1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bộ đề đáp án ôn thi học sinh giỏi Ngữ văn 12 có đáp án chi tiết

204 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 204
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ đề đáp án ôn thi học sinh giỏi Ngữ văn 12 Bộ đề đáp án ôn thi học sinh giỏi Ngữ văn 12 có đáp án chi tiết

Trang 1

BỘ ĐỀ ÔN THI HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN 12

ĐỀ 1:

Cảm nhận nét đặc sắc của bài thơ “Đàn ghita của Lorca” - Thanh Thảo

Gợi ý:

1 Giới thiệu nhà thơ Thanh Thảo và bài thơ Đàn ghita của Lorca.

- Thanh Thảo là nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ Ông cónhiều nỗ lực cách tân thơ Việt Nam hiện đại Thơ ông giàu tính triết luận, cảmhứng thường hướng về những con người sống có nghĩa khí, nhân cách ngời sáng

dù số phận có thể ngang trái

- Trên hành trình đổi mới thơ, “ông vua trường ca” đã ám ảnh người đọc bằng nhiều sáng tác độc đáo Trong đó, “Đàn ghita của Lorca” in trong tập “Khối vuông ru-bich” (1985) là một thi phẩm đặc sắc.

2 Nét đặc sắc của bài thơ “Đàn ghita của Lorca”

a Về nội dung

Bài thơ như một khúc tráng ca tưởng niệm về Lorca, tái hiện hình tượngngười nghệ sĩ tự do và cô đơn; một cái chết oan khuất, bi phẫn bởi những thế lựctàn ác; một tâm hồn bất diệt Bài thơ đã làm sống lại huyền thoại về một conngười, một nghệ sĩ, một chiến sĩ, về xứ sở Tây Ban Nha, âm nhạc và thi ca

Bài thơ đã thể hiện sự ngưỡng mộ, xúc động sâu sắc, đồng cảm tri âm của ThanhThảo với nhà thơ, nghệ sĩ, chiến sĩ Lorca

- Vẻ đẹp bi tráng của Lorca

+ Lorca được miêu tả trên nền rộng lớn của văn hóa Tây Ban Nha: hình ảnh áo choàng đỏ gắt; vầng trăng; yên ngựa; cô gái Di-gan; nốt nhạc li-la-li-la-li-la Tất

cả làm nổi bật tình yêu và sự gắn bó không thể tách rời của Lorca với xứ sở Tây

Ban Nha Hình ảnh áo choàng đỏ gắt giúp ta liên tưởng đến khung cảnh của một

đấu trường giữa công dân Lorca cùng khát vọng dân chủ với nền chính trị độc tài,giữa nền nghệ thuật già nua Tây Ban Nha với nghệ thuật cách tân của Lorca

=> Nổi bật hình tượng Lorca là một nghệ sĩ đơn độc lang thang hát nghêu ngao

cùng tiếng đàn bọt nước cùng với vầng trăng chếch choáng, trên yên ngựa mỏi mòn, dùng tiếng đàn ghita để giãi bày nỗi đau buồn và khát vọng yêu thương của

nhân dân mình

+ Cái chết bi tráng của Lorca

Hiện thân cho số phận đau thương: bị bọn phát xít giết hại dã man (bị điệu về bãi bắn, áo choàng bê bết đỏ,…) Cái chết của Lorca gợi lên hình ảnh cái đẹp bị

Trang 2

bạo lực tàn ác hủy diệt (tiếng ghita tròn bọt nước võ tan - tiếng ghita ròng ròng máu chảy…)

- Sự ngưỡng mộ, xúc động sâu sắc, đồng cảm tri âm của Thanh Thảo với nhà thơ,nghệ sĩ, chiến sĩ Lorca

+ Suy ngẫm về cái chết Lorca: Sự đồng cảm, thương xót, ngưỡng vọng (giọt nước mắt vầng trăng, long lanh trong đáy giếng,…) Cái chết của Lorca như một

sự giã từ (bơi sang ngang trên chiếc ghita màu bạc; ném lá bùa; ném trái tim mình…), cùng với cây đàn nghệ thuật, Lorca đã cập bến bất tử.

+ Suy ngẫm về sức sống tiếng đàn, khát vọng nghệ thuật của Lorca: Tiếng đàntượng trưng cho nghệ thuật của Lorca Đó là cái đẹp mà sự tàn ác không thể hủy

diệt nổi Nó sẽ sống, lưu truyền mãi tiếng đàn như cỏ mọc hoang mặc cho không

ai chôn cất Nhà thơ Thanh Thảo đã thật sự cảm thông, thấu hiểu khát vọng nghệthuật của Lorca Nghệ sĩ Lorca ra đi bất ngờ khiến hành trình cách tân nghệ thuậtcủa ông bị dang dở và con đường ông đã đi qua không ai thực sự hiểu Lorca đã

dặn “khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”, lời dặn dò thể hiện nhân cách nghệ sĩ,

tình yêu say đắm với nghệ thuật và tình yêu tha thiết với đất nước Tây Ban Nhacủa Lorca Lorca cho rằng cần phải biết chôn nghệ thuật của ông để thi ca đókhông trở thành vật án ngữ, cản trở sự mãnh liệt vào sự bất tử của tiếng đàn Kếtthúc bài thơ, âm thanh li-la-li-la-li-la vang vọng - tiếng đàn nghệ thuật, Lorca cònmãi với thời gian

b Về nghệ thuật

- Thể thơ tự do, gạt bỏ mọi quy tắc ngữ pháp, không sử dụng các dấu chấm câu,câu thơ dài-ngắn không đều, không viết hoa đầu dòng, nhịp điệu phóng khoáng tự

do để cho mạch cảm xúc tuôn trào

- Hình tượng tiếng đàn được xây dựng trong thế song - trùng với hình tượngLorca Lorca là một nghệ sĩ kép - nhạc sĩ và nhà thơ, cho nên việc Thanh Thảochọn hình tượng đàn ghita để tái hiện cuộc đời, nghệ thuật, cái chết của Lorca,dùng hình tượng tiếng đàn ghita suy tư về sự bất tử của Lorca là một sự sáng tạonghệ thuật mang ý nghĩa sâu sắc

- Bài thơ giàu nhạc tính có sự giao thoa giữa thơ và nhạc

+ Bài thơ mang dáng dấp một ca khúc Mạch kể chuyện (cốt tự sự - tái hiện lạicuộc đời, cái chết của Lorca…) hiện lên qua cấu trúc của một ca khúc (khúc dạođầu, bản nhạc và vĩ thanh)

+ Mô phỏng lối tiết tấu của nhạc (mô phỏng chuỗi âm thanh: li-la-li-la-li-la), sửdụng lối diễn tấu ghita, sử dụng những điệp khúc, những từ láy… Thanh Thảo đã

“khảm” tiếng nhạc vào ngôn từ, hình ảnh thơ tạo sức gợi lớn

Trang 3

- Sử dụng thi liệu: Thanh Thảo đã thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của Lorca,lựa chọn những thi liệu đầy ám ảnh, gợi cảm từ thế giới nghệ thuật ấy đưa vào bài

thơ “Đàn ghita của Lorca” Đó là những thi liệu: đàn ghita, yên ngựa, vầng trăng,

áo choàng đỏ, cô gái Di-gan, lá bùa hộ mệnh,…

- Ngôn ngữ, hình ảnh thơ: mang tính đa nghĩa, tính biểu tượng cao, được sáng tạo

theo lối lạ hóa của thơ tượng trưng, siêu thực: tiếng đàn bọt nước, tiếng ghita lá xanh, tiếng ghita nâu, tiếng ghita tròn bọt nước vỡ tan, tiếng ghita ròng ròng máu chảy, giọt nước mắt vầng trăng… Biện pháp hoán dụ (tiếng hát để chỉ Lorca, áo

choàng bê bết đỏ để chỉ cái chết), biện pháp so sánh và chuyển đổi cảm giác theo

thuyết tương giao (tiếng ghita nâu, tiếng ghita lá xanh, tiếng ghita tròn) giữa âm

thanh, hình ảnh, sắc màu

=> Lorca là một nhà thơ cách tân, một nhà thơ tượng trưng siêu thực Thanh Thảo

đã dùng nghệ thuật của Lorca để cảm hiểu, nói về Lorca Bài thơ là sự tri âm sâusắc, sự sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ Thanh Thảo

3 Đánh giá

- Bài thơ Đàn ghita của Lorca là một thi phẩm thành công kết tinh nhiều nỗ lực

tìm tòi, sáng tạo mới mẻ của Thanh Thảo theo hướng hiện đại hóa cả về nội dung

nhà thơ Việt Nam với nhà thơ Tây Ban Nha thiên tài

ĐỀ 2: “Thơ là mở ra được một cái gì mà trước câu thơ đó, trước nhà thơ đó, vẫn

như là bị phong kín” (Nguyễn Tuân - Thời và thơ Tú Xương - Văn học 12, tập

một, sách chỉnh lí hợp nhất năm 2000, tr 186)

Hãy giải thích ý kiến trên và làm sáng tỏ bằng một thi phẩm trong chươngtrình

1 Giải thích ý kiến:

- Hiểu được quan niệm về thơ của Nguyễn Tuân: thơ ca phải có sức gợi mở

vô cùng, chứa đựng những điều mới mẻ độc đáo

- Lí giải được vì sao:

+ Vì thơ là tiếng nói về thế giới tâm hồn đầy riêng tư, bí mật của con người.Cảm xúc trong thơ là cảm xúc riêng, nỗi niềm riêng, mà nếu nhà thơ không giãi

Trang 4

bày thì mãi mãi là một vương quốc bí mật.

+ Vì cuộc sống được thể hiện trong thơ là cuộc sống được phản chiếu qua thếgiới cảm xúc của nhà thơ, in đậm một cách nhìn, một cách cảm mới mẻ, độc đáo

+ Cảm xúc trong thơ bao giờ cũng tìm đến với một cách thể hiện tương ứngđầy sáng tạo, không lặp lại

2 Làm sáng tỏ quan niệm của Nguyễn Tuân bằng một thi phẩm cụ thể:

- Chọn được tác phẩm phù hợp

- Biết cách phân tích, lí giải để làm sáng tỏ vấn đề

3 Mở rộng nâng cao:

- Tiếng nói trong thơ dù riêng tư nhưng phải được nâng lên ở tầm phổ quát

- Sự độc đáo, mới mẻ không chỉ là yêu cầu của thơ ca mà còn là yêu cầucủa sáng tạo nghệ thuật nói chung

ĐỀ 3: “Nghệ thuật là lời nói dối giúp chúng ta nhận ra chân lí” (Picasso).

Bằng những hiểu biết về văn học, anh/ chị hãy bình luận ý kiến trên

1 Hiểu và giải thích được nội dung câu nói:

- Lời nói dối được hiểu là sự hư cấu tưởng tượng trong sáng tạo nghệ thuật.

Nhà văn có thể bớt đi hay thêm vào, nhấn mạnh hay làm lu mờ đi, hoặc hoàn toànsáng tạo ra một chi tiết, một tình huống, một nhân vật nào đó phục vụ cho ý tưởngsáng tạo của mình

- Chân lí là sự phản ánh sự vật, hiện tượng của hiện thực một cách đúng đắn,

chính xác, thể hiện được bản chất của đời sống

- Nội dung câu nói: câu nói đề cập đến đặc trưng cơ bản nhất của sáng tạonghệ thuật: người nghệ sĩ phải bằng tưởng tượng hư cấu để phản ánh hiện thực đờisống

2 Vận dụng kiến thức lí luận văn học và tác phẩm văn học để khẳng định và đánh giá vấn đề:

- Văn học bao giờ cũng phản ánh hiện thực Chức năng của văn học là giúpngười đọc nhận ra chân lí đời sống

- Tuy nhiên, văn học phản ánh đời sống bằng hình tượng Hình tượng chính

là sự nhào nặn đời sống một cách sáng tạo, thông qua trí tưởng tượng phong phú

và thế giới cảm xúc của nhà văn Vì vậy, hư cấu tưởng tượng là yêu cầu tất yếucủa quá trình sáng tác

Trang 5

- Nói đến hư cấu tưởng tượng trong tác phẩm văn học là thừa nhận tínhkhông đồng nhất giữa sự thật đã từng tồn tại trong đời sống thực và các chi tiết, sựkiện đó được phản ánh vào trong tác phẩm văn học nghệ thuật

- Hư cấu tưởng tượng giúp nhà văn phản ánh hiện thực một cách sống động,vừa cụ thể vừa khái quát và có khả năng tác động đến người đọc một cách sâu sắc,

ám ảnh, mãnh liệt hơn chính cả hiện thực đời sống

3 Mở rộng nâng cao vấn đề:

- Nếu các chi tiết trong tác phẩm văn học được phản ánh trung thực gần nhưsao chép sự thật đã và đang xảy ra trong đời sống thực thì cùng lắm đấy chỉ là mộtcuốn biên niên sử, chứ không thể là một tác phẩm văn học nghệ thuật

- Hư cấu tưởng tượng nếu bị lạm dụng quá đà, rời xa hiện thực sẽ dễ đi vàocon đường hoặc tô hồng hiện thực, hoặc bóp méo hiện thực, hoặc xuyên tạc hiệnthực Khi đó, tác phẩm văn học sẽ không thể chứa đựng chân lí đời sống

- Hư cấu tưởng tượng là tư chất cần thiết của người nghệ sĩ

- Nhà văn phải có vốn sống phong phú, dồi dào, sâu sắc thì sự hư cấu tưởngtượng của nhà văn trong tác phẩm mới có khả năng chứa đựng chân lí đời sống

ĐỀ 4: Khi đánh giá về thơ trữ tình, nhà thơ Trần Đăng Khoa cho rằng: “Thơ hay

là thơ giản dị, xúc động và ám ảnh.” Anh, chị hiểu ý kiến trên như thế nào?

Phân tích một bài thơ thuộc giai đoạn văn học từ sau Cách mạng tháng Tám 1945đến hết thế kỉ XX trong chương trình Ngữ Văn 12 mà anh, chị cho là giản dị, xúcđộng và ám ảnh

- Ám ảnh trong thơ là những ấn tượng mạnh mẽ, những dư ba đọng lại trong lòngngười đọc về cái hay trong hình thức và nội dung thơ Những ám ảnh đó khôngchỉ nhất thời mà còn làm thổn thức trái tim người đọc bao thế hệ…

2 Chọn và phân tích một bài thơ thuộc giai đoạn văn học sau Cách mạng thángTám trong chương trình Ngữ văn 12

Trang 6

- Yêu cầu thí sinh phải biết chọn đúng, chọn “đắt” một tác phẩm thơ hay thật sự

mà đặc biệt bài thơ đó phải là giản dị, xúc động và ám ảnh…

- Trong quá trình nghị luận cần làm rõ bài thơ đó giản dị, xúc động, ám ảnh trêncác phương diện nội dung, nghệ thuật… như thế nào…

ĐỀ 5: “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có; cuộc đời phù phiếm và chật hẹp của cá nhân vì văn chương mà trở nên thâm trầm và rộng rãi đến trăm nghìn lần”.

(Hoài Thanh, trong Bình luận văn chương)

Suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến trên qua một số tác phẩm văn học đã đượchọc

Gợi ý:

1 Giải thích:

- “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có” vì chất liệu của tác phẩm văn học là hiện thực khách quan được nhà văn,

nhà thơ chắt lọc qua tâm hồn

- Văn chương dạy cho ta bao điều lẽ phải; giúp ta hoàn thiện hơn về nhân cách,đạo đức; giúp ta nâng cao kiến thức, mở rộng tâm hồn,…

- “Cuộc đời phù phiếm và chật hẹp của cá nhân vì cá nhân mà trở nên thâm trầm

và rộng rãi đến trăm nghìn lần”: Văn chương đã làm cho cuộc sống mỗi cá nhân tưởng như viễn vông, không thiết thực “phù phiếm”, nghèo nàn “chật hẹp” trở nên có ý nghĩa sâu sắc, “thâm trầm”, tâm hồn phong phú, bao dung, nhân ái

“rộng rãi đến trăm nghìn lần”.

Đó chính là tác dụng to lớn của văn chương trong việc xây đắp, nuôi dưỡnglàm phong phú tâm hồn, tư tưởng, tình cảm người đọc

2 Học sinh bày tỏ suy nghĩ về nhận định.

- Văn chương dạy ta bao điều hay, lẽ phải, bổ sung và mở rộng kiến thức làm tâmhồn phong phú; dạy ta tránh cái ác, cái xấu; biết sống có ước mơ, hoài bão, lítưởng, nâng con người vượt lên trên những lợi ích vật chất tầm thường

- Từ việc tác động đến tư tưởng, tình cảm, văn chương tác động đến hành độnglàm thay đổi cuộc đời của người đọc, làm cho người đọc sống tốt đẹp, nhân vănhơn

- Nhận định nhấn mạnh tác dụng, sứ mệnh của văn chương: nuôi dưỡng, nâng cao,

mở rộng tâm hồn, phẩm chất con người, làm con người sống sâu sắc, nhân văn,…

Đó là giá trị của văn chương nói riêng và nghệ thuật nói chung

3 Chọn lọc một số tác phẩm để làm sáng tỏ nhận định.

Trang 7

- Tùy theo cảm nhận của mình, thí sinh chọn một số tác phẩm tâm đắc (3 tácphẩm trở lên) để phân tích, bình,… làm sáng tỏ vấn đề.

ĐỀ 6: Sức sống mãnh liệt của con người Việt Nam qua văn học.

- Tất cả những điều đó được thể hiện, ghi dấu ấn rõ ràng qua từng trang văn, bàithơ với những đặc điểm về nội dung và hình thức đặc biệt…

- Biểu hiện của sức sống mãnh liệt của con người Việt Nam trong văn chương:+ Trong VHDG: Tình làng, nghĩa xóm, là những bài học về đạo đức nhân sinh, là

ngọn nguồn ca dao ngọt ngào tình cảm (dẫn chứng)

+ Đến VHTĐ: Là thời kì chống giặc ngoại xâm tàn khốc nên VHVN thể hiện ýchí chiến đấu vì quốc gia, xã tắc vì Tổ Quốc linh thiêng, thời kì này chủ nghĩa yêu

nước đã tạo nên mạch nguồn vĩ đại cho VH dân tộc (dẫn chứng)

+ Văn học hiện đại là sự hội tụ đỉnh cao của khuynh hướng sử thi, chủ nghĩa yêu

nước (dẫn chứng)

- Nghệ thuât đặc sắc: thể loại, ngôn ngữ, giọng điệu,…

2 Kết bài:

- Cha ông ta đã xây dựng nên một sức sống mãnh liệt qua từng thời kì Chúng

được bắt nguồn từ tinh thần tương thân tương ái, từ ý thức độc lập tự chủ từ cườngcủa dân tộc

- Qua hàng ngàn năm lịch sử sức sống ấy vẫn tràn trề mãnh liệt qua những trangvăn

- Chúng ta tự hào về điều đó…

ĐỀ 7: Nhận xét về thơ, có ý kiến cho rằng: “Thơ khởi sự từ tâm hồn, vượt lên

bằng tầm nhìn, và đọng lại nhờ tấm lòng người viết” (Hoàng Minh Châu)

Trang 8

Bằng những hiểu biết về thơ, anh chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên

Gợi ý:

1 Giải thích:

- Thơ khởi sự từ tâm hồn: mạch nguồn của thơ là sự rung cảm, xúc cảm củangười viết

- Thơ vượt lên bởi tầm nhìn: “tầm nhìn” chính là cách quan sát, trải nghiệm, vốn

sống, cách nhìn của người nghệ sĩ đối với cuộc sống, làm nên nét riêng của tácgiả

- Thơ đọng lại nhờ tấm lòng người viết: một tác phẩm đọng lại nơi trái tim ngườiđọc phải là một tác phẩm chứa đựng trái tim, tấm lòng người viết

=> Ý kiến của Hoàng Minh Châu là một ý kiến xác đáng, bao quát nhiều vấn đề líluận thơ: đặc trưng của thơ, mối quan hệ giữa cuộc sống – người nghệ sĩ – tácphẩm – người đọc

2 Bàn luận

a Thơ khởi sự từ tâm hồn:

- Đặc trưng của thơ: Thơ là tiếng nói của cái tôi trữ tình, cái tôi mang tầm phổquát

+ Thơ là nghệ thuật trữ tình, tình cảm trong thơ mang yếu tố cốt lõi, nó bắtnguồn từ tâm hồn con người, thơ có ý nghĩa và giá trị đối với đời sống con người + Thơ bắt nguồn từ tâm hồn con người nên tình cảm trong thơ chân thành, xúccảm, nó hé mở được những nỗi niềm bí ẩn trong nội tâm con người, từ đó làmrung động trái tim người đọc

- Thơ khởi sự từ tâm hồn con người, là kết tinh cảm xúc của con người trước cuộcsống

+ Thơ bắt nguồn từ nỗi niềm suy tư của con người rồi trở về nâng giấc cho conngười

+ Thơ bồi đắp thêm cho con người những tình cảm đẹp đẽ, khơi dậy khát vọng,

sự đồng cảm, tình yêu, những rung động trước cuộc sống, có khả năng thanh lọctâm hồn người

b Thơ vượt lên bằng tầm nhìn:

- Tác phẩm văn học phản ánh thế giới khách quan qua đôi mắt chủ quan của tácgiả

- Vai trò của người nghệ sĩ trong quá trình sáng tạo: cuộc sống – người nghệ sĩ –tác phẩm – người đọc; giá trị tư tưởng của tác phẩm thể hiện ở cái nhìn khám phá

Trang 9

của người nghệ sĩ đối với cuộc sống Do đó người nghệ sĩ cần phải trau dồi, phảitrải nghiệm cuộc sống để có tầm nhìn rộng và sâu, tạo nên giá trị cho tác phẩm

c Thơ đọng lại nhờ tấm lòng người viết

- Vì ẩn giấu trong tác phẩm phải là những giá trị nhân sinh tốt đẹp

- Thơ đi từ tấm lòng người viết đến tấm lòng người đọc, là tiếng nói tri âm từ tráitim đến trái tim

3 Làm rõ vấn đề qua các sáng tác thơ đã học:

Thí sinh sử dụng các tác phẩm thơ đã học, đã đọc để chứng minh ý kiến trên

4 Đánh giá chung:

- Vai trò của thơ trong đời sống

- Người đọc cần có ý thức bồi dưỡng tâm hồn, trau dồi kĩ năng, tích lũy kiến thức

để phát huy khả năng liên tưởng trong quá trình cảm nhận tác phẩm văn học để cóthể tri âm với tác giả

- Văn học không thể tách rời cuộc sống vì cuộc sống là suối nguồn vô tận của vănhọc Nhưng văn học không phải chỉ phản ánh hiện thực như cái đã có, đang có màcòn phản ánh cả những cái sẽ có và cần phải có Vì vậy địa hạt của văn chươngkhông phải chỉ gói trọn trong thế giới hiện thực vật chất bình thường, nó chỉ thực

sự bất tử, thực sự “nằm ngoài quy luật của sự băng hoại” (Sêđrin) khi nó vút lêncái tinh thần của loài người, đó là “tiếng kêu khắc khoải của con người trước mộtthực tại chưa bao giờ bằng lòng”

Trang 10

→ Ý kiến trên đã bao hàm đầy đủ nội dung, ý nghĩa và sứ mệnh của văn họctrong cuộc đời.

* Giải thích cụ thể:

- Con người chưa bao giờ bằng lòng với thực tại Đó là chân lí và cũng là lẽ sốngđẹp đẽ nhất của sứ mệnh làm người Dù muốn hay không, con người vẫn luôntheo đuổi những ước mơ và hoài bão vượt lên thực tại, chính điều đó mà conngười vĩ đại

- Nhưng trên hành trình vượt lên ấy con người luôn gặp phải những bi kịch, khôngchỉ là bi kịch của tài năng, nhân cách, của sự xung đột mang tính triết học củanhững cặp phạm trù mà còn có những bi kịch bị kìm toả bởi hoàn cảnh, bởi thựctại… Gánh trên vai sức nặng khủng khiếp ấy, con người tìm đến văn chương nhưmột sự giải thoát, một nơi nương tựa

- Văn học thực thi thiên chức đẹp đẽ nhất của nó: “nó đã ra đời giữa những vuibuồn của loài người và nó sẽ kết bạn với loài người cho đến ngày tận thế” (HoàiThanh) Nghĩa là, giữa những khúc hoan ca ngây ngất hay giữa những nỗi đớn đautuyệt vọng, con người chưa bao giờ nguôi ngoai khát vọng mãnh liệt của mình Vìthế mà văn học “là tiếng kêu khắc khoải của con người trước một thực tại chưabao giờ bằng lòng”

→ Câu nói khẳng định giá trị đích thực của văn chương trong cuộc đời Chừng nàocòn có mặt con người trên thế gian này thì chừng ấy văn chương còn tồn tại để cấtlên tiếng kêu khắc khoải và da diết về cõi nhân sinh

2 Bình luận:

- “Trên trái đất này không có gì làm người ta hài lòng (…) cũng như chính trị, văn học là một hoạt động nhằm chống lại những cái chưa hoàn thiện của con người” (B Brecht) Đó là những giấc mơ dang dở, những nỗi niềm, bi kịch… vì

sự chưa bao giờ được thoả mãn của con người

- Để nuôi dưỡng những giấc mơ, người ta tìm kiếm ở văn chương, biến vănchương thành nơi chốn để ký thác những tâm tư, những ẩn ức của chính mình Vìthế, văn chương luôn hòa cùng nhịp thở con người, luôn phập phồng trong những

bi kịch và ước vọng muôn thuở

3 Biểu hiện cụ thể:

Học sinh chọn một tác phẩm để làm sáng tỏ ý kiến trên

4 Đánh giá: Mỗi tác phẩm văn học là một tiếng nói riêng, nhưng dù hồ hởi, hân

hoan hay điềm đạm, thâm trầm, dù thảng thốt, day dứt hay dữ dội, mãnh liệt thìcũng đều da diết, khắc khoải trước “thực tại chưa bao giờ bằng lòng”

- Nhờ tiếng kêu ấy, văn học mang trong nó những giá trị lớn lao và sức sống bấtdiệt

- Trong quá trình hoàn thiện nhân cách của con người, trong cuộc đấu tranh để

Trang 11

phát triển chính nghĩa của nhân loại, trong hành trình vươn tới sự hoàn mĩ, vănhọc không chỉ là tiếng nói tri âm của con người, nó còn là một phương tiện, một

giải pháp để con người bộc lộ trọn vẹn bản thân mình vì “Thiên chức của nhà văn

là gieo chủ nghĩa nhân đạo sáng ngời chân lí đến từng con người trên Trái đất”

(Aimatop)

ĐỀ 9: “Đọc một câu thơ hay, người ta không thấy câu thơ, chỉ còn thấy tình

người trong đó” (Tố Hữu)

Bằng những hiểu biết về Thơ mới, anh/chị hãy trình bày ý kiến của mình vềquan niệm trên

1 Giải thích:

- “Câu thơ hay”: Là sản phẩm lao động sáng tạo của nhà thơ, có khả năng layđộng lòng người, có giá trị tinh thần bền vững, có sức sống mãnh liệt trong lòngđộc giả, cũng là hình thức tồn tại của những tư tưởng, tình cảm mà nhà thơ muốngửi gắm

- “Đọc”: Là hành động tiếp nhận và thưởng thức của người đọc

- “Tình người”: Là nội dung tạo nên giá trị đặc trưng của thơ

=> Quan niệm của Tố Hữu đề cập đến giá trị của thơ từ góc độ của người tiếpnhận: Giá trị của thơ là giá trị của những tư tưởng, tình cảm được biểu hiện trongthơ

2 Lí giải:

- Đối tượng của thơ là thế giới tâm hồn, tình cảm của con người Những cảmxúc, rung động, những suy tư, trăn trở… đều có thể trở thành đối tượng khám phá

và thể hiện của thơ

- Với người làm thơ, bài thơ là phương tiện biểu đạt tình cảm, tư tưởng Chỉ cócảm xúc chân thành, mãnh liệt mới là cơ sở cho sự ra đời một tác phẩm nghệ thuậtchân chính Cảm xúc càng mãnh liệt, càng thăng hoa thì thơ càng có nhiều khảnăng chinh phục, ám ảnh trái tim người đọc

- Với người đọc thơ, đến với bài thơ là để trải nghiệm một tâm trạng, một cảmxúc và kiếm tìm sự tri âm Do vậy, khi tìm đến một tác phẩm thơ, người đọc quantâm nhiều tới cảm xúc, tới tình cảm mà nhà thơ kí thác Tuy nhiên, nói “khôngthấy câu thơ” không có nghĩa là câu thơ không tồn tại mà hình thức biểu hiện đó

đã đồng nhất với nội dung, trở thành dạng tồn tại của nội dung tình cảm

3 Chứng minh bằng việc phân tích một vài dẫn chứng thơ tiêu biểu trongphong trào Thơ mới (Chú ý: Học sinh trong quá trình phân tích phải làm nổi bật

Trang 12

tiếng nói tình cảm, nội dung cảm xúc được thể hiện trong thơ.)

4 Đánh giá, mở rộng:

- Ý nghĩa của câu nói đối với người làm thơ?

- Ý nghĩa của câu nói đối với người đọc thơ?

- Thơ hay là thơ lay động tâm hồn con người bằng tình cảm song để có thơhay, người làm thơ bên cạnh sự sâu sắc, mãnh liệt của tình cảm, sự phong phú củacảm xúc cần nghiêm túc, công phu trong lao động nghệ thuật Đây là hai yếu tốkhông thể xem nhẹ trong sáng tạo và thưởng thức thơ ca

1 Giải thích nhận định của Viên Mai

- “Cong” chính là lối nói gián tiếp, kín đáo để chuyển tải nội dung tư tưởng, tìnhcảm của tác phẩm

- Sở dĩ thơ văn thường “cong” là vì ngôn ngữ văn chương vốn hàm súc, gợi nhiềuhơn tả Nhà văn, nhà thơ không trực tiếp diễn tả điều mình muốn nói mà thể hiệnthông qua những hình tượng văn học Vì thế, tìm hiểu ngôn ngữ văn chương nếuchỉ dừng lại ở nghĩa bề mặt thì chưa hiểu được những kí thác của tác giả

- Đối với thơ, “cong” là quý vì nếu thơ thẳng quá, đọc xong hiểu ngay, hiểu hết thìkhó để lại dư vị cho người đọc Cái gọi là “ý tại ngôn ngoại” trong thơ cơ bản làvậy

2 Phân tích một tác phẩm tự chọn trong chương trình đã học để làm sáng tỏ nhận định của Viên Mai

- Thí sinh tự chọn một tác phẩm trong chương trình đã học, phân tích để làm sáng

tỏ những nội dung đã giải thích trong phần trên

- Trong quá trình phân tích tác phẩm, cần chú ý đến các hình thức nghệ thuật đểlàm nổi bật “chỗ cong” theo nhận định của Viên Mai

2.3 Đánh giá chung

- “Cong” là đặc trưng của ngôn ngữ văn chương Phải giải mã được những “chỗcong”, ta mới hiểu được nội dung tác phẩm và những thông điệp mà nhà vănmuốn gửi gắm Đây là một thách thức với người đọc, cũng là điểm làm nên sứchấp dẫn cho tác phẩm

- Cái “cong” của ngôn ngữ văn chương phải đến từ cái tình chân thật của tác giả

Trang 13

chứ không phải từ sự đẽo gọt cầu kì khiến tác phẩm trở nên xa lạ, khó hiểu vớingười đọc.

ĐỀ 11:

Có ý kiến cho rằng: Văn chương không có gì riêng sẽ không là gì cả.

Anh/chị có đồng ý với ý kiến trên không? Tại sao? Hãy phân tích một số tácphẩm trong chương trình Ngữ văn 12 để làm rõ chủ kiến của mình

1 Giải thích

- Văn chương là lĩnh vực của cái độc đáo Mỗi tác phẩm văn chương phải

có nét riêng, nét mới ở ý tưởng nghệ thuật cũng như ở hình thức biểu hiện

- Mỗi nhà văn phải có một thế giới nghệ thuật riêng, một “chân trời” riêng,một “biên cương” riêng Nhà văn có phong cách thì mới được người đọc chấpnhận và yêu mến Phong cách càng độc đáo thì sức hấp dẫn càng lớn

- Mới mẻ, độc đáo là điều kiện tồn tại của tác phẩm văn chương Tác phẩmvăn chương không có gì mới sẽ không được người đọc tiếp nhận Nhà văn cóphong cách nghệ thuật mờ nhạt sẽ bị người đọc quên lãng; lặp lại mình hoặc lặplại người khác đều là điều tối kị trong hoạt động sáng tác của nhà văn… Trong cáclĩnh vực nghệ thuật khác cũng vậy

2 Chứng minh và bình luận

*Những cái riêng trong văn chương biểu hiện rất phong phú đa dạng như:

- Giọng điệu riêng biệt mang đậm phong cách riêng;

- Những khám phá mới mẻ của người nghệ sĩ trong cách nhìn, cách cảm cuộcsống;

- Cách sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh độc đáo, mới lạ mang dấu ấn riêng

*Nhưng những cái riêng ấy đều phải góp vào tiếng nói chung vì sự tiến bộ của xãhội, phải có khả năng nhân đạo hóa con người, hướng tới chân thiện mĩ Khôngthể chấp nhận cái riêng lập dị, đi ngược lại thuần phong mĩ tục, văn hóa của dântộc, nhân loại

ĐỀ 12:

Bàn về Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, Giáo sư Trần Đăng Xuyền viết: “Nền tảng của chủ nghĩa hiện thực là chủ nghĩa nhân đạo, tư tưởng tiến bộ của mọi nền nghệ thuật trong mọi thời đại” (Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, NXB Giáo dục Việt

Nam, 2013, tr.364)

Bình luận ý kiến trên

Trang 14

GỢI Ý:

- Nêu được vấn đề cần nghị luận

- Giải thích ý kiến:

+ Nền tảng của chủ nghĩa hiện thực là chủ nghĩa nhân đạo: văn học hiện thực lấy

chủ nghĩa nhân đạo làm cơ sở, là định hướng sáng tác

+ Chủ nghĩa nhân đạo, tư tưởng tiến bộ của mọi nền nghệ thuật trong mọi thời đại: khẳng định giá trị lớn lao của văn học hiện thực Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

khi lấy chủ nghĩa nhân đạo làm nền tảng

- Bình luận ý kiến:

+ Nền tảng của chủ nghĩa hiện thực là chủ nghĩa nhân đạo, nói như vậy vì các

nhà văn hiện thực miêu tả đời sống xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX với mụcđích:

*Phê phán giai cấp thống trị đương thời, bày tỏ tấm lòng xót thương đối vớinhân dân – những số phận bất hạnh

*Trân trọng ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của người lao động

+ Khẳng định: Chủ nghĩa nhân đạo, tư tưởng tiến bộ của mọi nền nghệ thuật trong mọi thời đại:

*Vì các nhà văn hiện thực đã đứng trên lập trường của lẽ phải, của cái thiện, lậptrường nhân dân – Đấu tranh cho lợi ích và quyền sống của con người

*Nền tảng của chủ nghĩa hiện thực là chủ nghĩa nhân đạo nên văn học hiệnthực Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX là văn học chân chính, là tiến bộ nhất của mọithời đại

+ Dẫn chứng bằng một số tác phẩm: Chí Phèo (Nam Cao); Tắt đèn (Ngô Tât

(Nguyễn Văn Siêu)

Suy nghĩ của anh (chị)về nhận định trên

Trang 15

Gợi ý:

1 Giải thích:

- “Văn chương chỉ chuyên chú văn chương”: văn chương coi trọng đến mức

tôn thờ mặt hình thức nghệ thuật Đó là loại văn chương không đáng thờ

- “Văn chương chuyên chú con người”: văn chương quan tâm đến số phận

con người Lấy con người làm đối tượng sáng tác và sáng tác để phục vụ conngười Đó là thứ văn chương đáng thờ

2 Bình luận

- “Văn chương chỉ chuyên chú văn chương”: Đó là thứ văn chương chỉ lotrau chuốt cho cái đẹp hình thức; săn tìm cái đẹp hào nhoáng bên ngoài mà khôngmấy chú ý đến nội dung tư tưởng, đến số phận con người, đến trách nhiệm củangười nghệ sĩ đối với cuộc đời

- “Văn chương chuyên chú con người”:

Đây là thứ văn chương thấm nhuần tinh thần nhân văn, nhân đạo cao cả Đó

là văn chương chân chính phục vụ con người, gắn bó với cuộc đời

Văn chương là vũ khí, nhà văn là chiến sĩ

- Tác phẩm văn học phải có sự thống nhất hài hoà giữa nội dung và hìnhthức Ý kiến của Nguyễn Văn Siêu tiêu biểu cho quan điểm nghệ thuật chínhthống

- Văn chương chuyên chú con người là văn chương thuộc quan điểm nghệthuật vị nhân sinh như: Nguyễn Đình Chiểu, Nam Cao, Hồ Chí Minh

ĐỀ 14: Nhận xét về truyên ngắn, sách giáo khoa lớp 11 (chương trình Nâng cao)

có viết:

“Truyện ngắn thường có dung lượng nhỏ Nhà văn chỉ cắt lấy một lát, cưa lấy một khúc, chọn lấy một khoảnh khắc đời sống để xây dựng nên tác phẩm của mình”.

Trang 16

Qua một số truyện ngắn đã học trong chương trình, anh/chị hãy bình luận ý kiếntrên.

GỢI Ý:

1 Giải thích được lời nhận xét về truyện ngắn

Vì truyện ngắn có dung lượng nhỏ nên nhà văn không thể lí giải mọi vấn đề mộtcách tỉ mỉ, cặn kẽ như các thể loại có dung lượng lớn mà chỉ nắm bắt một khoảnhkhắc ngắn ngủi nào đó của đời sống, của con người để từ đó thể hiện suy nghĩ, tưtưởng, tình cảm của mình Khoảnh khắc chính là cốt lõi để tạo nên tác phẩmtruyện ngắn

2 Bàn bạc, mở rộng

+ Khoảnh khắc của truyện ngắn có thể là một cuộc gặp, một tình huống, một trạnghuống nào đó của nhân vật

+ Khoảnh khắc của truyện ngắn không phải là một khoảnh khắc bình thường mà

là một khoảnh khắc đặc biệt giúp nhân vật bộc lộ được tính cách của mình mộtcách rõ nét nhất và giúp nhà văn thể hiện được suy nghĩ, tư tưởng và tình cảm củamình một cách hiệu quả nhất

+ Để có được những khoảnh khắc làm nên tác phẩm của truyện ngắn đòi hỏi nhàvăn phải gắn bó, thấu hiểu với cuộc đời, với con người, có khả năng nắm bắt tinh

tế và có tài năng thể hiện

3 Làm sáng tỏ vấn đề qua một số tác phẩm trong chương trình: Thí sinh có

thể lựa chọn tác phẩm theo chủ quan của mình nhưng phải đáp ứng được yêu cầu,phải phân tích được những khoảnh khắc trong một số truyện ngắn thể hiện đượctính cách nhân vật, thể hiển được ý đồ của nhà văn một cách xuất sắc (Ví dụ:

Khoảnh khắc trong truyện ngắn Chữ người tử tù của nhà văn Nguyễn Tuân là

cuộc gặp gỡ bất ngờ, éo le và rất thú vị giữa Huấn Cao và viên quản ngục Quacuộc gặp này, Huấn Cao bộc lộ rõ nét đẹp tài hoa, khí phách, thiên lương; viênquản ngục thể hiện rõ là một con người quý trọng cái đẹp, cái tài còn NguyễnTuân thể hiện được tư tưởng ca ngợi, tôn vinh cái đẹp, cái tài và cái thiện Khoảnh

khắc chủ yếu trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam là tâm trạng đợi tàu

của chị em Liên từ lúc chiều tối cho đến đêm khuya, khi đoàn tàu đi qua phố

huyện Khoảnh khắc chủ yếu trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân là việc nhặt

Trang 17

“Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người và rộng ra thương cả muôn vật, muôn loài.”

Anh/chị hiểu thế nào về ý kiến trên? Lựa chọn các tác phẩm văn chương

trong chương trình Trung học phổ thông để làm rõ cách hiểu của mình

GỢI Ý:

1 Giải thích ý kiến

- Văn chương là tiếng nói của tình cảm Đối tượng phản ánh của tác phẩmvăn chương là con người và vạn vật

- Nhà văn sáng tác tác phẩm, một mặt phản ánh hiện thực, mặt khác bày tỏ

tình cảm với con người và vạn vật Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người và rộng ra thương cả muôn vật, muôn loài.

- Ý kiến của Hoài Thanh là một nhận định về giá trị tư tưởng của tác phẩm

văn chương, khẳng định nguồn gốc cốt yếu của các tác phẩm văn chương chính là

giá trị nhân đạo.

2 Phân tích tác phẩm tự chọn

- Trên cơ sở nắm chắc và có sự cảm nhận sâu về một tác phẩm đã đượchọc trong chương trình THPT, học sinh phân tích được giá trị nhân đạo (lòngthương yêu con người, thương yêu muôn vật, muôn loài) của tác phẩm

- Lựa chọn dẫn chứng phù hợp, tiêu biểu

- Nội dung phân tích, lí giải phải gắn liền với nhận định trong đề

- Bài làm cần thể hiện được những cảm nhận của cá nhân người viết với

tình cảm nhân đạo trong tác phẩm đã chọn một cách cụ thể, thiết thực, chân thành,sâu sắc

ĐỀ 16: Bàn về hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học, có ý kiến cho rằng:

“Một hình tượng nghệ thuật có tầm cỡ bao giờ cũng là một sự khám phá lớn Sự khám phá này có thể bồi dưỡng tình cảm và làm phong phú thêm tâm hồn của con người.”

Qua một số tác phẩm văn học trong chương trình THPT, anh/ chị hãy làm sáng

tỏ nhận định trên

GỢI Ý:

* Trình bày những hiểu biết của bản thân về nhận định:

- Hình tượng nghệ thuật có tầm cỡ: đó là những hình tượng mang tư tưởng lớn

Trang 18

lao, có tính phổ quát, chuyển tải những vấn đề mà nhân loại quan tâm.

- Sự khám phá lớn: thể hiện những sáng tạo tài năng của nhà văn mang tính bản

chất của cuộc sống: sắc sảo, nhạy bén, độc đáo, mới mẻ

- Tác động đến tình cảm và tâm hồn con người: Những hình tượng nghệ

thuật tầm cỡ có ảnh hưởng lớn lao đến lối sống, nhân cách, khuynh hướng thẩm

mĩ của con người

* Phân tích một số dẫn chứng để làm sáng tỏ nhận định: (Học sinh có thể tùy ý

lựa chọn các hình tượng nghệ thuật khác nhau trong các tác phẩm đã học, ở đâychỉ đưa ra một số gợi ý về một vài hình tượng tiêu biểu):

- Hình tượng Chí Phèo, Bá Kiến trong Chí Phèo, Hộ trong Đời thừa của Nam

Cao

- Hình tượng Xuân tóc đỏ, Cụ cố Hồng… trong Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng

- Hình tượng Huấn Cao trong Chữ người tử tù và Ông lái đò trong Người lái

đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

- Hình tượng Thúy Kiều, Từ Hải… trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.

* Khẳng định lại ý nghĩa của nhận định sau khi đã phân tích các dẫn chứng trong các văn bản đã học.

ĐỀ 17: Thạch Lam từng tâm sự rằng: Công việc của nhà văn là phát biểu cái đẹp

chính ở chỗ mà không ai ngờ tới, tìm cái đẹp kín đáo và che lấp của sự vật, cho người khác trông nhìn và thưởng thức.

Anh/ chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ qua các sáng tác của mộtnhà văn Việt Nam

GỢI Ý:

1 Yêu cầu về kĩ năng:

Biết làm bài văn nghị luận về một ý kiến bàn về văn học; biết cách phân tích,cảm nhận về một tư tưởng trong tác phẩm tự sự Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưuloát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp thông thường

2 Yêu cầu về kiến thức:

Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng đảm bảo các ý sauđây:

* Nêu được vấn đề cần nghị luận

* Giải thích ngắn gọn

Trang 19

+ Khái niệm cái Đẹp

- Cái Đẹp là phạm trù trung tâm của mĩ học Tuy định nghĩa về nó có nhiềuquan điểm khác nhưng điều thống nhất ở điểm: Cái đẹp gắn liền ý niệm về điềumong ước, về cái có tính lí tưởng Nó biểu hiện sự hoàn thiện, hài hòa của sự vật,hiện tượng con người trên các phương diện nội dung, hình thức

- Cái Đẹp có trong nhiều lĩnh vực: thiên nhiên, đời sống, lao động Riêngđối với văn chương, đây là lĩnh vực đặc thù của sáng tạo và thể hiện cái Đẹp.Hướng tới cái Đẹp, tìm kiếm và phản ánh nó là mục đích của các nhà văn Bởi nói

như Biê-lin-xki: Cái Đẹp là điều kiện không thiếu được của nghệ thuật, nếu thiếu cái Đẹp thì không thể có nghệ thuật

+ Giải thích nhận định

- Vốn là nhà văn tài hoa của Tự lực văn đoàn, Thạch Lam thấu hiểu sâu sắc,

đặc thù của nghề cầm bút Khi nêu ý kiến: Công việc của nhà văn… che lấp của

sự vật có nghĩa ông đòi hỏi người sáng tác phải có khám phá tinh tế, phát hiện cái

Đẹp ẩn giấu cả ở những chỗ tưởng chừng không có gì là đẹp: Thạch Lam muốnnhấn mạnh là vẻ đẹp bề sâu tâm hồn con người  yêu cầu xác đáng về nghề văn,nghề đòi hỏi sự sáng tạo, khám phá không ngừng

- Không phải ngẫu nhiên Đốt-tôi-ép-xki khẳng định: Cái đẹp cứu vớt con người Tương tự như vậy, Thạch Lam nêu lên giá trị to lớn của tác phẩm văn học chứa đựng cái Đẹp đem đến cho con người bài học trông nhìn và thưởng thức.

Một mặt nó giúp người ta nhận ra vẻ đẹp mặt khác khơi dậy những rung cảm thẩmmĩ

- Tuy có tác động to lớn như vậy song cái Đẹp không thể là cứu cánh củavăn chương Nếu chạy theo nó đơn thuần, nhà văn sẽ xa rời cuộc sống Phản ánhnhững vẻ đẹp của hiện thực, người cầm bút phải giúp người đọc hiểu đúng về conngười, sự vật, hiện tượng hơn

* Chứng minh: Lựa chọn các sáng tác của Nam Cao

+ Giới thiệu khái quát về nhà văn Nam Cao

- Là nhà văn có nhân cách và có ý thức trách nhiệm với ngòi bút

- Ông có những quan điểm nghệ thuật đúng đắn trong việc sáng tạo, tìm tòi

- Vì vậy, dù ở đề tài nào, Nam Cao cũng có gắng phát hiện vẻ đẹp tâm hồn conngười dưới sự soi sáng của lí tưởng nhân đạo

+ Ở đề tài người nông dân nghèo

- Chí Phèo: Nhân vật Chí Phèo, nhân vật thị Nở -> Cần phân tích làm nổi

bật việc Nam Cao đã phát hiện và khám phá vẻ đẹp tâm hồn ở những người có vẻ

Trang 20

ngoài xấu xí, u mê, cằn cỗi.

- Lão Hạc: Nghèo khổ, rách rưới nhưng lương thiện, thương con, nhân

hậu… -> niềm tin vào bản chất tốt đẹp ở người dân lao động nghèo khổ

+ Ở đề tài người trí thức nghèo

- Đời thừa: Nam Cao đi sâu khám phá thế giới nội tâm của nhân vật, phản

ánh sự đấu tranh, day dứt của nhân vật để bảo vệ nhân cách, nhân phẩm

* Lý giải

Nam Cao có: - trách nhiệm, ý thức đối với ngòi bút

- tư tưởng nhân đạo

-> Nhà văn không chỉ phản ánh cái Đẹp mà phải sản sinh ra cái Đẹp Cónhư vậy, tác phẩm văn chương mới thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của người đọc

- Đánh giá chung về vấn đề được nghị luận

ĐỀ 18: Cảm hứng về đất nước qua các đoạn trích Đất Nước (trích Mặt đường khát vọng) - Nguyễn Khoa Điềm, Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân, Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường.

- Cảm hứng về đất nước trong văn học chính là những rung cảm, những hiểu biết,những niềm vui tự hào, ngợi ca và xót xa đau thương về quê hương, đất nước ViệtNam trong quá khứ, hiện tại và tương lai

- Văn học Việt Nam hiện đại thế kỷ XX đã thể hiện thành công cảm hứng về đấtnước trong nhiều tác phẩm Các nhà thơ, nhà văn đã bày tỏ chân thành cảm xúc vềchiều sâu văn hóa, về lịch sử cội nguồn, về danh thắng và vẻ hùng vĩ tươi đẹp của

Trang 21

3 Phân tích, bình luận qua 3 tác phẩm.

(Thí sinh có thể so sánh trên nét chung và riêng hoặc theo từng tác phẩm)

a Những sự gặp gỡ cảm hứng về đất nước trong 3 tác phẩm

(Cách này bài viết ngắn gọn và hấp dẫn nhưng đòi hỏi kỹ năng tổng hợp và khái quát tốt)

- Cảm hứng về đất nước mang tư tưởng mới, cách nhìn mới và hiện đại Ra đời

trong thời kỳ chủ nghĩa yêu nước mang âm hưởng chủ nghĩa anh hùng cách mạng

cuối thế kỷ XX Đất Nước được khám phá rộng lớn và toàn diện hơn, sâu sắc hơn.

+ Bức tranh chân thực về thiên nhiên hùng vĩ nhưng vô cùng trữ tình, thơmộng Chiều dài chiều rộng, quá khứ hiện tại và tương lai, cảnh đẹp và giàu cóvới dòng sông Đà, sông Hương, với danh thắng từ Bắc vào Nam đí đâu cũng thấy.Cảm hứng khám phá và ngợi ca bao trùm các chi tiết hình ảnh và ngôn ngữ

+ Bức tranh về lịch sử hào hùng, oanh liệt Mỗi tác phẩm đều khơi lại cảmxúc vừa đau thương vừa tự hào về lịch sử dựng và giữ nước Nguyễn Tuân vẽ lạicuộc kháng chiến chống Pháp vẻ vang, dựng lại những con thuyền đuôi én thời LýTrần; Nguyễn Khoa Điềm tái hiện 4000 năm lịch sử; Hoàng Phủ Ngọc Tường gắnsông Hương với truyền thống lịch sử văn hóa cố đô và đánh giặc ngoại xâm

- Tác phẩm nào cũng tràn đầy cảm xúc yêu thương, tự hào; tràn đầy nguồn cảmxúc nên giàu hình ảnh, nhạc điệu; giàu triết lý suy tưởng; giàu sức gợi cảm và lôicuốn Mỗi tác phẩm như bức tranh lụa đẹp rực rỡ sắc màu và đường nét được vẽtạo bằng thứ ngôn ngữ văn chương tài hoa nghệ thuật Giá trị nội dung và nghệthuật của ba tác phẩm viết về đất nước rất lâu dài

+ Đất nước trừu tượng trở nên gần gũi và thân thiết, gắn bó với mọi người

b Những phát hiện và sáng tạo khi viết về đất nước của mỗi tác phẩm:

(TS thể hiện hiểu biết về tác phẩm gắn với cảm hứng về đất nước)

- Tùy bút Người lái đò sông Đà đã lấy cảm hứng về con sông Đà thơ mộng trữ

tình và hung bạo để khai thác đề tài về quê hương đất nước Nhà văn đã khám phá

vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Tây Bắc, thứ vàng mười đã qua thử lửa theo

thủy trình với vẻ đẹp hoang sơ và dữ dội Những ghềnh thác, hút nước trên sông;những bờ bãi như nỗi niềm cổ tích ấu thơ; những cảnh đẹp nên thơ được nhìn từnhiều góc độ và suy tưởng đan xen quá khứ, hiện tại và cả tương lai tạo nên dòngsông… như một cố nhân, như người đàn bà kiều diễm với mái tóc trữ tình làm nêntrang sử vàng của miền Tây tổ quốc… Người lái đò trí dũng và người nghệ sĩchinh phục thác dữ, chinh phục thiên nhiên và gắn bó đời đời với con sông Đà.Trang văn câu từ mượt mà, sống động và vốn hiểu biết phong phú, cùng với tàinăng, tâm huyết của nhà văn bậc thầy thể tùy bút đã góp phần làm sống dậy tình

Trang 22

yêu và niềm tự hào về đất nước và con người nơi đây.(dẫn chứng chọn lọc, minh họa)

- Chương V của trường ca Mặt đường khát vọng được viết trong những năm

tháng ác liệt của chiến trường Bình Trị Thiên lại khám phá Đất Nước theo cảmnhận của người thanh niên thời đại mới gắn với câu chuyện tình yêu lứa đôi Đấtnước bắt đầu với những gì quen thuộc và bình dị, thân thương và thiêng liêng suốtchiều dài lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước Sự mới lạ và độc đáo khikhám phá đất nước chính là tư tưởng đất nước của nhân dân, của ca dao thầnthoại, của cá nhân góp tài năng và sức lực làm nên dáng hình xứ sở với bao nhiêutình yêu mến thương… Cảm hứng trữ tình riêng tư hòa hợp với cảm hứng chínhtrị, chương Đất Nước đã có nhiều phát hiện thú vị trên nhiều phương diện địa lý,phong tục, lịch sử và văn hóa dân gian Ngôn ngữ chính luận trở nên mềm mại,chất tự sự kết hợp cảm xúc chân thành, đằm thắm; hình ảnh thơ lạ và thể thơ tự dotạo nên sức hấp dẫn lôi cuốn lớp thanh niên miền Nam vùng tạm chiếm nhờ sắc

điệu tình yêu lứa đôi hòa quyện tình yêu tổ quốc Hạnh phúc của anh và em chính

là trách nhiệm đấu tranh giải phóng quê hương, xây dựng đất nước giàu đẹp, bền

vững… (dẫn chứng chọn lọc, minh họa)

- Bút ký Ai đã đặt tên cho dòng sông? đã góp thêm và hoàn thiện cảm hứng

về đất nước Áng văn xuôi lung linh sắc màu ngôn từ nghệ thuật, giàu hình ảnh vànhạc điệu thể hiện tình yêu và tự hào về dòng sông Hương Nhà văn đã rút ruộttình cảm riêng với con sông vang bóng chảy qua cố đô cổ kính và linh thiêng củacác triều đại phong kiến để trở về với hiện tại soi hình dáng cầu Trường Tiền.Người khách thảng thốt về tên con sông đẹp và quyến rũ từ thượng nguồn uốnlượn, hiền hòa với những đường cong mềm mại, tình tứ như người con gái trẻtrung chảy qua lăng tẩm cổ xưa và màu xanh cây trái Cảm hứng tự hào về dòngHương giang đẹp được tay bút hào hoa, viết bằng cả trái tim thể hiện trong lối văn

phóng khoáng, trong cảm xúc trữ tình và liên tưởng tình tứ bất ngờ… (dẫn chứng chọn lọc, minh họa)

4 Đánh giá, nâng cao vấn đề

- Cảm hứng về đất nước trở thành cảm hứng lớn và mãnh liệt đã được thểhiện sinh động và hấp dẫn trong nhiều sáng tác văn học cách mạng sau 1945

- Ba tác phẩm (…) giàu chất nhạc, chất họa, thể hiện tài năng của các tác giảtrong việc sử dụng ngôn từ nghệ thuật để khám phá vẻ đẹp mới lạ và thiêng liêng

về đất nước

- Bài học về trách nhiệm người cầm bút và người tiếp nhận khi thể hiện tìnhyêu đất nước, con người và cuộc sống

Trang 23

ĐỀ 19:

Cổ nhân từng nói: “Thi trung hữu họa”, “Thi trung hữu nhạc”.

Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng sự hiểu biết của mình về bài thơ Tây Tiến (Quang Dũng) và Việt Bắc (Tố Hữu), hãy làm sáng tỏ.

Gợi ý:

1 Dẫn dắt và giới thiệu vấn đề

2 Giải thích

* Cắt nghĩa ý kiến:

- Thi: thơ Thơ là một hình thức sáng tác văn học nghiêng về thể hiện cảm xúc

thông qua tổ chức ngôn từ đặc biệt, giàu nhạc tính, giàu hình ảnh và gợi cảm

- Thi trung hữu họa: Trong thơ có họa (có tranh, có cảnh) Thi trung hữu nhạc:

Trong thơ có nhạc

=> Ý kiến trên của người xưa nói đến đặc trưng của thơ trữ tình là giàu hình ảnh

và nhạc điệu Ý kiến của cổ nhân hoàn toàn đúng đắn và xác đáng

* Lý giải ý kiến:

- Thơ - nhạc - họa đều là các loại hình nghệ thuật, song có sự khác biệt, đặc biệt là

về chất liệu xây dựng hình tượng nghệ thuật để phản ánh cuộc sống Nếu họa dùng đường nét, màu sắc, nhạc dùng giai điệu, âm thanh thì thơ cũng như các tác

phẩm văn chương lại sử dụng ngôn từ làm chất liệu Ngôn từ có đặc điểm riêng:

đó là chất liệu phi vật thể, vì vậy, tác động nhận thức không trực tiếp bằng các loạihình nghệ thuật khác song sức gợi mở của nó lại hết sức dồi dào, mạnh mẽ Nó tácđộng vào liên tưởng của con người và khơi dậy những cảm nhận cụ thể về màusắc, đường nét, hình khối, âm thanh, giai điệu

- Thi trung hữu họa bởi vì: Văn học phản ánh hiện thực cuộc sống, thơ ca cũng

không nằm ngoài quy luật đó Thơ ca phản ánh cuộc sống qua hệ thống ngôn từgiàu hình ảnh Không ở thể loại văn học nào ta bắt gặp nhiều hình ảnh, biểu tượng(hình ảnh có ngụ ý), hình tượng (hình ảnh có ngụ ý xuyên suốt tác phẩm) nổi bậtnhư thơ ca Hình ảnh trong thơ là sự khách thể hóa những rung cảm nội tâm bởithế giới tinh thần vốn vô hình nên nhất thiết phải dựa vào những điểm tựa tạo hình

cụ thể để hữu hình hóa Hình ảnh trong thơ nổi bật vì còn mang màu sắc của cảmxúc mãnh liệt và trí tưởng tượng phong phú

- Thi trung hữu nhạc bởi vì: Thơ ca là sự biểu hiện trực tiếp cảm xúc, tình cảm của

con người Cảm xúc biểu lộ mạnh mẽ ở thanh điệu, nhịp điệu của lời nói (ngôntừ) Tính nhạc là đặc thù cơ bản của việc phô diễn tình cảm của thơ ca Âm thanh

và nhịp điệu làm tăng hàm nghĩa cho từ ngữ, gợi ra những điều từ ngữ không thể

Trang 24

nói hết Nhạc điệu trong thơ thể hiện nhịp vận động của đời sống, của nhịp đậptrái tim, bước đi của tình cảm con người.

3 Chứng minh qua hai bài thơ Tây Tiến và Việt Bắc

a Thi trung hữu họa

- Với trí tưởng tượng bay bổng, phong phú, kết hợp bút pháp miêu tả khái quát và

cận cảnh, thủ pháp đối lập tương phản… Bài thơ Tây Tiến đã vẽ lên trước mắt

người đọc:

+ Bức tranh chân thực về khung cảnh núi rừng miền Tây hiểm trở hùng vĩnhưng vô cùng trữ tình thơ mộng

+ Bức chân dung về người lính Tây Tiến hào hùng nhưng cũng rất đỗi hào hoa

- Bằng lối nói giàu hình ảnh, các cách chuyển nghĩa truyền thống (so sánh, ẩn dụ,

tượng trưng, ước lệ…) được sử dụng thích hợp, bài thơ Việt Bắc đã tái hiện thành

công:

+ Bức tranh thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc

+ Bức tranh về cuộc sống con người trong kháng chiến, bức tranh Việt Bắc raquân hào hùng

b Thi trung hữu nhạc:

- Xuân Diệu nhận xét: Đọc bài thơ Tây Tiến như ngậm âm nhạc trong miệng Tính

nhạc trong Tây Tiến thể hiện ở:

+ Thể thơ thất ngôn mang âm hưởng trầm hùng phù hợp với việc biểu đạt nộidung

+ Phối hợp nhịp nhàng giữa các thanh bằng trắc, sự hiệp vần: ơi, biện pháp điệp từ: nhớ, ngàn thước…

+ Sử dụng thành công hệ thống từ láy

+ Nhạc điệu của bài thơ còn được tạo nên từ nỗi nhớ tha thiết, tình yêu sâu đậmcủa nhà thơ với mảnh đất Tây Bắc, với binh đoàn Tây Tiến, với quê hương, đấtnước Đó là nhạc điệu tâm hồn của thi nhân

- Tính nhạc trong Việt Bắc thể hiện ở:

+ Thể thơ lục bát: nhịp nhàng, tha thiết, ngọt ngào, sâu lắng nhưng biến hóa sángtạo không đơn điệu

+ Sử dụng cặp đại từ: mình - ta.

+ Nghệ thuật đối: được sử dụng với tần số cao, biểu đạt xúc động nỗi lòng sâukín của kẻ đi - người ở đồng thời tạo ra sự cân xứng về cấu trúc vẻ đẹp nhịp nhàng

Trang 25

của ngôn từ Tất cả tạo nên nhạc điệu đầy quyến luyến, trầm bổng, ngân nga Việt Bắc ru người trong nhạc.

+ Biện pháp điệp: điệp từ: nhớ, có nhớ; điệp cấu trúc: mình đi - mình về; câu hỏi

tu từ… tạo nên nhịp ru cho bài thơ, diễn tả thành công nỗi lòng kẻ đi - người ở.+ Cách gieo vần và sử dụng từ láy cũng góp phần tạo nên nhạc điệu cho bài thơ

+ Việt Bắc có giọng điệu tâm tình, tự nhiên, đằm thắm, là tiếng nói của tình

thương mến ngọt ngào, là khúc tình ca và bản hùng ca về kháng chiến và conngười kháng chiến… Thơ Tố Hữu phong phú nhạc điệu, một thứ nhạc giàu có tựbên trong của tâm hồn hòa với nhạc điệu lôi cuốn của đời sống

3 Đánh giá, nâng cao vấn đề

- Khẳng định câu nói của cổ nhân là hoàn toàn đúng với thơ ca và được minh

chứng rõ qua hài bài thơ Tây Tiến và Việt Bắc.

- Hai bài thơ giàu chất nhạc, chất họa, thể hiện tài năng của hai nhà thơ trong việc

sử dụng ngôn từ nghệ thuật

- Bài học cho người nghệ sĩ và người tiếp nhận

ĐỀ 20: Qua những hiểu biết của mình về vấn đề tiếp nhận văn học, anh/chị hãy

bình luận ý kiến sau đây:

Thói quen đọc - hiểu theo kiểu suy diễn tùy tiện sẽ làm thui chột các giá trị khách quan vốn có của tác phẩm (…) Người ta bao giờ cũng có phát hiện mới về tác phẩm trên tầm cao của kiến trúc, tình yêu thiết tha với cái đẹp, sự say mê và rung cảm mãnh liệt với văn chương.

(Ngữ văn 12, tập 2, NXB Giáo dục, 2008,

tr.190)

Gợi ý:

1 Giải thích vấn đề: Giải thích được khái niệm tiếp nhận văn học

+ Tiếp nhận văn học là quá trình người đọc thâm nhập tác phẩm văn học đểthưởng thức cái hay, cái đẹp của nó

+ Tiếp nhận văn học là hoạt động biến văn bản thành thế giới hình tượng sinhđộng mang ý nghĩa trong tâm trí người đọc

- Thế nào là đọc - hiểu theo kiểu suy diễn tùy tiện?

[Là tiếp nhận tác phẩm một cách chủ quan và áp đặt; bất chấp các đặc trưng, quyluật của văn học nói chung và cơ sở biểu đạt của toàn bộ văn bản nói riêng]

Trang 26

- Các giá trị khách quan vốn có của tác phẩm là gì?

[Là các giá trị về nội dung và nghệ thuật được kết tinh trong ngôn từ, trong thếgiới hình tượng… của tác phẩm]

- Người ta bao giờ cũng có phát hiện mới về tác phẩm trên tầm cao của kiến thức, tình yêu thiết tha với cái đẹp, sự say mê và rung cảm mãnh liệt với văn chương

nghĩa là gì?

[Nghĩa là: Nếu tiếp nhận tác phẩm với sự “đồng điệu” và “tầm đón nhận” cao thì

sẽ khám phá ra được nhiều điều mới mẻ]

được suy diễn tùy tiện mà phải dựa trên những cơ sở chung về tâm lí, chuẩn mực

văn hóa, quan niệm thẩm mĩ… của dân tộc và thời đại

+ Ngôn từ, thế giới hình tượng… của tác phẩm văn học bao giờ cũng mang tính

đa nghĩa và hàm ẩn nhiều ý tứ sâu xa Do vậy, nếu tiếp nhận một cách chủ quan và

áp đặt thì sẽ làm thui chột các giá trị do sức gợi của tác phẩm mang lại

+ Thực tế đời sống văn học cho thấy, xưa nay những kiểu tiếp nhận theo lối chủquan, áp đặt bao giờ cũng làm phương hại đến giá trị vốn có của tác phẩm (Họcsinh lấy dẫn chứng để phân tích và chứng minh Ví dụ: Có người cho Truyện Kiều

là “dâm thư”; Số đỏ là “tác phẩm suy đồi”; Thơ mới được coi là “mộng rớt”,

“buồn rớt”; Cô gái sông Hương là bài thơ “viết về cuộc sống, thân phận của một

cô gái giang hồ trên sông Hương”; Tây Tiến bị cho là “ủy mị, tiểu tư sản”…)

- Người ta bao giờ cũng có phát hiện mới về tác phẩm trên tầm cao của kiến trúc, tình yêu thiết tha với cái đẹp, sự say mê và rung cảm mãnh liệt với văn chương.

Bởi vì:

+ Ngôn từ văn học là ngôn từ của cảm xúc, của trí tuệ Do đó người đọc phải vừa

có kiến thức vừa có cảm xúc để tiếp nhận tác phẩm một cách tích cực, chủ độngmới có thể cảm nhận hết vẻ đẹp của văn chương (học sinh có thể giải thích bằngcách khác, miễn là làm rõ được vấn đề)

+ Thực tế cho thấy, nhiều vẻ đẹp của tác phẩm văn học đã được phát hiện nhờ

“tầm đón nhận” cao và cảm xúc đồng điệu của người đọc (học sinh có thể liên hệmột vài phát hiện mới mẻ của những nhà phê bình văn học tiêu biểu như HoàiThanh, Xuân Diệu, Nguyễn Tuân… đã chứng minh)

Trang 27

3 Mở rộng, nâng cao vấn đề

- Một mặt người đọc phải luôn có ý thức tự nâng cao mình để có thể cảm thụ hết

vẻ đẹp của văn chương; mặt khác, khi tham khảo tài liệu, cần phải tỉnh táo để

nhận biết đâu là sự suy diễn tùy tiện trong phân tích, đánh giá tác phẩm.

- Cần phân biệt sự khác nhau giữa tính chủ quan trong tiếp nhận với sự suy diễn tùy tiện Tính chủ quan trong tiếp nhận sẽ dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trước một đối tượng văn học Trong khi đó, sự suy diễn tùy tiện lại dẫn đến những

cách hiểu sai

ĐỀ 21:

Cái nhìn về người nông dân trong văn học trước và sau Cách mạng tháng Tám

1945 qua hai tác phẩm: Chí Phèo của Nam Cao và Vợ nhặt của Kim Lân.

Gợi ý:

1 Nêu và trình bày khái quát về vấn đề cần nghị luận

- Đề tài người nông dân trong văn học trước và sau Cách mạng tháng Tám 1945

và cái nhìn của các nhà văn, tiêu biểu qua hai tác phẩm: "Chí Phèo" của Nam Cao

và "Vợ nhặt" của Kim Lân.

- Giải thích khái niệm "cái nhìn về người nông dân" để xác định nội dung vấn đề

nghị luận: là thái độ, tư tưởng, tình cảm của nhà văn khi khám phá và phản ánh về

số phận và tâm hồn người nông dân

- Lược thuật hai tác phẩm: "Chí Phèo" của Nam Cao và "Vợ nhặt" của Kim Lân.Cái nhìn của các nhà văn về người nông dân vừa có điểm tương đồng vừa có điểmkhác biệt

2 Những điểm tương đồng của hai nhà văn về người nông dân:

- Cái nhìn đồng cảm, xót thương cho số phận cùng khổ Phân tích số phận của nhânvật Chí Phèo và các nhân vật trong Vợ nhặt (Tràng, bà cụ Tứ, người vợ nhặt) để làmrõ

- Cái nhìn phát hiện, trân trọng những phẩm chất cao đẹp trong tâm hồn Phân tíchbản tính lương thiện và niềm khát khao làm người lương thiện của Chí Phèo,phẩm chất người của thị Nở; tấm lòng nhân ái của bà cụ Tứ, khát vọng sống vàhạnh phúc của Tràng và người vợ nhặt để làm rõ

- Thái độ phê phán đối với xã hội Thực dân - phong kiến đã xô đẩy người nông dânđến tình cảnh khốn cùng Phân tích bộ mặt xã hội nông thôn Việt Nam với các thế lực

đã xô đẩy Chí Phèo trong truyện "Chí Phèo"; phân tích nguyên nhân xã hội đã đẩyngười nông dân đến tình cảnh nạn đói trong "Vợ nhặt"

Trang 28

3 Điểm khác biệt trong cái nhìn về người nông dân của Nam Cao và Kim Lân, cũng là sự vận động, đổi mới của văn học giữa hai thời kỳ:

- Cái nhìn của Nam Cao thể hiện sự bi quan và bế tắc trong vấn đề người nôngdân Phân tích ý nghĩa cái chết của Chí Phèo, chi tiết kết thúc tác phẩm (liên hệđến những tác phẩm khác của Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố,Nguyên Hồng…) Đây là sự hạn chế do sự chi phối của thời đại

- Cái nhìn của Kim Lân thể hiện sự lạc quan, tin tưởng vào tương lai và về sự thayđổi về số phận người nông dân Phân tích việc Tràng lấy vợ, những thay đổi củacác nhân vật, những dự định của bà cụ Tứ, hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng và đoànngười phá kho thóc Nhật (liên hệ các tác phẩm của Tô Hoài, Nguyễn Khải,Nguyễn Văn Bổng, Đào Vũ…) Đây là sự thay đổi theo sự vận động chung củalịch sử xã hội và sự thay đổi của số phận người nông dân sau Cách mạng

Đánh giá chung: Cái nhìn về người nông dân trong tác phẩm của Nam Cao và

Kim Lân nói riêng, trong văn học hiện thực trước và sau Cách mạng tháng Támnói chung đều thể hiện tinh thần nhân đạo sâu sắc và mới mẻ

ĐỀ 22: Nói về các giá trị của văn học, sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12 (Tập 2,

chương trình cơ bản, tr.187) cho rằng:

"Văn chương hướng tới chân, thiện, mĩ bao giờ cũng là văn chương cho mọi

người và là văn chương của muôn đời"

Bằng việc phân tích hai tác phẩm: "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam và "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu, anh/ chị hãy bình luận về ý kiến trên.

GỢI Ý:

1 Nêu vấn đề nghị luận: Các giá trị văn học và mối quan hệ của chúng đối với

sức sống, sức lan tỏa của một tác phẩm; trích dẫn ý kiến lí luận

2 Giải thích ý kiến:

- Giải thích các khái niệm: chân, thiện, mĩ

+ "Chân": có nghĩa là chân thật, sự xác thực, là sự thật và chân lí được phản ánhvào trong tác phẩm văn học Trái ngược với "chân" là giả dối, giả tạo, phù phiếm

Đi liền với "chân" là giá trị nhận thức

+ "Thiện": có nghĩa là cái tốt, cái hay được nhà văn thể hiện trong tác phảm, nóthuộc về phương diện đạo đức và nhân cách của con người, hướng con người đếnvới cái tốt đẹp trong cuộc sống Trái với thiện là cái ác, là đi ngược lại với nhữngchuẩn mực đạo đức xã hội Đi liền với "thiện" là giá trị giáo dục tư tưởng, tìnhcảm

Trang 29

+ "Mĩ": có nghĩa là đẹp, là cái đẹp trong cuộc sống Trong tác phẩm văn học,

"mĩ" được hiểu là cái đẹp nghệ thuật, là sự kết hợp hài hòa giữa "chân" và "thiện",

là khả năng đánh thức, khơi gợi và bồi dưỡng những tình cảm thẩm mĩ của ngườiđọc Đi liền với "mĩ" là giá trị giáo dục tình cảm thẩm mỹ

- Giải thích ý kiến: "Văn chương hướng đến chân - thiện - mĩ" là văn chương

hướng đến những giá trị toàn diện, vừa phản ánh chân thực những vấn đề trongđời sống của con người, vừa hướng con người đến với cái tốt, cái đẹp, đồng thờikhơi gợi và bồi dưỡng cho con người những rung cảm thẩm mĩ Văn chương

"chân - thiện - mĩ" là văn chương đem đến cho con người những giá trị về nhậnthức, về những bài học tư tưởng đạo lí và về cái đẹp Đó mới thực sự là vănchương chân chính vì con người Khi đó, tác phẩm văn học sẽ được đón nhận,được lưu truyền và trở thành món ăn tinh thần của tất cả mọi người ở mọi thời đại

- Đánh giá ý kiến: Ý kiến trên là sự đánh giá tổng hợp về các giá trị của tác phẩmvăn học, vừa như một sự định hướng vừa là một yêu cầu đối với mỗi người cầmbút trong sáng tác văn chương

2 Khái quát vấn đề nghị luận

- Khái quát quy luật về mối quan hệ giữa các giá trị "chân - thiện - mĩ" và sứcsống của một tác phẩm văn học qua sự vận động, phát triển của văn học thế giớinói chung và văn học Việt Nam nói riêng: Những tác phẩm đạt đến "chân - thiện -mỹ" là những tác phẩm vượt mọi giới hạn của thời gian và không gian để trởthành tác phẩm chung của cả nhân loại và với mọi thời đại (Nêu một số tác phẩmtiên biểu trong lịch sử văn học để minh họa)

- Giới thiệu khái quát về hai tác giả Thạch Lam và Nguyễn Minh Châu trong sựphát triển của nền văn học Việt Nam qua mỗi thời kỳ, đồng thời khẳng định cáctác phẩm của hai nhà văn là những tác phẩm đã đạt đến "chân - thiện - mĩ" Tiêubiểu với Thạch Lam là truyện ngắn "Hai đứa trẻ" và Nguyễn Minh Châu là truyệnngắn "Chiếc thuyền ngoài xa"

3 Phân tích truyện ngắn "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam

- Giới thiệu khái quát về tác phẩm: nội dung cốt truyện, thế giới nhân vật, giá trịchung về nội dung tư tưởng và nghệ thuật… Nhấn mạnh các giá trị "chân - thiện -mĩ"

- Phân tích cụ thể các biểu hiện về "chân - thiện - mĩ" trong tác phẩm:

+ Phản ánh một cách chân thực bức tranh đời sống xã hội Việt Nam những nămtrước Cách mạng tháng Tám 1945 qua bức tranh phố huyện và những kiếp ngườitrên phố (Phân tích các chi tiết cụ thể về phố huyện và đời sống các nhân vật)+ Thể hiện một cái nhìn, một tình cảm nhân ái, yêu thương, đồng cảm với những

Trang 30

cảnh đời bé nhỏ, tàn lụi trên phố huyện nghèo; đồng thời là một mơ ước, một niềm

hi vọng về sự đổi thay, về một điều tươi sáng sẽ đến (Phân tích các biểu hiện cụthể của tinh thần nhân đạo Thạch Lam trong tác phẩm)

+ Những sáng tạo riêng, độc đáo về hình thức nghệ thuật, tạo nên một tác phẩmvăn xuôi giàu chất thơ trữ tình, nhẹ nhàng, tinh tế và sâu lắng

4 Phân tích truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu

- Giới thiệu khái quát về tác phẩm: nội dung cốt truyện, thế giới nhân vật, giá trịchung về nội dung tư tưởng và nghệ thuật… Nhấn mạnh các giá trị "chân - thiện -mĩ"

- Phân tích cụ thể các biểu hiện về "chân - thiện - mĩ" trong tác phẩm

+ Phản ánh chân thực và sâu sắc những vấn đề trong đời sống xã hội, những góckhuất, những khoảng lấp đằng sau cái vẻ bề ngoài thơ mộng của cuộc sống (Phântích những vấn đề được Nguyễn Minh Châu phản ánh trong tác phẩm)

+ Thể hiện cái nhìn phát hiện, khám phá, đồng cảm, trân trọng đối với người laođộng, những con người bé nhỏ bất hạnh còn bị khuất lấp trong sự vận động đi lêncủa xã hội (Phân tích tư tưởng, tình cảm và thái độ của nhà văn qua các nhân vật)+ Những đặc sắc nghệ thuật: nghệ thuật xây dựng tình huống, nghệ thuật miêu

tả bức tranh thiên nhiên và bức tranh đời sống… Đặc biệt là sự đổi mới ngòi bútphù hợp với việc phản ánh hiện thực trong nền văn học mới sau chiến tranh: đổimới đề tài, đổi mới cách tiếp cận cuộc sống, đổi mới cái nhìn đối với người nghệsĩ…

Bàn về văn học, Thanh Thảo cho rằng:

“Văn chương giúp ta trải nghiệm cuộc sống ở những tầng mức và những chiều sâu đáng kinh ngạc Nó giúp con người sống “ra người” hơn, sống tốt hơn, nếu

ta biết tìm trong mỗi quyển sách những vệt sáng, những nguồn sáng soi rọi vào những góc khuất của cuộc đời và của con người.”

(Theo Nhà văn nói về môn Văn - Văn học và tuổi trẻ - NXB GD, 2015)

Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào, bằng việc tìm hiểu một số truyện ngắn

Trang 31

hiện đại, hãy làm sáng tỏ.

Gợi ý:

1 Giải thích ý kiến

- Văn chương: là loại hình nghệ thuật bao gồm các sáng tác dùng ngôn từ nghệ

thuật để phản ánh cuộc sống con người

- Văn chương giúp ta trải nghiệm cuộc sống ở những tầng mức và những chiều sâu đáng kinh ngạc: văn chương thầm lặng đem đến cho người đọc những trải

nghiệm mà một cuộc đời khó lòng thấu trải hết Nó giúp người đọc thỏa mãn nhucầu nếm trải sự sống muôn hình vạn trạng Đến với văn học, ta không chỉ khámphá, nhận thức hiện thực mà còn cảm nhận, hiểu biết tư tưởng, tình cảm, ước mơ,khát vọng của nhân loại và chính mình

- Nó giúp con người sống “ra người” hơn, sống tốt hơn, nếu ta biết tìm trong mỗi quyển sách những vệt sáng, những nguồn sáng soi rọi vào những góc khuất của cuộc đời và của con người:

(+) vệt sáng, nguồn sáng soi rọi vào những góc khuất của cuộc đời và của con người: sự phát hiện của nhà văn về những vẻ đẹp tiềm ẩn bên trong thế giới tâm

hồn con người, có tác động tích cực đối với con người, cuộc đời Người đọc sẽnhận ra ý nghĩa của văn chương với tâm hồn mình từ chính điều này

(+) Nếu người đọc chủ động tìm kiếm cái đẹp ẩn kín, tiềm tàng cũng như nhận

ra sự thể hiện những vẻ đẹp sâu thẳm trong hình tượng nghệ thuật ở tác phẩm thì

sẽ nhận ra được những thông điệp thẩm mĩ sâu xa

- Nó giúp con người sống “ra người” hơn, sống tốt hơn: tác phẩm văn học đem

lại cho con người niềm vui trong sáng, thánh thiện, làm nảy nở trong tâm hồn tanhững xúc cảm cao đẹp, hướng ta đến những phẩm chất tốt đẹp mang tính nhânvăn

2 Lí giải ý kiến:

- Văn học nghệ thuật phản ánh cuộc sống một cách tổng hợp, toàn vẹn trong mọiquan hệ đa dạng, phức tạp, tập trung khám phá chiều sâu khôn cùng của tâm hồncon người

- Văn học có sứ mệnh cao cả bởi tác động sâu sắc tới đời sống tinh thần conngười: văn học làm giàu thêm nhận thức của con người về thế giới xung quanh, vềchính bản thân mình; văn học bồi đắp, nâng đỡ, thanh lọc tâm hồn con người ->

khiến con người trở nên hoàn thiện, người hơn, sống tốt hơn.

- Văn học luôn đồng hành với nhân loại, có vị trí không thể thay thế được trongđời sống của con người

Trang 32

3 Làm sáng tỏ ý kiến bằng việc tìm hiểu một số truyện ngắn hiện đại trước 1945

(Thí sinh được tự do lựa chọn một vài truyện ngắn hiện đại mà mình yêu thích

để thấu hiểu vấn đề Tuy nhiên, đây không phải là cảm nhận toàn bộ tác phẩm màcần tập trung vào hai phương diện)

- Chỉ ra các thông điệp nghệ thuật, những trải nghiệm về cuộc sống, số phận, nhâncách hay chiều sâu tâm hồn con người trong tác phẩm Từ tác phẩm, khám phánhững điều mới mẻ trong cái bình thường, phát hiện chân lí sâu xa trong nhữngđiều giản dị

- Từ việc phát hiện cái Đẹp sâu xa của nội dung tác phẩm ở những vệt sáng, nguồn sáng soi rọi vào những góc khuất của nhân vật, hình tượng nghệ thuật trong

tác phẩm mà nhận ra giá trị nâng đỡ, thanh lọc tâm hồn con người của tác phẩm

Đó cũng chính là sứ mệnh cao cả muôn đời của văn chương nghệ thuật

Nghĩ về thơ, thi sĩ Hoàng Cầm từng khẳng định:

“Âm điệu là cỗ xe chuyên chở điệu hồn thi phẩm”

Hãy lắng nghe âm điệu ấy trong một số bài thơ mà anh/chị tâm đắc.

GỢI Ý:

1 Giải thích ý kiến

- Âm điệu: là sự hòa điệu giữa cảm xúc thơ và tiết điệu ngôn ngữ, là dạng thức hết

sức vi diệu của điệu hồn trong thơ Cảm xúc được gợi ra từ nghệ thuật tổ chức cácyếu tố: thể thơ, nhịp điệu, thanh điệu, vần điệu, giọng điệu…

- Điệu hồn: chiều sâu xúc cảm, tinh thần của bài thơ.

=> Bằng cách nói khẳng định “chuyên chở”, Hoàng Cầm đã nhấn mạnh vai trò

của âm điệu trong thơ Đây là phương tiện đắc lực trong việc thể hiện cảm xúc vàlinh hồn của bài thơ, cảm xúc hóa thân trong âm điệu thơ

Trang 33

2 Lí giải ý kiến

- Đặc trưng của thơ là trữ tình, nghiêng về biểu hiện thế giới chủ quan của conngười với trạng thái tình cảm, rung động (thơ là tiếng lòng, là rung cảm mãnh liệtcủa nhà thơ trước cuộc sống)

- Nội dung cảm xúc trong thơ được thể hiện qua cách tổ chức ngôn từ đặc biệt,hàm súc, giàu nhạc tính, cụ thể các yếu tố: thể thơ, nhịp điệu, vần điệu, thanh điệu,giọng điệu… Đọc thơ, cảm được âm điệu coi như đã nhập được vào hồn thơ,chạm vào được “cõi thơ” thực sự

Trong thực tế, có rất nhiều bài thơ mà sức hấp dẫn, sức sống của nó trong lòngngười đọc bắt đầu từ âm điệu

3 Lắng nghe âm điệu trong một số bài thơ tâm đắc

Thí sinh được tự do lựa chọn một vài thi phẩm mình tâm đắc để cảm nhận Tuynhiên cần tập trung vào những vấn đề chính sau:

- Các dấu hiệu nghệ thuật thuộc âm điệu bài thơ: từ thể thơ đến thanh điệu, nhịpđiệu, vần điệu, giọng điệu, khoảng lặng ngôn từ… Mỗi thi phẩm có một âm điệuriêng với cách tổ chức các yếu tố nghệ thuật đó một cách đặc biệt

- Cảm nhận rõ ý nghĩa của âm điệu trong việc bộc lộ cảm xúc, chiều sâu tư tưởngcủa thi phẩm:

+ Tạo nên sự hấp dẫn cho bài thơ về mặt nghệ thuật, đặc biệt là âm vang của lờithơ

+ Dẫn dắt, hòa điệu tâm hồn người đọc vào thế giới cảm xúc lắng sâu cùng điệuhồn thi phẩm

4 Bình luận ý kiến

- Ý kiến của thi sĩ Hoàng Cầm giúp ta nhận thức sâu sắc vai trò của âm điệu trongthơ Chỉ khi bài thơ là kết quả của sự rung động mãnh liệt và sự sáng tạo độc đáotrong cách tổ chức ngôn từ thì âm điệu thơ mới trở nên ngân vang Như thế, âmđiệu đã trở thành tín hiệu thẩm mĩ quan trọng của bài thơ

- Ý kiến ấy không chỉ có ý nghĩa với người sáng tác mà còn là sự định hướng, gợi

mở cho người tiếp nhận, đọc thơ, cần “lấy hồn tôi để hiểu hồn người”, cần nắm

bắt âm điệu thơ để đến được điệu hồn thi phẩm

- Từ phương diện âm điệu, có thể thấy được thực tài, thực tâm của người nghệ sĩ,

đó cũng là một yêu cầu để thi phẩm có sức sống lâu bền trong lòng người đọc

Trang 34

Trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ), nhân vật

Trương Ba đã hai lần khước từ sự sống

Theo anh/ chị, khi đề cập đến cái chết, các nhà văn thường gửi gắm nhữngthông điệp gì về sự sống ? Qua việc cảm nhận một số tác phẩm có đề cập đến vấn

đề trên, anh/ chị hãy làm rõ câu trả lời của mình

GỢI Ý:

1 Giới thiệu vấn đề nghị luận.

+ Văn học phản ánh hiện thực mà con người là trung tâm của hiện thực nêncon người chính là tâm điểm của văn học Tác phẩm văn học lớn nào cũng thểhiện mối quan hoài thường trực của nhà văn về số phận con người

+ Cuộc sống đa chiều, đa diện luôn đặt con người trước những hoàn cảnhđầy khắc nghiệt khiến họ phải chọn lựa giữa sự sống và cái chết Khi phải làm condâu gạt nợ cho nhà thống lý Pá Tra, Mị muốn ăn lá ngón để tìm đến cái chết Khi

bị cự tuyệt quyền làm người, Chí Phèo rút dao đâm Bá Kiến rồi tự kết liễu cuộcđời mình Khi được Đế Thích cho cơ hội sống lại trong hình hài người khác,Trương Ba đã khước từ sự sống

+ Thoạt đọc qua, việc nhân vật tìm đến cái chết dễ khiến người ta nghĩ đến

sự bế tắc của con người trước cuộc sống cũng như sự bất lực của nhà văn trongviệc tìm ra hướng đi cho nhân vật Nhưng thực ra những cái chết được nhắc đến

đã gửi gắm nhiều thông điệp tích cực về sự sống

2 Cảm nhận các tác phẩm để làm sáng tỏ vấn đề:

+ Mị muốn tìm đến cái chết để phản kháng lại hoàn cảnh Cô gái trẻ trung,yêu đời, giàu sức sống không chấp nhận việc sống mòn mỏi trong thân phận condâu gạt nợ nơi nhà thống lý Pá Tra Giữa sống tăm tối, mờ mịt và chết, Mị chọncái chết Suy cho cùng đó chính là hành động của một trái tim tha thiết với cuộcsống – một cuộc sống đúng nghĩa, gắn liền với tự do, tình yêu, hạnh phúc

+ Chí Phèo tự sát vì không còn cách nào quay lại cuộc đời lương thiện Thị

Nở đã thắp lên một tia hy vọng trong Chí về một ngày mai tốt đẹp hơn rồi cũngchính thị thổi tắt hy vọng ấy Chí đã thức tỉnh, Chí không thể sống tiếp như con

Trang 35

quỷ dữ của làng Vũ Đại nhưng cũng không ai cho Chí hòa mình vào cuộc đờilương thiện Chí tìm đến cái chết nhằm thoát khỏi những đau đớn cùng cực củamột phận người khát khao một sự sống ý nghĩa mà rồi không thể.

+ Trương Ba khước từ sự sống là vì không thể chấp nhận cảnh sống khôngđược là mình một cách trọn vẹn, phải sống ghép, sống nhờ vào người khác dẫnđến bi kịch trớ trêu với bao hệ luỵ, phiền toái, bị tha hoá, làm cho người thân đaukhổ, xa lánh Bằng một lí trí tỉnh táo, một ý thức sâu sắc về sự sống, ông đã khước

từ một cách khẩn thiết và dứt khoát lời đề nghị của Đế Thích về việc cho ông sốnglại trong thân xác người khác

3 Rút ra thông điệp của nhà văn:

+ Việc tìm đến cái chết của các nhân vật là một cách giải quyết tình thế khôngthể khác được Cái chết ở đây không phải biểu hiện của việc không muốn sống màchính là biểu hiện của sự thiết tha với một cuộc sống tốt đẹp, ý nghĩa, trọn vẹn,hạnh phúc Chính vì mong muốn được sống cho ra sống mà các nhân vật khôngchấp nhận đánh mất mình chỉ để duy trì sự sống

+ Qua số phận và hoàn cảnh của các nhân vật, các nhà văn đã thể hiện nỗi daydứt sâu sắc về số phận con người cùng ước nguyện về một cuộc đời tốt đẹp hơn đểngười ta có thể sống trọn vẹn về cả hai phương diện linh hồn và thể xác Khi đósống không chỉ là tồn tại mà còn là được tồn tại như mình mong muốn, với tất cảniềm vui, hạnh phúc thuộc về mình

+ Như vậy, từ việc viết về cái chết, ta sẽ nhận ra tấm lòng nhân đạo sâu sắc củacác nhà văn thể hiện qua lòng cảm thương trước những éo le, trớ trêu trong hoàncảnh của nhân vật và sự trân trọng khát vọng sống của họ

ĐỀ 26:

Đọc văn là một cách thế để con người mở rộng chiều kích tồn tại của mình, sống thêm nhiều cuộc đời khác, thông qua những mối tương giao tinh thần với nhân loại.

(Huỳnh Như Phương, Hãy cầm lấy và đọc, NXB Tổng hợp,

Trang 36

+ Đọc văn: ý nói đến hoạt động tiếp nhận văn bản Mở rộng chiều kích tồn tại của mình, sống thêm nhiều cuộc đời khác: việc đọc văn giúp cho tâm hồn, cuộc sống của

con người phong phú, rộng mở hơn, khiến họ được trải qua những cảm giác, rungđộng, nghĩ suy,… của biết bao nhân vật, bao cuộc đời khác Nhận định của nhànghiên cứu Huỳnh Như Phương đã đề cập đến những ý nghĩa tích cực mà việc đọcvăn mang đến cho con người

2 Bàn luận:

+ Văn học là nghệ thuật phản ánh hiện thực: Văn học là cuộc đời được nhìn qualăng kính chủ quan của người sáng tác Nhà văn phải có khả năng quan sát và baoquát hiện thực tốt, phải tái hiện được tất cả cái đa dạng, phong phú của đời sống trongchiều sâu nhân bản của nó thì tác phẩm mới có giá trị

+ Đến với tác phẩm là đến với biết bao cảnh đời, bao thân phận, bao cảm xúc,chiêm nghiệm, suy tư,… Thông qua việc đọc, tác phẩm làm hiện lên trong tâm tríngười đọc những sự việc, những hình tượng nhân vật, những suy nghĩ, trăn trở của

con người và cuộc đời Đây cũng chính là cơ hội để người đọc mở rộng chiều kích tồn tại của mình, sống thêm nhiều cuộc đời khác Họ được đến những xứ sở mà ngoài

đời thực chưa hề đặt chân đến, được trải qua những cảm giác mới mẻ, được cùngkhóc, cùng cười, cùng vui, cùng buồn với nhân vật, được phiêu du tâm hồn vàonhững miền đời lạ lẫm, được biết mọi cung bậc của tâm tư con người và của đời sống

vô tận,… Từ việc khám phá tác phẩm, họ cũng được sống trọn vẹn hơn, phong phúhơn

+ Chứng minh bằng những trải nghiệm từ việc đọc: bằng những trải nghiệm trongquá trình đọc tác phẩm văn học, học sinh chỉ ra mình đã tiếp nhận tác phẩm thế nào,

từ đó mở rộng chiều kích tồn tại của mình, sống thêm nhiều cuộc đời khác ra sao.

Cảm nhận cần chân thành, tinh tế, sâu sắc, tránh cường điệu, giả tạo, rập khuôn

3 Đánh giá, nhận xét, phản biện, mở rộng bổ sung vấn đề: Học sinh có thể đưa ra

các ý kiến, suy nghĩ khác nhau Cụ thể là:

+ Nhận định đã chỉ ra những đặc trưng bản chất của việc tiếp nhận văn học Mỗi tácphẩm văn học phải là một cấu trúc mở, một cấu trúc vẫy gọi để người đọc khôngngừng khám phá ra những giá trị mới của tác phẩm, từ đó hiểu rõ hơn về mình, làmgiàu thêm đời sống tinh thần của bản thân

+ Việc mở rộng chiều kích tồn tại của mình, sống thêm nhiều cuộc đời khác thông

qua những trải nghiệm văn học không thay thế được những trải nghiệm thực tế củacon người

+ Để mỗi lần đọc là một lần mở cửa tâm hồn, khám phá chiều kích cuộc sống thìtác phẩm phải có chiều sâu nội dung, tầm cao triết lý và thể hiện được những suyngẫm sâu xa của tác giả về cuộc đời Muốn như vậy, nhà văn phải là người có con

Trang 37

mắt tinh tường, trí tuệ uyên thâm, tình yêu cuộc sống và khả năng sáng tạo ngôn

từ Đồng thời, người đọc cũng phải là người có trình độ thưởng thức, có sự amhiểu văn học, có trí tuệ sâu sắc,…

Đó là khoảnh khắc Vũ Như Tô nhận ra mộng lớn không thành, Cửu Trùng Đài

cháy tan thành tro bụi (Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng)

Đó là khoảnh khắc Mị vụt chạy theo A Phủ để tìm đường sống (Vợ chồng A Phủ,

Tô Hoài)

Từ những gợi ý trên và từ những trải nghiệm khi đọc các tác phẩm văn học yêu

thích, anh/chị hãy viết bài văn với nhan đề “Những khoảnh khắc vô tận”.

GỢI Ý:

1 Giải thích

- Khoảnh khắc: Khoảng thời gian hết sức ngắn Khoảnh khắc vô tận: khoảng thời gian ngắn (ngắn ngủi về thời gian vật lý) nhưng để lại nhiều cảm xúc, suy nghĩ về con người và cuộc đời (vô tận về ý nghĩa nhân sinh) Đề bài đã khẳng định khi đọc các tác phẩm văn học, ta có thể bắt gặp nhiều khoảnh khắc vô tận, ấn tượng, đáng

nhớ, giàu ý nghĩa

2 Bàn luận:

- Đặc trưng của văn học là tính hàm súc, gợi nhiều hơn tả Lời văn đã dừng nhưnghàm ý sâu xa nhiều tầng bậc thì còn vương vấn mãi Tác giả chỉ chọn ra một điểm,một khoảnh khắc để miêu tả nhưng khoảnh khắc ấy phải khiến người đọc suy ngẫmnhiều để rút ra những bài học về tư tưởng, lẽ sống,

- Những khoảnh khắc vô tận chính là những điểm nút quan trọng trong tình huống

truyện, quyết định sự phát triển của mạch truyện, khẳng định giá trị nội dung của tácphẩm và tài năng nghệ thuật của tác giả Nếu trong một câu chuyện mà không hề cókhoảnh khắc nào đáng nhớ thì toàn câu chuyện khó thể là một văn bản hay Đối vớitác phẩm trữ tình, đó là sự chuyển đổi, là khúc quanh của cảm xúc, tâm trạng, khiếnngười đọc rung động, nghĩ suy Qua đó, tác giả gửi gắm nhiều thông điệp ý nghĩa đếnngười đọc

Trang 38

- Quý hồ tinh bất quý hồ đa, nhiều khi chỉ cần có một khoảnh khắc đáng nhớ là đời

sống của tác phẩm đã đủ để vô tận trong lòng người đọc Gấp trang sách lại, ngườiđọc có thể quên đi nhiều thứ nhưng sẽ nhớ mãi những khoảnh khắc vô tận

3 Chứng minh bằng những trải nghiệm từ việc đọc: Từ những gợi ý trong đề và

từ việc cảm nhận các tác phẩm đã học, đã đọc, học sinh viết về những khoảnh khắc

vô tận đã để lại ấn tượng sâu sắc với các em Cần phân tích ý nghĩa nhân sinh, giá trị

nghệ thuật của những khoảnh khắc ấy Cảm nhận phải chân thành, tinh tế, sâu sắc

4 Đánh giá, nhận xét: Học sinh có thể đưa ra các ý kiến, suy nghĩ khác nhau Có thể

là:

- Khẳng định ý nghĩa, giá trị của những khoảnh khắc vô tận trong tác phẩm văn

học Những khoảnh khắc ấy chính là những chi tiết nghệ thuật đắt giá góp phần làmnên tác phẩm lớn

- Bên cạnh những khoảnh khắc vô tận, trong một số tác phẩm, ta bắt gặp không ít

khoảnh khắc vô nghĩa làm nhạt đi ý vị của câu chuyện Đây là biểu hiện cho thấyngười viết còn non tay

- Những khoảnh khắc vô tận trong văn học là kết tinh của biết bao tâm huyết, tinh

hồn và tài năng của tác giả Phải nghĩ thật sâu, ngẫm thật nhiều thì mới có thể độngbút công phu, đưa vào trang văn những gì tinh túy, chắt lọc, ấn tượng nhất

- Để giải mã được những khoảnh khắc vô tận trong tác phẩm nghệ thuật, người đọcphải có năng lực đọc hiểu, vốn sống sâu rộng và tâm hồn tinh tế

- Nhà văn: người sáng tạo nên những tác phẩm văn chương

- “sáng tạo cái mới”: tài năng, nét riêng độc đáo trong tác phẩm văn chương thường

được nhà văn thể hiện ở hai phương diện:

+ Nội dung: tác phẩm phải chứa đựng cái nhìn giàu tính khám phá, phát hiện về con

Trang 39

người và đời sống với những rung động mãnh liệt của người nghệ sĩ trước niềm vui,nỗi đau của con người, hướng con người tới gần hơn những giá trị Chân-Thiện-Mĩ…+ Nghệ thuật: tác phẩm độc đáo trong ngôn từ, cách thức xây dựng hình tượng nghệthuật, giọng điệu, điểm nhìn…

-> ý kiến khẳng định, đề cao tài năng sáng tạo của người nghệ sĩ

b/ Lí giải, chứng minh:

* Tại sao văn học lại quý trọng “sáng tạo cái mới”?

- Dòng chảy đời sống không lặp lại bao giờ Là tấm gương phản ánh đời sống, vănhọc không thể không phản chiếu, lí giải, đánh giá, dự báo về những yếu tố mới mẻkhông ngừng ấy

- Văn học là lĩnh vực của cái độc đáo Chỉ những tác phẩm có sự sáng tạo mới lạ, giàugiá trị thẩm mĩ mới có sức hấp dẫn lớn, có thể vượt qua quy luật băng hoại khắc nghiệtcủa thời gian

- Những sáng tạo mới mẻ, giàu tính thẩm mĩ, xuất hiện một cách có hệ thống trongcác sáng tác của nhà văn tạo nên phong cách nghệ thuật – dấu hiệu trưởng thành vềbản lĩnh nghệ thuật của người nghệ sĩ

* Chứng minh qua việc lựa chọn và phân tích để chỉ ra sự sáng tạo cái mới trong một

số tác phẩm trong chương trình Ngữ văn lớp 11

c/ Bài học

- Đối với nhà văn: cần sống sâu với đời, mở lòng đón nhận mọi âm vang của cuộcsống để từ đó phát hiện ra những cái mới mẻ xuất hiện trong dòng chảy của hiện thựccuộc sống Đồng thời phải có ý thức trau dồi, rèn luyện tài năng để có thể có những cáchbiểu hiện mới lạ, hấp dẫn…

- Đối với độc giả: cần chủ động, tích cực trong tìm hiểu tác phẩm để từ đó nhận ranhững sáng tạo mới mẻ, những cái hay, cái đẹp của tác phẩm cùng tấm lòng và tàinăng của nhà văn biểu hiện trong đó…

ĐỀ 29:

“Trên khối đá từ ngữ Anh bắt đầu đục đẽo những chữ tượng thanh, những chữ tượng hình

Tiếng lắng trầm nghĩ suy, tiếng bồng bềnh giấc ngủ”

(Theo Trên khối đá từ ngữ – Nguyễn Khoa Điềm)

Suy nghĩ của anh/chị về ý thơ trên Chọn một số tác phẩm thơ đã học để làm sáng tỏ

Gợi ý:

Trang 40

1 Giải thích

- “Khối đá từ ngữ”: Chỉ ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ toàn dân chính là nguyên liệu

thô để tác giả “đục đẽo” nên các tác phẩm văn học, là nghệ thuật của ngôn từ

- “Những chữ tượng thanh, những chữ tượng hình, tiếng lắng trầm nghĩ suy, tiếng bồng bềnh giấc ngủ”: Nói đến những đặc điểm của ngôn ngữ văn chương được “đục

đẽo” nên đó là ngôn ngữ tinh luyện gợi hình, gợi cảm, gợi trí tưởng tượng phong phú

và làm rung động người đọc

=> Ý thơ trên khẳng định đặc trưng của văn học là nghệ thuật ngôn từ và lao độngnghệ thuật của nhà thơ, nhà văn là sự sáng tạo lao tâm khổ tứ về ngôn ngữ

2 Bàn luận (Lý giải bằng kiến thức lý luận)

- Văn học là nghệ thuật của ngôn từ: Từ lời nói thô mộc của ngôn ngữ đời sống, nhà

văn, nhà thơ đã nhào nặn và tái tạo lại nó, khoác cho nó tấm áo mới trở thành ngônngữ nghệ thuật thể hiện cái vô cùng, vô tận của cuộc đời, tâm hồn con người mộtcách hình tượng Nó gợi dậy những cảm xúc, những nghĩ suy, mang đến những cảmgiác mới mẻ và trong ngần nơi độc giả

- Văn học là nghệ thuật ngôn từ và thơ ca là tiếng lòng của người nghệ sĩ, thể hiệnnhững khát vọng chân thành mãnh liệt nhất Cho nên nghệ thuật sử dụng ngôn từ vàtạo nhạc điệu là một trong những yếu tố nghệ thuật then chốt quyết định sự thànhcông của tác phẩm và là thước đo tài năng của một nhà văn

- Đặc điểm của ngôn từ trong văn học: Đạt đến tính chính xác, tinh luyện; tính hàmsúc, biểu cảm; tính biểu tượng và đa nghĩa;… để khi đọc lên người đọc cảm nhậnđược cuộc sống và nỗi lòng người viết, có những rung động thẩm mĩ sâu sắc

- Trong sáng tạo nghệ thuật nhà văn, nhà thơ phải là người “phu chữ” để tạo nênnhững tác phẩm nghệ thuật có giá trị mang đậm dấu ấn cá nhân

3 Chứng minh (Lý giải bằng kiến thức tác phẩm)

Lưu ý: - Học sinh có thể lựa chọn những tác phẩm thơ tiêu biểu thể hiện rõ năng lực,

sở trường sử dụng, sáng tạo ngôn ngữ của tác giả đó

- Dù chọn những bài thơ nào khi phân tích phải đặt trong mối quan hệ với kiến thứccủa lí luận đã được bàn luận

- Cần đánh giá giá trị đặc sắc của hệ thống ngôn ngữ được nhà thơ sử dụng trong việc

miêu tả, phản ánh cuộc sống, con người, thời đại, trong tác phẩm thơ

a Luận điểm 1: Nghệ thuật sử dụng ngôn từ và sáng tạo về phương diện chất

liệu ngôn từ trong bài thơ Vội vàng (Xuân Diệu)

* Tổ chức bài thơ đoạn thơ:

Ngày đăng: 26/08/2022, 11:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w