Các bài toán về di truyền học quần thể vô cùng phong phú nhưng tài liệusách giáo khoa mới chỉ đề cập đến những dạng bài tập cơ bản về cấu trúc ditruyền quần thể như xác định tần số alen,
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THCS - THPT NHƯ THANH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC MỘT SỐ LỖI SAI THƯỜNG GẶP KHI GIẢI BÀI TẬP VỀ
DI TRUYỀN HỌC QUẦN THỂ CỦA HỌC SINH LỚP 12
TRƯỜNG THCS VÀ THPT NHƯ THANH
Người thực hiện: Nguyễn Thị Hiền Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS - THPT Như Thanh SKKN thuộc môn: Sinh học
THANH HOÁ NĂM 2020
Trang 2MỤC LỤC Trang
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 22.2.1 Bài tập di truyền quần thể về một gen có nhiều alen 32.2.2 Bài tập di truyền quần thể đối với gen nằm trên NST giới tính 32.2.3 Bài tập về quần thể khi xét nhiều locut gen phân li độc lập 32.2.4 Bài tập về di truyền quần thể dưới tác động của chọn lọc tự nhiên 4
2.3.2 Phương pháp giải một số dạng bài tập mà học sinh thường mắc lỗi
sai hoặc sử dụng phương pháp giải không phù hợp
5
2.3.2.1 Bài tập di truyền quần thể về một gen có nhiều alen 52.3.2.2 Bài tập di truyền quần thể đối với gen nằm trên NST giới tính 72.3.2.3 Bài tập về quần thể khi xét nhiều locut gen phân li độc lập 9
2.3.2.4 Bài tập về di truyền quần thể dưới tác động của CLTN 13Dạng 1: Tác động của chọn lọc tự nhiên đến quần thể tự phối 13Trường hợp 1: Kiểu gen aa không có khả năng sinh sản 13Trường hợp 2: Kiểu gen aa bị chết ở giai đoạn phôi 14Dạng 2: Tác động của chọn lọc tự nhiên đến quần thể ngẫu phối 15Trường hợp 1: Kiểu gen aa không có khả năng sinh sản 15Trường hợp 2: Kiểu gen aa bị chết ở giai đoạn phôi 16
Phụ lục 1: Bài tập vận dụng: Di truyền quần thể về một gen có nhiều
Trang 41 Mở đầu.
1.1 Lý do chọn đề tài.
Môn Sinh học là môn khoa học thực nghiệm, nghiên cứu sự sống của các
cơ thể sinh vật ở nhiều cấp độ khác nhau Chương trình Sinh học 12 hiện nayphần lớn nội dung và thời lượng giành cho việc nghiên cứu về lí thuyết còn việcvận dụng kiến thức đã được học để giải quyết những bài toán trong sinh học cònrất nhiều hạn chế Chính vì lẽ đó, một bộ phận không ít học sinh đã bỏ qua kĩnăng này và gần như không biết vận dụng để giải các bài toán trong Sinh học.Vậy nên người giáo viên luôn phải nghiên cứu, tìm ra cách dạy học hiệu quảgiúp học sinh tiếp thu kiến thức dễ hơn, yêu thích môn học hơn
Trong thực tế giảng dạy nhiều năm qua tại trường THCS – THPT NhưThanh; đồng thời tìm hiểu quá trình học tập của học sinh tôi nhận thấy trong cácdạng bài tập sinh học đa phần học sinh có nhiều hứng thú hơn với bài tập phần
di truyền quần thể với lý do bài tập phần này tương đối dễ, số lượng các dạngbài tập ít, trong quá trình giải không có quá nhiều phần phải suy luận Tuy nhiênvẫn có một số dạng bài tập mà một bộ phận không nhỏ học sinh do phương phápgiải không đúng hoặc không phù hợp nên không làm được, một số học sinh làmđược thì lại mất quá nhiều thời gian như vậy sẽ không thuận lợi khi thi trắcnghiệm theo yêu cầu hiện nay
Các bài toán về di truyền học quần thể vô cùng phong phú nhưng tài liệusách giáo khoa mới chỉ đề cập đến những dạng bài tập cơ bản về cấu trúc ditruyền quần thể như xác định tần số alen, tần số kiểu gen của nhưng quần thểđơn giản chỉ bao gồm 2 alen, các dạng toán về cấu trúc di truyền của quần thểđối với 1 gen có đa alen hay với nhiều locut gen… thuộc mức độ vận dụng hầunhư không đề cập đến Các tài liệu tham khảo cũng không hệ thống rõ ràng, mỗitài liệu khai thác một khía cạnh, hơn nữa học sinh cũng không đủ điều kiện vềkinh tế cũng như thời gian để mua và hệ thống hết các kiến thức, cách giải haytrong các tài liệu tham khảo
Di truyền học quần thể là dạng bài tập không quá khó nếu so sánh nó vớibài tập về các quy luật di truyền tuy nhiên một số dạng bài tập trong số đó(những dạng sẽ được xét trong sáng kiến kinh nghiệm này) lại được xếp vàomức độ vận dụng, vì lẽ đó đây sẽ là những bài tập mà học sinh có thể dễ dàngvượt qua và giúp các em giành được điểm cao trong các kì thi, do vậy nếu vì lý
do sử dụng phương pháp không đúng, hay không phù hợp dẫn đến lựa chọn đáp
án sai thì sẽ rất đáng tiếc, chính vì vậy việc hiểu biết và có thể làm nhanh dạngbài tập này sẽ là mấu chốt không thể bỏ qua cho những học sinh khá giỏi muốnđạt được điểm 8; 9; 10 trong kì thi THPT Quốc gia và thi học sinh giỏi đối với
bộ môn sinh học
Vì những lí do trên, cùng một số kinh nghiệm sau những năm công tác,đặc biệt là những năm đứng đội tuyển học sinh giỏi và ôn thi THPT Quốc gia tôi
mạnh dạn đưa ra sáng kiến về “Giải pháp khắc phục một số lỗi sai thường gặp
khi giải bài tập về di truyền học quần thể của học sinh lớp 12 trường THCS
và THPT Như Thanh” nhằm giúp các học sinh khá, giỏi của trường THCS –
Trang 5THPT Như Thanh nói riêng và học sinh khối 12 nói chung chinh phục được mức
điểm cao trong các kì thi
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Tìm hiểu, nghiên cứu các đề thi mà trong đó có dạng bài tập về di truyềnhọc quần thể nhằm đưa ra phương pháp giải cho các dạng bài tập thường gặplàm tài liệu bổ ích cho học sinh và giáo viên tham khảo và học tập
Quan sát, tìm hiểu quá trình giải bài tập về di truyền quần thể của học sinhnhằm phát hiện ra những lỗi sai trong quá trình thực hiện, từ đó khắc phục bằngcách đưa ra phương pháp giải phù hợp
Thông qua đề tài này giúp học sinh biết cách nhận dạng và có phươngpháp giải phù hợp đối với một số dạng bài tập khó thuộc di truyền học quần thể
Từ đó nghiên cứu tìm tòi sáng tạo nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Sinhhọc trong trường THPT, đặc biệt phần nào đó giúp học sinh khá, giỏi đạt kết quảcao trong các kì thi THPT Quốc gia, thi học sinh giỏi
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nguyên cứu: Các dạng bài tập về di truyền học quần thể
- Phạm vi: Trong đề tài này tôi không nghiên cứu tất cả các dạng bài tập về ditruyền quần thể mà chỉ nghiên cứu một số dạng bài tập mà học sinh thườngkhông biết phương pháp giải hoặc áp dụng phương pháp giải không phù hợp về:+ Quần thể tự phối, giao phối trong các trường hợp: Gen đa alen, quần thể khixét nhiều locut gen
+ Di truyền quần thể với các gen nằm trên nhiễm sắc thể giới tính
+ Quần thể dưới tác động của chọn lọc tự nhiên
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
- Thông qua quá trình giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi bản thân tôi đã tìmhiểu và tích luỹ được
- Thông qua các bài kiểm tra, các kì thi, đặc biệt là kì thi THPT quốc gia, thi họcsinh giỏi hằng năm để rút ra kinh nghiệm bồi dưỡng cho học sinh
- Thông qua các tài liệu bồi dưỡng, các bài tập nâng cao, đề khảo sát thi THPTQuốc gia của các trường THPT trên cả nước
- Phương pháp phân tích, so sánh, kiểm tra, đánh giá
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Đề tài này được xây dựng dựa trên cơ sở nghiên cứu:
- Đặc điểm di truyền của quần thể tự phối, quần thể ngẫu phối
- Phương pháp xác định tần số alen, tần số kiểu gen của quần thể
- Trạng thái cân bằng di truyền của quần thể ngẫu phối
- Công thức của định luật Hacdi – Vanbec
- Cấu trúc di truyền của quần thể dưới tác động của chọn lọc tự nhiên (CLTN)
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Kỹ năng giải bài tập di truyền quần thể của học sinh lớp 12 trường THCS
và THPT Như Thanh còn nhiều hạn chế, chưa được rèn luyện thường xuyên.Học sinh mới chỉ tiếp cận bài tập di truyền quần thể dạng đơn giản như: Xácđịnh tần số alen, tần số kiểu gen, kiểu hình, trạng thái cân bằng di truyền của các
Trang 6quần thể khi xét 1 gen gồm 2 hoặc 3 alen … Khi gặp các dạng bài tập di truyềnquần thể khi xét 1 gen có nhiều alen (nhiều hơn 3 alen), nhiều locut gen, ditruyền quần thể do gen nằm trên NST giới tính, hoặc di truyền quần thể dưới tácđộng của các nhân tố tiến hóa… thì các em tỏ ra lúng túng và hầu như đềukhông giải được, giải sai hoặc mất rất nhiều thời gian.
Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy, khi giải các dạng bài tập nàythông thường học sinh thường gặp các lỗi sai như sau:
2.2.1 Bài tập di truyền quần thể về một gen có nhiều alen.
Với dạng bài này, đa phần học sinh đều có thể giải được những bài khi xétmột gen có 2 hoặc 3 alen dựa theo công thức của định luật Hacdi – Van becđược trình bày trong sách giáo khoa hoặc công thức được giáo viên mở rộngtrong quá trình giảng dạy phần trạng thái cân bằng di truyền của quần thể - dựatheo khai triển hằng đẳng thức thứ 2 mở rộng (pA1 + qA2 + rA3)2 = 1, tuy nhiênkhi gặp những bài toán có nhiều hơn 3 alen học sinh sẽ gặp một số khó khănsau:
- Lúng túng, không biết cách giải => Chọn bừa một đáp án
- Vẫn áp dụng việc triển khai công thức nói trên dẫn tới:
+ Quá trình triển khai công thức không chính xác hoặc do biểu thức triển khaiquá phức tạp nên có thể gặp sai số trong quá trình thực hiện
+ Mất nhiều thời gian khi làm bài
2.2.2 Bài tập di truyền quần thể đối với gen nằm trên NST giới tính.
Đây là dạng bài tập khó đối với đa số học sinh
Với những học sinh có lực học khá, giỏi các em đã biết vận dụng một sốcông thức để giải một số dạng bài tập di truyền của quần thể do gen nằm trênnhiễm sắc thể giới tính quy định như:
- Xác định cấu trúc quần thể ở trạng thái cân bằng di truyền
- Xác định tần số alen chung của quần thể dựa vào tần số alen ở hai giới đực cái
- Một số dạng bài tập liên quan khi quần thể đã đạt trạng thái cân bằng
Tuy nhiên với dạng bài mà quần thể đã cho chưa cân bằng, hoặc chưa cânbằng sau một vài thế hệ mà đề bài lại hỏi một số các vấn đề liên quan đến thế hệ
Fn như: Xác định tần số các alen, tần số kiểu gen… thì học sinh thường gặp một
số khó khăn sau:
- Một bộ phận sử dụng phương pháp xác định cấu trúc di truyền qua mỗi thế hệ
và chỉ dừng lại ở thế hệ Fn => Phương pháp này có thể cho kết quả đúng nhưng
sẽ mất nhiều thời gian không phù hợp khi làm bài trắc nghiệm
- Đa phần số còn lại không thể giải được dạng bài tập này
2.2.3 Bài tập về di truyền quần thể khi xét nhiều locut gen phân li độc lập.
Khi làm dạng bài tập này, học sinh thường gặp những lỗi sai sau:
- Cho rằng các gen phân li độc lập có sự di truyền không phụ thuộc vào nhaunên tách quần thể đã cho thành 2 quần thể độc lập (mỗi quần thể tương ứng vớimột locut) để thao tác theo các yêu cầu của đề bài sau đó sử dụng phương pháptích đại số để tổng hợp lại (Tiến hành cách làm như bài tập thuộc quy luật ditruyền phân li độc lập của Men Đen), phương pháp này không đúng do:
Trang 7+ Đối với quần thể tự phối khi tổ hợp 2 quần thể tương ứng với 2 locut theophương pháp tích đại số sẽ dẫn tới xuất hiện một số kiểu gen mà trên thực tếkhông thể xuất hiện khi các kiểu gen trong quần thể tiến hành tự phối
+ Đối với quần thể giao phối khi xét quần thể ở mỗi locut sau 1 thế hệ quần thể
sẽ đạt trạng thái cân bằng, kéo theo khi tổ hợp 2 quần thể tương ứng với 2 locutthì cả quần thể đạt trạng thái cân bằng đây là điều khó có được khi quần thể cónhiều locut tiến hành ngẫu phối qua 1 thế hệ
- Một bộ phận học sinh không tách riêng từng locut để xét mà xác định từngphép lai thành phần đối với quần thể tự phối và xác định tần số các loại giao tửtạo ra sau đó mới cho các giao tử kết hợp với nhau đối với quần thể ngẫu phối,cách này đúng khi yêu cầu của đề bài chỉ là xác định cấu trúc di truyền ở F1 hoặc
F2, nhưng nếu đề bài yêu cầu xác định cấu trúc ở các thế hệ cao hơn thì cách làmnói trên rất dài và rất dễ gặp sai số khi thực hiện
2.2.4 Bài tập về di truyền của quần thể dưới tác động của chọn lọc tự nhiên
Dạng bài này có 2 trường hợp thường gặp khi chọn lọc tự nhiên chống lạialen lặn đó là:
- Kiểu gen aa không có khả năng sinh sản
- Kiểu gen aa bị chết ở giai đoạn phôi
Khi gặp dạng bài tập này thì học sinh gặp các vấn đề sau:
- Không thể phân biệt được phương pháp giải đối với quần thể tự phối và quầnthể ngẫu phối
- Một số vận dụng sai công thức: Học sinh thường vận dụng công thức:
- Đa phần sử dụng cách giải không phù hợp đó là xác định cấu trúc di truyền củaquần thể qua lần lượt từng thế hệ cho đến khi đến thế hệ mà đề bài yêu cầu thìdừng lại với cách làm này hoàn toàn có thể cho kết quả đúng tuy nhiên cách làmnày dài và dễ gặp sai số trong quá trình thực hiện không phù hợp để giải một bàitrắc nghiệm
Tóm lại: Qua nhiều năm giảng dạy tôi nhận thấy, khi gặp các dạng bài tập nói
trên những bất cập mà học sinh thường gặp phải bao gồm:
- Lúng túng không biết cách giải => Lựa chọn bừa một phương án trả lời
- Sử dụng phương pháp giải sai => Mất nhiều thời gian mà có thể lựa chọn phảiđáp án thuộc phương án nhiễu
- Có phương pháp giải nhưng không phù hợp => Mất nhiều thời gian khi làmbài, thao tác dài có thể bị sai số trong quá trình thực hiện
Tất cả những điều đó đều ảnh hưởng đến kết quả bài làm của học sinh, chính vìvậy mục đích của tôi trong sáng kiến kinh nghiệm này là xây dựng nên phươngpháp giải đúng, phù hợp cho những dạng bài nói trên nhằm giúp học sinh cóđược phương án giải chính xác phù hợp nhất để đạt được kết qua cao nhất trongcác kì thi nói chung đặc biệt là thi trung học phổ thông quốc gia
2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện.
Trang 82.3.1 Các yêu cầu chung.
Trước khi giảng dạy bài tập về di truyền quần thể, giáo viên yêu cầu họcsinh phải ôn lại những kiến thức về:
- Các quy luật di truyền phân li, phân li độc lập, di truyền liên kết với giới tính
- Các kiến thức về di truyền quần thể:
+ Cách xác định tần số alen, tần số kiểu gen của quần thể
+ Cách xác định cấu trúc di truyền ở thế hệ Fn của quần thể tự phối
+ Ảnh hưởng của chọn lọc tự nhiên đến cấu trúc di truyền của quần thể
Ta có tần số các alen được xác định như sau:
- Tần số alen An = KHA n (KHAn: Kiểu hình do alen An quy định)
- Tần số alen An-1 = KHA n−1+KHA n - KHA n = KHA n−1+KHA n - Tần số An
- Tần số alen An-2 = KHA n−2 +KHA n−1 +KHA n - KHA n−1+KHA n - KHA n - KHA n
= KHA n−2 +KHA n−1+KHA n - Tần số An – Tần số An-1
…
- Tần số alen A1 = 1 – Tần số A2 – Tần số A3 - … - Tần số An
*) Xét một số ví dụ:
Ví dụ 1: Một loài động vật giao phối, màu sắc cánh do một gen có 4 alen nằm
trên nhiễm sắc thể thường trội lặn hoàn toàn quy định Trong đó: A1: Cánh đen >
A2: Cánh xám > A3: Cánh vàng > A4: Cánh trắng Một quần thể đang ở trạng tháicân bằng di truyền có 64% con cánh đen; 20% con cánh xám và 1% con cánhtrắng Hãy xác định tần số alen A1, A2, A3, A4?
- Tần số alen A2 = KHA2 +KHA3 +KHA4 - KHA3 +KHA4 - KHA4
= KHA2 +KHA3 +KHA4 - Tần số alen A3 – Tần số alen A4
= 0 , 2 + 0 , 15 + 0 , 01 - 0,1 – 0,3 = 0,6 – 0,1 – 0,3 = 0,2
Trang 9- Tần số alen A1 = 1 – Tần số alen A4 - Tần số alen A3 - Tần số alen A2
= 1 – 0,2 – 0,3 – 0,1 = 0,4
Ví dụ 2: Một quần thể động vật giao phối, màu sắc cánh do 1 gen gồm 5 alen
nằm trên nhiễm sắc thể thường quy định Trong đó, alen A1: cánh đen > A2: cánhxám > A3: cánh tím > A4: cánh vàng > A5: cánh trắng Một quần thể đang ở trạngthái cân bằng di truyền có 51% con cánh đen; 13% con cánh xám; 20% con cánhtím; 12% con cánh vàng; 4% con cánh trắng Biết không xảy ra đột biến Hãyxác định tần số các alen A1, A2, A3, A4, A5
Hướng dẫn giải
- Tần số alen A5 = KHA5 = 0 , 04 = 0,2
- Tần số alen A4 = KHA4 +KHA5 - KHA5 = KHA4 +KHA5 - Tần số alen A5
= 0 , 12 + 0 , 04 - 0,2 = 0,4 – 0,2 = 0,2
- Tần số alen A3 = KHA3 +KHA4 +KHA5 - KHA4 +KHA5 - KHA5
= KHA3 +KHA4 +KHA5 - Tần số alen A4 – Tần số alen A5
= 0 , 2 + 0 , 12 + 0 , 04 - 0,2 – 0,2 = 0,6 – 0,2 – 0,2 = 0,2
- Tần số alen A2:
= KHA2 +KHA3 +KHA4 +KHA5 - KHA3 +KHA4 +KHA5 - KHA4 +KHA5 - KHA5
= KHA2 +KHA3 +KHA4 +KHA5 - Tần số alen A2 - Tần số alen A4 –Tần số alen A5
= 0 , 13 + 0 , 2 + 0 , 12 + 0 , 04 - 0,2 – 0,2 – 0,2 = 0,7 – 0,2 – 0,2 – 0,2 = 0,1
- Tần số alen A1:
= 1 – Tần số alen A5 - Tần số alen A4 - Tần số alen A3 - Tần số alen A2
= 1 – 0,2 3 – 0,1 = 0,3
Lưu ý: Nếu yêu cầu của đề bài liên quan đến cấu trúc di truyền của quần thể (tỉ
lệ 1 hoặc nhiều loại kiểu hình, kiểu gen, xác suất…) thì ta xác định tần số các alen sau đó thực hiện các yêu cầu của đề bài
Ví dụ: Một quần thể động vật giao phối, màu sắc cánh do 1 gen gồm 4 alen nằm
trên nhiễm sắc thể thường quy định Trong đó, alen A1: cánh đen > A2: cánh xám
> A3: cánh vàng > A4: cánh trắng Một quần thể đang ở trạng thái cân bằng ditruyền có 51% con cánh đen; 13% con cánh xám; 32% con cánh vàng; 4% concánh trắng Biết không xảy ra đột biến, theo lí thuyết có bao nhiêu phát biểu sau
II Nếu chỉ có các cá thể cánh đen giao phối ngẫu nhiên thì sẽ thu được đời con
có số cá thể cánh đen thuần chủng chiếm tỉ lệ
289 100
III Nếu loại bỏ toàn bộ các cá thể cánh trắng, sau đó cho các cá thể còn lại giaophối ngẫu nhiên thì sẽ thu được đời con có số cá thể cánh đen thuần chủngchiếm tỉ lệ là:
256 25
Trang 10IV Nếu loại bỏ toàn bộ các cá thể cánh xám, sau đó cho các cá thể còn lại giaophối ngẫu nhiên thì sẽ thu được đời con có số cá thể cánh xám thuần chủngchiếm tỉ lệ là:
- Tần số alen A2 = KHA2 +KHA3 +KHA4 - KHA3 +KHA4 - KHA4
= KHA2 +KHA3 +KHA4 - Tần số alen A3 – Tần số alen A4
= 0 , 13 + 0 , 32 + 0 , 04 - 0,2 – 0,4 = 0,7 – 0,6 = 0,1
- Tần số alen A1 = 1 – Tần số alen A4 - Tần số alen A3 - Tần số alen A2
= 1 – 0,2 – 0,4 – 0,1 = 0,3
• Thực hiện các yêu cầu khác của đề bài
- Tần số kiểu gen của các cá thể cánh đen:
0,09 A1A1 + 0,06A1A2 + 0,24A1A3 + 0,12A1A4 = 0,51
Cấu trúc lại quần thể cánh đen:
+ Số cá thể cánh xám thuần chủng (A2A2) thu được:
+ Số cá thể cánh đen thuần chủng (A1A1) thu được :
Trang 112.3.2.2 Bài tập di truyền quần thể đối với gen nằm trên NST giới tính
*) Bài tập tổng quát
Một gen có 2 alen A và a nằm trên vùng không tương đồng của nhiễm sắc thểgiới tính X Xét quần thể chưa cân bằng di truyền có giới cái mang cặp nhiễmsắc thể giới tính XX, giới đực XY, tần số các alen ở 2 giới:
Giới cái: A = p; a = q; Giới đực A= p’, a = q’
Hãy xác định tần số alen của mỗi giới và của cả quần thể ở thế hệ Fn
Bài toán được tiến hành theo các bước sau đây:
Bước 1: Xác định giá trị M theo công thức: M = p – p’ = (pn – pn’) 2n [5]
*) Xét một số ví dụ:
Ví dụ 1: Một quần thể động vật có vú, A quy định lông xám trội hoàn toàn so
với a quy định lông đen Thế hệ xuất phát của một quần thể ngẫu phối có cấutrúc di truyền là 0,5 XaY : 0,2 XAXA : 0,1 XAXa : 0,2 XaXa Hãy xác định:
- Tần số alen của quần thể ở thể hệ F3
b Ở F5 lấy ngẫu nhiên 1 cá thể lông xám, tính xác xuất thu được cá thể đực
Trang 12Ví dụ 2: Ở gà màu lông do 1 gen có 2 len quy định, alen trội là trội hoàn toàn.
Phép lai (P) Gà trống lông đen lai với gà mái lông vằn thu được F1 có tỉ lệ: 1 gàtrống lông vằn: 1 gà mái lông đen Nếu từ F1 trở đi mỗi thế hệ đều cho giao phốingẫu nhiên thì ở F5 trong tổng số gà trống lông vằn gà có kiểu gen đồng hợpchiếm tỉ lệ?
- Quy ước: A: lông vằn; a: Lông đen => P: Xa Xa x XAY
F1: 1 XA Xa: 1 XaY (KH: 1 gà trống lông vằn: 1 gà mái lông đen)
15
+ = 73
15
=> Đáp án A 2.3.2.3 Bài tập về di truyền quần thể khi xét nhiều locut gen phân li độc lập Dạng 1: Bài tập về quần thể tự phối
*) Phương pháp giải
Quần thể tự phối có 2 cặp gen (A, a; B, b) phân li độc lập Để xác định cấu trúc
di truyền và các yêu cầu khác của đề bài ở thế hệ Fn ta thực hiện theo các bướcsau:
Trang 13Bước 1: Xác định tỉ lệ kiểu gen ở thế hệ Fn của từng kiểu gen có trong quần thể
Ví dụ: Quần thể ban đầu có cấu trúc: 0,2 AABb : 0,2 AaBB : 0,6 aabb.
Cấu trúc ở Fn khi cho từng kiểu gen tự thụ phấn có dạng:
- 0,2 (AABb x AABb)n = 0,2 (AA x AA)n (Bb x Bb)n
= 0,2AA (
2 2
1
= 0,2
2 2
1
1 − n aa) BB
= 0,2
2 2
1
- 0,6 (aabb x aabb)n = 0,6 aabb
(Mũ n thể hiện quá trình tự phối n thế hệ)
Bước 2: Cộng dồn hệ số của các kiểu gen giống nhau lại để được cấu trúc di
truyền của quần thể ở thế hệ Fn
Bước 3: Thực hiện các yêu cầu khác của đề bài
Bước 2: Cộng dồn hệ số của các kiểu gen giống nhau lại để được cấu trúc di
truyền của quần thể ở thế hệ F3
= 0,175 AABB: 0,025AABb: 0,025AaBB: 0,0875AAbb: 0,0875aaBB: 0,6aabb
Bước 3: Tỉ lệ giao tử AB của F3
AB = 0,175 +
2
025 , 0
+
2
025 , 0
= 0,2
Trang 14Ví dụ 2: Xét 2 cặp gen A, a; B, b mỗi gen quy định một tính trạng, gen trội là
trội hoàn toàn Một quần thể tự phối ở thế hệ ban đầu có cấu trúc: 0,2 AABb:0,2 AaBB: 0,6 aabb Ở thế hệ F3 lấy ngẫu nhiên một cá thể có kiểu hình trội về
cả 2 tính trạng, xác suất thu được cá thể có kiểu gen đồng hợp là bao nhiêu?
Bước 2: Cộng dồn hệ số của các kiểu gen giống nhau lại để được cấu trúc di
truyền của quần thể ở thế hệ F3
= 0,175 AABB: 0,025AABb: 0,025AaBB: 0,0875AAbb: 0,0875aaBB: 0,6aabb
Bước 3: Thực hiện các yêu cầu khác của đề bài
Ở thế hệ F3 lấy ngẫu nhiên một cá thể có kiểu hình trội về cả 2 tính trạng (A-B-),xác suất thu được cá thể có kiểu gen đồng hợp (AABB) là:
025 , 0 025
Bước 1: Xác định tần số các loại giao tử ở thế hệ xuất phát (P)
Giả sử tần số các loại giao tử trong quần thể ở thế hệ xuất phát xác định đượcnhư sau: AB = x; Ab = y; aB = z; ab = t
Bước 2: Xác định hệ số thay đổi M
Bước 3: Xác định tỉ lệ các loại giao tử ở thế hệ Fn
Tỉ lệ các loại giao tử của quần thể ở thế hệ Fn được xác định theo biểu thức:[5]
AB = x + M∑−1
0
) 5 , 0 (
n
α Ab = y - M∑−1
0
) 5 , 0 (
n
α ab = t + M∑−1
0
) 5 , 0 (
n
α
Bước 4: Thực hiện các yêu cầu tiếp theo của đề bài
Lưu ý: Nếu yêu cầu của đề bài liên quan đến cấu trúc của quần thể ở thế hệ F n
thì ta xác định tỉ lệ các loại giao tử của thế hệ F n-1 sau đó cho các giao tử kết hợp với nhau một cách ngẫu nhiên để xác định F n