ đạo dạy kiến thức về giới tính và sức khỏe sinh sản trong chương trình dạy học bắt buộc của môn sinh học đến việc tích hợp trong các môn học khác như: môn Giáo dục thể chất, Giáo dục công dân… đến chương trình hoạt động ngoài giờ lên lớp…Tuy nhiên khi triển khai dạy học một số nhà trường chưa quan tâm một cách đúng mực, giáo viên còn lúng túng trong lựa chọn phương pháp giảng dạy, việc dạy lồng ghép

và ngoại khóa nhiều khi cũng mang tính hình thức Việc triển khai dạy học còn mang nặng tính lý thuyết hàn lâm.Bởi vậy hiệu quả giáo dục kiến thức sinh sản còn rất nhiều hạn chế

Qua 10 năm công tác và giảng daỵ môn sinh học lớp 8 tại trường trung học

cơ sở Thịnh Long tôi nhận thấy rằng:

Trường THCS Thịnh Long có truyền thống dạy tốt, học tốt Đội ngũ giáo viên trong nhà trường có trình độ chuyên môn vững vàng, nhiệt tình trách nhiệm trong công tác Cơ sở vật chất nhà trường khá đầy đủ và đồng bộ tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy và học các môn học, đặc biệt là các môn có thời gian thực hành cao và được bố trí dạy học tại phòng bộ môn như môn sinh học

Bản thân tôi và các giáo viên dạy bộ môn sinh học luôn có ý thức tự giác, học hỏi đồng nghiệp để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao chất lượng giảng dạy có tinh thần trách nhiệm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Tuy vậy kết quả dạy và học bộ môn đôi lúc còn hạn chế.Việc giáo dục giới tính

và sức khỏe sinh sản cho học sinh cũng đạt hiệu quả chưa cao

Học sinh trường THCS Thịnh Long phần lớn đều ngoan, có ý thức học tập tốt Học sinh lớp 8 của nhà trường đang trong độ tuổi 13-14, tuổi vị thành niên, đang bước vào tuổi dậy thì có sự thay đổi về cơ thể, tâm lý, sinh lí Nhiều học sinh dậy thì sớm, thể chất phát triển, chiều cao trung bình của học sinh khối 8 nhà trường nữ là 158 cm; nam 160cm; cân nặng trung bình: nữ là 49 kg, nam là

53 kg nhưng lại chưa có đầy đủ kiến thức về sự phát triển thể chất của bản thân, nhất là vấn đề sức khỏe sinh sản, thậm chí có thể nói là còn thiếu kiến thức Để

Trang 6

nghiên cứu của mình mang tính thực tiễn, tôi tiến hành các khảo sát lấy ý kiến của giáo viên và học sinh Dưới đây là một vài khảo sát về kiến thức giới tính và kiến thức sinh sản, về nhận thức và kĩ năng ứng phó của các em học sinh trường THCS Thịnh Long

PHIẾU KHẢO SÁT SỐ 1(Phiếu khảo sát dành cho học sinh)

- Mục đích khảo sát: Tìm hiểu hiểu biết của học sinh về tuổi dậy thì, về sự phát triển thể chất của bản thân

- Đối tượng khảo sát: Học sinh khối 8 trường THCS Thịnh Long

- Số lượng khảo sát: 240 học sinh

- Thời gian khảo sát: Tháng 9 năm học 2019- 2020

- Phương pháp khảo sát

+ Phương pháp quan sát khoa học: Thu nhận thông tin về học sinh bằng tri giác trực tiếp và các nhân tố khác có liên quan đến học sinh Trên cơ sở đó để xây dựng lý thuyết và kiểm tra lý luận bằng thực tiễn

+ Phương pháp điều tra bảng hỏi:Tham khảo tài liệu, từ đó xây dựng bảng hỏi

để điều tra thực trạng hiểu biết về kiến thức sinh sản

+ Phương pháp xử lý số liệu, phân tích, tổng hợp: Thông qua những số liệu thu thập được cùng với các kết quả đánh giá, đưa ra những kết luận bổ ích cho thực tiễn, tìm được nguyên nhân, nghiên cứu giải pháp thực tiễn áp dụng để tìm ra giải pháp thích hợp

- Thang đo: tính tỉ lệ % theo số lượng khảo sát

Phiếu khảo sát dành cho học sinh nữ

Em hãy cho biết ý kiến của bản thân bằng cách tích dấu x vào ô ý kiến

( Biết/ không biết) để thể hiện sự hiểu biết của bản thân về tuổi dậy thì

TT Những thay đổi về thể chất ở tuổi dậy thì

Ý kiến Biết Không biết

1 Thay đổi về chiều cao, cân nặng

2 Tuyến vú phát triển( Ngực to ra)

3 Khung chậu phát triển (Mông to ra)

4 Đùi thon

5 Bộ phận sinh dục phát triển ( Âm hộ, âm đạo to ra…)

6 Có kinh nguyệt

Trang 7

Phiếu khảo sát dành cho học sinh nam

Em hãy cho biết ý kiến của bản thân bằng cách tích dấu x vào ô ý kiến ( Biết/ không biết) để thể hiện sự hiểu biết của bản thân về tuổi dậy thì

TT Những thay đổi về thể chất ở tuổi dậy thì

3 Giọng nói thay đổi

4 Tuyến bã, tuyến mồ hôi phát triển

5 Ngực và hai vai phát triển

6 Các cơ rắn chắc

7 Lông trên cơ thể phát triển

8 Dương vật và tinh hoàn phát triển

9 Bắt đầu xuất tinh

Kết quả đạt được như sau:

- Kết quả khảo sát ý kiến đối với học sinh nữ ( Tính theo tỉ lệ %)

TT Những thay đổi về thể chất ở tuổi dậy thì

Ý kiến (%)

Biết Không

biết

5 Bộ phận sinh dục phát triển ( Âm hộ, âm đạo to ra…) 65 35

Trang 8

Kết quả khảo sát hiểu biết của học sinh nam ( Tính theo tỉ lệ %)

TT Những thay đổi về thể chất ở tuổi dậy thì

Ý kiến (%) Biết Không

biết

8 Dương vật và tinh hoàn phát triển 63,5 36,5

Như vậy có thể nhận thấy: Đa số học sinh biết được những thay đổi về thể chất, rõ nhất là “thay đổi về chiều cao và cân nặng” với tỷ lệ 95 % đối với cả học sinh nam và học sinh nữ Tuy nhiên do đặc điểm về giới nên học sinh nam quan tâm đến sự thay đổi về chất thấp hơn học sinh nữ Học sinh nam nhận ra dấu hiệu “ Bắt đầu xuất tinhcó tỉ lệ hiểu biết thấp chỉ chiếm 22 %

PHIẾU KHẢO SÁT SỐ 2 (Phiếu khảo sát dành cho học sinh)

Em hãy cho biết ý kiến của bản thân bằng cách tích dấu x vào ô ý kiến (có/ không) để thể hiện sự hiểu biết của bản thân về sự thay đổi tâm lý, sinh lý ở tuổi dậy thì

TT

Những thay đổi về tâm lý, sinh lý ở tuổi dậy thì

Ý kiến

Có Không

1 Cố gắng làm được những điều mình mong muốn

2 Thường đặt ra câu hỏi: Tôi là ai ? Tôi có thể làm gì ?

3 Cảm thấy mình không còn là trẻ con

4 Muốn được đối xử như người lớn

5 Muốn thoát khỏi sự ràng buộc của gia đình, thầy cô

6 Có tình cảm với người khác giới

Trang 9

Kết quả thu được sau khảo sát về hiểu biết của học sinh về sự thay đổi tâm sinh

lý của bản thân ( Tính theo tỷ lệ %)

TT Những thay đổi về tâm lý, sinh lý ở tuổi dậy thì

Ý kiến (%)

Có Không

1 Cố gắng làm được những điều mình mong muốn 65 35

2 Thường đặt ra câu hỏi: Tôi là ai ? Tôi có thể làm gì ? 42 58

5 Muốn thoát khỏi sự ràng buộc của gia đình, thầy cô 87 13

Từ bảng kết quả trên ta cũng thấy được phần lớn học sinh biết được cùng với sự thay đổi về thể chất là sự thay sinh lí và tâm lí khi bước vào tuổi dậy thì.85% học sinh cho rằng mình không còn là trẻ con, muốn mình được đối xử như người lớn 87 % học sinh muốn tìm sự tự do cho bản thân mà không có sự ràng buộc của người lớn Cũng 87 % học sinh được hỏi ý kiến có tình cảm với người khác giới, nhiều học sinh ngộ nhận đó là tình yêu Tóm lại, học sinh có sự thay đổi lớn về tâm lý và sinh lý

PHIẾU KHẢO SÁT SỐ 3(Phiếu khảo sát dành cho học sinh)

Em hãy cho biết ý kiến của bản thân bằng cách tích dấu x vào ô ý kiến (Nên/ không nên) để thể hiện nhận thức của bản thân về tình yêu và sức khỏe sinh sản

TT Hành vi

Ý kiến

Nên Không

nên

1 Yêu ở độ tuổi vị thành niên

2 Quan hệ tình dục khi yêu

3 Mang thai ở tuổi vị thành niên

Kết quả đạt được (Tính theo tỷ lệ %)

Trang 10

TT Hành vi Ý kiến (%)

Nên Không

nên

Trong 240 học sinh được khảo sát ý kiến cho thấy: Khi muốn làm người lớn học sinh cũng có mong muốn yêu ở tuổi vị thành niên với tỷ lệ cao là 85 % 55% cho rằng nên quan hệ tình dục khi yêu ở tuổi vị thành niên mà đáng lẽ ra phải nhận thức được là không nên Vẫn còn 20 % cho là mang thai ở tuổi vị thành niên là không sao mà không hiểu hết được tác hại của việc đó

Từ kết quả khảo sát về nhận thức của học sinh về hành vi và sức khỏe sinh sản, tôi tiếp tục tiến hành khảo sát nhận thức của học sinh về hậu quả của quan hệ tình dục tuổi vị thành niên

PHIẾU KHẢO SÁT SỐ 4(Phiếu khảo sát dành cho học sinh)

Em hãy cho biết ý kiến của bản thân bằng cách tích dấu x vào ô ý kiến (Đồng ý/ không đồng ý) để thể hiện sự hiểu biết của bản thân về hậu quả của việc quan hệ tình dục tuổi vị thành niên

TT

Hậu quả của việc quan hệ tình dục tuổi vị thành niên

Ý kiến Đồng

ý

Không đồng ý

1 Mang thai ngoài ý muốn

2 Dễ bị sảy thai, đẻ non, tăng nguy cơ tử vong ở người mẹ

3 Sinh con phải phấu thuật do khung xương chậu chưa phát

triển

4 Trẻ sinh thiếu cân, suy dinh dưỡng

5 Phá thai, gặp tai biến dẫn đến vô sinh

Trang 11

6 Mắc các bệnh lây qua đường tình dục

7 Bỏ học giữa chừng, ảnh hưởng tới tương lai

biết

2 Dễ bị sảy thai, đẻ non, tăng nguy cơ tử vong ở người mẹ 31 69

3 Sinh con phải phẫu thuật do khung xương chậu chưa phát

triển

22,5 77,5

5 Phá thai, gặp tai biến dẫn đến vô sinh 40 60

7 Bỏ học giữa chừng, ảnh hưởng tới tương lai 55 45

PHIẾU KHẢO SÁT SỐ 5 (Phiếu khảo sát dành cho học sinh nữ)

Trang 12

Em hãy cho biết ý kiến của bản thân bằng cách tích dấu x vào ô ý kiến (Biết/ không biết) để thể hiện sự hiểu biết của bản thân về việc chăm sóc sức khỏe sinh sản tuổi vị thành niên

TT Chăm sóc sức khỏe sinh sản

Ý kiến

Biết Không

biết

1 Vệ sinh cá nhân, vệ sinh kinh nguyệt

2 Uống bổ sung viên sắt

3 Chủ động tìm hiểu kiến thức sinh sản qua cha mẹ, thầy cô,

người thân, bạn bè…

4 Phân biệt tình yêu và tình bạn khác giới

5 Tránh xa sách báo, phim ảnh đồi trụy, thuốc lá, rượu bia,

ma túy…

6 Không quan hệ tình dục trước tuổi trưởng thành

PHIẾU KHẢO SÁT SỐ 5 (Phiếu khảo sát dành cho học sinh nam)

Em hãy cho biết ý kiến của bản thân bằng cách tích dấu x vào ô ý kiến (Biết/ không biết) để thể hiện sự hiểu biết của bản thân về việc chăm sóc sức khỏe sinh sản tuổi vị thành niên

TT Chăm sóc sức khỏe sinh sản

2 Không mặc quần lót bó quá sát

3 Chủ động tìm hiểu kiến thức sinh sản qua cha mẹ, thầy cô,

người thân, bạn bè…

4 Phân biệt tình yêu và tình bạn khác giới

Trang 13

5 Tránh xa sách báo, phim ảnh đồi trụy, thuốc lá, rượu bia,

ma túy…

6 Không quan hệ tình dục trước tuổi trưởng thành

Kết quả khảo sát:

+ Kết quả khảo sát dành cho học sinh nữ ( Tính theo tỷ lệ %)

TT Chăm sóc sức khỏe sinh sản

Ý kiến

Biết Không

biết

3 Chủ động tìm hiểu kiến thức sinh sản qua cha mẹ, thầy cô,

người thân, bạn bè…

4 Phân biệt tình yêu và tình bạn khác giới 22 88

5 Tránh xa sách báo, phim ảnh đồi trụy, thuốc lá, rượu bia,

ma túy…

6 Không quan hệ tình dục trước tuổi trưởng thành 52 48

+ Kết quả khảo sát dành cho học sinh nam ( Tính theo tỷ lệ %)

3 Chủ động tìm hiểu kiến thức sinh sản qua cha mẹ, thầy cô,

người thân, bạn bè…

Trang 14

4 Phân biệt tình yêu và tình bạn khác giới 20 80

5 Tránh xa sách báo, phim ảnh đồi trụy, thuốc lá, rượu bia,

ma túy…

6 Không quan hệ tình dục trước tuổi trưởng thành 55 45

Qua kết quả khảo sát về kĩ năng chăm sóc sức khỏe sinh sản tuổi vị thành niên của học sinh khối 8 tôi nhận ra: học sinh biết phải vệ sinh cá nhân nhưng việc vệ sinh cơ quan sinh dục khi có kinh nguyệt (với nữ): 40 % , không phát hiện ra những bất thường ở cơ quan sinh dục (với nam): 50 % Các em cũng e

dè, ngại ngùng, không dám chủ động, thậm chí dấu diếm người khác Các em không dám hỏi ý kiến của cha mẹ, thầy cô, người thân, bạn bè 80% học sinh không phân biệt được tình yêu và tình bạn khác giới.Một nửa số học sinh được hỏi ý kiến không thấy được tác hại của phim ảnh, sách báo đồi trụy hay là tác hại của các chất kích thích Học sinh cũng có những lệch lạc trong nhận thức về hành vi có liên quan đến sức khỏe sinh sản, thiếu kĩ năng bảo vệ bản thân, thiếu

kĩ năng ứng phó với thực tiễn và những vấn đề xảy ra trong cuộc sống Chính vì vậy, cần trang bị cho các em những kiến thức sinh sản cụ thể, kĩ năng cụ thể để bảo vệ bản thân, xây dựng một tương lai tốt đẹp

Nhưng nếu cứ để cho học sinh tự tìm hiểu và loay hoay với những thắc mắc của mình về giới tính, về sức khỏe sinh sản thì vấn đề về tương lai giống nòi sẽ như thế nào ?Vấn đề đặt ra là phải có người dẫn đường để các em đúng hướng.Đây là nhiệm vụ của giáo viên, đặc biệt là giáo viên dạy bộ môn sinh học.Vậy người dạy nhận thức về vấn đề này ra sao Dưới đây là khảo sát ý kiến của đồng nghiệp

PHIẾU KHẢO SÁT SỐ 6 (Phiếu khảo sát dành cho giáo viên)

- Mục đích khảo sát: Tìm hiểu quan niệm của giáo viên về việc giáo dục kiến thức sinh sản cho học sinh lớp 8 nói riêng, học sinh THCS nói chung

- Đối tượng khảo sát: GV dạy môn sinh học trường THCS Thịnh Long

- Số lượng khảo sát: 5giáo viên

- Thời gian khảo sát: Tháng 9 năm học 2019- 2020

- Phương pháp khảo sát

+ Phương pháp quan sát khoa học: Thu nhận thông tin về giáo viên bằng tri giác trực tiếp và các nhân tố khác có liên quan Trên cơ sở đó để xây dựng lý thuyết

và kiểm tra lý luận bằng thực tiễn

+ Phương pháp điều tra bảng hỏi:Tham khảo tài liệu, từ đó xây dựng bảng hỏi

để điều tra thực trạng quan niệm về giáo dục kiến thức sinh sản cho học sinh

Trang 15

+ Phương pháp xử lý số liệu, phân tích, tổng hợp: Thông qua những số liệu thu thập được cùng với các kết quả đánh giá, đưa ra những kết luận bổ ích cho thực tiễn, tìm được nguyên nhân, nghiên cứu giải pháp thực tiễn áp dụng để tìm ra giải pháp thích hợp cho việc giáo dục kiến thức sinh sản cho học sinh

- Thang đo: tính tỉ lệ % theo số lượng khảo sát

Đồng chí hãy cho biết ý kiến của bản thân bằng cách tích dấu x vào ô ý kiến (Cần/ không cần) về việc giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh

TT Kiến thức giáo viên cần có Ý kiến

Cần Không

cần

1 Kiến thức về sức khỏe sinh sản

2 Nắm chắc tâm lí học sinh

3 Phân loại được đối tượng học sinh

4 Phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực

5 Các tài liệu tham khảo

6 Sử dụng phương tiện thiết bị dạy học

7 Sử dụng công nghệ thông tin

8 Kĩ năng kiểm tra, đánh giá học sinh

Kết quả khảo sát( tính theo tỷ lệ %)

TT Giáo viên cần có Ý kiến

Cần Không

cần

4 Phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực 100 0

Trang 16

Qua kết quả khảo sát cho 100 % giáo viên được hỏi ý kiến cho rằng: Muốn giáo dục kiến thức sinh sản cho học sinh giáo viên cần có kiến thức về sức khỏe sinh sản, có phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực và phù hợp 80 % giáo viên quan niệm để làm tốt việc giáo dục kiến thức sinh sản cho học sinh thì cần nắm vững tâm lí học sinh, sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học hợp lý, biết vận dụng công nghệ thông tin và các tài liệu phục vụ cho việc giáo dục kiến thức sinh sản của học sinh Các tiêu chí về phân loại đối tượng học sinh, phương pháp, kiểm tra đánh giá chỉ có 60 % giáo viên được hỏi cho là cần thiết

Từ kết quả khảo sát trên tôi tiếp tục tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng trên là:

* Về phía học sinh:

-Thiếu kiến thức về giới tính, thiếu kiến thức sinh sản, sức khỏe sinh sản

- Nhận thức chưa đầy đủ về sinh sản, sức khỏe sinh sản

- Chưa được quan tâm giáo dục kiến thức sinh sản một cách đúng mức

Trang 17

- Áp đặt con cái

* Về phía nhà trường:

- Chưa quan tâm đúng mức đến giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh

- Chưa làm tốt công tác tuyên truyền về giới tính và sức khỏe sinh sản

Các hoạt động của nhà trường chỉ dừng lại ở một số buổi nói chuyện với các chuyên gia về một số vấn đề sức khỏe giới tính, phòng chống HIV/AIDS

- Công tác tư vấn tâm lý học đường chưa hiệu quả

- Việc phối hợp giữa nhà trường và các môi trường giáo dục khác trong giáo dục sức khỏe sinh sản chưa hiệu quả

- Cơ sở vật chất nhà trường hạn hẹp, thiếu động bộ nên ảnh hưởng đến việc tạo điều kiện dạy và học của giáo viên và học sinh trong nhà trường

* Về xã hội

- Ảnh hưởng của Internet, của phim ảnh hiện nay có nhiều nội dung không mang tính định hướng rõ ràng là nguyên nhân khơi dậy, đánh động bản năng tình yêu, tình dục ở học sinh Nhiều clip, video không hay làm cho học sinh tò mò thích khám phá, làm theo, trong đó có cả những phim ảnh sách báo không lành mạnh.-

Do ảnh hưởng của trào lưu giới trẻ hiện nay, yêu sớm, sống thử… ảnh hưởng không nhỏ tới học sinh

- Chạy theo quan niệm cứ thích là quan hệ tình dục, sống buông thả

- Thị trấn Thịnh Long kinh tế du lịch phát triển cũng ảnh hưởng rất lớn đến học sinh

* Đặc điểm môn học:

- Sinh học là môn khoa học thực nghiệm Sinh học 8 lại đề cập đến kiến thức về con người trong đó có kiến thức sinh sản cần đáng quan tâm Ở độ tuổi này, cơ thể các em đang thay đổi mạnh mẽ về tâm sinh lí là vấn đề kích thích nhu cầu tìm hiểu về bản thân nên chú tâm học hỏi về kiến thức sinh sản hơn

* Về phía giáo viên:

- Giáo viên lúng túng trong việc lựa chọn phương pháp dạy học bộ môn Chưa lựa chọn được phương pháp tối ưu để giáo dục kiến thức sinh sản theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực học sinh

- Khi dạy học sinh học môn sinh lớp 8 ở trường THCS, giáo viên thường sử dụng phương pháp trực quan, phương pháp thực hành đi theo con đường tìm tòi, nghiên cứu, tỏ ra có nhiều ưu thế trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo và phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh ở lứa tuổi này (13- 14 tuổi) Hơn nữa trong các tiết dạy sinh học 8 học về cấu tạo sinh lí của các cơ quan bộ phận con

Trang 18

người nhưng giáo viên chỉ đơn thuần cung cấp kiến thức trọng tâm trong sách giáo khoa một cách cứng nhắc làm cho tiết học nặng nề, không gây hứng thú, học sinh chán nản, không tập trung chú ý nghe giảng và kết quả học sinh không tiếp thu được kiên thức bài học

- Việc dạy lồng ghép kĩ năng sống, hay giáo dục kiến thức giới tính, kiến

thức sinh sản chưa hiệu quả

- Thiếu đội ngũ giáo viên chuyên trách về những vấn đề giới tính và sức khỏe sinh sản

- Bản thân giáo viên chưa tự tin để làm tốt công tác giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh Thậm chí còn ngại ngùng

- Chưa xác định đúng đắn vị trí của môn sinh học trong nhà trường

- Chưa xác định đúng vai trò, tầm quan trọng của việc giáo dục kiến thức sinh sản cho học sinh

Từ việc khảo sát thực trạng giáo viên, học sinh và tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng đó tôi đưa ra những giải pháp mới để giáo dục kiến thức sinh sản cho học sinh lớp 8 nói riêng, học sinh THCS Thịnh Long nói chung đạt kết quả cao

2 Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến

2.1 Giải pháp thứ nhất: Cung cấp đầy đủ, hệ thống, chính xác, toàn diện kiến thức sinh sản cho học sinh lớp 8 ở trường trung học cơ sở

Dạy và học môn sinh học như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất ? Dạy thế nào để học sinh thực sự hứng thú say mê học tập và có những kĩ năng bổ ích trong cuộc sống ? Đặc biệt là những kiến thức về giới tính, sinh sản ?

Trước hết giáo viên cung cấp đầy đủ, chính xác kiến thức sinh qua chủ đề

“Sinh sản” trong môn sinh học lớp 8

Chủ đề “Sinh sản” Gồm 6 bài dạy trong 6 tiết

Bài 60 - Tiết 63 – Cơ quan sinh dục nam

Bài 61 - Tiết 64 – Cơ quan sinh dục nữ

Bài 62 - Tiết 65 - Thụ tinh, thụ thai và phát triển của thai

Bài 63 - Tiết 66- Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai

Bài 64 - Tiết 67- Các bệnh lây qua đường sinh dục

Bài 65 - Tiết 68 - Đại dịch AIDS – Thảm họa của loài người

Để thực hiện tốt nhiệm vụ trên, bản thân giáo viên cần có kiến thức về sức khỏe sinh sản, nắm chắc tâm lí của học sinh, khi dạy phân loại được đối tượng

Trang 19

học sinh, vận dụng hợp lý các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, các phương tiện, thiết bị dạy học, thường xuyên cập nhật, bổ sung kiến thức từ các nguồn tài liệu tham khảo, ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin, đổi mới việc kiểm tra, đánh giá học sinh

Vì thế khi dạy chủ đề “Sinh sản” tôi xác định rõ là phải cung cấp kiến thức sinh sản cho học sinh đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng Đó là:

- Giúp học sinh nắm được các bộ phận của cơ quan sinh sản ở nam, nữ; nắm được những thay đổi ở tuổi dậy thì:

+ Ở nam:

(+) Sự sinh tinh

(+) Có khả năng có con

+ Ở nữ:

(+) Sự rụng trứng, hiện tượng kinh nguyệt

(+) Có khả năng mang thai và có con

(+) Dấu hiệu có khả năng mang thai

(+) Biết cách vệ sinh thân thể đặc biệt là nữ ở tuổi dậy vào những ngày có kinh nguyệt

- Giúp học sinh hiểu, nắm được điều kiện để trứng được thụ tinh và phát triển thành thai Cụ thể là:

+ Trứng gặp được tinh trùng

+ Trứng đã thụ tinh bám và làm tổ trong niêm mạc tử cung

- Giúp học sinh hiểu được các biện pháp tránh thai và giải thích cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai:

+ Ngăn ngừa trứng chín và rụng

+ Ngăn không cho tinh trùng gặp trứng

+ Ngăn không cho trứng đã thụ tinh làm tổ

- Giúp học sinh hiểu rõ các dụng cụ và phương tiện tránh thai phù hợp

- Học sinh thấy rõ nguy cơ có thai ở tuổi vị thành niên Hậu quả của việc có thai ở tuổi vị thành niên

+ Ảnh hưởng tới sức khỏe

+ Ảnh hưởng tới tinh thần

+ Ảnh hưởng tới vị thế xã hội

Trang 20

+ Ảnh hưởng tới tương lai giống nòi

- Giúp học sinh tự ý thức về cách sống, các quan hệ; Đề phòng tránh những nguy cơ cho bản thân:

+ Tránh quan hệ tình dục ở lứa tuổi học sinh

+ Đảm bảo tình dục an toàn

- Giúp học sinh hiểu được các bệnh lây qua đường sinh dục và ảnh hưởng của chúng tới sức khỏe sinh sản vị thành niên, mở rộng và liên hệ thực tế những kiến thức sinh sản cho học sinh:

+ Kiến thức về tâm lí: Học sinh ở tuổi vị thành niên có những thay đổi về tâm lí :

(+) Tính cách, hành vi: thay đổi, tính độc lập

(+) Nhân cách: cố gắng khẳng định mình, hành vi bắt chước người lớn (+) Tình cảm: có tình cảm với bạn khác giới, dễ rung động, xao xuyến… + Kiến thức về sinh lí:

(+) Tò mò về giới tính

(+) Nhu cầu tình dục bắt đầu nảy nở

Vừa giúp các em hiểu rõ về sự phát triển của bản thân và sự thay đổi về hình thái tâm sinh lí ở tuổi dậy thì vừa lồng ghép giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản cho học sinh ở tuổi vị thành niên để đảm bảo cho học sinh lĩnh hội đầy

đủ kiến thức, kĩ năng, phẩm chất một cách hiệu quả nhất

Cụ thể, để dạy tốt chủ đề tôi đã tiến hành như sau:

1 Xây dựng kế hoạch dạy chủ đề: “ Sinh sản” theo kế hoạch môn học; Định hướng nội dung bài học, kiên thức nội môn, liên môn; những kiến thức có liên quan đến sự phát triển cơ thể ở tuổi dậy thì, sức khỏe giới tính, sinh sản, các bệnh lây qua đường sinh dục, các trường hợp có thai ngoài ý muốn

2 Xây dựng Kế hoạch bài học cụ thể, chi tiết, chuẩn bị tư liệu, phương tiện, thiết bị dạy học, bài giảng trình chiếu một cách khoa học, phù hợp Xây dựng phương pháp, kĩ thuật dạy học hợp lý Dự kiến hình thức tổ chức dạy học phù hợp với nội dung bài học

3 Hướng dẫn học sinh nghiên cứu bài học trong SGK, chuẩn bị những kiến thức, đồ dùng, dụng cụ phục vụ cho việc học tập chủ đề: sưu tầm tư liệu liên quan đến sinh sản, chuẩn bị bài theo yêu cầu của giáo viên

Trang 21

4 Lên lớp theo kế hoạch: Tiến hành giảng dạy ở từng lớp theo thời khóa biểu Sau từng tiết dạy tôi tự rút kinh nghiệm, tham khảo ý kiến đồng nghiệp, thực hiện khảo sát học sinh, đánh giá kết quả sau khảo sát

Cụ thể khi dạy chủ đề “ Sinh sản” tôi đã thấy được:

- Học sinh nắm chắc các kiến thức của chủ đề: cơ quan sinh dục nam, cơ quan sinh dục nữ, những thay đổi về hình thái, tâm sinh lí cơ thể trong tuổi dậy thì Biết được những điều kiện cần để trứng được thụ tinh và phát triển thành thai, nêu rõ cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai, nêu sơ lược các bệnh lây qua đường sinh dục và ảnh hưởng tới sức khỏe sinh sản vị thành niên

- Học sinh có nhận thức đúng đắn về giới tính và sức khỏe sinh sản, bước đầu biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, tự xây dựng được cho bản thân

kĩ năng tự bảo vệ bản thân

- Tôi đã sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực: Dạy học nhóm, dạy học theo dự án; kĩ thuật trình bày 1 phút, kĩ thuật hỏi chuyên gia, giải quyết vấn đề, kĩ thuật động não, kĩ thuật đóng vai, kĩ thuật phòng tranh…

Ví dụ minh họa khi dạy phần II Những nguy cơ có thai ở tuổi vị thành niên trong bài “ Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai”

Với phần này tôi đã tiến hành như sau:

+ Tôi chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ (4- 6hs); Yêu cầu các nhóm cử nhóm trưởng, thư kí của nhóm

+ Giao cho học sinh chuẩn bị bài theo nhóm, tìm hiểu các thông tin trong sách giáo khoa, từ các nguồn tư liệu khác các kiến thức về nguy cơ có thai ở tuổi

vị thành niên theo gợi ý từ SGK

+ Yêu cầu nhóm trưởng phân công các cá nhân trong nhóm thực hiện nhiệm

vụ, hoàn thành sản phẩm học tập?

+ Tôi gợi ý thêm để học sinh chuẩn bị:

Nêu rõ những ảnh hưởng của có thai sớm ngoài ý muốn của tuổi vị thành niên ? Phải làm gì để điều đó không xảy ra ? Những hậu quả có thể xảy ra ? Phải

xử lý đối với việc mang thai ngoài ý muốn ở tuổi vị thành niên như thế nào? Làm thế nào để tránh được ?

Trong tiết học, tôi tổ chức cho học sinh trình bày sản phẩm học tập của nhóm, các nhóm khác cử đại diện nhận xét, bổ sung; Giáo viên nhận xét, bổ sung, chốt kiến thức, hoàn thiện, mở rộng kiến thức

Ảnh minh họa hoạt động nhóm của học sinh

Trang 22

Sau mỗi bài và khi học xong cả chương tôi yêu cầu học sinh hệ thống hóa kiến thức bằng sơ đồ tư duy Đây là một biện pháp giúp học sinh nhớ kiến thức bài học một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất

Dưới đây là sơ đồ tư duy gợi ý của giáo viên cho các bài học của chủ đề Lưu ý, đây chỉ là gợi ý, học sinh có thể vẽ theo tư duy và sáng tạo của cá nhân, miễn là đảm bảo kiến thức bài học

Sơ đồ tư duy bài 60 – Tiết 63: Cơ quan sinh dục nam

Trang 23

Sơ đồ tư duy bài 61 – Tiết 64: Cơ quan sinh dục nữ

Sơ đồ tư duy bài 62 – Tiết 65: Thụ tinh, thụ thai và sự phát triển của thai

Trang 24

Sơ đồ tư duy bài 63 – Tiết 66: Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai

Sơ đồ tư duy bài 64 – Tiết 67: Các bệnh lây qua đường sinh dục

Trang 25

Sơ đồ tư duy bài 65 – Tiết 68: Đại dịch AIDS, thảm học của loài người

Sơ đồ tư duy chủ đề: Sinh sản

Trang 26

Qua gợi ý của giáo viên, học sinh đã thực hành vẽ được sơ đồ tư duy bài học Điều đó cho thấy học sinh đã nắm chắc kiến thức của chủ đề một cách chính xác, khoa học và có hệ thống

Sau khi học sinh học xong toàn bộ kiến thức của chủ đề tôi tiếp tục tổ chức khảo sát việc nắm kiến thức về sức khỏe sinh sản qua việc dạy chủ đềở tất cả học sinh khối lớp 8 (Năm học 2020-2021)

Bài khảo sát thứ nhất: Trắc nghiệm khách quan với 10 câu hỏi:

Câu 1: Vị thành niên gồm các giai đoạn nào sau đây ?

A Từ khi sinh ra đến tuổi dây thì

B 3 giai đoạn: từ 10 – 13 tuổi; từ 14 – 16 tuổi; từ 17 – 19 tuổi

C.Từ 20 tuổi trở lên

D.Từ bắt đầu tuổi dạy thì

Câu 2: dấu hiệu quan trọng ở tuổi dạy thì nam và nữ:

A Cơ thể trưởng thành, con gái hầu hết có kinh; con trai “chín về sinh dục”

B Lớn nhanh

C.Hình thành các đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp; có kinh( ở nữ), sinh tinh (ở nam)

D Cơ thể thay đổi về chiều cao, cần nặng

Câu 3: Nếu quan hệ tình dục có giao hợp ở tuổi vị thành niên sẽ:

A Không gây hậu quả vì cơ quan sinh dục chưa phát triển đầy đủ

B Có thai vì ở nữ trứng đã chín và rụng; ở nam đã hình thành tinh trùng

C Không có thai vì trứng chưa chín

D Cả 3 trường hợp trên

Câu 4: Tình yêu là gì?

A Là tình bạn thân thiết giữa một người nam và một người nữ

B Là tình thương mến sâu sắc, sự hòa hợp giữa hai người khác giới

C Là tình cảm giữa hai người không phân biệt giới tính

Câu 5: Điểm khác biệt giữa tình bạn cùng giới và khác giới là:

A Tình bạn giữa bạn nam và bạn nữ

B Có sự chân thành tin cậy, đồng cảm sâu sắc

C Có một khoảng cách tế nhị, không dễ biểu lộ thân mật gần gũi,

Trang 27

Câu 6: Thế nào là tình dục an toàn?

A Thỏa mãn nhu cầu sinh lý

B Đảm bảo không nhiễm các bệnh lây lan qua đường tình dục, không gây tổn thương cơ quan sinh dục

C Cả hai đều đúng

Câu 7: Chu kỳ kinh nguyệt của một người phụ nữ:

A Thay đổi từ 21 đến 35 ngày

B Chính xác 28 ngày

C Có một chu kỳ

Câu 8: Bạn hãy cho biết, HIV không lây qua con đường nào sau đây?

A Đường tình dục

B Giao tiếp thông thường ( ôm hôn, bắt tay…)

C Lây từ mẹ nhiễm HIV sang con

Câu 9: Bạn hãy cho biết, ở nước ta hiện nay tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất nằm trong độ tuổi nào?

A Dưới 20 tuổi

B Từ 20- 29 tuổi

C Từ 30- 39 tuổi

Câu 10: Tác hại của việc mang thai ở tuổi vị thành niên:

A Ảnh hưởng tới sức khỏe, tâm sinh lí

B Ảnh hưởng tới kinh tế xã hội, tương lai của bản thân

Trang 28

8C 80 82,5 85,5 82,7 86,2 87,6 85,8 90,2 87,4 86,2 8D 82,2 83,3 82,2 80,3 82,6 84,5 82,7 89,5 83,7 86,5 8E 80,2 82,5 85,6 83,7 85,3 87,5 81,5 88,5 85,5 85

Qua kết quả bảng khảo sát ta thấy học sinh đã nắm vững được những kiến thức sinh sản theo chuẩn kiến thức kĩ năng và đã biết vận dụng kiến thức trong cuộc sống Cụ thể là có 80-85,6% học sinh đã nắm chắc kiến thức về giai đoạn tuổi vị thành niên; 82,5-87,5% học sinh hiểu rõ dấu hiệu dậy thì ở nam và nữ: có 82,2 -92,8% học sinh hiểu được hậu quả của việc quan hệ tình dục ở tuổi vị thành niên; 80,3–90% học sinh hiểu rõ thế nào là tình yêu; 82,6- 88,9 % học sinh biết phân biết tình bạn cùng giới và khác giới; 84,5 - 94,2% học sinh nắm được quan hệ tình dục an toàn; 81,5 - 89,2% học sinh hiểu rõ chu kỳ kinh nguyệt

ở nữ; 88,5 - 97,4% học sinh hiểu được bệnh HIV lây qua đường tình 92,1% học sinh nắm được tỉ lệ số người mắc HIV ở Việt Nam; 85-89,5% học sinh nắm được tác hại của mang thai ở tuổi vị thành niên Tuy nhiên ở mỗi đơn

dục;83,7-vị kiến thức vẫn còn 10 - 20% học sinh chưa nắm rõ Những học sinh này tôi dành thời gian tìm hiểu, trao đổi, bồi dưỡng thêm để giúp các em nâng cao hiểu biết của bản thân về những điều đã học

2.2 Giải pháp thứ hai: Tích cực đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong việc tự khám phá, chiếm lĩnh kiến thức và hình thành kĩ năng mới về vấn đề sinh sản

Sau khi học sinh hiểu đầy đủ, chính xác, hệ thống các kiến thức về sinh sản qua chủ đề sinh sản tôi giúp học sinh nhận thức đúng vấn đề sinh sản và có

kĩ năng bảo vệ mình, gia đình và tuyên truyền cho mọi người cùng hành động Việc đổi mới phương pháp dạy học gắn với định hướng phát triển năng lực học sinh là lựa chọn phù hợp, cần thiết giúp học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, năng lực tự khám phá, chiếm lĩnh kiến thức và hình thành kĩ năng mới về vấn đề sinhsản

Trang 29

- Kĩ năng tôn trọng, tự trọng: bạn trai biết tự trọng, tôn trọng bảo vệ bạn gái, có bản lĩnh, biết tự kiềm chế để chứng minh cho một tình yêu lành mạnh nếu nó chớm nở

- Kỹ năng phòng vệ trước các áp lực nội tại đến từ hai phía, đặc biệt giáo dục kỹ năng phòng vệ cho các em gái, và rất nhiều nội dung khác xoay quanh tâm lý giới tính tuổi mới lớn giúp các em tự tin, tự chủ, tự hoàn thiện nhân cách,

tự nhận thức để thay đổi hành vi, vững vàng nói "không" trước cám dỗ củabản năng ở độ tuổi phát dục

Trong xã hội hiện đại, với điều kiện dinh dưỡng ngày càng tốt hơn cộng với các tác động của nhiều yếu tố xã hội mà trẻ em dậy thì sớm ngày càng tăng lên.Điều đó đặt ra cho chúng ta yêu cầu cần phải giáo dục kiến thức sinh sản cho học sinh để các em có thể hiểu rõ hơn về giới tính của mình, các phát triển tâm sinh lí của cơ thể cũng như biết cách chăm sóc, bảo vệ cơ thể khi các em bước vào tuổi dậy thì.Mục tiêu của giáo dục kiến thức sinh sản là giúp các em sống đúng với giới tính của mình, đặc biệt là giáo dục các em biết trân trọng giá trị của bản thân từ đó biết quý trọng người khác Giúp học sinh hiểu rõ bản thân, giới tính của mình mới biết bảo vệ mình khỏi những cám dỗ, xâm hại bên ngoài cũng như tôn trọng thân thể người khác Đó chính là quá trình giúp các em hoàn thiện nhân cách ( kĩ năng sống) và hiểu sâu sắc về kiến thức sinh sản vận dụng cho chính bản thân ở hiện tại và tương lai

Với mong muốn giúp học sinh tích cực và chủ động trong việc tiếp thu chủ đề này, để các em có thể tự giải đáp những tò mò, thắc mắc của bản thân đồng thời có những hành trang cần thiết cho việc chăm sóc sức khỏe bản thân

Việc đưa giáo dục kiến thức sinh sản vào trường học là điều đã được thừa nhận và đặc biệt là môn sinh học 8 đã có riêng chủ đề: “Sinh sản”.Nhưng giáo viên một phần còn thiếu kiến thức chuyên môn, một phần do sử dụng phương pháp giảng dạy chưa phù hợp, nhiều khi chỉ thiên về lý thuyết còn thực hành thì

bỏ ngỏ, về giáo cụ trực quan thì không có, giáo viên không được tập huấn kĩ càng về vấn đề kiến thức sinh sản.Giáo viên đôi khi tự biên tự diễn không có hướng dẫn cụ thể Hậu quả của việc này dẫn đến học sinh thu nhận một lượng kiến thức rời rạc, chắp vá Bởi vậy bài toán giáo dục giới tính trong trường THCS chưa có lời giải đáp thích đáng

Được phân công giảng dạy sinh học lớp 8, tôi thấy rằng học sinh vẫn còn rất e dè khi tiếp thu kiến thức phần sinh sản mà như chúng ta đã biết sinh học lớp 8 học về con người nên chúng ta cần phải học không những lí thuyết mà cần

kĩ năng thực hành vận dụng để đi vào thực tiễn cuộc sống hơn Kiến thức sinh sản không những bên ta mà còn đi cùng ta suốt cuộc đời nên mỗi học sinh cần phải nắm rõ, chắc, sâu sắc nếu không hiểu hết bản thân dễ sa ngã và không biết

Trang 30

tự bảo vệ mình khi gặp khó khăn, mà có xu hướng đua đòi với các trào lưu xã hội như yêu sớm, quan hệ tình dục sớm…dẫn đến hậu quả khó lường làm mất nhân phẩm tốt đẹp của con người nên kiến thức về giới tinh sinh sản là cần thiết

Thực tiễn đã chứng minh không ai có thể bảo vệ mình nếu chính bản thân chúng ta không có kĩ năng để chăm sóc bảo vệcơ thể Muốn có được điều ấy, chúng ta cần tăng cường giáo dục thẩm mỹ, giáo dục sự hiểu biết kĩ năng trong thế hệ trẻ Phương thức giáo dục từ xưa đến nay là gắn lý thuyết với thực hành, gắn nhà trường với địa phương.Hiện nay, nội dung các môn học đều đề cập đến giáo dục giá trị đạo đức, phẩm chất, nhân cách ( kĩ năng sống), năng lực của học sinh

Thông qua chủ đề : “Sinh sản” trong môn sinh học lớp 8 tôi muốngíúp các

em học sinh học tập hứng thú hơn, có những kiến thức rộng hơn, sâu hơn về giới tính, sinh sản, tự tin giao tiếp góp phần nâng cao ý thức cho học sinh bảo vệ bản

thân và gia đình

Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả giáo dục kiến thức sinh sản giáo viên cần tích cực đổi mới phương pháp dạy học, vận dụng các phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học hiện đại Ở đây tôi lựa chọn phương pháp dạy học dự án nhằm hình thành ở học sinh phẩm chất, kỹ năng, hành vi tích cực, đặc biệt là năng lực giải quyết vấn đề có liên quan đến kiến thức sinh sản giúp học sinh hiểu biết sâu rộng kiến thức các vấn đề về bản thân và xã hội

Dưới đây là vídụ dạy mở rộng kiến thức phần II Những nguy cơ có thai ở tuổi vị thành niên trong bài : “Cơ sở khoa học của cac biện pháp tránh thai” của chủ đề: “sinh sản”

Ta đã biết:Dạy học dự án là một hình thức dạy học, trong đó học sinh dưới sự điều khiển và giúp đỡ của giáo viên tự lực giải quyết một nhiệm vụ học tập mang tính phức hợp không chỉ về mặt lý thuyết mà đặc biệt về mặt thực hành, thông qua đó tạo ra các sản phẩm thực hành có thể giới thiệu, công bố được

Đặc trưng cơ bản của dạy học dự án là:

Người học là trung tâm của quá trình dạy học

Dự án tập trung vào những mục tiêu học tập quan trọng gắn với các chuẩn

Dự án được định hướng theo bộ câu hỏi khung chương trình

Dự án đòi hỏi các hình thức đánh giá đa dạng và thường xuyên

Trang 31

Kĩ năng tư duy là yếu tố không thể thiếu trong phương pháp dạy học dự án

Quy trình tổ chức dạy học theo dự án có bốn giai đoạn Đó là:

*Giai đoạn chuẩn bị:

- Công việc của giáo viên:

+ Xây dựng bộ câu hỏi định hướng: xuất phát từ nội dung học và mục tiêu cần đạt được

+ Thiết kế dự án: xác định lĩnh vực thực tiễn ứng dụng nội dung học, ai cần, ý tưởng và tên dự án

+ Thiết kế các nhiệm vụ cho học sinh: làm thế nào để học sinh thực hiện xong thì bộ câu hỏi được giải quyết và các mục tiêu đồng thời cũng đạt được

+ Chuẩn bị các tài liệu hỗ trợ giáo viên và học sinh cũng như các điều kiện thực hiện dự án trong thực tế

- Công việc của học sinh:

+ Cùng giáo viên thống nhất các tiêu chí đánh giá

+ Làm việc nhóm để xây dựng dự án

+ Xây dựng kế hoạch dự án: xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm

+ Chuẩn bị các nguồn thông tin đáng tin cậy để chuẩn bị thực hiện dự án

* Giai đoạn thực hiện

- Công việc của giáo viên:

+ Theo dõi, hướng dẫn, đánh giá học sinh trong quá trình thực hiện dự án + Liên hệ các cơ sở, khách mời cần thiết cho học sinh

+ Chuẩn bị cơ sở vật chất, tạo điều kiện thuận lợi cho các em thực hiện dự

án

- Công việc của học sinh:

+ Phân công nhiệm vụ các thành viên trong nhóm thực hiện dự án theo đúng kế hoạch

+ Tiến hành thu thập, xử lý thông tin thu được

+ Xây dựng sản phẩm hoặc bản báo cáo

+ Liên hệ, tìm nguồn giúp đỡ khi cần

Trang 32

+ Thường xuyên phản hồi, thông báo thông tin cho giáo viên và các nhóm khác qua các buổi thảo luận hoặc qua trang mạng xã hội

* Giai đoạn tổng hợp

- Công việc của giáo viên

+ Theo dõi, hướng dẫn, đánh giá học sinh giai đoạn cuối dự án

+ Bước đầu thông qua sản phẩm cuối của các nhóm HS

- Công việc của học sinh:

+ Hoàn tất sản phẩm của nhóm

+ Chuẩn bị tiến hành giới thiệu sản phẩm

* Giai đoạn đánh giá

- Công việc của giáo viên:

+ Chuẩn bị cơ sở vật chất cho buổi báo cáo dự án

+ Theo dõi, đánh giá sản phẩm dự án của các nhóm

- Công việc của học sinh:

+ Tiến hành giới thiệu sản phẩm

+ Tự đánh giá sản phẩm dự án của nhóm

+ Đánh giá sản phẩm dự án của các nhóm khác theo tiêu chí đã đưa ra

*Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học dự án

Vai trò của học sinh

Học sinh là người quyết định cách tiếp cận vấn đề cũng như phương pháp và các hoạt động cần phải tiến hành để giải quyết vấn đề đó

Học sinh tập giải quyết các vấn đề của cuộc sống thực tế bằng các kĩ năng của người lớn thông qua làm việc theo nhóm

Chính học sinh là người lựa chọn các nguồn dữ liệu, thu thập dữ liệu từ những nguồn khác nhau đó, rồi tổng hợp, phân tích và tích lũy kiến thức từ quá trình làm việc của chính các em

Học sinh hoàn thành việc học với các sản phẩm cụ thể (dự án) và có thể trình bày, bảo vệ sản phẩm đó

Học sinh cũng là người trình bày kiến thức mới mà các em đã tích lũy thông qua dự án

Trang 33

Cuối cùng, bản thân học sinh là người đánh giá và được đánh giá dựa trên những gì đã thu thập được, dựa trên tính khúc chiết, tính hợp lý trong cách thức trình bày của các em theo những tiêu chí đã xây dựng trước đó

Vai trò của giáo viên

Trong dạy học dự án, giáo viên là chỉ là người hướng dẫn và tham vấn chứ không phải là “cầm tay chỉ việc” cho học sinh của mình Theo đó,từ nội dung giáo viên nhìn ra sự liên quan của nó tới các vấn đề của cuộc sống, hình thành ý tưởng về một dự án liên quan đến nội dung học, tạo vai trò cho học sinh trong dự án, làm cho vai trò của học sinh gắn với nội dung cần học

Như vậy, giáo viên không còn giữ vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học mà trở thành người hướng dẫn, người giúp đỡ học sinh, tạo môi trường thuận lợi nhất cho các em trên con đường thực hiện dự án

Để giúp đỡ học sinh triển khai các nội dung học tập, tôi có tham khảo ý kiến của các đồng chí giáo viên có kinh nghiệm trong nhóm chuyên môn sinh học và thu được rất nhiều ý kiến hay, bổ ích

* Một số hình ảnh hoạt động của nhóm giáo viên sinh học trường THCS Thịnh Long chuẩn bị cho việc dạy học theo dự án:

Trang 35

Đánh giá dự án

Đánh giá dự án không chỉ đơn thuần là đánh giá sản phẩm của dự án mà còn phải đánh giá mức độ hiểu, khả năng nhận thức và kĩ năng của học sinh đồng thời theo dõi sự tiến bộ ở các em

-Phỏng vấn và quan sát dựa trên kế hoạch đã chuẩn bị Các cuộc phỏng vấn miệng chính thức, được lên lịch với các thành viên trong nhóm để thăm dò

sự hiểu bài của học sinh Thể thức câu hỏi phỏng vấn là yêu cầu học sinh giải thích và đưa ra lý do về cách hiểu vấn đề Các quan sát cũng được tiến hành tương tự nhưng dùng cho việc đánh giá kỹ năng, tiến trình và sự thể hiện năng lực và cũng có thể được thực hiện bởi học sinh

- Sự thể hiện: là những bài trình bày, các sản phẩm và các sự kiện mà học sinh thiết kế và thực hiện để thể hiện quá trình học tập của các em

- Kế hoạch dự án: Kế hoạch dự án giúp học sinh tự chủ trong học tập Học sinh xác định mục tiêu, thiết kế chiến lượcđể đạt mục tiêu, đặt thời gian biểu và xác định các tiêu chí để đánh giá

- Phản hồi qua bạn học Phản hồi của bạn học giúp cho học sinh tiếp thu được đặc điểm về chất lượng học tập qua đánh giá việc học của bạn học

- Quan sát các nhóm làm việc để hỗ trợ đánh giá kỹ năng cộng tác

Vận dụng phương pháp dạy học dự án trong phần II Những nguy cơ có thai ở tuổi vị thành niên trong bài : “Cơ sở khoa học của cac biện pháp tránh thai” của chủ đề: “sinh sản” môn Sinh học lớp 8

Mục tiêu: Giúp học sinh:

- Nêu được nguy cơ có thai ở tuổi vị thành niên

- Trình bày được tác hại của việc mang thai ngoài ý muốn

- Nêu được các biện pháp tránh thai

- Nêu được các biện pháp phòng, tránh nguy cơ có thai ở tuổi vị thành niên

- Rèn kĩ năng sưu tầm tài liệu, tư duy sáng tạo, thuyết trình, xử lí tình huống, làm việc nhóm, phỏng vấn, quay phim, chụp ảnh, thiết kế mô hình…

Trang 36

- Hình thành ý thức và thói quen tốt để chăm sóc sức khỏe

Hoạt động 1: Xây dựng ý tưởng dự án

- GV khai thác những hiểu biết sơ bộ của học sinh về các kiến thức có liên quan đến nguy cơ có thai ở tuổi vị thành niênbằng kĩ thuật KWL

PHIẾU KHẢO SÁT KIẾN THỨC HỌC SINH

Những kiến thức nào đã

được học trong chương

trình có liên quan nguy

Em muốn biết thêm điều

gì nguy có có thai ở tuổi

vị thành niên

(Đặt câu hỏi)

Những điều em đã học được sau dự án này

- GV giới thiệu dự án: lí do thực hiện dự án, mục tiêu, nhiệm vụ và sản phẩm cụ thể của HS, tiêu chí chấm điểm, kênh thông tin liên lạc trên Facebook, zalo

Hoạt động 2: Lập kế hoạch thực hiện dự án

GV chia lớp thành 4 nhóm: 2 nhóm trong vai nhà khoa học, 1 nhóm trong vai chuyên viên tư vấn; 1 nhóm trong vai bác sĩ sản khoa

GV phát bộ câu hỏi định hướng cho các vai

BỘ CÂU HỎI ĐỊNH HƯỚNG

Nhà khoa học

Câu 1: Dấu hiệu nào chứng tỏ nữ có khả năng mang thai ?

Trang 37

Câu 2: Nguy cơ có thai ở tuổi vị thành niên là gì?

Câu 3: Khi có hiện tượng này chúng ta cần giữ vệ sinh như thế nào?Tại sao?

Chuyên viên tư vấn

Câu 4: Hậu quả của việc có thai ở tuổi vị thành niên ?

Câu 5: Nêu tác hại của việc nạo phá thaiở tuổi vị thành niên?

Câu 6: Theo em, hiện trạng nạo phá thai ở Việt Nam hiện nay tăng hay giảm?

Là học sinh nhất là nữ em cần phải làm để bảo vệ mình?

Bác sĩ sản khoa

Câu 7: Ở tuổi vị thành niên có nên quan hệ tình dục không ?Vì sao ?

Câu 8: Nếu quan hệ tình dục nên dùng các biện pháp tránh thai nào?

Câu 9: Biện pháp phòng tránh các bệnh lây qua đường tình dục?

BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ VÀ DỰ KIẾN SẢN PHẨM DỰ ÁN TÌM HIỂU VỀ NGUY CƠ CÓ THAI Ở TUỔI VỊ THÀNH NIÊN Thời gian hoàn thành nhiệm vụ học tập là: 06 tháng 05 năm 2020

Nhà

khoa học

- Nghiên cứu tài liệu về một số vấn

đề tuổi vị thành niên hay vướng phải, yêu cầu giải quyết các vấn đề đó

- Tìm hiểu nguy cơ có thai ở tuổi vị thành niên

- Giải thích được một số biểu hiện liên quan đến những nguy cơ có thai

- Tìm hiểu về hậu quả của việc có thai

ở tuổi vị thành niên ? Tác hại của việc nạo phá thai ở tuổi vị thành niên ? Thựctrạng nạo phá thai ở Việt Nam hiện nay ? Học sinh nhất là học sinh

Trang 38

thành niên ? Tác hại của việc nạo phá thai ở tuổi vị thành niên? Việc chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên

- Thiết kế 1 bài tuyên truyền về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên

- Bài thuyết trình về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên 5’

- Bài tuyên truyền về sức khỏe sinh sản vị thành niên

về các hậu quả của việc có thai ở tuổi

vị thành niên, tác hại của việc nạo phá thai ở tuổi vị thành niên, cách phòng tránh mang thai ở tuổi vị thành niên

- Tìm hiểu một số cách phòng bệnh lây qua đường tình dục

vị thành niên

- Bài thuyết trình về nguy cơ có thai ở tuổi vị thành niên và cách phòng, tránh mang thai ở tuổi vị thành niên 5’

- Poster hoặc video tuyên truyền về phòng tránh bệnh lây truyền qua đường tình dục

Hoạt động 3: Thực hiện dự án (thực hiện ngoài giờ lên lớp)

Nội dung Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh

Trang 39

- Thu thập thông tin

- Phỏng vấn

- Theo dõi, cung cấp tài liệu, kênh thông tin tham khảo cho học sinh

- Hướng dẫn học sinh xây dựng câu hỏi phỏng vấn, cách thu thập thông tin, phỏng vấn

- Hướng dẫn học sinh làm việc nhóm,

Thực hiện nhiệm vụ theo

kế hoạch

- Thảo luận nhóm để

xử lí thông tin, lên ý

tưởng cho báo cáo

-Hoàn thành báo cáo

Theo dõi, giúp đỡ các nhóm: xử lí thông tin và cách báo cáo

- Các nhóm chủ động sắp xếp lịch hoạt động để tổng hợp thông tin, xử lí thông tin bằng nội dung các sản phẩm theo yêu cầu của dự

án

- Xây dựng báo cáo nhóm

Hoạt động 4: Trình bày sản phẩm và đánh giá

CUỘC THI: TÔI LÀ NHÀ KHOA HỌC

Trang 40

1 Khai mạc: Giáo viên giới thiệu chủ đề (chương, bài, dự án), giới thiệu đại biểu

- Mỗi nhóm chọn 5 người tham gia trò chơi

- Có 10 câu hỏi cho 4 đội thi Mỗi câu hỏi có 10 giây suy nghĩ

- Trả lời đúng được 10 điểm và 1 mật mã

- Nếu may mắn, bạn sẽ nhận được 1 mật mã có hình ngôi sao xanh Khi đó, bạn

sẽ được giáo viên trợ giúp để xác định vị trí điền mật mã đó trong bảng mã

- Sau 10 câu hỏi, các đội sẽ thảo luận nhóm trong 3 phút để hoàn thành bảng mã dựa vào các mật mã đã có hoặc tự suy luận Giải đúng mỗi ô trống trong bảng

mã được 5 điểm

Lưu ý: Các đội được sử dụng tài liệu là sách giáo khoa, bài sưu tầm nhóm đã làm

GV chốt kiến thức về nguy cơ có thai ở tuổi vị thành niên

* Trò chơi dành cho khán giả

Có 5 từ khóa liên quan đến nguy cơ có thai ở tuổi vị thành niên

Trả lời đúng được cộng 5 điểm cho nhóm mình tham gia và 1 phần quà

GV chốt những nguy cơ có thai ở tuổi vị thành niên

Nhà khoa học: 200 điểm

2 nhóm nhà khoa học có 3 phút để giới thiệu về mô hình của nhóm

HS đặt câu hỏi và cho đánh giá mô hình của nhóm bạn

GV lồng ghép củng cố kiến thức về nguy cơ có thai ở tuổi vị thành niên

Dưới đây là một vài hình ảnh minh họa cho hoạt động học tập của học sinh:

Ngày đăng: 08/03/2022, 09:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ tư duy bài 60 – Tiết 63: Cơ quan sinh dục nam - sáng kiến kinh nghiệm sinh học thcs
Sơ đồ t ư duy bài 60 – Tiết 63: Cơ quan sinh dục nam (Trang 22)
Sơ đồ tư duy bài 62 – Tiết 65: Thụ tinh, thụ thai và sự phát triển của thai - sáng kiến kinh nghiệm sinh học thcs
Sơ đồ t ư duy bài 62 – Tiết 65: Thụ tinh, thụ thai và sự phát triển của thai (Trang 23)
Sơ đồ tư duy bài 63 – Tiết 66: Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai - sáng kiến kinh nghiệm sinh học thcs
Sơ đồ t ư duy bài 63 – Tiết 66: Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai (Trang 24)
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ VÀ DỰ KIẾN SẢN PHẨM DỰ ÁN  TÌM HIỂU VỀ NGUY CƠ CÓ THAI Ở TUỔI VỊ THÀNH NIÊN  Thời gian hoàn thành nhiệm vụ học tập là: 06 tháng 05 năm 2020 - sáng kiến kinh nghiệm sinh học thcs
h ời gian hoàn thành nhiệm vụ học tập là: 06 tháng 05 năm 2020 (Trang 37)
Hình ảnh về các biện pháp tránh thai: - sáng kiến kinh nghiệm sinh học thcs
nh ảnh về các biện pháp tránh thai: (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w