Các dạng bài tập môn luật an sinh xã hội hay gặp nhất và có kèm theo đáp án chi tiết. Ông A vào làm việc tại công ty xây dựng X từ năm 2010. Ngày 2522018, trong thời gian nghỉ giải lao, không may giàn giáo bị sập khiến ông bị thương phải vào viện điều trị mất 2 tháng
Trang 1BÀI TẬP TÌNH HUỐNG MÔN LUẬT AN SINH XÃ HỘI CÓ ĐÁP
ÁN CHI TIẾT BÀI 1:
Ông A vào làm việc tại công ty xây dựng X từ năm 2010 Ngày 25/2/2018, trong thời gian nghỉ giải lao, không may giàn giáo bị sập khiến ông bị thương phải vào viện điều trị mất 2 tháng Ra viện, ông được xác định suy giảm 55% khả năng lao động Tháng 6/2019, vết thương tai nạn tái phát, ông A phải vào viện điều trị mất 1 tháng Sau khi
ra viện,ông được xác định suy giảm 61% khả năng lao động Mặc dù mới
53 tuổi nhưng ông làm đơn xin được nghỉ việc và đề nghị được giải quyết chế độ hưu trí
Anh (chị) hãy giải quyết các quyền lợi về an sinh xã hội cho ông A theo quy định của pháp luật hiện hành Được biết thời gian đóng bảo hiểm xã hội của ông A được chốt sổ là 25 năm
B GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
Với những sự kiện xảy ra trong tình huống trên thì các quyền lợi về
an sinh xã hội mà ông A được hưởng là chế độ tai nạn lao động, chế độ
ốm đau, hưu trí , trợ cấp thất nghiệp và bảo hiểm y tế cụ thể như sau:
1 Chế độ tai nạn lao động.
Theo dữ kiện đề bài, ngày 25/2/2018, trong thời gian nghỉ giải lao, không may giàn giáo bị sập khiến ông bị thương phải vào viện điều trị mất 2 tháng Ra viện, ông được xác định suy giảm 55% khả năng lao động Trường hợp cuả ông A đã đủ điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động cụ thể như sau:
- Ông A là người làm việc theo hợp đồng lao động thuộc đối tượng
Trang 2- Ông A đáp ứng đủ điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động theo Điều 45 LATVSLĐ 2015 :
+ Ông A bị tai nạn thộc trường hợp tại nơi làm việc và trong giờ làm việc, kể cả khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết tại nơi làm việc hoặc trong giờ làm việc mà Bộ luật lao động và nội quy của cơ sở sản xuất, kinh doanh cho phép, bao gồm cả thời gian nghỉ giải lao
+ Ông A bị suy giảm 55% khả năng lao động
+ Ông A bị tai nạn lao động không thuộc trường hợp do mâu thuẫn của chính nạn nhân với người gây ra tai nạn mà không liên quan đến việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động; do người lao động cố ý tự hủy hoại sức khỏe của bản thân; do sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác trái với quy định của pháp luật
Qua đó, ông A được hưởng những chế độ về tai nạn lao động sau đây:
Đầu tiên, theo điểm a khoản 1 điều 47 Luật ATVSLĐ thì người bị tai
nạn lao động, bênh nghề nghiệp sẽ được giám định mức suy giảm khả năng lao động trong trường hợp sau khi thương tật, bệnh tật lần đầu đã được điều trị ổn định còn di chứng ảnh hướng đến sức khoẻ Cho nên, chế
độ đầu tiên ông A được hưởng đó là được giám định suy giảm khả năng lao động
Thứ hai, sau khi giám định suy giảm khả năng lao động, ông A được
kết luận là đã bị suy giảm 55% khả năng lao động Từ đó, ông A sẽ được hưởng trợ cấp hàng tháng theo quy định tại khoản 1 điều 49 Luật ATVSLĐ: “1 Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên thì được hưởng trợ cấp hằng tháng.” Cụ thể, mức trợ cấp mà ông
A sẽ được hưởng như sau:
Trợ cấp theo mức độ suy giảm khả năng lao động: Theo quy định tại điểm a khoản 2 điều 49 Luật ATVSLĐ mức trợ cấp được tính như sau:
Trang 3“a) Suy giảm 31% khả năng lao động thì được hưởng bằng 30% mức lương cơ sở, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương cơ sở” Theo đó, do ông A bị suy giảm 55% khả năng lao động cho nên mức trợ cấp mà ông A được hưởng sẽ bằng: 30% MLCS + 2% MLCS*(55 – 31) = 78% mức lương cơ sở Mà tại thời điểm ông A được hưởng chế độ về tại nạn lao động là từ tháng 4/2018, mức lương cơ sở là 1.300.000 đồng theo quy định tại nghị định 47/2017/NĐ-CP cho nên trợ cấp hàng tháng của ông A là 1.014.000 đồng
Ngoài khoản trợ cấp được tính theo mức độ suy giảm khả năng lao động thì ông A còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp hàng tháng khác tính theo số năm đã đóng bảo hiểm Cụ thể, theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 49 Luật ATVSLĐ khoản trợ cấp này được tính như sau: “b) Ngoài mức trợ cấp quy định tại điểm a khoản này, hằng tháng còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, từ một năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng vào quỹ được tính thêm 0,3% mức tiền lương đóng vào quỹ của tháng liền kề trước tháng bị tai nạn lao động hoặc được xác định mắc bệnh nghề nghiệp” Theo đó, ông A đã đóng bảo hiểm được 25 năm khi chốt sổ năm 2019 và thời gian đóng BHXH cho chế độ tai nạn lao động là tính đến tháng 1/2018 cho nên mức trợ cấp mà ông A được hưởng là 0,5% + 23*0,3%= 7,4% mức lương đóng bảo hiểm của tháng liền kề trước tháng bị tai nạn lao động (hay tháng 1/2018)
Thứ ba, theo Điều 51 Luật ATVSLĐ, ông A bị tai nạn lao động mà bị
tổn thương các chức năng hoạt động của cơ thể thì tùy theo tình trạng thương tật, bệnh tật được cấp tiền để mua các phương tiện trợ giúp sinh hoạt và dụng cụ chỉnh hình theo chỉ định tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh,
Trang 4cơ sở chỉnh hình và phục hồi chức năng thuộc ngành Lao động - Thương binh và Xã hội hoặc của bệnh viện cấp tỉnh và tương đương trở lên
Thứ tư, sau khi được điều trị ổn định, ông A còn được nghỉ dưỡng
sức, phục hồi sức hoả theo quy định tại điều 54 Luật ATVSLĐ Theo đó, ông A bị suy giảm 55% khả năng lao động nên sẽ được nghỉ 10 ngày và được hưởng mức trợ cấp là 10 * 30% mức lương cơ sở = 3 lần mức lương
cơ sở Mức lương cơ sở tại thời điểm đó là 1.300.000 đồng theo nghị định 47/2017/NĐ-CP cho nên mức trợ cấp nghỉ dưỡng, phục hồi sức khẻ của ông A trong 10 ngày là 3.900.000 đồng
Thứ năm, theo quy định tại Điều 55 Luật ATVSLĐ, ông A còn được
NSDLĐ sắp xếp công việc mới sao cho phù hợp với khả năng lao động của mình Nếu phải đào tạo học nghề thì ông A còn được hưởng hỗ trợ học phí Mức hỗ trợ được thực hiện theo khoản 2 điều 55 Luật ATVSLĐ:
“2 Mức hỗ trợ không quá 50% mức học phí và không quá mười lăm lần mức lương cơ sở; số lần hỗ trợ tối đa đối với mỗi người lao động là hai lần và trong 01 năm chỉ được nhận hỗ trợ một lần.”
Đối với lần thương tật bị tái phát vào tháng 6/2019 và ông A phải điều trị mất một tháng Sau đó ông được xác định là đã bị suy giảm 61% khả năng lao động Chế độ về tai nạn lao động mà ông A sẽ được hưởng gồm:
Đầu tiên, sau khi điều trị ổn định thì ông A sẽ được giám định lại suy
giảm khă năng lao động theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 47 Luật ATVSLĐ
Thứ hai, do ông A bị suy giảm 61% khả năng lao động theo kết quả
xác định suy giảm khả năng lao động mới Ông vẫn sẽ được hưởng trợ cấp hàng tháng theo khoản 1 điều 49 luật ATVSLĐ nhưng do mức độ suy
Trang 5giảm khả năng lao động của ông A đã tăng lên 61% nên phải điều chỉnh lại mức trợ cấp Cụ thể, mức trợ cấp của ông A như sau:
Đối với khoản trợ cấp tính theo suy giảm khả năng lao động thì theo quy định tại điểm a khoản 2 điều 49 luật ATVSLĐ mức trợ cấp ông A được hưởng sẽ là 30%MLCS + 2%MLCS*(61-31) = 90% mức lương cơ
sở Mà thời gian hưởng chế độ của ông A bắt đầu từ tháng 7/2019, mức lương cơ sở khi đó là 1.490.000 đồng theo nghị định 38/2019/NĐ-CP cho nên mức trợ cấp của ông A là 1.341.000 đồng
Đối với khoản trợ cấp tính số năm đồng BHXH, thì theo quy dịnh tại điểm b khoản 2 điều 49 luật ATVSLĐ, mức trợ cấp ông A sẽ được hưởng là: 0,5% + 0,3%*24 = 7,7% mức tiền lương đóng BHXH của tháng liền
kề trước tháng bị tai nạn (hay tháng 5/2019)
2 Chế độ ốm đau.
Vào tháng 6/2019, vết thương tai nạn tái phát, ông A phải vào viện điều trị mất 1 tháng Sau khi ra viện, ông được xác định suy giảm 61% khả năng lao động Trường hợp này, ông A đáp ứng đủ điều kiện được hưởng chế độ ốm đau theo điểm a khoản 1 Điều 3 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH : “ Người lao động bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động hoặc điều trị thương tật, bệnh tật tái phát do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền theo quy định của Bộ Y tế.” Ông A thuộc trường hợp điều trị thương tật, bệnh tật tái phát do tai nạn lao động phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền theo quy định của Bộ Y tế Ông A không thuộc các trường hợp không được hưởng chế độ ốm đau do tự huy hoại sức khỏe, trong thời gian nghỉ, người lao động điều trị TNLĐ, BNN
Trang 6- Thời gian hưởng chế độ ốm đau: theo Điều 26 Luật BHXH quy định về thời gian hưởng chế độ ốm đau thì ông A làm việc trong điều kiện bình thường và có thời gian đóng bảo hiểm xã hội là 25 năm nên được hưởng tối đa là 40 ngày trong một năm Ông A điều trị hết một tháng trong đó số ngày nghỉ việc được hưởng chế độ ốm đau được tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần nên thời gian hưởng chế độ ốm đau của ông là 26 ngày làm việc ( đã trừ đi 4 ngày nghỉ hàng tuần)
- Mức hưởng chế độ ốm đau của ông A là:
Mức hưởng
chế độ ốm
đau
=
Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc (tháng 5/2019) x75(%)x
Số ngày nghỉ việc được hưởng chế độ
ốm đau ( 26 ngày) 24
3 Chế độ hưu trí.
Vào tháng 06/2019 ông A bị tái phát bệnh và phải điều trị 01 tháng, giám định mức suy giảm khả năng lao động là 61% Sau đó ông A làm đơn xin được nghỉ việc Lúc này ông A mới 53 tuổi và đã đóng bảo hiểm
xã hội 25 năm, làm việc trong điều kiện bình thường,bị suy giảm 61% khả năng lao động Ông A không thuộc trường hợp được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng do chưa đủ độ tuổi quy định theo điểm a khoản 1 Điều
55 Luật BHXH: “ Từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, nam đủ 51 tuổi, nữ đủ
46 tuổi và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động Sau đó mỗi năm tăng thêm một tuổi cho đến năm 2020 trở đi, nam đủ 55 tuổi và nữ đủ 50 tuổi thì mới đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động từ
Trang 761% trở lên” Trong trường hợp này ông A đã đủ số năm đóng bảo hiểm, nhưng vào năm 2019 ông chưa đủ tuổi 54 tuổi thì ông có thể bảo lưu thời gian đóng chờ đến khi đủ tuổi để hưởng chế độ hưu trí hàng tháng theo quy định tại Điều 61 Luật BHXH: “Người lao động khi nghỉ việc mà chưa đủ điều kiện để hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 54 và Điều
55 của Luật này hoặc chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo quy định tại Điều 60 của Luật này thì được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội.” Ông A chỉ cần bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm 1 năm là đủ điều kiện hưởng hưu trí hàng tháng theo điểm a khoản 1 Điều 55 Luật BHXH 2014
Thời điểm ông A được hưởng lương hưu được quy định tại khoản 3 Điều 59 Luật BHXH như sau : “ Đối với người lao động quy định tại điểm g khoản 1 Điều 2 của Luật này và người đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội, thời điểm hưởng lương hưu là thời điểm ghi trong văn bản đề nghị của người lao động đã đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định.” Như vậy thời điểm hưởng lương hưu của ông A là thời điểm ghi trong văn bản đề nghị của ông khi đã đủ điều kiện hưởng lương hưu
Sau thời gian bảo lưu đến 2020 ông A đủ điều kiện để hưởng lương hưu hàng tháng và mức lương hưu hàng tháng ông được hưởng là:
45% +(25-18)* 2% =59% mức tiền lương bình quân tháng đóng bảo hiểm xã hôi
Nhưng do ông A nghỉ hưu trước 6 năm nên theo khoản 3 Điều 56 Luật BHXH nên cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 2% Vậy ông A nghỉ hưu trước 6 năm nên bị giảm 12 % mức tiền lương bình quân tháng đóng bảo hiểm xã hội Như vậy mức lương hưu hàng tháng
Trang 8tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian.)
4 Trợ cấp thất nghiệp.
Ông A đã đủ số năm đóng bảo hiểm xã hội nhưng chưa đủ tuổi hưởng lương hưu nhưng trong thời gian chờ để hưởng lương hưu ông A vẫn có thể hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu như ông đáp ứng đủ các điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp tại Điều 49 Luật việc làm 2013 Cụ thể là ông
A đã chấm dứt hợp đồng lao động; ông A làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn nên phải đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ
12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động Bên cạnh đó ông A phải nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm và chưa tìm được việc làm sau 15 ngày nộp
hồ sơ
Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều
50 Luật việc làm 2013 như sau: “ Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá
05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.” Theo đó, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng của ông A bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước ( tháng 12/2018, tháng 1,2,3,4,5 /2019 )khi thất nghiệp nhưng không quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng
Về thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp của ông A được tính dựa trên thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp.Trong đó thời gian đóng bảo hiểm
Trang 9thất nghiệp được xác định như sau: ông A làm việc tại công ty xây dựng vào năm 2010 thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hợp đồng lao động
có hiệu lực công ty phải tham gia bảo hiểm thất cho ông A Đề bài không nói rõ về tháng tham gia bảo hiểm thất nghiệp nên sẽ giả sử ông tham gia vào tháng 1 /2010 Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp sẽ được tính từ tháng 1/2010 đến khi ông chấm dứt hợp đồng lao động vào tháng 7/2019 Tuy nhiên ông A đã nghỉ hưởng chế độ ốm đau 1 tháng vào tháng 6/2019 nên Điều 11 Nghị định 28/ 2015/NĐ-CP thì trong thời gian này ông không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp Nên thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp chỉ tính từ 1/2010 đến tháng 5/2019 sẽ là 9 năm 4 tháng Theo quy định tại khoản 2 điều 50 Luật việc làm : “Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng.” Theo quy định này thì thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp của ông A là 9 tháng
5 Chế độ bảo hiểm y tế.
Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật bảo hiểm y tế Theo đó ông A đóng BHYT thuộc nhóm đối tượng do người lao động và người sử dụng lao động đóng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Luật BHYT năm 2014 Thêm vào đó là ông A tham gia bảo hiểm y tế thì sẽ có thẻ BHYT Căn
cứ vào hai điều kiện trên thì ông A đã đủ điều kiện để hưởng BHYT Mức hưởng bảo hiểm y tế khi ông A bị tai nạn lao động: căn cứ tại Điều 22 điểm đ khoản 1 Luật BHYT năm 2014 về mức hưởng BHYT thì bảo hiểm y tế sẽ chi trả 80% phí khám, chữa bệnh trong phạm vi được
Trang 10ông A khám chữa bệnh không đúng tuyến thì bảo hiểm y tế chi trả 40% chi phí điều trị nội trú của mức hưởng tại bệnh viện tuyến trung ương, 60% chi phí điều trị nội trú của mức hưởng (từ ngày 01/01/2015 đến ngày 31/12/2020) ở bệnh viện tuyến tỉnh và 100% chi phí khám, chữa bệnh của mức hưởng từ ngày 1/1/2016 tại bệnh viện tuyến huyện Còn về chi phí khám giám định thương tật, bệnh tật do tai nạn lao động bảo hiểm y tế sẽ không chi trả mà sẽ do quỹ bảo hiểm tai nạn, bệnh nghề nghiệp chi trả theo quy định tại Điều 42 Luật ATVSLĐ 2015
Về lần điều trị vết thương tai nạn lao động tái phát tháng 6/2019 thì lúc này ông A thuộc 2 nhóm đối tượng tham gia bảo hiểm y tế là nhóm đối tượng do người lao động và người sử dụng lao động đóng( điểm a khoản 1 Điều 12 Luật BHYT) và nhóm đối tượng do bảo hiểm xã hội đóng do ông A đã được hưởng trợ cấp hiểm xã hội hàng tháng do bị tai nạn lao ( điểm b khoản 2 Điều 12 Luật BHYT) Một người mà thuộc nhiều đối tượng tham gia bảo hiểm y tế thì được hưởng quyền lợi bảo hiểm y tế theo đối tượng có quyền lợi cao nhất Bên cạnh đó thì ông A đã nghỉ hưởng chế độ ốm đau là 1 tháng theo điểm a Khoản 1 Điều 7 Nghị định 146/2018/NĐ-CP thì người lao động trong thời gian nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau từ 14 ngày trở lên trong tháng theo quy định của pháp luật
về bảo hiểm xã hội thì không phải đóng bảo hiểm y tế nhưng vẫn được hưởng quyền lợi bảo hiểm y tế Ông A vẫn được hưởng các quyền lợi từ bảo hiểm y tế giống như khi bị tai nạn lao động
Sau khi điều trị tái phát do tai nạn lao động, ông A đã xin nghỉ việc lúc này ông A cũng chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng và ông đang hưởng trợ cấp thất nghiệp nên theo Điều 51 Luật việc làm thì tổ chức bảo hiểm xã hội sẽ đóng bảo hiểm y tế cho ông A từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp