1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬT DÂN SỰ CHUYÊN SÂU

3 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luật Dân Sự Chuyên Sâu
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 25,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ông Ri và bà Bé kết hôn hợp pháp năm 1965, có 5 người con chung là: Thủy, Khánh, Liên, Dung và Hùng. Năm 1969, ông Ri được người bạn tên Đức cho căn nhà tại 652 xa lộ Hà Nội, khu phố 1, Phước Long B, quận 9, thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1972 ông Ri sống chung như vợ chồng với bà Tính nhưng không đăng ký kết hôn, sinh được 4 người con là: Quỳnh, Trang, Quyên, Tuấn. Ông Ri và bà Tính sống trong ngôi nhà tại số 652 xa lộ Hà Nội từ năm 1972 cho đến khi ông Ri chết. Trong quá trình chung sống, ông bà đã sửa chữa, cải tạo lại ngôi nhà nói trên. Năm 2006, ông Ri chết không để lại di chúc. Ngày 02012017 bà Bé khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định căn nhà 652 nói trên là tài sản chung của bà Bé và ông Ri và yêu cầu chia tài sản thừa kế của ông Ri. Tuy nhiên bà Tính cho rằng thời hiệu khởi kiện về thừa kế đã hết nên bà không đồng ý với yêu cầu chia di sản của bà Bé. Được biết bà Bé không chung sống với ông Ri kể từ năm 1972. Hãy lập luận cho yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Bé trên cơ sở quy định của pháp luật dân sự.

Trang 1

Đề bài: Ông Ri và bà Bé kết hôn hợp pháp năm 1965, có 5 người con

chung là: Thủy, Khánh, Liên, Dung và Hùng Năm 1969, ông Ri được người bạn tên Đức cho căn nhà tại 652 xa lộ Hà Nội, khu phố 1, Phước Long B, quận 9, thành phố Hồ Chí Minh Năm 1972 ông Ri sống chung như vợ chồng với bà Tính nhưng không đăng ký kết hôn, sinh được 4 người con là: Quỳnh, Trang, Quyên, Tuấn Ông Ri và bà Tính sống trong ngôi nhà tại số 652 xa lộ Hà Nội từ năm 1972 cho đến khi ông Ri chết Trong quá trình chung sống, ông bà đã sửa chữa, cải tạo lại ngôi nhà nói trên Năm 2006, ông Ri chết không để lại di chúc Ngày 02/01/2017 bà Bé khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định căn nhà 652 nói trên

là tài sản chung của bà Bé và ông Ri và yêu cầu chia tài sản thừa kế của ông Ri Tuy nhiên bà Tính cho rằng thời hiệu khởi kiện về thừa kế đã hết nên bà không đồng ý với yêu cầu chia di sản của bà Bé Được biết bà Bé không chung sống với ông Ri kể từ năm 1972

Hãy lập luận cho yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Bé trên cơ sở quy định của pháp luật dân sự

Bài làm:

* Về quan hệ hôn nhân:

Ông Ri và bà Bé kết hôn hợp pháp năm 1965 nên bà Bé là vợ hợp pháp của ông Ri Mặc dù bà Bé không chung sống với ông Ri kể từ năm 1972 nhưng bà

Bé là vợ kết hôn hợp pháp, quan hệ hôn nhân của hai người vẫn tồn tại, chưa được Tòa án giải quyết ly hôn nên bà Bé vẫn là vợ hợp pháp của ông Ri

Ông Ri chung sống như vợ chồng với bà Tính từ năm 1972 nhưng không đăng ký kết hôn Thời điểm này, Luật hôn nhân gia đình năm 1959 chưa có hiệu lực tại miền Nam (có hiệu lực ngày 25/3/1977), do hoàn cảnh lịch sử nước ta nên trước khi Luật Hôn nhân gia đình năm 1959 có hiệu lực ở miền Bắc (ngày 13/01/1960) và có hiệu lực ở miền Nam thì việc có nhiều vợ, nhiều chồng ở hai miền không bị pháp luật cấm mà thừa nhận, nên bà Tính cũng là vợ của ông Ri Theo quy định tại điểm a, mục 4 Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số

quy định của pháp luật thừa kế năm 1990 quy định: “Trong trường hợp một

người có nhiều vợ (trước ngày 13/01/1960 ngày công bố Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 đối với Miền Bắc; trước ngày 25/3/1977 ngày công bố danh mục văn bản pháp luật được áp dụng thống nhất trong cả nước đối với Miền Nam và đối với cán bộ, bộ đội có vợ ở Miền Nam sau khi tập kết ra Bắc lấy thêm vợ mà

việc kết hôn sau không bị hủy bỏ bằng Bản án có hiệu lực pháp luật), thì tất cả

các người vợ đều là người thừa kế hàng thứ nhất của người chồng và ngược lại,

người chồng là người thừa kế hàng thứ nhất của tất cả các người vợ…” Nghĩa

là đối với trường hợp có nhiều vợ trước ngày 25/3/1977 ở miền Nam thì tất cả

Trang 2

các người vợ đều được xem là vợ hợp pháp và đều được quyền hưởng thừa kế tài sản của chồng

Như vậy, trong trường hợp này ông Ri có hai người vợ hợp pháp là bà Bé

và bà Tính

* Về tài sản:

Năm 1969, ông Ri được người bạn cho căn nhà tại 652 Xa lộ Hà Nội Lúc này Luật Hôn nhân gia đình năm 1959 chưa có hiệu lực tại miền Nam nên mặc

dù lúc này ông Ri và bà Bé đã kết hôn nhưng đây là tài sản riêng của ông Ri Đến ngày 25/3/1977, Luật hôn nhân gia đình năm 1959 có hiệu lực tại miền Nam, theo quy định tại Điều 15 thì vợ chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và

sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới Như vậy, thời điểm nay, tài sản riêng của ông Ri chuyển thành tài sản chung vợ chồng gồm ông Ri,

bà Bé và bà Tính

* Về chia di sản thừa kế:

- Thời hiệu chia di sản thừa kế:

Tại điểm d khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“Thời hiệu được áp dụng theo qui định của Bộ luật này”

Tại khoản 1 Điều 623 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Thời hiệu

để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế ”.

Theo khoản 4 Điều 4 Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì: “Từ ngày 01/01/2017,

Tòa án áp dụng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13, Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 và luật khác có liên quan về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu để thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động”,

Đồng thời, tại Án lệ số 26/2018/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/ 2018 và được công bố theo Quyết định

số 269/QĐ-CA ngày 06/11/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ở phần Giải pháp pháp lý đã nêu: “… xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu yêu cầu

chia di sản thừa kế là ngày công bố Pháp lệnh Thừa kế ngày 30/8/1990 Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế được xác định theo quy định của Bộ luật Dân

sự số 91/2015/QH13” .

Như vậy, ông Ri chết năm 2006, đến ngày 02/01/2017 (sau ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực), bà Bé mới khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Ri nên Tòa án sẽ áp dụng thời hiệu theo Bộ luật Dân sự năm 2015 là 30

Trang 3

năm đối với nhà, đất tại 652 Xa lộ Hà Nội Vì vậy, thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế di sản của ông Ri vẫn còn

* Người được hưởng di sản thừa kế:

Hàng thừa kế thứ nhất của ông Ri gồm: bà Bé, bà Tính và các con gồm Thủy, Khánh, Liên, Dung, Hùng, Quỳnh, Quang, Quyên và Tuấn (dữ liệu đề bài không nêu tên bố mẹ đẻ của ông Ri, nên xem như các cụ đã chết)

* Đường lối chia di sản thừa kế:

Do trong quá trình chung sống ông Ri, bà Tính có cải tạo sửa chữa nhà tại

số 652 Xa lộ Hà Nội nên phần sửa chữa sẽ được khấu trừ khi chia tài sản chung

và chia di sản thừa kế Phần sửa chữa này của ông Ri ½, bà Tính ½

Sau khi trừ phần sửa chữa giá trị nhà, đất sẽ chia tài sản chung thành 3 phần gồm ông Ri, bà Bé, bà Tính

Di sản để lại của ông Ri gồm ½ phần sửa chữa nhà + 1/3 giá trị nhà, đất (trừ phần sửa)

Di sản ông Ri để lại sẽ được chia đều cho các hàng thừa kế thứ nhất gồm

11 kỷ phần Các con mỗi người hưởng 1 kỷ phần, bà Bé 1 kỷ phần + 1/3 giá trị nhà, đất (trừ phần sửa), bà Tính 1 kỷ phần + 1/3 giá trị nhà, đất (trừ phần sửa) +

½ phần sửa chữa

Bà Tính hiện quản lý, sử dụng ngôi nhà từ năm 1972 đến nay; đồng thời, phần được hưởng có giá trị lớn nhất nên sẽ nhận hiện vật và thối trả cho các đồng thừa kế còn lại; còn nếu bà Tính không có khả năng thối trả hoặc các đương sự thỏa thuận giao cho 01 trong những người con nào đó; hoặc thỏa thuận khác nhưng không trái đạo đức và pháp luật, thì Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự và giao hiện vật như nội dung đã thỏa thuận./

Ngày đăng: 02/01/2023, 21:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w