1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luật Dân Sự 2.Docx

91 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngân hàng câu hỏi ôn tập Học phần: Luật Dân Sự 2
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Tài liệu ôn tập
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 154,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Độc quyền tại  Photo Lộc Hải  01643 894 744 NGÂN HÀNG CÂU HỎI ÔN TẬP HỌC PHẦN LUẬT DÂN SỰ 2 NHÓM CÂU HỎI I 4 Câu 1 Phân tích đặc điểm của nghĩa vụ dân sự 4 Câu 2 Nêu các loại đối tượng của nghĩa vụ[.]

Trang 1

NGÂN HÀNG CÂU HỎI ÔN TẬP HỌC PHẦN: LUẬT DÂN SỰ 2

NHÓM CÂU HỎI I 4

Câu 1: Phân tích đặc điểm của nghĩa vụ dân sự 4

Câu 2: Nêu các loại đối tượng của nghĩa vụ dân sự, bình luận các điều kiện để trở thành đối tượng của nghĩa vụ dân sự 5

Câu 3: Phân tích các đặc điểm của biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự 8

Câu 4: Bình luận các điều kiện để một tài sản trở thành đối tượng của giao dịch bảo đảm 10

Câu 5: Phân tích những nội dung pháp lý cơ bản về đăng ký giao dịch bảo đảm 10

Câu 6: Tình huống liên quan đến cầm cố, thế chấp tài sản 21

Câu 7: Đối tượng, đặc điểm pháp lý của cầm cố tài sản 23

Câu 8: Đối tượng, đặc điểm pháp lý của thế chấp tài sản 25

Câu 9: Đối tượng, đặc điểm pháp lý của bảo lãnh 30

Câu 10: So sánh: 32

- Cầm cố và thế chấp tài sản - Cầm cố và cầm giữ tài sản - Thế chấp và bão lãnh Câu 11: Khái niệm, đặc điểm và nội dung của hợp đồng dân sự Phân loại hợp đồng dân sự? 36

Câu 12: Phân tích những nội dung pháp lý cơ bản về hình thức của hợp đồng 41

Câu 13: Phân tích các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng; thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng 44

Câu 14: So sánh: 50

- Hủy bỏ hợp đồng dân sự và đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự - Hợp đồng mua bán tài sản và hợp đồng vay tài sản Câu 15: Phân tích khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của hợp đồng mua bán tài sản/ hợp đồng vay tài sản 52

Câu 16: Tình huống liên quan đến đề nghị giao kết hợp đồng, hợp đồng mua bán tài sản; hợp đồng vay tài sản 54

Trang 2

Câu 17: Điều kiện của thực hiện công việc không có ủy quyền 54

Câu 18: So sánh: 54

- Hứa thưởng và thi có giải - Chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật và được lợi tài sản không có căn cứ pháp luật Câu 20: phân tích các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trong một số trường hợp cụ thể ( vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết; do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra) 56

Câu 21: Phân tích các yếu tố lỗi, ý nghĩa của việc xác định lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 60

Câu 22: Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 60

Câu 23: Tình huống liên quan đến xác định thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 62

II – NHÓM CÂU HỎI 2 65

Câu 1: Đối tượng, đặc điểm của quan hệ nghĩa vụ dân sự 65

Câu 2: Nghĩa vụ dân sự riêng rẽ, liên đới 65

Câu 3: Đối tượng, đặc điểm của biện pháp bảo đảm NVDS; Điều kiện để một tài sản trở thành đối tượng của biện pháp bảo đảm NVDS 66

Câu 4: Hình thức của giao dịch bảo đảm; đăng kí giao dịch bảo đảm (GDBĐ) 67

Câu 5: Xử lí tài sản bảo đảm 68

Câu 6: Đối tượng, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ cầm cố tài sản, chấm dứt quan hệ cầm cố tài sản (CCTS) 71

Câu 7: Đối tượng, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ thế chấp tài sản 72

Câu 8: Đối tượng, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ bảo lãnh, chấm dứt quan hệ bảo lãnh 74

Câu 9: Đặt cọc; hậu quả pháp lí khi một bên trong quan hệ đặt cọc từ chối giao kết hợp đồng 75

Câu 10: Bảo lưu quyền sở hữu; cầm giữ tài sản 75

Câu 11: Hợp đồng dân sự 77

Câu 12: HĐ song vụ, đơn vụ; HĐ ưng thuận; HĐ chính, HĐ phụ 78

Câu 13: Hiệu lực của HĐ dân sự, thời điểm có hiệu lực 79

Trang 3

Câu 14: Huỷ bỏ, đơn phương chấm dứt HĐ dân sự; thực hiện HĐ khi hoàn cảnh thayđổi 79Câu 15: Đặc điểm pháp lí của HĐ mua bán tài sản/ thuê TS/ mượn TS/ tặng cho TS/tặng cho có điều kiện/ gia công 81Câu 16: Hứa thưởng 83Câu 17: Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân 83Câu 18: Căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH; nguyên tắc BTTH; yếu tố lỗi; thời hiệukhởi kiện yêu cầu BTTH ngoài HĐ 84Câu 19: Mức bồi thường trong trường hợp thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm/ do sứckhoẻ bị xâm phạm/ do danh dự, nhân phẩm hoặc uy tín bị xâm phạm; xác định thiệthại do tài sản bị xâm phạm 85

Trang 4

NHÓM CÂU HỎI I

Câu 1: Phân tích đặc điểm của nghĩa vụ dân sự

Bộ luật Dân sự (BLDS) quy định về nghĩa vụ dân sự (NVDS) tại Điều 274 như

sau: “Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung

là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”.

Từ quy định trên có thể thấy: NVDS là một loại quan hệ, trong đó phải có ítnhất là hai bên (bên có quyền, bên có nghĩa vụ) mỗi bên có thể có một hoặc nhiều chủthể tham gia Bên có nghĩa vụ phải thực hiện yêu cầu của bên có quyền, nếu khôngthực hiện, thực hiện không đúng yêu cầu thì phải gánh chịu hậu quả pháp lý nhấtđịnh.Tiếp đó, NVDS là một loại quan hệ pháp luật dân sự, do vậy cũng mang nhữngđặc điểm chung của loại quan hệ này Bên cạnh đó, NVDS vẫn có những nét đặc thù,riêng biệt cụ thể:

Thứ nhất, NVDS là một loại quan hệ tài sản: Quan hệ tài sản được hiểu là mỗi

quan hệ giữa các bên thông qua một lợi ích vật chất cụ thể mà các bên cùng hướng tới

Từ Điều 274 BLDS có thể thấy hành vi thực hiện nghĩa vụ có thể là sự chuyển dịch tàisản (vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản) giữa các bên hoặc là một loại quan hệ màtrong đó có ít nhất một bên được hưởng lợi (vd: Bồi thường thiệt hại, thực hiện côngviệc ủy quyền…) Tuy nhiên dù có là một quan hệ chuyển dịch tài sản hay là quan hệ

mà trong đó có ít nhất một bên được hưởng lợi thì về bản chất NVDS là một quan hệtài sản

Thứ hai, NVDS là mối quan hệ pháp lý ràng buộc giữa các bên chủ thể: Đặc

điểm trên cho thấy tính cưỡng chế thi hành của loại quan hệ này NVDS  khác vớiNghĩa vụ tự nhiên ở chỗ nó được Nhà nước công nhận và được đảm bảo thi hành bởipháp luật Mặc dù nghĩa vụ dân sự là quan hệ giữa các bên nhằm hướng tới một lợi íchnhất định, tuy nhiên lợi ích mà các bên hướng tới không được trái với ý chí của nhànước và nhà nước sẽ kiểm soát việc sự thỏa thuận cũng như việc thực hiện NVDSthông qua việc quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể đối với từng loại NVDS

Thứ ba, hành vi thực hiện NVDS của chủ thể có nghĩa vụ luôn mang lại lợi ích cho chủ thể có quyền:Xuất phát từ mục đích của các bên chủ thể khi tham gia

quan hệ NVDS là hướng tới một lợi ích nhất định (vật chất hoặc tinh thần) do đó,thông qua hành vi thực hiện NVDS mà lợi ích của các chủ thể sẽ đạt được

Thứ tư, NVDS là một loại quan hệ đối nhân (quyền đối nhân): Quan hệ đối

nhân là quan hệ mà trong đó một bên chủ thể có quyền đối với một bên xác định , hoặc

cả hai bên đều có những quyền và nghĩa vụ nhất định đối với nhau Quyền và nghĩa vụ

Trang 5

của các bên chủ thể trong quan hệ NVDS vừa đối lập lại vừa có mối quan biện chứngvới nhau. 

Câu 2: Nêu các loại đối tượng của nghĩa vụ dân sự, bình luận các điều kiện

để trở thành đối tượng của nghĩa vụ dân sự.

Bất cứ một quan hệ pháp luật nào cũng đều cần phải có đối tượng tham gia, vàtrong quan hệ nghĩa vụ dân sự cũng vậy Đối tượng trong quan hệ nghĩa vụ dân sự rấtquan trọng, bởi nó là cơ sở để xác định và giúp cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự đạthiệu quả cao, hạn chế thấp những tranh chấp trong việc thực hiện nghĩa vụ, đảm bảoviệc thực hiện pháp luật có hiệu quả. 

Điều 276 BLDS năm 2015 quy định:

“1 Đối tượng của nghĩa vụ dân sự có thể là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện.

2 Đối tượng của nghĩa vụ dân sự phải được xác định .”

Pháp luật Dân sự Việt Nam phân loại đối tượng của nghĩa vụ dân sự thành 3loại gằn liền với ba nhóm nghĩa vụ cơ bản:

- Đối tượng là tài sản – gắn liền với nghĩa vụ chuyển giao tài sản

- Đối tượng là công việc – gắn liền với nghĩa vụ phai thực hiện một công việcnhất định

-Đối tượng là công việc không được làm – gắn liền với nghĩa vụ không đượcthực hiện một số công việc nhất định

1 Đối tượng của nghĩa vụ dân sự là tài sản.

Theo quy định tại Điều 105 BLDS 2015 về tài sản:

“1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản

2.Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là

tài sản hiên có và tài sản hình thành trong tương lai.”

Tài sản để được coi là đối tượng của nghĩa vụ dân sự thì cần phải có các đặcđiểm sau:

§  Thứ nhất, tài sản phải đáp ứng một nhu cầu, một lợi ích nào đó của chủ thể

có quyền (cả về vật chất lẫn tinh thần)

§  Thứ hai, tài sản phải có giá trị, có thể trị giá được bằng tiền Bởi tiền là thước

đo giá trị của các loại tài sản khác Những tài sản như vật, giấy tờ có giá, quyền tài sảnđều có thể quy đổi ra được thành tiền

§  Thứ ba, tài sản này phải thuộc sở hữu của một chủ thể nhất định Bởi trongquan hệ nghĩa vụ dân sự chúng ta luôn xác định được các chủ thể nhất định, họ có thể

là người có quyền, cũng có thể là người có nghĩa vụ, do đó chỉ khi xác định được chủ

sở hữu một loại tài sản , thì tài sản đó mới có thể là đối tượng của nghĩa vụ dân sự

Trang 6

§  Thứ tư, quyền sở hữu với tài sản không còn khi chúng mất đi.

2 Đối tượng của nghĩa vụ là công việc phải thực hiện

Công việc phải làm được coi là đối tượng của nghĩa vụ, nếu từ một công việcđược nhiều người xác lập với nhau một quan hệ nghĩa vụ mà theo đó, người có nghĩa

vụ phải thực hiện công việc theo đúng nội dung đã được xác định;

Công việc phải làm có thể được hoàn thành với một kết quả nhất định, ví dụchủ nhà thuê người quét sơn nhà thì sau khi công việc được hoàn thành thì nhà đãđược sơn xong Công việc phải làm cũng có thể không gắn liền với một kết quả nào docác bên thỏa thuận hoặc do tính chất công việc Ví dụ như công việc vệ sĩ nếu có sựxâm hại thì kết quả của công việc bảo vệ là đảm bảo cho thân chủ an toàn Nhưng nếukhông có sự xâm hại nào tới thân chủ thì công việc bảo vệ đó không nhất thiết gắn liềnvới kết quả

Mặt khác, kết quả của công việc có thể biểu hiện dưới dạng một vật cụ thể nhưcông việc phải làm trong hợp đồng gia công giầy, sau khi hoàn thành xong sẽ có sảnphẩm là những đôi giầy-vật cụ thể Nhưng cũng có thể không thể hiện dưới dạng mộtvật cụ thể nào ví dụ như công việc hướng dẫn viên du lịch sẽ kết quả sẽ không biểuhiện ra một vật cụ thể

3.    Đối tượng của nghĩa vụ dân sự là công việc không được thực hiện.

Công việc không được làm là đối tượng của nghĩa vụ dân sự trong nhữngtrường hợp cụ thể các trường hợp thỏa thuận mà theo đó người có nghĩa vụ khôngđược thực hiện công việc theo nội dung mà các bên đã xác định Nếu các bên đã thỏathuận một bên không thực hiện công việc đã xác định mà bên có nghĩa vụ lại thực hiệncông việc đó thì coi như là vi phạm nghĩa vụ

Ví dụ: A và B là hai nhà gần nhau, nhà A chuyên làm đồ gỗ nên hay sử dụngmáy cưa và các thiết bị khác nên khá ồn Do đó, B đã đưa cho A một ít tiền và thỏathuận A sẽ không làm ồn vào buổi trưa và buổi tối

Trong quan hệ nghĩa vụ dân sự thì đối tượng là công việc không được thực hiệnthường không phổ biến như các loại đối tượng khác Tuy nhiên, nó cũng có vai trò, ýnghĩa trong những trường hợp cần thiết liên quan đến nghãi vụ không thực hiện côngviệc gì đó

*  Điều kiện là đối tượng của nghĩa vụ dân sự.

1. Phải đáp ứng một lợi ích nào đó cho chủ thể có quyền.

Thông thường lợi ích mà chủ thể có quyền hướng tới là lợi ích vật chất (vật,

tiền,…) ví dụ như trong Hợp đồng thuê tài sản thì chủ thể có quyền hướng tới là một

khoản tiền Nhưng cũng có thể là một lợi ích tinh thần như: thuê ca sĩ hát, thuê diễn viên đóng kịch nhằm giải trí .

Trang 7

Để chủ thể có quyền đạt được lợi ích vật chất nếu đối tượng của nghĩa vụ dân sự

là một vật cụ thể thì vật đó phải mang đầy đủ các thuộc tính của hàng hóa (giá trị và giátrị sử dụng) Nếu đối tượng của nghĩa vụ là công việc phải làm hoặc không phải làm thìphải hướng tới lợi ích của người có quyền; Nếu công việc đó không hướng tới lợi íchcủa người có quyền thì công việc đó sẽ là điều kiện trong một số giao dịch cụ thể

Ví dụ: A sẽ tặng cho B một cái xe máy nếu B thi đỗ đại học Như vậy, việc thi

đỗ đại học không phải là nghĩa vụ mà B phải thực hiện mà chỉ là điều kiện để B có thểnhận được chiếc xe máy Điều kiện khác với nghĩa vụ ở tính bắt buộc thực hiện

2.     Phải được xác định cụ thể

Khi các bên giao kết hợp đồng để xác lập quan hệ nghĩa vụ đối với nhau, phảixác định rõ đối tượng của nghĩa vụ là công việc hay là một vật nào đó Trong trườnghợp nghĩa vụ được thiết lập theo quy định của pháp luật, thì đối tượng đã được phápluật quy định rõ trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ đó

Ví dụ: Trong hợp đồng mua bán nhà, bên bán phải thực hiện nghĩa vụ là chuyểngiao quyền sở hữu nhà đúng thời hạn cam kết, còn bên mua có nghĩa vụ là trả mộtkhoản tiền cho bên bán tương ứng với trị giá của ngôi nhà Theo đó, đối tượng củanghĩa vụ ở đây là ngôi nhà được xác định bởi cấu trúc xây dựng, diện tích mặt bằng,diện tích sử dụng, vị trí ranh giới…

 Đối tượng có thể là vật được xác định cụ thể như loại vật, số lượng, chất lượng.Nếu đối tượng là vật chưa có vào thời điểm nghĩa vụ dân sự được xác lập thì phải lànhững vật được xác định trong tướng lai, ví dụ như hợp đồng gia công Trong trườnghợp không xác định rõ đối tượng của nghĩa vụ thì đối tượng của nghĩa vụ do pháp luậtquy định Điều 279 BLDS năm 2015 quy định:

 “Khi vật phải giao là vật đặc định thì bên có nghĩa vụ phải giao đúng vật đó

và đúng tình trạng như đã cam kết; nếu là vật cùng loại thì phải giao đúng số lượng và chất lượng như đã thoả thuận, nếu không có thoả thuận về chất lượng thì phải giao vật

đó với chất lượng trung bình; nếu là vật đồng bộ thì phải giao đồng bộ”;

3.    Đối tượng của nghĩa vụ phải thực hiện được

Trong quan hệ nghĩa vụ, mục đích mà các bên muốn đạt được là một lợi ích vậtchất hay cũng có thể là một lợi ích tinh thần, do vậy nếu đối tượng của nghĩa vụ khôngthực hiện được sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên Trường hợp, đối tượng củanghĩa vụ dân sự là một công việc thì công việc đó phải thực hiện được Trong thực tế

có những công việc không thể thực hiện được hoặc hiện tại chưa có điều kiện để thực

hiện: làm thuốc tàng hình, làm cỗ máy thời gian, làm thuốc thu nhỏ người….

 Nếu đối tượng của nghĩa vụ là một tài sản thì tài sản đó phải được phép giaodịch Ngược lại, nếu đối tượng của nghĩa vụ là vật cấm lưu thông thì không thể chuyển

Trang 8

giao được, do vậy nghĩa vụ dân sự này không được phép tồn tại Ví dụ: ma túy là vậtcấm lưu thông, nên pháp luật không công nhận quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khithực hiện việc mua bán ma túy.

Những tài sản mà pháp luật cấm giao dịch, những công việc mà pháp luật cấmlàm hoặc những công việc nếu làm sẽ trái với đạo đức xã hội cũng là những đối tượngkhông thực hiện được Vì vậy, nó không bao giờ là đối tượng của nghĩa vụ dân sự Ví

dụ: thuê giết người, nhận thuê giết người là những công việc trái với đạo đức xã hội

và pháp luật cũng không cho phép.

Như vậy, đối tượng của nghĩa vụ dân sự là những công việc được xác định vàthực hiện được trong thực tế, hoặc là những vật có thực và được phép giao dịch màbên có nghĩa vụ phải tạo ra hoặc phải chuyển giao

Câu 3: Phân tích các đặc điểm của biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.

  Nhằm nâng cao tính bảo đảm chủ thể có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ, trongquan hệ dân sự có thể sử dụng các hình thức bảo đảm sau :

Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bao gồm:

 Các biện pháp bảo đảm mang tính chất bổ sung cho nghĩa vụ chính

Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự không tồn tại độc lập màluôn phụ thuộc và gắn liền với một nghĩa vụ nào đó Sự phụ thuộc thể hiện ở chỗ khi

có quan hệ nghĩa vụ chính thì các bên mới cùng nhau thiết lập một biện pháp bảo đảm.Nội dung, hiệu lực của biện pháp bảo đảm phù hợp và phụ thuộc vào nghĩa vụ chính

Vì vậy, người ta gọi nghĩa vụ phát sinh từ các biện pháp bảo đảm là nghĩa vụ phụ

Trang 9

 Các biện pháp bảo đảm đều có mục đích nâng cao trách nhiệm của các bên trong quan hệ nghĩa vụ dân sự

Thông thường, khi đặt ra các biện pháp bảo đảm, các bên hướng tới mục đíchnâng cao trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ Ngoài ra, trong nhiềutrường hợp, các bên còn hướng tới mục đích nâng cao trách nhiệm trong giao kết hợp

đồng của cả hai bên Ví dụ: biện pháp đặt cọc bắt buộc các bên phải giao kết hợp đồng.

Mục đích của các biện pháp bảo đảm được thể hiện thông qua các chức năngcủa từng biện pháp cụ thể Mỗi một biện pháp bảo đảm có tính chất và đặc điểm riêngbiệt, nên chức năng của chúng không thể giống nhau hoàn toàn Nhưng nếu nhìn mộtcách tổng thể thì các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đều có ba chứcnăng chung: chức năng tác động, chức năng dự phòng và chức năng dự phạt

 Đối tượng của các biện pháp bảo đảm là những lợi ích vật chất

Lợi ích của các bên trong nghĩa vụ dân sự có biện pháp bảo đảm là những lợiích vật chất Quy luật ngang giá trong quan hệ tài sản cho chúng ta thấy rằng chỉ có lợiích vật chất mới bù đắp được các lợi ích vật chất Vì vậy các bên trong quan hệ nghĩa

vụ không thể dung quyền nhân thân làm đối tượng của biện pháp bảo đảm Lợi ích vậtchất là đối tượng của các biện pháp bảo đảm thường là một tài sản Các đối tượng nàyphải có đủ các yếu tố mà pháp luật đã yêu cầu đối với một đối tượng của nghĩa vụ dân

sự nói chung

 Phạm vi bảo đảm của các biện pháp bảo đảm không vượt quá phạm vi nghĩa vụ đã xác định trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ chính

Điều 293 BLDS 2015 quy định: “ Nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần

hoặc toàn bộ theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật; nếu không có thoả thuận và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại.”

Như vậy về nguyên tắc, phạm vi bảo đảm là toàn bộ nghĩa vụ khi các bên khôngthỏa thuận và pháp luật không quy định khác nhưng cũng có thể chỉ là một phần nghĩa vụ

Phạm vi bảo lãnh không lớn hơn phạm vi của nghĩa vụ dù trong thực tế người

có nghĩa vụ đưa một tài sản có giá trị lớn hơn nhiều lần giá trị của nghĩa vụ để bảođảm việc thực hiện nghĩa vụ Vì rằng, dù giá trị của đối tượng bảo đảm có lớn hơn giátrị nghĩa vụ nhưng mục đích của việc bảo đảm đó cũng chỉ là để người mang nghĩa vụphải thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi đã xác định

 Các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ chỉ được áp dụng khi có sự vi phạm nghĩa vụ

Cho dù các bên đã đặt ra một biện pháp bảo đảm bên cạnh một nghĩa vụ chínhnhưng vẫn không cần phải áp dụng biện pháp bảo đảm đó nếu nghĩa vụ chính đã được

Trang 10

thực hiện một cách đầy đủ Thông thường, trong một quan hệ nghĩa vụ dân sự, bên cónghĩa vụ tự giác thực hiện nghĩa vụ của họ đối với người có quyền và nếu đến thời hạn

mà bên có nghĩa vụ đã thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ của mình thì biện pháp bảođảm nghĩa vụ đó cũng được coi là chấm dứt

 Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phát sinh từ sự thỏa thuận giữa các bên

Nếu các nghĩa vụ dân sự phát sinh từ những căn cứ khác nhau (căn cứ này cóthể là sự thỏa thuận, có thể là do quy định của pháp luật) thì biện pháp bảo đảm thựchiện nghĩa vụ chỉ có thể phát sinh thông qua sự thỏa thuận của các bên trong một giaodịch dân sự

Câu 4: Bình luận các điều kiện để một tài sản trở thành đối tượng của giao dịch bảo đảm.

Câu 5: Phân tích những nội dung pháp lý cơ bản về đăng ký giao dịch bảo đảm.

I Khái niêm đăng kí giao dich bảo đảm:

1 Trong những năm qua, đãc biẽt từ năm 2000 đến nav lĩnh vuc đãng kv giaodich bảo đảm đã đat đuơc các kết quả chủ vếu sau đâv:

Thứ nhất: Pháp luật về đăng kỷ giao dịch bảo đảm đã được xây dựng và hoàn thiện về cơ bản, tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai đãng ký trong thực tế

thông qua việc ban hành Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 của Chính phủ

về đăng ký giao dịch bảo đảm và tiếp tục đuợc khẳng định trong Bộ luật dân sự năm

2005, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Bộ luật Hàng hải, Luật Hàng không dân dụng, Nghịđịnh số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/11/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm v.v cùng với các văn bản huớng dẫn thi hành Trong đó, điểm nổi bật là đã đáp ứng cácyêu cầu cải cách thủ tục hành chính, quy trình đăng ký, cung cấp thông tin đã đuợc cảitiến, đảm bảo thuận tiện, khoa học và giảm chi phí Hệ thống văn bản pháp luật vềđăng ký giao dịch bảo đảm ở nuớc ta đã có những buớc tiến quan trọng, thực sự tạođuợc lòng tin của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, góp phần khai thông thị trườngvốn và đảm bảo an toàn cho sự vận hành của hệ thống tín dụng Việt Nam

Thứ hai: Xây dựng hệ thống các cơ quan có thẩm quyền đăng kỷ giao dịch bảo đảm trong cả nước Đốn nay, mọi cá nhân, tổ chức dùng bất kỳ tài sản nào để

bảo đảm đều có cơ quan để đãng ký và tìm hiểu thông tin Xuất phát từ quan điểm cảicách hành chính, Bộ Tư pháp đã thành lập các Trung tâm Đãng ký giao dịch, tài sản tại

Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nang thuộc Cục Đãng ký quốc gia giao dịchbảo đảm theo mô hình ngành dọc, gọn nhẹ, nhằm bảo đảm thực hiện tốt chức năng,nhiệm vụ được giao và có thẩm quyền đãng ký không theo địa giới hành chính mà

Trang 11

khách hàng có thể lựa chọn bất kỳ Trung tâm nào cũng được, đồng thời các dữ liệuđược quản lý tập trung, thống nhất trong Hệ cơ sở dữ liệu quốc gia các giao dịch, tàisản.

Bộ Giao thông vận tải đã kiện toàn cơ quan đãng ký giao dịch bảo đảm bằng tàubay, tàu biển thông qua việc hoàn thiện cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của các

cơ quan này, trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho công tác đãng ký

Sau khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh

đã tiến hành xây dựng và quản lý hệ thống các cơ quan có thẩm quyền đăng ký giaodịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất bao gồm:

- Thành lập 64 Vãn phòng đăng kỷ quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài nguyên

và Môi trường tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Văn

phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh) nơi có đất, tài sản gắn liền với đất để thựchiện đăng ký thế chấp trong trường hợp bên thế chấp là tổ chức kinh tế, người ViệtNam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam, tổ chức nước ngoài,

cá nhân nước ngoài

- Thành lập 257 Văn phòng đăng kỷ quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện; củng cố 416 Phòng Tài nguyên và Môi trường

cấp huyện đối với nơi chưa thành lập hoặc không thành lập Vãn phòng đãng ký quyền

sử dụng đất (sau đây gọi chung là Vãn phòng đãng ký quyền sử dụng đất cấp huyện)

để thực hiện đãng ký thế chấp trong trường hợp bên thế chấp là hộ gia đình, cá nhântrong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua nhà ở gắn liền với quyền

sử dụng đất ở

Thứ ba: số lượng đăng kỷ giao dịch bảo đảm ngày càng tăng, cụ thể:

- Từ tháng 03/2002 đến 03/2008, các Trung tâm Đãng ký giao dịch, tài sảnthuộc Cục Đãng ký quốc gia giao dịch bảo đảm của Bộ Tư pháp đã tiếp nhận và giảiquyết 291.175 đơn yêu cầu đãng ký và 4.717 lượt cung cấp thông tin cho khách hàng

- Tính từ nửa cuối năm 2003 đến 2007, theo báo cáo của 40 UBND cấp tỉnh,thì số lượng đăng ký giao dịch bảo đảm về quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đấttại các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đạt tổng cộng là 1.899.660 trường hợp,trong đó tại Văn phòng cấp tỉnh là 169.279 trường hợp, tại Văn phòng cấp huyện là1.027.547

- Từ năm 2002 đến năm 2007, Cục Hàng không dân dụng Việt Nam đã đăng

ký 38 giao dịch bảo đảm bằng tàu bay Các Chi cục đăng ký tàu biển khu vực đã đăng

ký 628 trường hợp thế chấp, cầm cố tàu biển Qua đó, đã tạo ra một nguồn vốn lưuđộng cho các doanh nghiệp vận tải biển, góp phần phát triển kinh tế biển

Trang 12

2,Khái niêm:

Đăng kỉ giao dịch bảo đảm là việc đãng kỉ quyền đổi với tài sản phát sinh từ các giao dịch bảo đảm, theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Các giao dịch bảo đảm bao gồm:

1)Thế chấp quyền sử dụng đất;

2)Thế chấp quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng

trồng;

3)Thế chấp vườn cây lầu năm;

4)Cầm cổ tàu bay, thế chấp tàu bay;

5)Thế chấp tàu biển;

6)Thế chấp một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ;

7)Các trường hợp khác, nếu pháp luật có quy định.

8)Thế chấp, cầm cổ tài sản (trừ các trường hợp đã nêu ở trên )

9)Cho thuê tài chỉnh;

10) Cho thuê động sản có thời hạn thuê từ một năm trở lên;

11) Bảo lưu quyền sở hữu trong trường hợp mua trả chậm, trả dần đổi với tài sản là động sản;

12) Bán có thoả thuận chuộc lại hoặc bán hàng thông qua đại lý đổi với tài sản là động sản;

13) Chuyển nhượng quyền đòi nợ;

14) Giao dịch khác bằng động sản nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.

II.Ỷ nghĩa của viẽc đăng kí giao dich bảo đảm :

Ở các nước trên thế giới, việc ĐKGDBĐ được thực hiện như một biện phápphòng ngừa các rủi ro pháp lí cho các bên trong quan hệ bảo đảm nghĩa vụ, đặc biệt lànhằm bảo vệ một cách hiệu quả quyền, lợi ích hợp pháp của bên nhận bảo đảm tronggiao dịch bảo đảm cũng như quyền lợi của người thứ ba Hiện nay ở nước ta, đã vàđang xây dựng dự thảo luật ĐKGDBĐ ( dự thảo 4) với mục tiêu thiết lập cơ chế minhbạch hoá tình trạng pháp lý của tài sản, góp phần bảo vệ quyền dân sự chính đáng củamọi người dân và tổ chức, đây là một dịch vụ hành chính công do Nhà nước cung cấpcho khách hàng là tổ chức, cá nhân để giúp họ tự bảo vệ các quyền và lợi ích hợp phápcủa chính mình trước các rủi ro pháp lý trong quá trình thiết lập các giao dịch bảođảm Dịch vụ này không có tính chất của một hoạt động thương mại nên không nhằmmục tiêu thu lợi nhuận mà Nhà nước chỉ thu một khoản lệ phí vừa đủ để thực hiện tốtnhất dịch vụ này cho người sử dụng dịch vụ Dự thảo 4 hướng tới mục tiêu sao chodịch vụ này trở nên đơn giản nhất, chi phí ít nhất để khiến cho người dân có thể tiếp

Trang 13

cận một cách dễ dàng, thuận lợi đối với dịch vụ ĐKGD BĐ cũng như tìm kiếm cácthông tin về những giao dịch bảo đảm đã được đãng kí.

Mục tiêu căn bản khi soạn thảo dự thảo 4 đó là phục vụ tốt nhất nhu cầu củangười dân Để thực hiện mục tiêu này, các nhà làm luật hướng tới việc không giới hạncác giao dịch bảo đảm có thể được đăng kí và đơn giản hoá các thủ tục đăng kí, tạođiều kiện cho người dân có thể tiếp cận dễ dàng nhất với các thông tin về những giaodịch bảo đảm đã được đăng kí

Mặt khác, ĐKGDBĐ là việc Nhà nước ( hoặc các chủ thể khác do Nhà nước uỷquyền ) công nhận một tình trạng đã được bảo đảm cho một nghĩa vụ hoặc nhiều nghĩa

vụ dân sự nhất định Giá trị pháp lí thực sự của hành vi ĐKGD BĐ không phải ở chỗ

nó nhằm chứng minh sự tồn tại trên thực tế cũng như về mặt pháp lý của giao dịch bảođảm đã đăng kí, mà chính là ở chỗ nó thừa nhận một tài sản đã được chủ sở hữu đembảo đảm cho việc thực hiện một hay nhiều nghĩa vụ dân sự của chính họ hoặc củangười khác đối với bên có quyền Hành vi này sẽ là sự kiện pháp lý để làm phát sinhquyền được ưu tiên thanh toán của bên nhận bảo đảm trong giao dịch bảo đảm đã đãng

kí, so với bên nhận bảo đảm khác trong các giao dịch bảo đảm chưa được đãng kí.Điều đó cũng đồng nghĩa với việc coi hành vi ĐKGDBĐ là sự kiện pháp lý để " đánhdấu" thứ tự hình thành các giao dịch bảo đảm đã được xác lập đối với một tài sản và từ

đó xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lí tài sản bảo đảm đối với các chủ nợ cóbảo đảm bằng một tài sản Từ đó có thể nhận thấy, chứng từ chứng nhận ĐKGDBĐ làmột trong những yếu tố quan trọng để Toà Án giải quyết các tranh chấp

Như vậy, việc ĐKGDBĐ sẽ có những ý nghĩa chính như sau:

Công khai hoá các giao dịch bảo đảm mọi cá nhân, tổ chức có nhu cầu tìm hiểu,qua đó giúp họ có các thông tin chính xác, tin cậy trước khi quyết định xác lập cácgiao dịch dân sự, kinh tế, thương mại, đặc biệt quan trọng đối với hoạt động đầu tưvốn trong và ngoài nước để phát triển sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là với môi trườnglớn mang yếu tố nước ngoài như WTO, APEC, EU mà nhà nước ta đang tham giahiện nay

Xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm trongtrường hợp dùng một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, góp phần bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong khi giao dịch

Ngoài ra, việc ĐKGDBĐ còn góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho thị trườngtín dụng, không những phát triển nhanh, mà còn phát triển trong thế ổn định, đồng thờitạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xét xử của Toà án đối với các tranh chấp về giaodịch bảo đảm

Trang 14

Đối với các trường hợp bắt buộc phải đăng kí, nhưng không đăng kí thì giaodịch bảo đảm có thể bị vô hiệu và không có giá trị với người thứ ba, có nghĩa là nếungười thứ ba mua tài sản đang được dùng để thế chấp (bảo lãnh ) ngân hàng, thì quyền

sở hữu của nguời này vẫn đuợc pháp luật bảo vệ, vì họ mua bán ngay tình, do khôngbiết tài sản này đang đuợc cầm cố

III Phân loai đăng kí giao dich bảo đảm :

Để phân loại ĐKGDBĐ, có nhiều cách phân loại, nhung ta có thể phân loạiĐKGDBĐ theo những tiêu chí chủ yếu sau :

1.Phân loại dựa trên tiêu chí đối tuợng đãng kí: bao gồm hai loại là Động sản

và Bất động sản Động sản bao gồm tàu bay, tàu biển và các động sản khác theo quyđịnh của Pháp luật Bất động sản bao gồm quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liềnvới đất

2.Phân loại dựa trên tiêu chí các cơ quan ĐKGDBĐ, bao gồm :

a.Trung tâm đãng ký giao dịch, tài sản trực thuộc Cục Đãng kí quốc gia giaodịch bảo đảm thuộc Bộ Tu pháp

b.Cục hàng không Việt Nam thuộc Bộ Giao thông vận tải

c.Chi cục hàng hải, Cảng vụ hàng hải trục thuộc Cục Hàng hải Việt Nambthuộc Bộ Giao thông vận tải

d.Vãn phòng đãng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh

e.Vãn phòng đãng ký quyền sử dụng đất cấp huyện

f. Uỷ ban nhân dân xã thuộc vùng sâu vùng xa

3.Phân loại dựa trên tiêu chí trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan tronghoạt động ĐKGDBĐ, bao gồm :

a.Chính Phủ

b.Bộ Tu pháp

c.Bộ Giao Thông vận tải

d.Bộ Tài nguyên và Môi truờng

e.Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung uơng

f. Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

Ngoài ra còn một cách phân loại ĐKGDBĐ mới có trong Dự thảo 4 về LuậtĐKGDBĐ là dựa trên tiêu chí thủ tục đãng kí, gồm hai loại : đãng kí trực tiếp bằngvãn bản và đãng kí trục tuyến qua mạng internet

IV Hâu quả pháp lv của viẽc đăng kí giao dich bảo đảm:

Theo khoản 2 điều 12 nghị định 08/2000/NĐ-CP ra ngày 10/3/2000 có quy định

"Truờng hợp nguời yêu cầu đãng ký ghi vào đơn các nội dung không đúng sự thật,

Trang 15

không đúng thoả thuận của các bên về giao dịch bảo đảm mà gây thiệt hại, thì phải bồithuờng cho nguời bị thiệt hại." nghĩa là nếu nguời yêu cầu đãng kí làm sai, không đúngcác thoả thuận giữa các bên tham gia giao dịch bảo đảm mà có thiệt hại xảy ra, phảichịu bồi thuờng thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Khoản 2 điều 14 nghị định 08/2000/NĐ-CP quy định:" Truờng hợp đơn yêu cầuđãng ký giao dịch bảo đảm không ghi đầy đủ các nội dung theo mẫu hoặc nguời yêucầu đãng ký không nộp lệ phí, thì cơ quan đãng ký trả lại đơn yêu cầu đãng ký và nêu

rõ lý do từ chối đãng ký." Trong truờng hợp này, cơ quan nhà nuớc có thẩm quyền cóquyền trả lại yêu cầu ĐKGDBĐ và phải có trách nhiệm nêu rõ lý do

Nếu Đãng kí viên đãng kí không chính xác các nội dung kê khai trong đơn yêucầu đãng kí mà gây thiệt hại thì phải có trách nhiệm bồi thuờng thiệt hại theo quy địnhcủa pháp luật về trách nhiệm bồi thuờng thiệt hại của công chức

V.Thủ tục đăng kí và xoá đăng kí giao dich bảo đảm :

Theo Thông tu số 01/2002/TT-BTP của Bộ Tu pháp ra ngày 09/1/2002 huớngdẫn một số vấn đề về thẩm quyền, trình tự và thủ tục đăng kí và cung cấp thông tin vềgiao dịch bảo đảm tại Cục đăng kí quốc gia giao dịch bảo thuộc Bộ Tu pháp và cácChi nhánh:

a Thủ tục đăng kí giao dịch bảo đảm:

"1- Nguời yêu cầu đăng ký phải nộp đơn yêu cầu đăng ký cầm cố tài sản theoMầu số 02 hoặc đơn yêu cầu đăng ký bảo lãnh bằng tài sản theo Mầu số 03 Đơn yêucầu đăng ký hợp lệ là đơn đuợc kê khai đầy đủ các nội dung phải kê khai theo mẫu vàphù hợp với thoả thuận của các bên trong hợp đồng cầm cố, bảo lãnh đã ký

2-Người yêu cầu đãng ký nộp đơn yêu cầu đãng ký thông qua một trong cácphương thức sau đây:

2.1 Nộp đơn trực tiếp tại Cục Đãng ký hoặc Chi nhánh;

2.2 Gửi đơn qua đường bưu điện, có thể bằng hình thức gửi bảo đảm hoặcchuyển phát nhanh;

2.3 Gửi đơn qua fax Việc gửi đơn qua fax chỉ được thực hiện trong trườnghợp người yêu cầu đãng ký là các tổ chức tín dụng theo Luật các tổ chức tín dụng đãđãng ký vào Danh sách khách hàng thường xuyên của Cục Đãng ký

Các tổ chức tín dụng gửi cho Cục Đãng ký vãn bản đãng ký Danh sách kháchhàng thường xuyên theo Mầu số 01 Sau khi đã đãng ký vào Danh sách khách hàngthường xuyên của Cục Đãng ký, thì các tổ chức tín dụng được gửi đơn yêu cầu đãng

ký qua fax đến Cục Đãng ký hoặc Chi nhánh

Cục Đãng ký hướng dẫn về thủ tục đãng ký vào Danh sách khách hàng thường

Trang 16

3-Người yêu cầu đăng ký nộp đủ lệ phí thông qua một trong các phương thứcsau đây:

3.1 Nộp trực tiếp tại Cục Đăng ký hoặc Chi nhánh ngay sau khi đơn yêu cầuđăng ký được Đăng ký viên tiếp nhận;

3.2 Chuyển tiền thông qua dịch vụ của bưu điện và gửi giấy chuyển tiền kèmtheo đơn yêu cầu đăng ký;

3.3 Chuyển tiền vào tài khoản của Cục Đăng ký hoặc Chi nhánh, nơi tiếp nhậnđơn và gửi cho Cục Đăng ký hoặc Chi nhánh chứng từ xác nhận việc chuyển khoản.Đối với tổ chức tín dụng đã đãng ký vào Danh sách khách hàng thường xuyên của CụcĐãng ký, thì việc chuyển lệ phí vào tài khoản của Cục Đãng ký hoặc Chi nhánh, nơi đãnhận đơn yêu cầu đãng ký, được thực hiện theo định kỳ hàng tháng, trong thời gian từngày 25 đến ngày cuối cùng của tháng

Trong trường hợp Cục Đãng ký hoặc Chi nhánh từ chối đãng ký vì lý do khôngđúng thẩm quyền theo quy định tại điểm 4 l.k khoản 4 Mục I của Thông tư này, thìhoàn trả lệ phí đãng ký cho người yêu cầu đãng ký theo một trong các phương thứctương tự như khi nộp lệ phí

4-Sau khi nhận được đơn yêu cầu đãng ký, thì Đãng ký viên thực hiện các côngviệc như sau:

4.1 Kiểm tra việc đãng ký có thuộc thẩm quyền của Cục Đãng ký hoặc Chinhánh hay không; nếu không thuộc thẩm quyền, thì Đãng ký viên có trách nhiệmthông báo cho người yêu cầu đãng ký biết và hướng dẫn họ gửi đơn đến đúng cơ quan

có thẩm quyền đãng ký giao dịch bảo đảm đó;

4.2 Trong trường hợp đơn được nộp trực tiếp tại Cục Đãng ký hoặc Chi nhánh,thì Đăng ký viên kiểm tra việc kê khai các mục trong đơn Nếu đơn đã được kê khaiđầy đủ và người yêu cầu đăng ký đã nộp lệ phí, thì Đăng ký viên ghi vào đơn thờiđiểm nhận đơn (giờ, phút, ngày, tháng, năm) và trao cho người yêu cầu đăng ký bảnsao đơn yêu cầu đăng ký có ghi thời điểm nhận đơn và phiếu hẹn cấp Giấy chứng nhậnđăng ký;

4.3 Trong trường hợp Cục Đăng ký hoặc Chi nhánh nhận được đơn yêu cầuđăng ký qua đường bưu điện, thì Đăng ký viên kiểm tra việc kê khai các mục trongđơn và kiểm tra việc nộp lệ phí; nếu đơn đã được kê khai đầy đủ các mục theo mẫu và

lệ phí được thực hiện theo đúng quy định, thì Đãng ký viên ghi vào đơn thời điểmnhận đơn qua đường bưu điện (giờ, phút, ngày, tháng, năm)

4.4 Trong trường hợp đơn yêu cầu đãng ký được gửi qua fax, thì Đãng ký viênxác định người yêu cầu đãng ký có thuộc Danh sách khách hàng thường xuyên của

Trang 17

Cục Đãng ký hay không; nếu là khách hàng thường xuyên, thì Đãng ký viên kiểm traviệc kê khai các mục trong đơn có đầy đủ các mục theo mẫu không và nếu hợp lệ, thìĐãng ký viên ghi vào đơn thời điểm nhận đơn là thời điểm đơn được chuyển qua fax.

5-Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu đãng ký hợp lệ,Cục Đãng ký hoặc Chi nhánh, nơi nhận được đơn yêu cầu đãng ký phải cấp Giấychứng nhận đãng ký cầm cố tài sản theo Mầu số 10 hoặc Giấy chứng nhận đãng kýbảo lãnh bằng tài sản theo Mầu số 11 cho người yêu cầu đãng ký; trong trường hợpnhận đơn yêu cầu đãng ký qua đường bưu điện hoặc fax, thì gửi kèm theo bản sao đơnyêu cầu đãng ký Cục Đãng ký và Chi nhánh không cấp Giấy chứng nhận cho ngườiyêu cầu đãng ký trong trường hợp phát hiện đãng ký trùng lặp đối với một hợp đồngcầm cố, bảo lãnh bằng tài sản

Giấy chứng nhận đăng ký được trao trực tiếp tại Cục Đăng ký hoặc Chi nhánh,nơi đã nhận đơn yêu cầu đăng ký hoặc gửi thông qua dịch vụ gửi thư có bảo đảm củabưu điện."

b Thủ tục xoá đăng kí :

"1- Trước ngày thời hạn đăng ký chấm dứt, bên cầm cố hoặc bên nhận cầm cố,bên bảo lãnh hoặc bên nhận bảo lãnh phải gửi đơn yêu cầu xoá đăng ký giao dịch bảođảm theo Mầu số 06 đến Cục Đăng ký hoặc Chi nhánh, nơi đã thực hiện việc đăng kýtrong các trường hợp sau đây:

1.1 Nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố, bảo lãnh chấm dứt;

1.2 Việc cầm cố, bảo lãnh được huỷ bỏ hoặc được thay thế bằng giao dịch bảođảm khác;

1.3 Tài sản cầm cố, bảo lãnh đã được xử lý Trong trường hợp này, bên nhậncầm cố, bên nhận bảo lãnh phải gửi đơn yêu cầu xoá đãng ký đến Cục Đãng ký hoặcChi nhánh, nơi đã đãng ký việc cầm cố, bảo lãnh đó

2-Trong trường hợp bên yêu cầu xoá đãng ký là bên cầm cố, bên bảo lãnh, thìphải có xác nhận của bên nhận cầm cố, bên nhận bảo lãnh về căn cứ xoá đãng ký

3-Việc gửi đơn yêu cầu xoá đãng ký được thực hiện theo quy định tại khoản 2mục II của Thông tư này

Người yêu cầu xoá đãng ký không phải nộp lệ phí xoá đãng ký

4-Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu xoá đãng ký hợp

lệ, Cục Đãng ký hoặc Chi nhánh, nơi nhận đơn đó thực hiện việc xoá đãng ký và cấpcho người có đơn yêu cầu Giấy chứng nhận xoá đăng ký giao dịch bảo đảm theo Mầu

số 14; trong trường hợp người yêu cầu đăng ký là bên cầm cố, bên bảo lãnh, thì phảigửi bản sao Giấy chứng nhận đó cho bên nhận cầm cố, bên nhận bảo lãnh

Trang 18

5-Sau ngày chấm dứt thời hạn đăng ký, mà người yêu cầu đăng ký không cóđơn yêu cầu đăng ký gia hạn, thì Cục Đăng ký hoặc Chi nhánh thực hiện việc tự độngxoá đăng ký và chỉ cấp Giấy chứng nhận xoá đăng ký, nếu có đơn yêu cầu."

VI Mốt số vấn đề bất câp hiên nay về ĐKGDBĐ:

Trong thực tế khi thực hiện ĐKGDBĐ còn tồn tại một số khó khăn vướng mắcnhư sau:

- Mục III - Thông tư 05: Hồ sơ đãng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất tàisản gắn liền với đất hình thành trong tương lai phải có giấy chứng nhận quyền sử dụngđất Tuy nhiên, quy định trên không phù hợp với trường hợp thế chấp bằng tài sản hìnhthành trong tương lai do chủ sở hữu tài sản có quyết định giao đất của cấp thẩm quyền

mà chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại khu công nghiệp hoặc bảo đảmbằng nhà ở gắn liền với đất ở của những căn hộ chung cư hình thành từ vốn vay tạikhu đô thị do khách hàng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tài sản gắn liềnvới đất hình thành trong tương lai Mặt khác, Nghị định 85/2002/NĐ-CP ngày25/10/2002 quy định “Giá trị quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất có đủ điềukiện làm bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật, thì việc thế chấp, bảo lãnhđồng thời cả giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền đất và tách rời do các bênthoả thuận

- Luật đất đai 2003 chỉ định trình tự thủ tục thực hiện đãng ký thế chấp, bảolãnh bằng quyền sử dụng đất phải qua công chứng, chứng thực, còn lại các trình tự thủtục khác liên quan giao dịch dân sự thường Tuy nhiên tại địa phương khi đăng ký giaodịch bảo đảm tại sở tài nguyên môi trường vẫn phải qua công chứng

- Thế chấp tài sản gắn liền với đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phải đăng ký,trong khi Nghị định 85/2002/NĐ-CP ngày 25/10/2002 sửa đổi, bổ sung Nghị định178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 chỉ quy định tài sản được dùng để bảo đảm cho cácnghĩa vụ trả nợ tại nhiều tổ chức tín dụng mới phải đăng ký còn một số tổ chức tíndụng lại không có quy định

- Hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thờiđiểm đãng ký (Điều 8, 1 khoản 8 mục I Thông tu 05/2005/TTLT-TP- TNMT) quy địnhnày chỉ áp dụng đối với hợp đồng thế chấp khác Tuy nhiên, khi thực hiện tại địaphuơng thì tất cả các hợp đồng thế chấp bảo đảm tiền vay điều phải qua đãng ký làmảnh huởng đến thời gian giải quyết cho vay

Trong lĩnh vực Ngân hàng thì sao? 5 năm hình thành đãng ký giao dịch bảo

đảm (GDBĐ) ở VN, nhung còn quá nhiều vuớng mắc, phiền hà để nguời dân và doanhnghiệp ( DN ) tiếp cận, sử dụng Quá nhiều chi phí bất hợp lý và lãng phí Giới Ngân

Trang 19

hàng ( NH ) là đối tuợng bức xúc đầu tiên, bởi GDBĐ và bảo đảm tiền vay là mộtphần quan trọng trong hoạt động của họ.

-Văn bản đá nhau

Việc quy định các truờng hợp phải đuợc đãng ký tại cơ quan đãng ký giao dịchbảo đảm của các nghị định cũng khác biệt cơ bản, khiến nguời thực hiện khó khăn khi

áp dụng Theo NĐ 08/2000/NĐ-CP, khách hàng thế chấp bằng quyền sử dụng đất sẽkhông phải đãng ký GDBĐ, nhung theo Luật Đất đai năm 2003 và NĐ 163 CP vẫnphải đãng ký giao dịch Đãng ký GDBĐ với mỗi loại tài sản có thủ tục khác nhau,thậm chí cơ quan đăng ký cũng khác nhau

Nhiều văn bản với nội dung không thống nhất, dẫn đến việc vận dụng thế nàocũng không sai Khoảng 80 - 90 % tài sản bảo đảm các khoản vay của NH là nhà đất,

mà những quy định liên quan đến nhà đất phức tạp, giấy tờ không thống nhất, văn bảnđuợc vận dụng khác nhau ở từng địa phuơng khiến cho NH tốn nhiều thời gian cho thủtục và tăng chi phí Hiện còn tồn tại quá nhiều loại giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà

và quyền sử dụng đất, các nội dung ghi trên giấy không thống nhất ảnh huởng đếnyếu tố pháp lý trong bảo đảm tiền vay

Ồng Vũ Vãn Trình - Trưởng Ban Tín dụng DN của NH Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn nhận xét: Đãng ký giao dịch đối với quyền sử dụng đất và nhà ở đang

bị điều chỉnh bởi 3 thông tư hướng dẫn, vì thế, cần gộp 3 thông tư này thành một thông

tư duy nhất

-Tốn phí không nhỏ :

Đại diện của NH Công thương cho biết, thời gian và chi phí cho GDBĐ gây tốnphí lớn làm mất nhiều thời gian và ảnh hưởng đến cơ hội kinh doanh của NH cũng nhưkhách hàng Bà Nguyễn Thị Kim Xuyến - Phó TGĐ NH Đông Á đề xuất: Cần thốngnhất thời gian đãng ký để người dân chủ động Nên áp dụng thời gian đãng ký giấyhồng, giấy đỏ là 1 ngày và giấy tờ cũ là 3 ngày

Ồng Trình cho biết, theo quy định, mức lệ phí là 60.000 đồng/giao dịch cầm cốthế chấp Nhưng một số địa phương “vận dụng” mỗi giấy chứng nhận quyền sử dụngđất đi liền với 1 đơn yêu cầu đãng ký thế chấp và thu mỗi đơn 60.000 đồng Tại Phòngđãng ký đất và nhà thuộc Sở Tài nguyên Môi trường HN, còn thu 60.000 đồng/đơn và330.000 đồng tiền đãng ký thế chấp Thu cắt cổ như vậy, nhưng NH biết kêu ai? Tất cảnhững chi phí này cuối cùng đổ lên đầu người đi vay

Đại diện Habubank cho biết: Không hiếm đăng ký viên hành xử như côngchứng viên, đặt ra những câu hỏi bất hợp lý như: Tại sao số tiền vay lớn? Mục đíchvay là gì? Tại sao chia thành nhiều hợp đồng tín dụng mà không gộp thành một? Thậm chí nhiều khoản thu không có hóa đơn hay phiếu thu NH này kiến nghị: Bộ Tư

Trang 20

pháp và các bộ ngành liên quan chỉ đạo kiên quyết và tăng cường kiểm tra các cơ quanđăng ký GDBĐ, cơ quan công chứng

-Tài sản tương lai bảo đảm thế nào?

Một vướng mắc tại hầu hết các NH là việc bảo đảm được hình thành trongtương lai Ồng Bùi Minh Khải - Phó Ban Pháp chế NH Đầu tư phát triển phân tích:Theo quy định của Luật Công chứng: “Đối tượng của giao dịch, hợp đồng là có thật”vẫn bị cơ quan công chứng hiểu nhầm là cái phải tồn tại, Điều này vô hình trung đãloại trừ các nghĩa vụ phát sinh trong tương lai, tài sản hình thành trong tương lai mà bộLuật Dân sự và quy định về GDBĐ đều ghi nhận, cần hiểu cái “có thật” là đối tượngcủa hợp đồng, giao dịch thực sự có chứ không phải các bên lập hợp đồng khống cótính chất lừa dối

Ồng Trần Dũng - Trưởng Ban Pháp chế của NHTMCP Sài Gòn cho biết: Luậtquy định cụ thể về thế chấp tài sản hình thành trong tương lai, nhưng chưa quy định vềviệc bán tài sản hình thành trong tương lai Như vậy, NH làm sao xửá lý tài sản bảođảm để thu hồi nợ? Theo thủ tục hiện hành, việc thế chấp tài sản hình thành trongtương lai phải thực hiện công chứng và đãng ký GDBĐ đến 2 lần làm lãng phí thờigian, công sức, tiền bạc cho Nhà nước, DN và khách hàng Bà Nguyễn Thị Mười - PhóTGĐ Sài Gòn công thương NH đánh giá: Theo Nghị Định 163, bên nhận bảo đảmchưa thể có được sự bảo đảm an toàn về mặt pháp lý khi nhận tài sản này Tài sản hìnhthành trong tương lai cho dù có được xác lập hợp pháp song luôn có nguy cơ rủi ro.Tháng 5/2007, Bộ Tư pháp đã yêu cầu các phòng công chứng cần linh hoạt khi xácđịnh đâu là giấy tờ chứng minh quyền sở hữu vì điều này bất khả thi với việc thế chấptài sản hình thành trong tương lai Tuy nhiên, hiện nay yêu cầu công chứng đối với loạihợp đồng này vẫn bị đa số phòng công chứng từ chối thực hiện

5 năm đã trôi qua kể từ khi triển khai thực hiện đăng ký GDBĐ, nhưng còn quánhiều vấn đề bức xúc, phiền hà và lãng phí Trách nhiệm trước hết từ cơ quan đăng kýGDBĐ trong việc sửa đổi, bổ sung, áp dụng thống nhất các quy định, cải cách hànhchính và chấn chỉnh bộ máy

Các giao dịch “ngầm” về bất động sản vẫn diễn ra ở các khu vực đô thị, thịtrường phi chính quy chi phối khoảng 70-80% các giao dịch về nhà, đất Đối với đất

đô thị (thuộc diện có nhiều giao dịch nhất), thì hiện nay theo thống kê của Bộ Tàinguyên và Môi truờng mới đãng ký được khoảng 45% Tình trạng này bắt nguồn từviệc pháp luật về đãng ký bất động sản chưa hoàn thiện và còn những vấn đề bất cập;việc tổ chức thi hành các vãn bản quy phạm pháp luật còn chậm, không đồng bộ; độingũ cán bộ làm công tác đãng ký còn thiếu và chưa được đào tạo, bồi dưỡng đầy đủ vềchuyên môn, nghiệp vụ; ý thức chấp hành pháp luật của người dân chưa cao

Trang 21

Bên cạnh đó vẫn còn hạn chế đó là pháp luật về đãng ký bất động sản tiếp tụcphân tán, người dân phải đến nhiều nơi để giải quyết các vấn đề liên quan đến thủ tụcđối với đất đai, nhà ở.

Cá nhân người viết cho rằng, những thiếu xót trên đây của việc ĐKGD BĐ làđiều tất yếu, khi mà nước ta đang trong quá trình hoàn thành các vãn bản qui phạmpháp luật một cách hoàn thiện, đầy đủ hơn, hy vọng rằng khi Dự thảo 4 được thôngqua, chúng ta sẽ có Luật đãng kí giao dịch bảo đảm thật sự " bảo đảm" hơn, thực tếhơn, phù hợp với yêu cầu của người dân và các tổ chức hơn so với tình hình đấtnước ta hiện nay, đặc biệt là trong bước đường đổi mới của cả dân tộc

Câu 6: Tình huống liên quan đến cầm cố, thế chấp tài sản.

Để giải quyết tình huống trên, chúng ta dựa theo những căn cứ pháp lý như sau:

- Điều 309 BLDS 2015 quy định về cầm cố tài sản 

Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. 

- Điều 310 BLDS 2015 quy định về hiệu lực của cầm cố tài sản 

Hợp đồng cầm cố tài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

- Điều 296 BLDS 2015 quy định về một tài sản dùng để bảo đảm thực hiện

nhiều nghĩa vụ dân sự 

1 Một tài sản có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự, nếu có giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa

vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

2 Trong trường hợp một tài sản được bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì bên bảo đảm phải thông báo cho bên nhận bảo đảm sau biết về việc tài sản bảo đảm đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác Mỗi lần bảo đảm phải được lập thành văn bản.

3 Trong trường hợp phải xử lý tài sản để thực hiện một nghĩa vụ đến hạn thì các nghĩa vụ khác tuy chưa đến hạn đều được coi là đến hạn và tất cả các bên cùng

Trang 22

nhận bảo đảm đều được tham gia xử lý tài sản Bên nhận bảo đảm đã thông báo về việc xử lý tài sản có trách nhiệm xử lý tài sản, nếu các bên cùng nhận bảo đảm không

có thoả thuận khác.

2 Giải quyết tình huống:

Trong tình huống trên, giữa anh A và anh B đã ký kết một hợp đồng vay tài sản

và sử dụng biện pháp bảo đảm cầm cố tài sản như quy định tại điều 309 BLDS

2015, cụ thể là anh A vay của anh B 5 triệu và cầm cố chiếc xe máy trị giá 15 triệu của

mình để làm tài sản bảo đảm Việc cầm cố tài sản của anh A và anh B có hiệu lực kể từ

khi anh A chuyển giao chiếc xe máy của mình cho anh B theo điều 310 BLDS 2015.

Tuy nhiên, sau 1 thời gian, anh A lại thiếu tiền và muốn cầm cố tiếp chiếc xemáy của mình cho anh C trong khi chiếc xe máy đó đã được chuyển giao cho anh B.Vấn đề ở đây là trong các quy định về cấm cố tài sản, chưa có quy định cụ thể nào về

vấn đề sử dụng một tài sản làm tài sản bảo đảm cho hai nghĩa vụ Tuy nhiên, tại điều

296 BLDS 2015 có quy định về trường hợp sử dụng một tài sản bảo đảm cho hai nghĩa

vụ như sau: 

" 1 Một tài sản có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự, nếu có giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa

vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

2 Trong trường hợp một tài sản được bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì bên bảo đảm phải thông báo cho bên nhận bảo đảm sau biết về việc tài sản bảo đảm đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác Mỗi lần bảo đảm phải được lập thành văn bản."

    Vì vậy, A phải thông báo cho C biết về việc chiếc xe máy trên đã được cầm

cố cho B và B cũng có quyền được biết việc A mang tài sản bảo đảm là chiếc xe máy

đi cầm cố tiếp cho C Ngoài ra, giữa anh A, anh B và anh C có thể thỏa thuận cùng vớinhau và cùng lập một hợp đồng thỏa thuận về việc xử lý tài sản nếu A vi phạm nghĩa

vụ trả nợ ngoài ra, các bên còn cần thỏa thuận về việc B hay C hay cả 2 người cùngnắm giữ, bảo quản tài sản bảo đảm. 

Kết luận: Trong quan hệ dân sự, tôn trọng sự thoả thuận giữa các bên với điều

kiện sự thỏa thuận ấy không trái quy định của pháp luật và đạo đức xã hội Vì vậy, chỉcần A, B, C thỏa thuận cùng nhau, các bên cùng có sự thống nhất ý chí thì A có thể sửdụng chiếc xe máy đã làm tài sản bảo đảm cho B tiếp tục trở thành tài sản bảo đảm với

C. Nhưng thông thường, trong thực tế thì không ai làm như vậy, A có thể chỉ cầm cốtài sản ở 1 nơi, nếu chưa đáp ứng nhu cầu, thì bên cầm cố thỏa thuận vay thêm thêm 1

số tiền nữa nếu tài sản cầm cố có giá trị lớn hơn nghĩa vụ trả nợ và được bên nhận cầm

cố đồng ý

Trang 23

Tình huống thế chấp tài sản:

Câu 7: Đối tượng, đặc điểm pháp lý của cầm cố tài sản

 Đối tượng của cầm cố tài sản.

Tất cả các loại tài sản nếu đủ điều kiện theo quy định của pháp luật hiện hành(thuộc sở hữu của bên bảo đảm; được phép chuyển giao trong giao dịch dân sự; đượcxác định cụ thể) đều có thể dùng làm tài sản bảo đảm thực hiện dân sự.tuy nhiên, dotính chất, đặc điểm của cầm cố nên tài sản cầm cố chỉ có thể bao gồm:

Vật

Vật được dùng để cầm cố có thể là động sản, có thể là bất động sản, có thể làvật hình thành trong tương lai Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật thì bên cầm cốphải chuyển giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố giữ nên trong thực tế, đa phầntài sản cầm cố là động sản và là vật có sẵn Vật hình thành trong tương lai là vật phảiđăng ký quyền sở hữu mà vào thời điểm cầm cố được xác lập chưa thuộc sở hữu củabên cầm cố chỉ là tài sản cầm cố nếu đã hình thành vào thời điểm đó

Hiệu lực của cầm cố tài sản

1 Hợp đồng cầm cố tài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp cóthỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác

2 Cầm cố tài sản có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm bênnhận cầm cố nắm giữ tài sản cầm cố

Trường hợp bất động sản là đối tượng của cầm cố theo quy định của luật thì việccầm cố bất động sản có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký

Nghĩa vụ của bên cầm cố

1 Giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố theo đúng thoả thuận

2 Báo cho bên nhận cầm cố về quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố,nếu có; trường hợp không thông báo thì bên nhận cầm cố có quyền huỷ hợp đồng cầm

cố tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyềncủa người thứ ba đối với tài sản cầm cố

3 Thanh toán cho bên nhận cầm cố chi phí hợp lý để bảo quản tài sản cầm cố,trừ trường hợp có thoả thuận khác

Trang 24

Quyền của bên cầm cố

1 Yêu cầu bên nhận cầm cố chấm dứt việc sử dụng tài sản cầm cố trong trườnghợp quy định tại khoản 3 Điều 314 của Bộ luật này nếu do sử dụng mà tài sản cầm cố

có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị

2 Yêu cầu bên nhận cầm cố trả lại tài sản cầm cố và giấy tờ liên quan, nếu cókhi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt

3 Yêu cầu bên nhận cầm cố bồi thường thiệt hại xảy ra đối với tài sản cầm cố

4 Được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản cầm cố nếu được bên nhận cầm

cố đồng ý hoặc theo quy định của luật

Nghĩa vụ của bên nhận cầm cố

1 Bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố; nếu làm mất, thất lạc hoặc hư hỏng tài sảncầm cố thì phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố

2 Không được bán, trao đổi, tặng cho, sử dụng tài sản cầm cố để bảo đảm thựchiện nghĩa vụ khác

3 Không được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức

từ tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

4 Trả lại tài sản cầm cố và giấy tờ liên quan, nếu có khi nghĩa vụ được bảo đảmbằng cầm cố chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác

Quyền của bên nhận cầm cố

1 Yêu cầu người đang chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật tài sản cầm cố trả lạitài sản đó

2 Xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thoả thuận hoặc theo quy định củapháp luật

3 Được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoalợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu có thoả thuận

4 Được thanh toán chi phí hợp lý bảo quản tài sản cầm cố khi trả lại tài sản chobên cầm cố

Chấm dứt cầm cố tài sản

Cầm cố tài sản chấm dứt trong trường hợp sau đây:

1 Nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt;

2 Việc cầm cố tài sản được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác;

3 Tài sản cầm cố đã được xử lý;

4 Theo thoả thuận của các bên

Trả lại tài sản cầm cố

Khi việc cầm cố tài sản chấm dứt theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều

315 của Bộ luật dân sự 2015 hoặc theo thỏa thuận của các bên thì tài sản cầm cố, giấy

Trang 25

tờ liên quan đến tài sản cầm cố được trả lại cho bên cầm cố Hoa lợi, lợi tức thu được

từ tài sản cầm cố cũng được trả lại cho bên cầm cố, trừ trường hợp có thoả thuận khác

 Câu 8: Đối tượng, đặc điểm pháp lý của thế chấp tài sản

3 Trường hợp thế chấp quyền sư dụng đất mà tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp thì tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sấn thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4 Trường hợp tài sản thế chấp được bảo hiểm thì bên nhận thế chấp phải thông báo cho tổ chức bảo hiểm biết về việc tài sản bảo hiểm đang được dùng để thế chấp.

Tổ chức bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm trực tiếp cho bên nhận thế chấp khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”

Đặc điểm pháp lý

1 Khái niệm

Điều 317, BLDS 2015 quy định: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi

là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ vàkhông giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp).”

Hiểu một cách đơn giản thì biện pháp thế chấp được hiểu là sự thỏa thuận giữacác bên, theo đó bên thế chấp cam kết dùng tài sản của mình thông qua việc chuyểngiao toàn bộ hồ sơ pháp lý của tài sản cho bên nhận thế chấp để bảo đảm thực hiệnnghĩa vụ dân sự mà không phải chuyển giao bản thân tài sản thế chấp Trong một thờigian dài, thế chấp được lựa chọn làm biện pháp bảo đảm của hầu hết các giao dịch dân

sự, đặc biệt là trong quan hệ tín chấp Nếu như trong biện pháp cầm cố tài sản, bên cónghĩa vụ phải giao tài sản cho bên có quyền thì trong quan hệ thế chấp, bên bảo đảmchỉ “dùng tài sản để bảo đảm” mà “không chuyển giao tài sản đó” cho bên có quyền.Như thế, chủ sở hữu vẫn được sử dụng tài sản của mình mà nghĩa vụ dân sự vẫn đượcbảo đảm thực hiện Chính vì ưu điểm như vậy nên thế chấp là một trong những biệnpháp hàng đầu khi chọn biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

2 Đặc điểm pháp lý của biện pháp thế chấp.

- Không có sự chuyển giao tài sản thế chấp.

Trong quan hệ thế chấp, bên thế chấp không phải giao tài sản đảm bảo cho bênnhận thế chấp Tính chất bảo đảm được xác định bằng việc bên thế chấp sẽ phải giao

Trang 26

cho bên nhận thế chấp những giấy tờ chứng minh tình trạng pháp lý của tài sản thếchấp cho bên nhận thế chấp Như vậy, khác với biện pháp cầm cố, trong quan hệ thếchấp các bên giảm thiểu được những thủ tục, công việc liên quan đến việc chuyển giaotrực tiếp tài sản từ 1 chủ thể này sang chủ thể khác Các loại giấy tờ liên quan phải làbản gốc (bản duy nhất) được giao cho bên nhận thế chấp giữ

- Biện pháp thế chấp đáp ứng linh hoạt lợi ích của các bên chủ thể.

Đối với bên nhận thế chấp: bên nhận thế chấp không phải giữ gìn và bảo quảntài sản bảo đảm trong thời gian thế chấp như không phải lo về kho, bến bãi, ngườitrông coi hay các biện pháp bảo quản thích hợp cũng như không phải chịu trách nhiệmbồi thường thiệt hại nếu làm hư hỏng, mất tài sản Đối với bên thế chấp: bên thế chấpvẫn được tiếp tục sử dụng, khai thác công dụng của tài sản thế chấp và khả năng thuđược lợi nhuận để thực hiện đúng, đầy đủ đối với bên nhận thế chấp có tính khả thi caohơn Tuy nhiên, biện pháp thế chấp vẫn ẩn chứa những rủi ro cho bên nhận thế chấpcao hơn so với bên nhận cầm cố Thứ nhất, đó là việc xác định tính xác thực của cácgiấy tờ thế chấp Thực tế đã chứng minh có rất nhiều bất cập xoay quanh vấn đề giấy

tờ thế chấp như trường hợp: một tài sản thế chấp nhưng lại lập nhiều hồ sơ khác nhau

để xin vay tiền của các ngân hàng khác nhau Việc làm giả giấy đăng ký ô tô, xe máy,giấy chứng nhận quyền sử dụng một cách phổ biến và tinh vi đến nỗi nếu không thẩmtra cụ thể tài sản trên thực tế thì bên nhận thế chấp rất khó phát hiện ra Thứ hai, việcgiữ gìn tài sản thế chấp lại thuộc về bên có nghĩa vụ và họ có quyền khai thác, sử dụngtài sản thế chấp nếu khác nếu không có thỏa thuận khác Như vậy, rất dễ xảy ra hiệntượng: bên thế chấp tìm cách bán tài sản thế chấp cho người khác trong thời gian thếchấp mà bên nhận thế chấp không được biết hay bên thế chấp lạm dụng quyền khaithác tài sản thế chấp dẫn đến tài sản đó bị hư hỏng, giảm sút giá trị Tất cả đều dẫnđến khả năng không bảo đảm được quyền của bên nhận thế chấp

-Tài sản thế chấp thường có sự thay đổi trong thời hạn thế chấp và dẫn đến

việc xung đột về lợi ích giữa bên nhận thế chấp với những người khác có liên quan đến tài sản thế chấp

Có thể đó là sự thay đổi về chủ thể như: bên thế chấp cho thuê tài sản thế chấp;bên thế chấp bán tài sản thế chấp hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinhdoanh; có thể là sự thay đổi về giá trị như tài sản thế chấp được mua bảo hiểm và sựkiện bảo hiểm đã xảy ra, có thể là sự thay đổi về trạng thái như tài sản thế chấp là tài sảnđược hình thành trong tương lai; Tài sản thế chấp được đầu tư thêm để tăng thêm giá trị

3 Chủ thể của thế chấp tài sản.

Trong quan hệ thế chấp tài sản, bên có nghĩa vụ phải dùng tài sản để bảo đảmcho việc thực hiện nghĩa vụ của mình được gọi là bên bảo đảm hay bên thế chấp

Trang 27

Ngược lại, bên có quyền được gọi là bên được bảo đảm hay bên nhận thế chấp Chủthể của thế chấp tài sản phải có đầy đủ các điều kiện mà pháp luật đã quy định đối vớingười tham gia giao dịch nói chung

4 Đối tượng của thế chấp

* Tài sản thế chấp là bất động sản thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp

Theo khoản 1 điều 174 BLDS thì bất động sản bao gồm: đất đai, nhà, công trìnhxây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng

đó, các tài sản khác gắn liền với đất đai và các tài sản mà pháp luật quy định là bấtđộng sản Những tài sản này có giấy chứng nhận quyền sở hữu, đối với quyền sử dụngđất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tùy từng trường hợp, các bên có thể thỏathuận dùng toàn bộ hoặc một phần bất động sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Nếungười có nghĩa vụ dung toàn bộ một bất động sản để thế chấp, thì các vật phụ của bấtđộng sản cũng thuộc tài sản thế chấp Khi đối tượng thế chấp là một tài sản được bảohiểm, thì khoản tiền bảo đảm cũng thuộc tài sản thế chấp Hoa lợi, lợi tức và các quyềnphát sinh từ bất động sảm thế chấp chỉ thuộc tài sản thế chấp khi các bên có thỏa thuậnkhác hoặc trong trường pháp luật có quy định Đối với những bất động sản có đăng kýquyền sở hữu, người có nghĩa vụ có thể dung một bất động sản để thế chấp nhiềunghĩa vụ dân sự khác nhau nhiều nghĩa vụ dân sự khác nhau nếu tài sản đó có giá trịlớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm

* Đối tượng là động sản

Bên thế chấp có thể dùng toàn bộ hoặc một phần tài sản là động sản thuộc sởhữu của mình để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự Trong trường hợp bên thếchấp đã dùng toàn bộ một tài sản là động sản để thế chấp mà động sản đó có cả vậtchính, vật phụ thì vật chính, vật phụ đều là đối tượng của thế chấp Nếu bên thế chấpchỉ dùng một vật chính hoặc chỉ dùng vật phụ của một tài sản để thế chấp thì đối tượngcủa thế chấp chỉ là phần tài sản đã được xác định

* Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất

Quyền bất động sản là các quyền năng đối với bất động sản Theo quy định củapháp luật nước ta, cá nhân không có quyền sở hữu đối với đất đai, nhưng có quyền sửdụng đất và họ được dùng quyền sử dụng đất để thế chấp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

* Tài sản thế chấp là tài sản sẽ hình thành trong tương lai

Theo quy định tại khoản 1 điều 342 BLDS thì ngoài việc dùng các tài sản hiện

có để thế chấp, bên có nghĩa vụ còn được dùng các tài sản sẽ hình thành trong tươnglai để thế chấp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

4 Hình thức thế chấp tài sản

Việc thế chấp phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặcghi trong hợp đồng chính Nếu việc thế chấp được ghi trong hợp đồng chính, thì những

Trang 28

điều khoản về thế chấp là những điều khoản cấu thành của hợp đồng chính Nếu việcthế chấp được lập thành văn bản riêng, thì được coi là một hợp đồng phụ bên cạnh hợpđồng chính, hiệu lực của nó hoàn toàn phụ thuộc vào hiệu lực của hợp đồng chính Vìvậy, nội dung của văn bản thế chấp được lập riêng phải phù hợp với hợp đồng chính.Văn bản thế chấp phải có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của

Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền nếu pháp luật có quy định Việc chứng nhận,chứng thực tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý nhà nước một cách chặt chẽ hơnđối với việc chuyển giao các bất động sản Nếu bất động đó được dùng thế chấp đểbảo đảm nhiều nghĩa vụ, thì mỗi một lần thế chấp phải được lập thành một văn bảnriêng

5 Quyền và nghĩa vụ của các bên

a, Nghĩa vụ của bên thế chấp và bên nhận thế chấp

- Được đầu từ để làm tang giá trị của tài sản thế chấp

- Được bán, thay thế tài sản thế chấp là hàng hóa luân chuyển trong quá trìnhsản xuất kinh doanh K hi đó quyền yêu cầu bên mua thanh toán, số tiền thu được trởthành tài sản thế chấp thay cho số tài sản đã bán

- Được cho thuê, cho mượn tài sản thế chấp nhưng phải thông báo cho các bênliên quan biết;

- Được nhận lại tài sản thế chấp từ người thứ ba giữ khi chấm dứt thế chấp hoặcthế chấp được thay bằng biện pháp bảo đảm khác

Trang 29

- Yêu cầu bên thế chấp phải cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp;

- Yêu cầu bên thế chấp áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo toàn giá trị của t

ài sản;

- Được quyền yêu cầu chuyển giao tài sản thế chấp để xử lý khi đến hạn mà có

sự vi phạm nghĩa vụ;

- Giám sát, kiểm tra quá trình tài sản thế chấp hình thành trong tương lai;

- Yêu cầu xử lý tài sản thế chấp và được ưu tiên thanh toán theo quy định củapháp luật

+ Nếu các bên không thỏa thuận được thì tài sản thế chấp được bán đấu giá theoquy định của pháp luật

- Thanh toán tiền bán tài sản thế chấp: tiền bán tài sản thế chấp được thanh toánbao gồm các khoản theo thứ tự như sau:

+ Chi phí bảo quản, bán tài sản và các chi phí cần thiết khác có liên quan

+ Nếu nghĩa vụ là 1 khoản vay thì sẽ thanh toán tiền gốc, lãi, tiền phạt, tiền bồithường thiệt hại nếu có

+ Nếu tiền bán tài sản còn thừa thì phải hoàn lại cho bên thế chấp;

Trang 30

+ Nếu tiền bán không đủ để thanh toán thì bên thế chấp phải trả nốt phần cònthiếu đó

* Tính chất:

Phải có sự chuyển giao tài sản thế chấp từ bên thế chấp sang bên nhận thế chấpkhi phải xử lý Đây là điểm khác biệt giữa cầm cố và thế chấp Việc chuyển giao tàisản cầm cố thông thường được thiết lập đồng thời với việc hình thành quan hệ nghĩavụ; đôi khi việc chuyển giao này được coi như là một điều kiện để bên có nghĩa vụđược nhận một lợi ích từ bên có quyền chuyển giao Do vậy, việc chuyển giao tài sảncầm cố được thực hiện một cách thiện chí và chủ động từ bên cầm cố Nhưng việcchuyển giao tài sản thế chấp lại hoàn toàn khác Thời điểm chuyển giao tài sản đượcthực hiện khi bên có nghĩa vụ đã được nhận lợi ích từ bên có quyền và thời điểm này

có sự vi phạm nghĩa vụ của bên thế chấp

Câu 9: Đối tượng, đặc điểm pháp lý của bảo lãnh

Các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thaycho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thựchiện nghĩa vụ bảo lãnh

Như vậy, khác với cầm cố thế chấp và các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa

vụ dân sự khác, trong bảo lãnh sẽ có sự xuất hiện của một chủ thể thứ ba, tức là bênbảo lãnh. Bên bảo lãnh đứng ra cam kết với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) sẽ thựchiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn màbên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; và các bêncũng có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên đượcbảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình

2 Chủ thể của bảo lãnh

Quan hệ bảo lãnh có thể coi là quan hệ tay ba giữa người có quyền, người cónghĩa vụ và người thứ ba ( người bảo lãnh ) Trong quan hệ bảo lãnh, các chủ thể thamgia mối quan hệ trong đó người có quyền là người nhận bảo lãnh, người thứ ba làngười bảo lãnh và người có nghĩa vụ là người được bảo lãnh Người được bảo lãnh cótrách nhiệm với người bảo lãnh ( trong trường hợp người bảo lãnh đứng ra bảo lãnh vàyêu cầu thù lao ) và người bảo lãnh có nghĩa vụ dân sự với người nhận bảo lãnh ( trong

Trang 31

trường hợp người có nghĩa vụ không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình ) Bênnhận bảo lãnh phải có năng lực dân sự đầy đủ, có khả năng tài chính.

Bên bảo lãnh có thể là tổ chức, cá nhân có năng lực dân sự đầy đủ, có tài sảnriêng Ngoài ra, có thể có nhiều người bảo lãnh cho một cá nhân trong một quan hệbảo lãnh

3 Đối tượng của bảo lãnh   

Trong quan hệ nghĩa vụ dân sự, lợi ích các bên chủ thể hướng tới là lợi ích vậtchất Và trong quan hệ bảo lãnh là việc sử dụng một lợi ích vật chất của chủ thể này đểđảm bảo lợi ích vật chất cho chủ thể khác Vì vậy người bảo lãnh phải có đủ điều kiệnmang đến lợi ích vật chất tương đương với lợi ích vật chất mà người nhận bảo lãnh cóquyền nhận được từ người có nghĩa vụ Lợi ích vật chất đó có thể là tài sản hoặc mộtcông việc phải thực hiện

Nếu đối tượng của bảo lãnh là công việc phải thực hiện thì trong trường hợpngười có nghĩa vụ không thể thực hiện công việc thì người bảo lãnh phải thực hiệncông việc đó

Nếu đối tượng của nghĩa vụ dân sự là một khoản tiền hoặc một tài sản có giá trịthì nghĩa vụ của bảo lãnh là tài sản thuộc quyền sở hữu của người bảo lãnh

Phạm vi của bảo lãnh có thể là một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ dân sự, nếukhông có thỏa thuận gì khác thì người bảo lãnh phải bảo lãnh cả tiền lãi trên nợ gốctrong phạm vi bảo lãnh đồng thời phải bảo lãnh cả tiền phạt cũng như tiền bồi thườngthiệt hại ( theo quy định tại điều 336 BLDS 2015 )

4.Thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

Trong trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ của mình trongthời hạn quy định thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ thay thế cho bên được bảolãnh

Khi nhiều người cùng bảo lãnh một nghĩa vụ thì họ phải liên đới thực hiện việcbảo lãnh, trừ trường hợp có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định bảo lãnh theo cácphần độc lập; bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người bảo lãnhliên đới phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ. Khi một người trong số những người bảolãnh liên đới đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh thì có quyềnyêu cầu những người bảo lãnh còn lại phải thực hiện phần nghĩa vụ của họ đối vớimình ( theo quy định tại điều 338 BLDS 2005 )

Khi bên bảo lãnh đã hoàn thành nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu bên được bảo lãnhthực hiện nghĩa vụ đối với mình trong phạm vi bảo lãnh, nếu không có thoả thuận khác

Trang 32

Trong trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh,

mà bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnhphải đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để thanh toán cho bên nhận bảo lãnh

5 Chấm dứt bảo lãnh

Bảo lãnh  sẽ chấm dứt trong trường hợp sau đây:

 Nghĩa vụ được bảo lãnh chấm dứt

 Việc bảo lãnh được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác

 Bên bảo lãnh đã thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

 Theo thỏa thuận của các bên

- Hai biện pháp này đều có đối tượng là tài sản của bên bảo đảm

- Là hợp đồng phụ, mang tính chất bổ sung cho nghĩa vụ ở hợp đồng chính

- Đều là quan hệ đối nhân

- Đối tượng tài sản của bên cầm cố và bên thế chấp đều có giá trị thanh toáncao

- Có phương thức xử lý tài sản giống nhau

- Bên cầm cố hoặc bên thế chấp là bên có nghĩa vụ hoặc là bên thứ ba

- Có quyền được bán và thay thế tài sản cầm cố ( thế chấp ) trong một sô trườnghợp luật định

- Thời điểm chấm dứt: Khi nghĩa vụ bảo đảm chấm dứt

2 Khác nhau:

Là hai biện pháp bảo đảm khác biệt, tùy theo đối tượng, chủ thể, mục đích củachủ thể mà cầm cố và thế chấp có những điểm khác nhau:

 Khái niệm Cầm cố tài sản là việc một bên

(sau đây gọi là bên cầm cố) giaotài sản thuộc quyền sở hữu của

 Thế chấp tài sản là việc một bên(sau đây gọi là bên thế chấp)dùng tài sản thuộc sở hữu của

Trang 33

mình cho bên kia (sau đây gọi làbên nhận cầm cố) để bảo đảmthực hiện nghĩa vụ (theo quy định

tại điều 309 BLDS 2015)

mình để bảo đảm thực hiệnnghĩa vụ và không giao tài sảncho bên kia (sau đây gọi là bênnhận thế chấp) ( quy định

 Hình thức

 Dưới dạng văn bản, có thể là vănbản riêng hoặc ghi lại trong hợpđồng chính

 Dưới dạng văn bản, có thể làvăn bản riêng hoặc ghi lại tronghợp đồng chính Có thể cần côngchứng, chứng thực hoặc đăng kýtheo quy định của pháp luật

 - Ít xảy ra tranh chấp hơn do bênthế chấp phải chuyển giao tài sảnthì mới được nhận lợi ích từ bênnhận thế chấp

( khoản 3 điều 314 BLDS 2015 ).

 Bên nhận thế chấp không đượchưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sảnthế chấp

*Cầm cố và cầm giữ tài sản

Khái niệm:

- Điều 309 Bộ luật Dân sự 2015 quy định Cầm cố tài sản:

“Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc

quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.”

Trang 34

-  Điều 346 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định Cầm giữ tài sản

“Cầm giữ tài sản là việc bên có quyền (sau đây gọi là bên cầm giữ) đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ dược chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”.

  1 Điểm giống nhau của cầm cố tài sản và cầm giữ tài sản:

- Cầm cố tài sản và cầm giữ tài sản đều là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa

vụ dân sự

- Đều có mục đích đảm bảo nghĩa vụ thực hiện đúng

 2 Những điểm khác nhau của cầm cố tài sản và cầm giữ tài sản:

Tiêu chí Cầm cố tài sản Cầm giữ tài sản

Thời điểm

phát sinh

Trước hoặc ngay từ khi giao kếthợp đồng, thời điểm nghĩa vụkhông được thực hiện hoặc thựchiện không đúng thì tài sản cầm

cố được đưa ra xử lý

Sau khi nghĩa vụ không đượcthực hiện hoặc thực hiện khôngđúng

Ý chí

của các bên

Cầm cố tài sản được các bên thỏathuận là một biện pháp bảo đảmthực hiện hợp đồng ngay từ thờiđiểm thỏa thuận để ký kết hợpđồng

Cầm giữ tài sản có thể phát sinh

mà không cần có sự thỏa thuậncủa các bên ngay từ khi giao kếthợp đồng

Cơ sở phát

sịnh

Pháp luật quy định hoặc theo thỏathuận của các bên tham gia nghĩavụ

Pháp luật quy định

Đối tượng

- Là tài sản thuộc sở hữu của bêncầm cố hoặc tài sản được hìnhthành trong tương lai

- Tài sản cầm giữ là đối tượngcủa hợp đồng song vụ để bảo đảmcho chính việc thực hiện nghĩa vụliên quan đến tài sản bị cầm giữđó

- Bên có quyền có thể tự mìnhcầm giữ hoặc giao cho người thứ

ba mà không cần sự thỏa thuậncủa bên bị cầm giữ tài sản

Xử lý tài

sản

- Bên nhận cầm cố tài sản cóquyền xử lý tài sản cầm cố theophương thứcđã thỏa thuận, không

- Bên cầm giữ không có quyền xử

lý tài sản cầm giữ, được thu hoalợi và lợi tức từ tài sản cầm giữ;

Trang 35

được hưởng hoa lợi, lợi tức từ tàisản cầm cố nếu không được bêncầm cố đồng ý.

được dùng số hoa lợi, lợi tức này

để bù trừ nghĩa vụ

Trang 36

bên kia ( Sau

đây gọi là bên

-Có thể

có thêmbên thứ

ba giữ tài sản thế chấp

Là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa

vụ dân sự thuộc vật quyền, trong

đó không

có sự chuyển giao TS màchỉ giao các giấy tờ chứng minh tình trạng pháp

lý của TS thế chấp (chuyển giao dưới dạng giấy tờ)

Là tài sản màbên thế chấp dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụđối với bên nhận thế chấp

Gồm: 

1.Động sản;

 2 Bất động sản;

3.TS được hình thành trong TL;

4.TS đang cho thuê cũng như hoalợi, lợi tức thu được từ việc cho thuê

TS (nếu PL

có quy định

và các bên thỏa thuận)5.TS thế chấp được bảo hiểm thì khoản tiền bảo hiểm cũng có thể được thế chấp

-Quyền

và nghĩa

vụ của các bên

-Thay thế và sửa chữa tàisản thế chấp

-Xử lí tài sản thế chấp

Phải lập thành văn bản trongtrường hợp pháp luật quy định thì văn bản bảo lãnh phải đượccông chứng, chứng thực

Là biện pháp bảo

Là tài sản thuộc quyền

-Quyền yêu cầu

Phải lập thành văn

Trang 37

đảm thực hiện nghĩa

vụ dân sự thuộc trái quyền

sở hữu của bên bảo lãnh dùng để bảo lãnh cho nghĩa vụ mà bên được bảolãnh phải thực hiện

của bênbảo lãnh-Phạm

vi bảo lãnh

- Xử lí tài sản của bênbảo lãnh

bản trongtrường hợp pháp luật quy định thì văn bản bảo lãnh phải đượccông chứng, chứng thực

 Câu 11: Khái niệm, đặc điểm và nội dung của hợp đồng dân sự Phân loại

hợp đồng dân sự?

1 Khái niệm thực hiện hợp đồng dân sự.

Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi vàchấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự (Điều 385 BLDS 2015)

3 Đặc điểm hợp đồng dân sự.

Theo Điều 385 Bộ luật dân sự 2015 định nghĩa về hợp đồng dân sự thì hợpđồng dân sự có hai nét cơ bản đó là : Sự thỏa thuận giữa các bên và làm phát sinh hậuquả pháp lý

Hợp đồng dân sự trước hết phải là một thỏa thuận có nghĩa là hợp đồng phảichứa đựng yếu tố tự nguyện khi giao kết nó phải có sự trùng hợp ý chí của các bên.Việc giao kết hợp đồng dân sự phải tuân theo các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng,thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng, tự do giao kết hợp đồng, nhưng khôngđược trái với pháp luật và đạo đức xã hội

Trang 38

Thỏa thuận theo từ điển tiếng Việt có nghĩa là: Đi tới sự đồng ý sau khi cânnhắc, thảo luận Thỏa thuận cũng có nghĩa là sự nhất trí chung (không bắt buộc phảiđược nhất trí hoàn toàn) được thể hiện ở chỗ không có một ý kiến đối lập của bất cứmột bộ phận nào trong số các bên liên quan đối với những vấn đề quan trọng và thểhiện thông qua một quá trình mà mọi quan điểm của các bên liên quan đều phải đượcxem xét và dung hoà được tất cả các tranh chấp; là việc các bên (cá nhân hay tổ chức)

có ý định chung tự nguyện cùng nhau thực hiện những nghĩa vụ mà họ đã cùng nhauchấp nhận vì lợi ích của các bên Sự đồng tình tự nguyện này có thể chỉ được tuyên bốmiệng và được gọi là thoả thuận quân tử (hợp đồng quân tử) hay được viết thành vănbản gọi là hợp đồng viết hay hợp đồng thành văn Tuỳ theo từng trường hợp được gọi

là hợp đồng hay hiệp định; vd hiệp định mua bán, hợp đồng đại lí

Yếu tố thỏa thuận đã bao hàm trong nó yếu tố tự nguyện, tự định đoạt và sựthống nhất về mặt ý chí Đây là yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự đặc trưng của hợpđồng so với các giao dịch dân sự khác, đây cũng là yếu tố làm nên bản chất của luậtdân sự so với các ngành luật khác Về chủ thể tham gia hợp đồng dân sự : Chủ thể giaokết, thực hiện hợp đồng dân sự phải có ít nhất từ hai bên trở lên, vì hợp đồng dân sự làmột giao dịch pháp lý song phương hay đa phương Các chủ thể khi giao kết, thực hiệnhợp đồng đều phải có tư cách chủ thể tức là phải đáp ứng các điều kiện theo quy địnhcủa pháp luật đối với một chủ thể của quan hệ dân sự (ví dụ: nếu chủ thể là cá nhân thìphải đáp ứng được các yêu cầu về năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự…).Mục đích hướng tới của các bên khi tham gia hợp đồng là để xác lập thay đổi hoặcchấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Quyền và nghĩa vụ trong phạm vi hợp đồng cóphạm vi rất rộng, trước đây trong Pháp lệnh hợp đồng dân sự ngày 29-4-1991 (Điều 1)quy định hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập, thay đổi haychấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng,cho tài sản, làm một hoặc không làm công việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác màtrong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì không liệt kê cụ thể các quyền vànghĩa vụ dân sự cụ thể đó tuy nhiên về bản chất thì các quyền và nghĩa vụ mà các bênhướng tới khi giao kết, thực hiện hợp đồng là những quyền và nghĩa vụ để đáp ứng,thỏa mãn nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng, đó cũng chính là một trong những đặcđiểm cơ bản để phân biệt giữa hợp đồng dân sự và các hợp đồng kinh tế, thương mại.Yếu tố này giúp phân biệt hợp đồng dân sự với hợp đồng kinh tế :

 Mục đích của hợp đồng kinh tế khi các bên chủ thể tham gia là mục đíchkinh doanh (nhằm phát sinh lợi nhuận) trong khi đó hợp đồng dân sự các bên tham gianhằm thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng

Trang 39

 Chủ thể tham gia hợp đồng kinh tế phải là các thương nhân, các công ty, đơn

vị kinh doanh (nếu chủ thể là cá nhân thì phải có đăng ký kinh doanh)

Trang 40

3 Nội dung hợp đồng dân sự.

–  Đối với hợp đồng đơn vụ (Theo quy định tại Điều 409 Bộ luật dân sự năm 2015).

Trong hợp đồng đơn vụ, bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng như đãthoả thuận; chỉ được thực hiện trước hoặc sau thời hạn nếu được bên có quyền đồng ý

–  Đối với hợp đồng song vụ (Điều 410 Bộ Luật dân sự năm 2015).

Trong hợp đồng song vụ, khi các bên đã thoả thuận thời hạn thực hiện nghĩa

vụ thì mỗi bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn; không được hoãn thựchiện với lý do bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đối với mình

Trong trường hợp các bên không thoả thuận bên nào thực hiện nghĩa vụ trướcthì các bên phải đồng thời thực hiện nghĩa vụ đối với nhau; nếu nghĩa vụ không thểthực hiện đồng thời thì nghĩa vụ nào khi thực hiện mất nhiều thời gian hơn thì nghĩa vụ

đó phải được thực hiện trước

Nếu một bên không thực hiện được nghĩa vụ mà các bên đều không có lỗi thìbên không thực hiện được nghĩa vụ không có quyền yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa

vụ đối với mình Trường hợp một bên đã thực hiện được một phần nghĩa vụ thì cóquyền yêu cầu bên kia thực hiện phần nghĩa vụ tương ứng đối với mình

Khi một bên không thực hiện được nghĩa vụ của mình do lỗi của bên kia thì cóquyền yêu cầu bên kia vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình hoặc huỷ bỏ hợp đồng

và yêu cầu bồi thường thiệt hại

Các bên trong hợp đồng song vụ có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ trong cáctrường hợp sau đây:

+ Bên phải thực hiện nghĩa vụ trước có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ, nếu tàisản của bên kia đã bị giảm sút nghiêm trọng đến mức không thể thực hiện được nghĩa

vụ như đã cam kết cho đến khi bên kia có khả năng thực hiện được nghĩa vụ hoặc cóngười bảo lãnh

+ Bên phải thực hiện nghĩa vụ sau có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ đến hạnnếu bên thực hiện nghĩa vụ trước chưa thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn

–  Đối với hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba.

+ Khi thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba thì người thứ ba có quyềntrực tiếp yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình; nếu các bên cótranh chấp về việc thực hiện hợp đồng thì người thứ ba không có quyền yêu cầu thựchiện nghĩa vụ cho đến khi tranh chấp được giải quyết

+ Bên có quyền cũng có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng vì lợiích của người thứ ba

Ngày đăng: 08/02/2023, 21:00

w