PhoTo LỘC HẢI *** 01643 894 744 *** Gmail photolochai@gmail com NGÂN HÀNG CÂU HỎI ÔN TẬP HỌC PHẦN LUẬT CẠNH TRANH NHÓM CÂU HỎI 1 3 CÂU 1 Khái niệm thị phần, thị phần kết hợp, thị trường liên quan, thị[.]
Trang 1NGÂN HÀNG CÂU HỎI ÔN TẬP HỌC PHẦN: LUẬT CẠNH TRANH
NHÓM CÂU HỎI 1: 3 CÂU 1:Khái niệm thị phần, thị phần kết hợp, thị trường liên quan, thị trường sản
phẩm liên quan, thị trường địa lý liên quan, tố tụng cạnh tranh, người tham gia tố tụngcạnh tranh, người tiến hành tố tụng cạnh tranh, hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vicạnh tranh không lành mạnh 3
CÂU 2:Khái niệm, đặc điểm, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Luật Cạnh
tranh 7
CÂU 3.Khái niệm sức mạnh thị trường, ý nghĩa của việc xác định sức mạnh thị trường
và các tiêu chí để xác định sức mạnh thị trường 10
CÂU 4 Đặc điểm, phân loại hành vi hạn chế cạnh tranh: phân biệt các loại hành vi
hạn chế cạnh tranh, các hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm, thủ tục miễn trừ đối vớihành vi hạn chế CẠNH TRANH BỊ CẤM? 11
CÂU 5.1 Đặc điểm, phân loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh: phân biệt các loại
hành vi cạnh tranh không lành mạnh, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm 19
CÂU 5.2 Xác định bộ máy thực thi cạnh tranh, phân biệt các cơ quan: Hội đồng cạnh
tranh, cơ quan quản lý cạnh tranh, thẩm quyền của các cơ quan, trình tự thủ tục tố tụngcạnh tranh 49
CÂU 6 Các hình thức xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh, thẩm quyền xử lý vi phạm
pháp luật cạnh tranh 57
CÂU 7 Khái niệm, đặc điểm, đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh của Luật
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, nội dung cơ bản của Luật bảo vệ quyền lợi ngườitiêu dùng? 58
CÂU 8 Khái niệm người tiêu dùng, tổ chức, cá nhân kinh doanh, bên thứ ba theo qui
định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm củacác chủ thể theo qui định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Nguyên tắc bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng? 60CÂU 9.Khái niệm, đặc điểm Hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung? 61
Trang 2I NHÓM CÂU HỎI 2: 61 Câu 1: Phân tích các đặc điểm của các loại hành vi hạn chế cạnh tranh và đặc điểm
của các dạng hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường,hành vi tập trung kinh tế? 61
Câu 2: Phân tích phương thức điều chỉnh của pháp luật đối với từng loại hành vi hạn
chế cạnh tranh? 64
Câu 3: Phân tích đặc điểm của từng hành vi cạnh tranh ko lành mạnh? 65 Câu 4: Phân tích phương pháp điều chỉnh của pháp luật đối với hành vi cạnh tranh
không lành mạnh 67
Câu 5: Nhận xét về trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc cạnh tranh và so sánh giữa
trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh,
cơ quan có thẩm quyền xử lý, giải quyết 69
Câu 6 Phân tích các hình thức xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh và thẩm quyền xử
lý các vi phạm này, chú ý sự khác biệt giữa việc xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh vàhành vi cạnh tranh không lành mạnh 73
Câu 7: Khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh và khiếu kiện quyết định giải
quyết quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh 76
Câu 8: Phân tích những hành vi bị cấm được quy định trong Luật bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng 78
Câu 9: Phân tích các quyền, nghĩa vụ của người tiêu dùng và các công cụ pháp lý mà
người tiêu dùng được sử dụng để bảo vệ quyền lợi của mình 81
CÂU 10.Nhận xét qui định của pháp luật về hợp đồng mẫu, điều kiện giao dịch chung
trong giao dịch với người tiêu dùng, các điều khoản bị coi là không có hiệu lực, kiểmsoát nhà nước về hợp đồng mẫu, điều kiện giao dịch chung 85
CÂU 11: Phân tích về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh
trong mối quan hệ với người tiêu dùng 88
CÂU 12: Phân tích chế tài xử lý đối với hành vi xâm phạm quyền lợi của người tiêu
dùng 92
Câu 13:Phương thức giải quyết tranh chấp khi có hành vi vi phạm quyền lợi của người
tiêu dùng, đặc thù của việc sử dụng những phương thức này theo quy định của phápluật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 94
Trang 3NHÓM CÂU HỎI 1:
CÂU 1:Khái niệm thị phần, thị phần kết hợp, thị trường liên quan, thị trường sản phẩm liên quan, thị trường địa lý liên quan, tố tụng cạnh tranh, người tham gia tố tụng cạnh tranh, người tiến hành tố tụng cạnh tranh, hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
1.Thị phần của doanh nghiệp đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định là tỷ
lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng doanh thu của tất cảcác doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó trên thị trường liên quan hoặc
tỷ lệ phần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này với tổng doanh số muavào của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trườngliên quan theo tháng, quý, năm - Khoản 5 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004
2.Thị phần kết hợp là tổng thị phần trên thị trường liên quan của các doanh
nghiệp tham gia vào thoả thuận hạn chế cạnh tranh hoặc tập trung kinh tế
-Theo khỏan 1 – Điều 3 – Luật Cạnh tranh 2004 thì:
3.Thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hóa, dịch vụ có
thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả - Khoản 6 Điều 3 LuậtCạnh tranh năm 2004
4.Thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có những
hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có
sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận
5.Theo khoản 9 Điều 3 Luật cạnh tranh năm 2004 thì
“Tố tụng cạnh tranh là hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo trình tự,
thủ tục giải quyết, xử lí vụ việc cạnh tranh theo quy định của Luật này”
Tố tụng cạnh tranh tiến hành theo thủ tục hành chính có những điểm khác với thủtục tư pháp tại Tòa án và hiện hành được quy định trong Nghị định số 116/2005/NĐ-CP
ngày 15/9/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh
Việc giải quyết vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh,cạnh tranh không lành mạnh thực hiện theo quy định của pháp luật cạnh tranh và phápluật về xử lý vi phạm hành chính (Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm
2002 và Nghị định 120/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 quy định về xử lý vi phạm hànhchính trong lĩnh vực cạnh tranh)
Trang 46.Người tham gia tố tụng cạnh tranh bao gồm: Bên khiếu nại, bên bị điều tra,
Luật sư; người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan
7.Người tiến hành tố tụng cạnh tranh bao gồm thành viên Hội đồng cạnh
tranh, Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh, điều tra viên và thư ký phiên điều trần.Nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh khi tiến hành tốtụng cạnh tranh
Khi tiến hành tố tụng cạnh tranh, Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1 Quyết định phân công điều tra viên điều tra vụ việc cạnh tranh cụ thể;
2 Kiểm tra các hoạt động điều tra của điều tra viên vụ việc cạnh tranh;
3 Quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ quyết định không có căn cứ và trái pháp luậtcủa điều tra viên vụ việc cạnh tranh;
4 Quyết định thay đổi điều tra viên vụ việc cạnh tranh;
5 Quyết định trưng cầu giám định;
6 Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn hành chính khichưa chuyển hồ sơ vụ việc cạnh tranh cho Hội đồng cạnh tranh xử lý;
7 Quyết định điều tra sơ bộ, đình chỉ điều tra, điều tra chính thức vụ việc cạnhtranh thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý cạnh tranh;
8 Mời người làm chứng theo yêu cầu của các bên trong giai đoạn điều tra;
9 Ký kết luận điều tra vụ việc cạnh tranh do điều tra viên được phân công trình;
10 Chuyển hồ sơ vụ việc cạnh tranh đến Hội đồng cạnh tranh trong trường hợp
vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh;
11 Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý cạnhtranh
Quyền của điều tra viên khi tiến hành tố tụng cạnh tranh
Khi tiến hành tố tụng cạnh tranh, điều tra viên có các quyền sau đây:
1 Yêu cầu tổ chức, cá nhân liên quan cung cấp thông tin cần thiết và các tài liệu
có liên quan đến vụ việc cạnh tranh;
2 Yêu cầu bên bị điều tra cung cấp tài liệu, giải trình liên quan đến vụ việc bịđiều tra;
Trang 53 Kiến nghị Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh trưng cầu giám định;
4 Kiến nghị Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh áp dụng biện pháp ngănchặn hành chính liên quan đến vụ việc cạnh tranh
Nghĩa vụ của điều tra viên khi tiến hành tố tụng cạnh tranh
Khi tiến hành tố tụng cạnh tranh, điều tra viên có các nghĩa vụ sau đây:
1 Tống đạt quyết định điều tra của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh chobên bị điều tra;
2 Giữ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp;
3 Bảo quản tài liệu đã được cung cấp;
4 Tiến hành điều tra vụ việc cạnh tranh theo phân công của Thủ trưởng cơ quanquản lý cạnh tranh;
5 Làm báo cáo điều tra sau khi kết thúc điều tra sơ bộ, điều tra chính thức vụviệc cạnh tranh;
6 Chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh và trước phápluật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình
Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh khi tiến hành tố tụng cạnh tranh
1 Thành lập Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh theo quy định tại khoản 3 Điều
54 của Luật này
2 Quyết định thay đổi thành viên Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, thư kýphiên điều trần, người giám định, người phiên dịch trước khi mở phiên điều trần theoquy định tại khoản 1 Điều 73, Điều 83 và khoản 1 Điều 85 của Luật này
3 Quyết định cử thành viên Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, thư ký phiên điềutrần thay thế người bị thay đổi tại phiên điều trần theo quy định tại khoản 2 Điều 85của Luật này
4 Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn hành chính khi tiếpnhận hồ sơ vụ việc cạnh tranh
Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh
1 Khi giải quyết vụ việc cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh hoạtđộng độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Trang 62 Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh được Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranhthông qua bằng cách biểu quyết theo đa số, trường hợp số phiếu ngang nhau thì quyếtđịnh theo phía có ý kiến của Chủ tọa phiên điều trần.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tọa phiên điều trần
Chủ tọa phiên điều trần có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1 Tổ chức nghiên cứu hồ sơ vụ việc cạnh tranh;
2 Trên cơ sở quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, ký đề nghị Chủtịch Hội đồng cạnh tranh áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn hành chínhliên quan đến vụ việc cạnh tranh; quyết định trả lại hồ sơ vụ việc cạnh tranh cho cơquan quản lý cạnh tranh và yêu cầu điều tra bổ sung; quyết định đình chỉ giải quyết vụviệc cạnh tranh;
3 Trên cơ sở quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, ký quyết định
mở phiên điều trần;
4 Quyết định triệu tập những người tham gia phiên điều trần;
5 Ký và công bố các quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh và các quyết định kháccủa Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh;
6 Tiến hành các hoạt động khác thuộc thẩm quyền theo quy định của Luật nàykhi xử lý vụ việc cạnh tranh
Thư ký phiên điều trần
1 Thư ký phiên điều trần có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
a) Chuẩn bị các công tác nghiệp vụ cần thiết trước khi khai mạc phiên điều trần;b) Phổ biến nội quy phiên điều trần;
c) Báo cáo với Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh về sự có mặt, vắng mặt củanhững người được triệu tập đến phiên điều trần;
d) Ghi biên bản phiên điều trần;
đ) Thực hiện các công việc khác do Chủ tọa phiên điều trần giao
2 Thư ký phiên điều trần phải từ chối tiến hành tố tụng cạnh tranh hoặc bị thayđổi trong những trường hợp quy định tại Điều 83 của Luật này
8.Hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch,
cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạmdụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế
Trang 7Hành vi hạn chế cạnh tranh sẽ làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thịtrường, tác động tới môi trường cạnh tranh nói chung và ảnh hưởng tới nhiều doanhnghiệp cạnh tranh trên thị trường nói riêng.
Hành vi hạn chế cạnh tranh bao gồm hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạmdụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế
9.Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh
nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đứckinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền vàlợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh thường chỉ ảnh hưởng tới một hoặc mộtnhóm doanh nghiệp cụ thể, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhànước, doanh nghiệp hoặc người tiêu dùng
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh: theo quy định tại Điều 39, Luật Cạnh tranh
2004, bao gồm:
- Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;
- Xâm phạm bí mật kinh doanh;
- Ép buộc trong kinh doanh;
- Gièm pha doanh nghiệp khác;
- Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác;
- Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
- Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
- Phân biệt đối xử của hiệp hội;
- Bán hàng đa cấp bất chính;
- Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác theo tiêu chí xác định tại khoản
4 Điều 3 của Luật này do Chính phủ quy định"
CÂU 2:Khái niệm, đặc điểm, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Luật Cạnh tranh.
Khái niệm: Cạnh tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực, tài nguyên một
cách tối ưu, do đó là động lực bên trong của nền kinh tế phát triển
Đặc điểm:
Cạnh tranh bao gồm các yếu tố cơ bản sau:
Trang 8Thứ nhất, khách hàng thường xuyên Đây là đối tượng và cũng là mục tiêu mà tất
cả các bên tham gia cạnh tranh đều hướng tới thu hút, lôi kéo Trong luật cạnh tranh,khách hàng còn được gọi với các tên khác nhau như ‘‘người tiêu dùng’’ hoặc ‘‘người
sử dụng’’ Cần nhấn mạnh rằng, khách hàng không phải là đối tượng thuộc sở hữu củariêng ai mà thuộc về doanh nghiệp nào mong muốn và có phương pháp thu hút họ mộtcách tốt nhất Các doanh nghiệp được quyền sử dụng tất cả các biện pháp mà pháp luậtkhông cấm để thu hút, lôi kéo khách hàng về phía mình Chính vì vậy, trong luật cạnhtranh xuất hiện khái niệm ‘‘tính hợp pháp của thiệt hại cạnh tranh’’, nôm na được hiểu
là khi một doanh nghiệp sử dụng các biện pháp mà pháp luật không cấm để thu hútkhách hàng về phía mình thì doanh nghiệp khác bị ‘‘thiệt hại’’, biểu hiện qua việc bịmất một lượng khách hàng thường xuyên mà không có căn cứ pháp lý để khởi kiệnyêu cầu bồi thường thiệt hại
Thứ hai, các bên tham gia cạnh tranh (chủ yếu là các doanh nghiệp) Muốn có
cạnh tranh thì đương nhiên phải có ít nhất là 02 doanh nghiệp trở lên là đối thủ củanhau Nếu không có đối thủ, hay nói cách khác là tình trạng độc quyền, thì cạnh tranhkhông thể diễn ra và do vậy, luật cạnh tranh cũng không có cơ sở kinh tế-xã hội để tồntại Chính vì vậy mà kiểm soát độc quyền vẫn thường được xem vừa là một bộ phậncấu thành, vừa là một trong những mục tiêu hàng đầu của luật cạnh tranh
Thứ ba, một môi trường chính trị, pháp lý tạo thuận lợi cho cạnh tranh Đó chính
là nền kinh tế thị trường Cạnh tranh chỉ có thể diễn ra trong môi trường mà tự do khếước, tự do kinh doanh được thừa nhận như là những quyền cơ bản của công dân.Đương nhiên tự do nào cũng phải có giới hạn và tự do cạnh tranh với tính chất là hệquả của tự do kinh doanh càng không phải là ngoại lệ Vì vậy mà về bản chất, luậtcạnh tranh được xem là luật điều tiết cạnh tranh
Thứ tư, thị trường liên quan Đây là một trong những khái niệm cơ bản của luậtcạnh tranh và trước tiên, nó thuộc về phạm trù kinh tế Nội hàm của nó thường đượcxác định thông qua hai yếu tố là thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liênquan[4] Thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hóa, dịch vụ cóthể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng, giá cả Còn thị trường địa lý liênquan là một khu vực địa lý cụ thể (có thể là một khu phố, một tỉnh, một vùng, mộtquốc gia, thậm chí trên nhiều quốc gia) mà trên đó hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế
Trang 9được cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và khu vực địa lý này phải có sựkhác biệt đáng kể với khu vực địa lý lân cận.
Chỉ có thể nói đến cạnh tranh khi đã xác định được thị trường liên quan Khi xử
lý các vụ việc về cạnh tranh thì việc xác định thị trường liên quan chính là công việcđầu tiên mà các chủ thể áp dụng luật cạnh tranh cần phải tiến hành
Phạm vi điều chỉnh của luật cạnh tranh
Cạnh tranh là quy luật tất yếu, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế trong nềnkinh tế thị trường Để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải chấp nhận canhtranh như là một sự lựa chọn duy nhất Vì vậy, bên cạnh những hành vi cạnh tranhlành mạnh với những chiến lược cạnh tranh năng động, tích cực và có khả năng đemlại những lợi ích to lớn cho chủ thể canh tranh thì ngược lại, trên thị trường cũng xuấthiện những hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh nhằm giảm khảnăng cạnh tranh hoặc loại bỏ đối thủ cạnh tranh, làm tổn hại đến nền kinh tế Vì vậy,các quốc gia ban hành chính sách, pháp luật về cạnh tranh nhằm tạo lập khuôn khổpháp lý cho hoạt động cạnh tranh và loại bỏ những hành vi cạnh tranh không lànhmạnh
Theo quy định tại Điều 1 Luật cạnh tranh của nước CHXHCN Việt Nam thìphạm vi điều chỉnh của Luật là các hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, biện pháp xử lý viphạm pháp luật về cạnh tranh
Điều luật giới hạn phạm vi điều chỉnh, bao gồm quy định về mặt nội dung (Hành
vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh) và quy định về mặt hìnhthức (trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật
về cạnh tranh)
Cạnh tranh trong kinh doanh là quyền cơ bản của các chủ thể kinh doanh trên thịtrường và được pháp luật bảo hộ Điều luật quy định phạm vi điều chỉnh như vậy với ýnghĩa là điều chỉnh mặt trái của cạnh tranh, nhằm loại bỏ những cản trở đối với quátrình cạnh tranh của các chủ thể trên cơ sở đó tạo lập môi trường kinh doanh bìnhđẳng, không phân biệt đối xử, khuyến khích các chủ thể cạnh tranh lành mạnh nhằmnâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó việc quy định các thủ tục tố tụngtrong luật là yếu tố vô cùng quan trọng nhằm đảm bảo cho các quy định về mặt nội
Trang 10dung được triển khai có hiệu quả cũng như tạo cơ sở pháp lý cho cơ quan quản lý cạnhtranh thực thi nhiệm vụ của mình Đây được coi là cách tiếp cận mới trong kỹ thuậtsoạn thảo văn bản pháp luật và có tính khả thi cao
Đối tượng áp dụng luật cạnh tranh
Theo quy định tại điều 2 của Luật cạnh tranh thì đối tượng áp dụng Luật gồm:
- Mọi tổ chức, cá nhân kinh doanh, bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứngsản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộcđộc quyền Nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam Việc quyđịnh các doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệphoạt động trong cách ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền Nhà nước cũng thuộc đối tượng
áp dụng Luật, thể hiện chính sách của Nhà nước ta là mọi doanh nghiệp thuộc cácthành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật
- Hiệp hội ngành nghề hoạt động ở Việt Nam Hiệp hội ngành nghề bao gồm hiệphội ngành hàng và hiệp hội nghề nghiệp, việc quy định hiệp hội ngành nghề là đốitượng áp dụng Luật là do hiệp hội ngành nghề là diễn đàn, là tổ chức tự nguyện củacác doanh nghiệp có đặc điểm chung và ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh và trên thực
tế, phần lớn các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đều diễn ra tronghiệp hội Các quyết định của hiệp hội nếu được thực hiện dưới hình thức thỏa thuậnhạn chế cạnh tranh sẽ ảnh hưởng rất lớn đến môi trường cạnh tranh Vì vậy, Luật cạnhtranh cần áp dụng đối với cả hiệp hội ngành nghề
CÂU 3.Khái niệm sức mạnh thị trường, ý nghĩa của việc xác định sức mạnh thị trường và các tiêu chí để xác định sức mạnh thị trường
Khái niệm :
Sức mạnh thị trường, trong luật cạnh tranh các nước, thường được hiểu là khảnăng duy trì giá cả trên mức giá cạnh tranh hoặc giảm chất lượng hoặc sản lượngxuống dưới mức cạnh tranh mà vẫn thu được lợi nhuận
Ý nghĩa của việc xác định sức mạnh thị trường
- Xác định sức mạnh thị trường sẽ đánh giá đc một hành vi hay một thỏa thuận cókhả năng ảnh hưởng xấu đến cạnh tranh trên thị trường hay ko
- Giúp những người ra quyết định cân nhắc, đánh giá vụ việc trong trường hợpviệc phân tích tác động phản cạnh tranh khó có khả năng thực hiện hoặc không khả thi
Trang 11- Trong trường hợp cơ quan cạnh tranh hoặc tòa án đánh giá tác động tiềm ẩn củamột hành vi nào đó thì điều tra sức mạnh thị trường là một bước cần thiết để dự đoántác động xảy xa
Các tiêu chí để xác định sức mạnh thị trường
Sức mạnh thị trường đc x.định bằng nhiều yếu tố:
- Số lượng các nhà cung cấp cạnh tranh đối vs cùng một sản phẩm, thị phần vàmức độ tập trung , …
- Rào cản ra nhập thị trường
- Rào cản mở rộng thị trường
- Sức mạnh của người mua
- Lợi nhuận thu đc
- Khả năng loại bỏ cạnh tranh
CÂU 4 ĐẶC ĐIỂM, PHÂN LOẠI HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH: PHÂN BIỆT CÁC LOẠI HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH, CÁC HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH BỊ CẤM, THỦ TỤC MIỄN TRỪ ĐỐI VỚI HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH BỊ CẤM?
- Khái niệm hạn chế cạnh tranh: Theo Khoản 3, Điều 3, Luật Cạnh Tranh 2004:Hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trởcạnh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng
vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế
- Phân biệt các hành vi hạn chế cạnh tranh
Tiêu chí Thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh
Lạm dụng vị trí thống lĩnh, độc quyền
vi hạn chế cạnh tranh màdoanh nghiệp có vị tríthống lĩnh hoặc độc quyền
Dưới góc độ khoa họckinh tế: Tập trung kinh
tế được nhìn nhận làchiến lược tích tụ vốn
và tập tủng sản xuấthình thành các chủ thểkinh doanh có quy môlớn nhằm khai thác lợi
Trang 12quả làm giảm, sai
lệch, cản trở cạnh
tranh trên thị trường
sử dụng để duy trì hay tăngcường vị trí của nó trên thịtrường bằng cách hạn chếkhả năng gia nhập thịtrường hoặc hạn chế quámức cạnh tranh
- Điều 22 đến 33, Nghịđịnh 116/2005
- Điều 18 đến 24, Nghịđịnh 120/2005
- …
- Điều 16 đến 24 LuậtCạnh Tranh 2004
- Điều 34 đến 38, Nghịđịnh 116/2005
- Điều 25 đến 29, Nghịđịnh 120/2005
- …Đặc điểm Thứ nhất, chủ thể
tham gia thỏa thuận
Thứ hai, Các doanh nghiệp
đó phải có thực hiện cáchành vi mà pháp luật quyđịnh là hành vi lợi dụng vịthế thống lĩnh, độc quyền
Thứ ba, hậu quả của hành
vi này là làm sai lệch, cảntrở hoặc giảm cạnh tranhgiữa các đối thủ cạnh tranhtrên thị trường liên quan
Thứ nhất, chủ thể thựchiện các hành vi tậptrung kinh tế là cácdoanh nghiệp
Thứ hai, Các hành vitập trung kinh tế đượcthực hiện dưới nhữnghình thức nhất địnhtheo quy định của phápluật
Thứ ba, Hậu quả làhình thành các doanhnghiệp, tập đoàn kinh
tế lớn mạnh, thay đổicấu trúc thị trường vàtương quan cạnh tranhtrên thị trường
Trang 13Thứ tư, Nhà nướckiểm soát các doanhnghiệp tham gia tậptrung kinh tế theo cácquy định của phápluật.
hoặc gián tiếp;
2 Thoả thuận phân
chia thị trường tiêu
thụ, nguồn cung cấp
hàng hoá, cung ứng
dịch vụ;
3 Thoả thuận hạn chế
hoặc kiểm soát số
lượng, khối lượng sản
bộ nhằm loại bỏ đối thủcạnh tranh;
2 Áp đặt giá mua, giá bánhàng hóa, dịch vụ bất hợp
lý hoặc ấn định giá bán lạitối thiểu gây thiệt hại chokhách hàng;
3 Hạn chế sản xuất, phânphối hàng hoá, dịch vụ,giới hạn thị trường, cản trở
sự phát triển kỹ thuật, côngnghệ gây thiệt hại chokhách hàng;
4 Áp đặt điều kiện thươngmại khác nhau trong giaodịch như nhau nhằm tạobất bình đẳng trong cạnhtranh;
5 Áp đặt điều kiện chodoanh nghiệp khác ký kếthợp đồng mua, bán hànghoá, dịch vụ hoặc buộcdoanh nghiệp khác chấp
Tập trung kinh tế làhành vi của doanhnghiệp bao gồm:
1 Sáp nhập doanhnghiệp;
2 Hợp nhất doanhnghiệp;
3 Mua lại doanhnghiệp;
4 Liên doanh giữa cácdoanh nghiệp;
5 Các hành vi tậptrung kinh tế khác theoquy định của phápluật
Trang 14nhận các nghĩa vụ
không liên quan trực
tiếp đến đối tượng của
doanh nghiệp không
phải là các bên của
6 Ngăn cản việc tham giathị trường của những đốithủ cạnh tranh mới
7 Áp đặt các điều kiện bấtlợi cho khách hàng;
8 Lợi dụng vị trí độcquyền để đơn phương thayđổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng
1 Bán hàng hoá, cung ứngdịch vụ dưới giá thành toàn
bộ nhằm loại bỏ đối thủcạnh tranh;
2 Áp đặt giá mua, giá bán
Cấm tập trung kinh tếnếu thị phần kết hợpcủa các doanh nghiệptham gia tập trung kinh
tế chiếm trên 50% trênthị trường liên quan,trừ trường hợp quyđịnh tại Điều 19 củaLuật này hoặc trường
Trang 15Điều 8 của Luật này
khi các bên tham gia
3 Hạn chế sản xuất, phânphối hàng hoá, dịch vụ,giới hạn thị trường, cản trở
sự phát triển kỹ thuật, côngnghệ gây thiệt hại chokhách hàng;
4 Áp đặt điều kiện thươngmại khác nhau trong giaodịch như nhau nhằm tạobất bình đẳng trong cạnhtranh;
5 Áp đặt điều kiện chodoanh nghiệp khác ký kếthợp đồng mua, bán hànghoá, dịch vụ hoặc buộcdoanh nghiệp khác chấpnhận các nghĩa vụ khôngliên quan trực tiếp đến đốitượng của hợp đồng;
6 Ngăn cản việc tham giathị trường của những đốithủ cạnh tranh mới
Cấm doanh nghiệp có vị trí độc quyền thực hiện hành vi sau đây:
1 Các hành vi quy định tại
hợp doanh nghiệp saukhi thực hiện tập trungkinh tế vẫn thuộc loạidoanh nghiệp nhỏ vàvừa theo quy định củapháp luật
Trang 16Điều 13 của Luật này;
2 Áp đặt các điều kiện bấtlợi cho khách hàng;
3 Lợi dụng vị trí độcquyền để đơn phương thayđổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng
tại khoản 2 Điều 9
của Luật này được
miễn trừ có thời hạn
nếu đáp ứng một
trong các điều kiện
sau đây nhằm hạ giá
thành, có lợi cho
người tiêu dùng:
a) Hợp lý hoá cơ cấu
tổ chức, mô hình kinh
doanh, nâng cao hiệu
quả kinh doanh;
vi này
Tập trung kinh tế bịcấm quy định tại Điều
18 của Luật này có thểđược xem xét miễn trừtrong các trường hợpsau đây:
1 Một hoặc nhiều bêntham gia tập trung kinh
tế đang trong nguy cơ
bị giải thể hoặc lâmvào tình trạng phá sản;
2 Việc tập trung kinh
tế có tác dụng mở rộngxuất khẩu hoặc gópphần phát triển kinh tế
- xã hội, tiến bộ kỹthuật, công nghệ
Trang 17chủng loại sản phẩm;
d) Thống nhất các
điều kiện kinh doanh,
giao hàng, thanh toán
nhưng không liên
cạnh tranh của doanh
nghiệp Việt Nam trên
vi vi phạm của từng doanhnghiệp Hoặc trong một vàitrường hợp cụ thể thì cóthể bị phạt từ 5% tới 10%
tổng doanh thu
Đối với hành vi lợi dụng vịtrí độc quyền thì sẽ bị phạttiền đến 10% % tổngdoanh thu trong năm tàichính trước năm thực hiện
Theo Nghị định120/2005, Các doanhnghiệp thực hiện cáchành vi tập trung kinh
tế bị cấm có thể bị phạttiền lên đến 5% tổngdoanh thu trong nămtài chính trước nămthực hiện hành vi viphạm của từng doanhnghiệp Hoặc trongmột vài trường hợp cụthể thì có thể bị phạt từ5% tới 10% tổngdoanh thu
Trang 18và biện pháp khắc phụchậu quả như: tịch thu tangvật, phương tiện được sửdụng để thực hiện hành vi
vi phạm (bao gồm cả tịchthu phần lợi nhuận thuđược từ việc thực hiệnhành vi vi phạm), Buộc lợi
bỏ những điều khoản viphạm pháp luật ra khỏi hợpđồng hoặc giao dịch kinhdoanh, buộc cơ cấu lạidoanh nghiệp có vị tríthống lĩnh thị trường, buộc
sử dụng hoặc bán lại cácbằng sáng chế giải pháphữu ích, kiểu dáng côngnghiệp đã mua nhưngkhông sử dụng, buộc loại
bỏ những biện pháp ngăncản, kìm hãm doanhnghiệp khác tham gia thịtrường hoặc phát triển kinhdoanh, buộc khôi phục cácđiều kiện phát triển kỹthuật, công nghệ mà doanh
Ngoài việc bị phạttiền, doanh nghiệp viphạm còn có thể bị ápdụng một số hình thức
xử phạt bổ sung vàbiện pháp khắc phụchậu quả như: Thu hồigiấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh hoặcbuộc chia tách doanhnghiệp đã sáp nhập,hợp nhất; buộc bán lạiphần doanh nghiệp đãmau
Trang 19nghiệp đã cản trở.
Phạt tiền từ 1% đến3% tổng doanh thutrong năm tài chínhtrước năm thực hiệnhành vi vi phạm củacác doanh nghiệp quyđịnh tại khoản 1 Điều
25, khoản 1 Điều 26,khoản 1 Điều 27 vàkhoản 1 Điều 28 củaNghị định này đối vớihành vi tập trung kinh
tế mà không thực hiệnnghĩa vụ thông báotheo quy định tại Điều
20 của Luật Cạnhtranh
Trang 20CÂU 5.1 ĐẶC ĐIỂM, PHÂN LOẠI HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH: PHÂN BIỆT CÁC LOẠI HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH, CÁC HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH BỊ CẤM.
*) Khái niệm, Đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh quy định “hành vi cạnh tranh không lànhmạnh là hành vi của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với với các chuẩnmực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đếnlợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc ngườitiêu dùng”. Theo quy định nói trên trên, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh cónhững đặc điểm cơ bản như sau:
i Hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh
Đặc điểm này thể hiện quy định về đối tượng áp dụng của Luật cạnh tranh Theo
đó, chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh chỉ bao gồm các doanh nghiệp thuộc mọithành phần kinh tế, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, doanh nghiệp nước ngoài hoạtđộng tại Việt Nam, các hiệp hội ngành nghề Những đối tượng còn lại như các đơn vị
sự nghiệp, các tổ chức của người tiêu dùng, các đơn vị truyền thông, các tổ chức phikinh tế… không là đối tượng áp dụng các quy định của pháp luật về cạnh tranh khônglành mạnh Đôi khi, thực tế phát sinh những tình huống một số tổ chức phi kinh tế, cácđơn vị truyền thông… thực hiện những hành vi xâm phạm đến quyền cạnh tranh lànhmạnh của doanh nghiệp, ví dụ tung tin không trung thực về doanh nghiệp, về hànghóa dịch vụ… Với việc giới hạn chủ thể thực hiện hành vi, pháp luật cạnh tranhkhông áp dụng để xử lý những tình huống trên Mặt khác, đặc điểm này cũng khẳngđịnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh xảy ra trong kinh doanh ở mọi ngành, mọilĩnh vực của đời sống kinh tế, mọi công đoạn của quá trình kinh doanh Pháp luật vềhành vi cạnh tranh không lành mạnh được áp dụng cho mọi ngành nghề, mọi lĩnh vựckinh tế Nói cách khác, pháp luật không giới hạn áp dụng cho bất kỳ ngành nghề, lĩnhvực hoặc hoạt động kinh doanh nào của kinh tế quốc dân
ii Hành vi cạnh tranh trái với với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh.
Trang 21Đặc điểm này là căn cứ lý luận để xác định bản chất không lành mạnh của hành
vi Tuy nhiên, “trái với chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh” là thuật ngữtrừu tượng cả về pháp lý lẫn lý thuyết Không có những căn cứ pháp lý hoặc cấu thànhpháp lý cụ thể để xác định đặc điểm này Thế nên, Cơ quan có thẩm quyền không thể
sử dụng khái niệm hành vi không lành mạnh để quy kết một hành vi cụ thể của doanhnghiệp là không lành mạnh Để khắc phục tình trạng trên, pháp luật cạnh tranh đã tậptrung giải quyết hai nội dung sau:
Một, vì các phương pháp cạnh tranh rất đa dạng, bao gồm thủ đoạn gây nhầm lẫn,
gian dối, gièm pha, bóc lột, gây rối, nên Luật Cạnh tranh 2004 đã liệt kê các hành vicạnh tranh bị coi là không lành mạnh và quy định cấu thành pháp lý của chúng Phápluật cạnh tranh của hầu hết các nước như Cộng hoà liên bang Đức, Nhật bản… đều cócách tiếp cận tương tự, tức là ngoài việc đưa ra khái niệm về hành vi cạnh tranh khônglành mạnh(Điều 1 Luật chống cạnh tranh không lành mạnh Cộng hòa Liên bang Đứcquy định: “người nào trong quan hệ thương mại mà có những hành vi nhằm mục đíchcạnh tranh, song những hành vi này chống lại truyền thống kinh doanh lành mạnh thìbuộc phải chấm dứt hành vi đó và bồi thường thiệt hại”) còn liệt kê và mô tả từng hành
vi bị coi là không lành mạnh trong cạnh tranh Khái niệm hành vi cạnh tranh khônglành mạnh được quy định trong Luật cạnh tranh Việt nam và của các nước chỉ có ýnghĩa về mặt lý thuyết Trong thực tế, việc áp dụng sẽ căn cứ vào các quy định về từnghành vi vi phạm cụ thể như chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh, dèmpha doanh nghiệp khác…
Hai, các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh được xác định dựa vào
hai căn cứ sau đây:
– Căn cứ luật định là những tiêu chuẩn đã được định lượng hoábằng pháp luật, một khi hành vi đi trái với các quy định pháp luật sẽ được xem làkhông lành mạnh Trong trường hợp này, hành vi cạnh tranh không lành mạnh đồngnghĩa với hành vi cạnh tranh bất hợp pháp Theo đó, hành vi cạnh tranh không lànhmạnh có thể là hành vi của tổ chức, cá nhân kinh doanh vi phạm điều cấm của phápluật (bao gồm các quy định cấm của Luật Cạnh tranh và các văn bản pháp luật khácnhư pháp luật thương mại, pháp luật về quản lý giá, pháp luật về sở hữu trí tuệ…) hoặc
là hành vi vi phạm các tiêu chuẩn lành mạnh được pháp luật quy định như pháp luật
Trang 22khuyến mại quy định giới hạn của giá trị khuyến mại như sau: “mức giảm giá tối đađối với hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại không được vượt quá 50% giá hàng hóa,dịch vụ đó ngay trước thời gian khuyến mại(Điều 6 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP quyđịnh chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại.).
– Các tập quán kinh doanh thông thường đã được thừa nhận rộng rãiđược áp dụng đối với những hành vi chưa được pháp luật dự liệu là cạnh tranh khônglành mạnh Nói cách khác, căn cứ này là biện pháp dự phòng để áp dụng cho nhữngtrường hợp pháp luật chưa quy định về một hành vi cụ thể nhưng khi hành vi này đượcthực hiện đã xâm hại đến quyền cạnh tranh của các tổ chức, cá nhân kinh doanh khác,quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng và trái với tập quán kinh doanh Căn cứ này
đã mở rộng khả năng điều chỉnh và khắc phục được tình trạng chóng lạc hậu của phápluật cạnh tranh Cho đến nay, Luật cạnh tranh chưa quy định những tập quán kinhdoanh nào được coi là các chuẩn mực đạo đức thông thường
Tính trái chuẩn mực đạo đức thông thường trong kinh doanh của hành vi cạnhtranh không lành mạnh đòi hỏi pháp luật cạnh tranh phải luôn được chỉnh lý, bổ sungcho phù hợp với thực tiễn Nhận thức về các dấu hiệu, biểu hiện không lành mạnh cụthể luôn thay đổi và có sự khác biệt theo từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể như sau: – Quan niệm về tính không lành mạnh là kết quả của những ý niệm liên quan đến xãhội học, kinh tế học, đạo đức học của một xã hội nhất định nên có thể dẫn đến hiệntượng là hành vi cạnh tranh bị coi là cạnh tranh không lành mạnh ở nước này, nhưngđược coi là lành mạnh ở nước khác
– Trong đời sống thị trường, những hành vi cạnh tranh luôn đượcsáng tạo không ngừng về hình thức thể hiện và phương thức cạnh tranh, làm xuất hiệnnhững thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh mới muôn mầu, muôn vẻ và phát triểnkhông ngừng Vì vậy, phạm vi của khái niệm cạnh tranh không lành mạnh cũng phảiluôn được bổ sung bởi sự nhận thức của con người về bản chất không lành mạnh củanhững hành vi mới phát sinh
– Hiện nay, pháp luật cạnh tranh của các nước, các học thuyết liênquan đến cạnh tranh chưa đưa ra được những tiêu chuẩn chung về tính lành mạnh củahành vi cạnh tranh mà chỉ mới dựa vào việc phân tích các hậu quả của hành vi cạnhtranh đối với đời sống kinh tế, xã hội để xác định sự lành mạnh và mức độ biểu hiện
Trang 23của các hành vi đó Theo sự thay đổi và phát triển của thị trường, nhận thức về mức độảnh hưởng của từng hành vi trên thị trường cũng thay đổi Có những thời điểm nhấtđịnh, hành vi nào đó có thể sẽ là nguy hiểm cho xã hội, nhưng ở thời điểm khác lạikhông có điều kiện để gây hại cho đối thủ hoặc cho người tiêu dùng Sự thay đổi đó đãlàm cho phạm vi của khái niệm cạnh tranh không lành mạnh luôn biến đổi.
iii Hành vi gây thiệt hại, có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp khác và người tiêu dùng Một hành vi cạnh tranh bị kết luận là không lành mạnh và cần phải ngăn chặn khi nó gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại cho các đối tượng khác.
Đặc điểm này mang nhiều ý nghĩa về tố tụng và đặc biệt được chú ý khi việc xử
lý cạnh tranh không lành mạnh được tiến hành trong khuôn khổ kiện dân sự và gắnliền với yêu cầu bồi thường thiệt hại Câu hỏi đặt ra là liệu việc chứng minh thiệt hạithực tế được coi là bắt buộc để bắt đầu tiến trình xử lý hành vi cạnh tranh không lànhmạnh hay không? Tuỳ thuộc vào quy định của từng quốc gia cũng như quan điểm của
cơ quan xử lý, có các cách thức nhìn nhận khác nhau về hậu quả của hành vi cạnhtranh không lành mạnh Trong nhiều trường hợp, cơ quan xử lý có thể chấp nhận việc
“đe doạ gây thiệt hại”, cũng như các thiệt hại không tính toán được cụ thể về cơ hộikinh doanh là đủ để coi một hành vi cạnh tranh là không lành mạnh và đáng bị ngăncấm
Về đối tượng chịu thiệt hại, dễ thấy hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thểtác động đến nhiều đối tượng khác nhau tham gia thị trường khác nhau, trong đó hainhóm cơ bản là các đối thủ cạnh tranh và người tiêu dùng Điều 3 của Luật Chống
cạnh tranh không lành mạnh Đức cấm “các hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể gây ảnh hưởng đáng kể về cạnh tranh làm tổn hại đến các đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng và các chủ thể tham gia thị trường khác” Luật Cạnh tranh Việt Nam
có đưa thêm một đối tượng có thể bị xâm hại là Nhà nước, tuy nhiên đối tượng nàykhông mang tính tiêu biểu, không phổ biến trong quy định về cạnh tranh không lànhmạnh của nhiều quốc gia, do chỉ có thể đặt vấn đề bảo vệ lợi ích của Nhà nước trướchành vi cạnh tranh không lành mạnh tại những nền kinh tế mà ở đó Nhà nước tham giasâu vào hoạt động kinh doanh, và cạnh tranh trực tiếp với các thành phần kinh tế kháctrên thị trường Trong đa số trường hợp khác, lợi ích của Nhà nước đã được thể hiện
Trang 24thông qua lợi ích của các nhóm chủ thể tham gia thị trường là doanh nghiệp và ngườitiêu dùng.
*) Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Theo quy định tại Điều 39 Luật CT năm 2004, các hành vi cạnh tranh không lànhmạnh, bao gồm: Chỉ dẫn gây nhầm lẫn; xâm phạm bí mật kinh doanh; ép buộc trongkinh doanh; gièm pha doanh nghiệp khác; gây rối hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp khác; quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh; khuyến mại nhằm cạnhtranh không lành mạnh; phân biệt đối xử của hiệp hội; bán hàng đa cấp bất chính; cáchành vi cạnh tranh không lành mạnh khác theo tiêu chí xác định tại khoản 4 Điều 3
Dưới góc độ kinh tế, bản chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các hành vichiếm đoạt ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác một cách bất hợp pháp hoặc làhành vi huỷ hoại ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác hoặc là hành vi tạo ra ưuthế cạnh tranh giả tạo Biểu hiện của các hành vi chiếm đoạt ưu thế cạnh tranh củadoanh nghiệp khác một cách bất hợp pháp bao gồm: Chiếm đoạt các bí mật thươngmại mà doanh nghiệp khác đã phải đầu tư nhiều công sức mới có được và nó đã trởthành tài sản của doanh nghiệp đó; hành vi nhái lại nhãn mác, bao bì, kiểu dáng, khẩuhiệu kinh doanh, thương hiệu, tạo sự nhầm lẫn trong khách hàng và gây thiệt hại trựctiếp cho đối thủ cạnh tranh… Ví dụ: Trong lĩnh vực nước giải khát, nhãn hiệu nướckhoáng Lavie đã bị một số tên gọi thương mại khác giả mạo như: Laville, Leville,Lavier… Trong lĩnh vực xe máy, nhãn hiệu Wave của hãng Honda được nhiều ngườitiêu dùng ưa chuộng đã bị đánh lừa bởi các loại xe với kiểu dáng tương tự của TrungQuốc như Waver, Wake up…
*) Phân loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Có thể phân loại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh thành 3 nhóm:
i Các hành vi mang tính chất lợi dụng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác
Đây là nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh điển hình, được biết đến dướinhiều dạng thức khác nhau như gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ(misleading), lợi dụng thành quả đầu tư của người khác (free reading), xâm phạm bí
Trang 25mật kinh doanh… Bản chất của hành vi này là việc chiếm đoạt hay sử dụng trái phép lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác Đây cũng là dạng hành vi gần với các hành
vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, sự khác biệt chỉ nằm ở đối tượng bị xâm phạm.Trong trường hợp hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, lợi thế cạnh tranh củadoanh nghiệp thể hiện ở số đối tượng nhất định được coi là tài sản trí tuệ sau khi chủ
sở hữu xác lập quyền thông qua việc đăng ký và được cấp văn bằng bảo hộ Còn trongtrường hợp cạnh tranh không lành mạnh, phạm vi lợi thế cạnh tranh bị xâm phạm cóthể rộng hơn rất nhiều, bao gồm tất cả các giá trị, thành quả mà doanh nghiệp cạnhtranh đạt được một cách hợp pháp thông qua quá trình kinh doanh, bao gồm cả nhữngyếu tố công khai như uy tín tên tuổi, chỉ dẫn thương mại hay không công khai như bíquyết kinh doanh
Do dạng hành vi này xâm phạm trước hết đến lợi thế cạnh tranh, cũng được coi
là một dạng tài sản của các doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường, các doanh nghiệpnày thường tích cực đưa vụ việc đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu sự bảo
vệ của pháp luật Do đó, có nhiều vụ việc liên quan đến dạng hành vi lợi dụng được xử
lý và dạng hành vi này được coi là phổ biến, điểm hình của cạnh tranh không lànhmạnh Tuy nhiên, trong quá trình xử lý vụ việc, ảnh hưởng đến người tiêu dùng cũngđược tính đến khi việc lợi dụng uy tín, thành quả đầu tư của người khác gây nhầm lẫncho người tiêu dùng về hàng hoá, dịch vụ, uy tín hay khả năng kinh doanh của bên viphạm
Mặt khác, không phải mọi dạng thành quả đầu tư, lợi thế cạnh tranh đều đượcbảo vệ, có những đối tượng có được từ kết quả phát triển kinh tế xã hội, khoa học kỹthuật chung của ngành, khi đó các doanh nghiệp có quyền tiếp cận và sử dụng tự do đểthúc đẩy hiệu quả kinh doanh Việc ngăn chặn và bảo hộ thái quá có thể gây ảnhhưởng tiêu cực cho sự phát triển chung của ngành Căn cứ vào thực tế từng vụ việc, cơquan xử lý sẽ đánh giá tính chính đáng trong yêu cầu của doanh nghiệp để bảo vệquyền lợi trước hành vi cạnh tranh không lành mạnh
ii Các hành vi mang tính chất công kích:
Đây là nhóm hành vi có chung bản chất là tấn công vào đối thủ cạnh tranh, triệttiêu hoặc làm suy giảm các lợi thế cạnh tranh của đối thủ cạnh tranh Các hành vi cụthể rất đa dạng, phụ thuộc vào cách thức, mục tiêu công kích, có thể là những thông tin
Trang 26sai trái làm mất uy tín đối thủ cạnh tranh, hoặc các hành vi trực tiếp gây cản trở hoạtđộng kinh doanh của đối thủ, hoặc lôi kéo, mua chuộc nhân viên hoặc đối tác của đốithủ cạnh tranh Một số quốc gia còn xếp những hành vi hạn chế cạnh tranh thuộc dạngnhẹ, như ấn định giá bán lại, phân biệt đối xử, lạm dụng ưu thế trong giao dịch(bargaining power) thuộc phạm vi cạnh tranh không lành mạnh do xem xét yếu tố cảntrở hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác
Mặc dù dạng hành vi công kích nói trên cũng tác động thẳng đến các đối thủcạnh tranh của bên vi phạm, nhưng do tính chất trực diện của hành vi, các bên liênquan thường có khuynh hướng sử dụng các quy định trực tiếp về gây thiệt hại và bồithường thường thiệt hại của pháp luật dân sự, hoặc thậm chí cả hình sự, để giải quyếttranh chấp một cách triệt để, thay vì áp dụng các quy định riêng của pháp luật về cạnhtranh không lành mạnh Do đó, tính điển hình của nhóm hành vi này không cao bằngnhóm hành vi thứ nhất
iii Các hành vi lôi kéo bất chính khách hàng
Việc đặt các hành vi thuộc nhóm này, đặc biệt là các hành vi kinh doanh bấtchính đã trở nên phổ biến trên thị trường như quảng cáo lừa dối, khuyến mại nhử mồi,chào hàng quấy rối hay ép buộc… vào phạm vi điều chỉnh của pháp luật về cạnh tranhkhông lành mạnh còn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi Bản chất của hành vi này làtạo ra một lợi thế cạnh tranh gian dối để lôi kéo khách hàng, người tiêu dùng Đốitượng chịu tác động trực tiếp của các hành vi này là khách hàng/người tiêu dùng, còncác doanh nghiệp cạnh tranh chỉ chịu ảnh hưởng gián tiếp từ hành vi vi phạm thôngqua việc mất khách hàng Trong nhiều trường hợp, việc lôi kéo khách hàng tham giagiao dịch bằng các biện pháp bất chính động chạm đến nguyên tắc căn bản của giaodịch dân sự là tự do ý chí Do đó, ở một số quốc gia, nhóm hành vi này có thể khôngnằm trong khuôn khổ pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh, mà chịu sự điều chỉnhcủa các quy định chung trong pháp luật về dân sự, thương mại, của pháp luật về bảo vệngười tiêu dùng, và trong nhiều các quy định điều chỉnh ngành, lĩnh vực kinh tế cụ thể.Lấy ví dụ tại Việt Nam, quy định về hành vi quảng cáo, thông tin gian dối không chỉ
có trong Luật Cạnh tranh mà còn cả ở nhiều văn bản khác như Bộ luật Dân sự, LuậtThương mại, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Dược, Pháp lệnh Bảo vệ người tiêudùng…
Trang 27Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng tác động của dạng hành vi nói trên không giới hạntại một số khách hàng bị lôi kéo và các đối thủ cạnh tranh bị mất khách hàng Quantrọng hơn, dạng hành vi này còn khiến thị trường trở nên không minh bạch, làm sailệch giao dịch giữa các chủ thể tham gia thị trường, và qua đó ảnh hưởng xấu đến môitrường kinh doanh chung Do đó, các quy định điều chỉnh dạng hành vi này vẫn chiếmmột vị trí quan trọng trong pháp luật cạnh tranh nói chung cũng như chế định về cạnhtranh không lành mạnh nói riêng của nhiều quốc gia có nền kinh tế thị trường pháttriển.
*) Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật cạnh tranh 1.Chỉ dẫn gây nhầm lẫn (Điều 40 Luật Cạnh tranh)
Chỉ dẫn gây nhầm lẫn bao gồm hai dạng vi phạm cụ thể sau đây: một là hành vi
sử dụng chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu kinhdoanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý… làm sai lệch nhận thức củakhách hàng về hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh; và hai là hành vi kinhdoanh các sản phẩm có sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn
Theo quy định nói trên, hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn có những đặc điểm sau đây:
1.1 Đối tượng của hành vi là các chỉ dẫn thương mại của sản phẩm
Luật Cạnh tranh không quy định khái niệm chỉ dẫn thương mại mà chỉ liệt kêmột số đối tượng được coi là chỉ dẫn thương mại, bao gồm: tên thương mại, khẩu hiệukinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý và những dấu hiệu khác theoquy định của Chính phủ Chỉ dẫn thương mại là cơ sở quan trọng để khách hàng nhậnbiết sản phẩm của một doanh nghiệp cụ thể và là những dấu hiệu để phân biệt chúngtrong những sản phẩm cùng loại trên thị trường Về giá trị kinh tế, các đối tượng nóitrên là kết quả đầu tư của doanh nghiệp trong việc xây dựng danh tiếng cho sản phẩmcủa mình
1.2 Về hình thức, hai hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn có cấu thành pháp lý khác nhau
Đối với hành vi sử dụng các chỉ dẫn chứa đựng những thông tin gây nhầm lẫn vềtên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý…làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích cạnh
Trang 28tranh, doanh nghiệp được giả định vi phạm đã sử dụng các chỉ dẫn thương mại có nộidung trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn của doanh nghiệp khác để gây nhầm lẫn chokhách hàng Như vậy, để xác định hành vi, cần phải làm rõ những vấn đề sau đây:– Xác định chỉ dẫn bị vi phạm Tùy từng vụ việc, chỉ dẫn bị vi phạm
có thể là tên thương mại, bao bì, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, chỉ dẫnđịa lý của sản phẩm, của doanh nghiệp đang được pháp luật bảo hộ
– Việc sử dụng tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, bao bì, xuất
xứ địa lý… của doanh nghiệp vi phạm đã gây nhầm lẫn cho khách hàng Theo Luật Cạnh tranh, khả năng gây nhầm lẫn được hiểu là khả năng làm sai lệch nhận thức của khách hàng làm cho họ không phân biệt được đâu là sản phẩm chính hiệu và đâu là sản phẩm có sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn Về hình thức, doanh nghiệp vi phạm đã sử
dụng các chỉ dẫn giống hệt hoặc tương tự đến mức nhầm lẫn với chỉ dẫn của doanhnghiệp khác đang được bảo hộ Khi các chỉ dẫn giống hệt nhau thì việc xác định sựnhầm lẫn sẽ dễ dàng Nhưng nếu các chỉ dẫn thương mại không hoàn toàn giống nhau,
có nghĩa là vẫn tồn tại một mức độ khác biệt nhất định, thì pháp luật phải xác định sựkhác biệt đến mức độ nào có thể gây nhầm lẫn và có thể không tạo ra sự nhầm lẫn Về
vần đề này, Luật cạnh tranh vẫn chưa định lượng mức độ sai số có trong các thông tin
của chỉ dẫn làm nên sự nhầm lẫn
Còn hành vi kinh doanh sản phẩm có sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn thì chỉ ápdụng đối với những doanh nghiệp tham gia vào việc phân phối các sản phẩm có sửdụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn
2 Hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh (Điều 41 Luật Cạnh tranh)
2.1 Khái niệm
Theo khoản 10 Điều 3 Luật Cạnh tranh, bí mật kinh doanh là thông tin có đủ các
điều kiện sau đây:
– Không phải là hiểu biết thông thường;
– Có khả năng áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ tạo cho ngườinắm giữ thông tin đó có lợi thế hơn so với người không nắm giữ hoặc không sử dụngthông tin đó;
– Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để thông tin đó không
bị tiết lộ và không dễ dàng tiếp cận được
Trang 29Bí mật kinh doanh không là kiểu dáng công nghiệp, giải pháp hữu ích, chỉ dẫnđịa lý mà chỉ đơn thuần là những thông tin (không là hiểu biết thông thường) phát sinhtrong kinh doanh; có giá trị sử dụng trong thực tế và đem lại lợi ích cho người nắm giữhoặc người sử dụng; đang được chủ sở hữu bảo mật Theo kinh nghiệm của các nước,khó có thể liệt kê những thông tin nào được coi là bí mật kinh doanh và không có cơchế đăng ký quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh Các thông tin về nguồn nguyênliệu, nguồn khách hàng tiềm năng,… đều có thể là bí mật kinh doanh của doanhnghiệp. Sự bất lực trong việc liệt kê các đối tượng bí mật kinh doanh gây khó khăncho việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến đối tượng này khi xác định tính chất
bí mật của thông tin, quyết định chính xác mức độ vi phạm Khi xây dựng Luật Cạnhtranh, đã có ý kiến cho rằng cần đăng ký bí mật kinh doanh giống như đăng ký các đốitượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp hoặc sở hữu trí tuệ để được bảo hộ bởi luậtcạnh tranh Song, cơ chế đăng ký bảo hộ đòi hỏi phải được công bố công khai, rộng rãicho mọi chủ thể được biết để không vi phạm Do đó, nếu áp dụng cơ chế này đối với
bí mật kinh doanh sẽ làm cho bí mật của doanh nghiệp mau chóng trở thành không bí mật và sự bảo mật trở thành vô nghĩa Vì lẽ đó, Luật Cạnh tranh đặt ra yêu cầu tự bảo mật của chủ sở hữu.
Luật Cạnh tranh bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu bí mật bằng cách trừng phạtngười có hành vi xâm phạm các thông tin thuộc bí mật kinh doanh Do đó, chỉ khi cóhành vi vi phạm, cơ quan có thẩm quyền mới xác định tính bí mật kinh doanh của đốitượng bị xâm phạm theo nguyên tắc chủ sở hữu có nghĩa vụ chứng minh các thông tin
đã bị xâm phạm thỏa mãn ba dấu hiệu của bí mật kinh doanh được quy định trong Luậtcạnh tranh
2.2 Các hành vi vi phạm bí mật kinh doanh
Luật Cạnh tranh quy định bốn tình huống vi phạm bí mật kinh doanh của ngườikhác Từ bốn tình huống này, có thể xác định thành ba nhóm hành vi xâm phạm bí mậtkinh doanh:
a Hành vi tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh là việc doanh nghiệp tìm cách có được các thông tin thuộc bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác một cách bất chính
Để cấu thành hành vi này, người ta cần xác định hai điều kiện cơ bản sau đây:
Trang 30– Doanh nghiệp vi phạm đang nỗ lực tiếp xúc hoặc góp nhặt những thông tin
thuộc bí mật kinh doanh của người khác
– Việc tiếp cận, thu thập thông tin là bất chính, không lành mạnh Tính chất bấtchính của hành vi được thể hiện thông qua phương cách mà doanh nghiệp sử dụng
để tiếp cận, thu thập bí mật kinh doanh Theo đó, việc tiếp cận, thu thập bí mật kinh
doanh bị coi là bất chính khi người thực hiện hành vi đã:
+ Chống lại các biện pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp bí mật kinh doanhđó;
+ Vi phạm hợp đồng bảo mật với chủ sở hữu của bí mật kinh doanh hoặc lừa gạt,lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật;
+ Vi phạm khi chủ sở hữu của bí mật kinh doanh làm thủ tục theo quy định củapháp luật liên quan đến kinh doanh, làm thủ tục lưu hành sản phẩm hoặc bằng cáchchống lại các biện pháp bảo mật của cơ quan Nhà nước(Điều 41 Luật Cạnh tranh.)
b Tiết lộ thông tin thuộc bí mật kinh doanh
Theo Từ điển tiếng Việt, tiết lộ được diễn giải là để cho người khác biết một việc phải giữ kín(Viện ngôn ngữ học, sđd.) Để thực hiện hành vi, doanh nghiệp vi phạm
đang có được, biết được bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác Việc doanh nghiệp
có được bí mật kinh doanh là hợp pháp, có nghĩa vụ phải bảo mật thông tin đó (ví dụ
đã ký kết hợp đồng bảo mật với chủ sở hữu…) Biểu hiện của hành vi doanh nghiệp đã
để cho người khác biết các thông tin thuộc bí mật kinh doanh của doanh nghiệp kháctrong các tình huống sau đây:
– Không được phép của chủ sở hữu;
– Vi phạm hợp đồng bảo mật với chủ sở hữu của bí mật kinh doanh hoặc lừa gạt,lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật
Theo Luật Cạnh tranh, cho dù với động cơ và mục đích gì, hành vi tiết lộ bí mậtkinh doanh chỉ cần có đủ hai tình huống trên sẽ bị coi là cạnh tranh không lành mạnh
c Sử dụng bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác
Việc doanh nghiệp sử dụng bí mật kinh doanh của người khác cho hoạt độngkinh doannh của mình bị coi là cạnh tranh không lành mạnh nếu thuộc một trong haitrường hợp sau:
– Không được phép của chủ sở hữu bí mật đó;
Trang 31– Nhằm mục đích kinh doanh, xin giấy phép liên quan đến kinh doanh hoặc lưuhành sản phẩm Trong trường hợp này, pháp luật không quan tâm đến nguồn gốc, tínhhợp pháp của bí mật kinh doanh mà chỉ cần xác định tính không được phép của chủ sởhữu đối với việc sử dụng là đủ để kết luận về sự vi phạm.
3 Ép buộc trong kinh doanh (Điều 42 Luật Cạnh tranh)
Căn cứ Điều 42 Luật Cạnh tranh, “ép buộc trong kinh doanh là hành vi củadoanh nghiệp bằng cách đe dọa hoặc cưỡng ép khách hàng, đối tác kinh doanh củadoanh nghiệp khác để buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanhnghiệp đó”. Theo khái niệm trên, hành vi ép buộc trong kinh doanh có cấu thành pháp
lý bao gồm các yếu tố sau đây:
Một là, đối tượng của hành vi là khách hàng hoặc đối tác kinh doanh của doanh
nghiệp khác Từ dấu hiệu này, có thể thấy, bằng hành vi của mình doanh nghiệp viphạm đã không trực diện giao tiếp với doanh nghiệp khác (đối thủ), mà tác động đếnkhách hàng hoặc đối tác của họ Khách hàng, đối tác kinh doanh có thể là các tổ chức,
cá nhân đang giao dịch hoặc sẽ giao dịch (khách hàng tiềm năng) của doanh nghiệpkhác; có thể là người tiêu dùng hoặc tổ chức, cá nhân có giao dịch với doanh nghiệp bịxâm phạm
Hai là, hình thức của hành vi là doanh nghiệp vi phạm dùng thủ đoạn đe dọa
hoặc cưỡng ép những đối tượng trên để buộc họ không được giao dịch, ngừng giaodịch với doanh nghiệp khác Dấu hiệu này được làm rõ từ những nội dung sau đây:– Việc đe dọa hoặc cưỡng ép được thực hiện nhằm khống chế ý chícủa khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác Doanh nghiệp vi phạm cóthể trực tiếp hoặc gián tiếp với vai trò tổ chức hoặc thuê mướn người khác thực hiệncác thủ đoạn đe dọa, cưỡng ép các đối tượng trên Phương thức đe dọa, cưỡng ép rất
đa dạng và không giống nhau trong các vụ việc cụ thể
– Yêu cầu được doanh nghiệp vi phạm đưa ra cho người bị đe dọa,
bị cưỡng ép là không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp khác Yêu cầunày có thể được đặt ra công khai hoặc ẩn chứa trong thủ đoạn đe dọa, cưỡng ép để các
đối tượng bị tác động phải ngầm hiểu Như vậy, hành vi ép buộc trong kinh doanh không bao gồm mục đích ép buộc người khác phải giao dịch với mình Trong thực tế,
đôi khi hai mục đích nói trên cùng tồn tại trong một vụ việc Theo đó, mục đích buộc
Trang 32khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác không được giao dịch, khôngthực hiện giao dịch với họ là để những đối tượng bị ép buộc chỉ có thể giao dịch vớimình Với nội dung này, hành vi ép buộc trong kinh doanh phản ánh chiến lược ngăncản hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác.
Ba là, sự không lành mạnh của hành vi được chứng minh bằng các hậu quả gây
ra cho khách hàng (người tiêu dùng, đối tác của doanh nghiệp khác) và doanh nghiệp
bị xâm hại:
– Với khách hàng, quyền lựa chọn của họ bị xâm phạm do bị ngăntrở, bị cưỡng ép mà không thể thiếp lập được giao dịch, không tiếp tục thực hiện đượcgiao dịch theo ý chí của mình Quyền lựa chọn bị khống chế sẽ dẫn đến khả năngkhách hàng phải giao dịch với doanh nghiệp vi phạm hoặc người được chỉ định Dấuhiệu ép buộc khách hàng phải giao dịch với mình hoặc với người mà mình chỉ định khiđiều tra về hành vi ép buộc không được đặt ra
– Hành vi này mang bản chất côn đồ trong kinh doanh, có thể gây ranhững xáo trộn trong xã hội, gây ảnh hưởng lớn đến trật tự an ninh của cộng đồng, lànhững dấu hiệu không lành mạnh trong đời sống kinh doanh đòi hỏi pháp luật và côngquyền phải thẳng tay trừng trị
– Với các doanh nghiệp khác, việc không thiết lập được, không thựchiện được những giao dịch của họ với khách hàng có thể làm cho tình hình kinh doanh
bị ngăn trở, rối loạn Mặc dù đối tượng của hành vi ép buộc trong kinh doanh là đốithủ cạnh tranh trực tiếp của doanh nghiệp vi phạm, song thủ đoạn cản trở khách hàngthiết lập, thực hiện giao dịch cũng đã làm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệpkhác bị cản trở hoặc bị hạn chế
4 Gièm pha doanh nghiệp khác
Gièm pha doanh nghiệp khác là hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra thông tinkhông trung thực, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính và hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp đó
Từ khái niệm trên, cấu thành pháp lý của hành vi gièm pha doanh nghiệp khácbao gồm các yếu tố sau đây:
Thứ nhất, hình thức của hành vi là việc trực tiếp hoặc gián tiếp đưa thông tin
không trung thực về doanh nghiệp khác Việc đưa thông tin có thể được thực hiện một
Trang 33cách trực tiếp từ doanh nghiệp vi phạm, hoặc gián tiếp thông qua các phương tiệntruyền thông, báo chí Doanh nghiệp vi phạm có thể thực hiện hành vi công khai hoặckhông công khai Nội dung của thông tin về doanh nghiệp khác được đưa ra rất đadạng như các thông tin về chất lượng sản phẩm, tình hình tài chính, uy tín và đạo đứccủa người quản lý, về cổ phiếu… Những thông tin này tác động đến nhận thức vàđánh giá của khách hàng về sản phẩm, về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp khác.Qua đó, khách hàng sẽ quyết định có hay không việc giao dịch hoặc tiếp tục giao dịchvới doanh nghiệp bị gièm pha.
Doanh nghiệp vi phạm có thể là tác giả hoặc chỉ là người tuyên truyền nhữngthông tin mà họ thu thập được những thông tin về doanh nghiệp khác Vấn đề mà phápluật quan tâm là tính trung thực (đúng hay sai so với thực tế) của thông tin Nếu nhữngthông tin được đưa ra là thông tin trung thực thì không cấu thành hành vi gièm pha bởibằng hành vi của mình doanh nghiệp đã giúp cho người tiêu dùng, các thành viên kháccủa thương trường có cơ sở để giám sát doanh nghiệp và lựa chọn đúng đắn sản phẩmtheo nhu cầu của họ Ngược lại, sẽ là cạnh tranh không lành mạnh nếu những thông tinđược đưa ta là không trung thực về doanh nghiệp khác Trong trường hợp này, quyềnđược thông tin của khách hàng đã bị xâm phạm để qua đó các quyết định không giaodịch hoặc không tiếp tục giao dịch với doanh nghiệp bị gièm pha không còn đúng đắn
Thứ hai, hậu quả của hành vi là gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị thông tin nói đến Uy tín của
doanh nghiệp phản ảnh niềm tin và sự yêu thích của khách hàng đối với doanh nghiệphoặc sản phẩm Sự giảm sút uy tín của doanh nghiệp bị xâm hại thể hiện ở sự giảm sútmột cách bất thường các giao dịch, doanh số bán ra, doanh thu của doanh nghiệp, sốlượng khách hàng so với trước đó Những ảnh hưởng xấu của hành vi gièm pha đối vớitình hình tài chính và hoạt động kinh doanh thể hiện ở các số liệu kế toán thống kê,những biến động bất thường của tình hình tài chính, những sự kiện làm rối loạn hoạtđộng kinh doanh bình thường của doanh nghiệp… Khi điều tra về hành vi gièm phadoanh nghiệp khác, hậu quả phải được xác định là hiện thực, tức là chúng phải xảy ratrong thực tế, doanh nghiệp bị gièm pha đã phải gánh chịu những bất lợi về uy tín, vềtài chính và về tình hình kinh doanh do thông tin không trung thực gây ra Đối với
Trang 34hành vi này, mọi sự suy đoán về hậu quả đều không được coi là cơ sở để kết luận về sự
vi phạm
5.Hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của người khác
Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác là hành vi củadoanh nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp làm cản trở hoặc gián đoạn hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp khác
Nếu so sánh với hành vi gièm pha trong kinh doanh hoặc ép buộc trong kinhdoanh thì hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác cũng là mộtdạng biểu hiện trong chiến lược cản trở hoặc gây khó khăn cho hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp khác như hai hành vi nói trên Chúng đều có thể do doanh nghiệp viphạm thực hiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Sự khác nhau giữa các hành vi chỉ là
ở phương tiện, thủ đoạn được doanh nghiệp vi phạm sử dụng Nếu hành vi gièm pha
sử dụng thông tin không trung thực về doanh nghiệp bằng cách thức truyền miệngcông khai, không công khai hoặc thông qua các phương tiện truyền thông…; hành vi
ép buộc trong kinh doanh sử dụng các thủ đoạn mang tính côn đồ đối với khách hàngcủa doanh nghiệp khác, thì hành vi gây rối hoạt động kinh doanh sử dụng bất kỳ thủđoạn nào khác (luật không thể liệt kê) ngoài những thủ đoạn nói trên để làm cản trởgián đoạn hoạt động kinh doanh của người khác Như vậy, pháp luật không quy định
về hình thức cũng như những phương tiện, công cụ được sử dụng trong hành vi gây rốihoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác Căn cứ pháp lý duy nhất của hành vinày được quy định là:
– Tình hình kinh doanh của họ bị gián đoạn hoặc bị cản trở, và
– Hậu quả này đã xảy ra trên thực tế
6 Hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh (Điều 45 Luật Cạnh tranh.)
Là một biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh để thu hút khách hàng, chiếmlĩnh thị trường, quảng cáo hàng hoá, dịch vụ, “việc chủ thể kinh doanh giới thiệu đếnngười tiêu dùng về hoạt động kinh doanh, hàng hoá, dịch vụ”(Điều 4 Pháp lệnh Quảngcáo 16/11/2001.), giúp các doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm đến với khách hàng mộtcách nhanh chóng Đối với người tiêu dùng, hoạt động quảng cáo cung cấp cho ngườitiêu dùng những thông tin cơ bản về tình hình thị trường, về hàng hoá, dịch vụ nhằm
Trang 35nâng cao khả năng lựa chọn của họ đối với các sản phẩm trên thị trường Với ý nghĩa
đó, hoạt động quảng cáo thực sự có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nềnkinh tế và của các doanh nghiệp
Các doanh nghiệp thực hiện việc quảng cáo thông qua sản phẩm quảng cáo
(những thông tin bằng hình ảnh, hành động, âm thanh, tiếng nói, chữ viết, biểu tượng,màu sắc, ánh sáng… chứa đựng nội dung quảng cáo) và những phương tiện rất đadạng để đưa sản phẩm quảng cáo đến với khách hàng (phương tiện thông tin đạichúng, phương tiện truyền tin, các xuất bản phẩm, các loại bảng, biển, panô, ápphích…). Hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi quảng cáogồm có Luật Cạnh tranh, Luật Thương mại năm 2005, Pháp lệnh Quảng cáo, Nghịđịnh số 24/2003/NĐ-CP ngày 13/3/2003 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Quảng cáo…Trong các văn bản pháp luật này cũng có đề cập đến hành vi quảng cáo nhằm cạnhtranh không lành mạnh Theo Luật Cạnh tranh, những hành vi quảng cáo nhằm cạnhtranh không lành mạnh bao gồm:
6.1 So sánh trực tiếp hàng hoá, dịch vụ của mình với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác
Quảng cáo so sánh là việc khi thực hiện quảng cáo, doanh nghiệp đã đưa ranhững thông tin có nội dung so sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với sảnphẩm cùng loại của doanh nghiệp khác Lý luận cạnh tranh phân chia hành vi quảngcáo so sánh thành nhiều mức độ khác nhau như sau:
– Quảng cáo so sánh bằng là hình thức so sánh cho rằng sản phẩm của mình
có chất lượng, có cung cách phục vụ hoặc tính năng giống như sản phẩm cùng loại củadoanh nghiệp khác;
– Quảng cáo so sánh hơn là hình thức quảng cáo cho rằng sản phẩmcủa người quảng cáo có chất lượng tốt hơn, cung cách phục vụ, hình thức,… tốt hơnsản phẩm của doanh nghiệp khác;
– Quảng cáo so sánh nhất là hình thức quảng cáo khẳng định vị trí
số một của sản phẩm của mình trên thị trường bằng cách cho rằng chất lượng, mẫu mã,phương thức cung ứng… của mình là tốt nhất hoặc khẳng định rằng không có bất cứsản phẩm cùng loại nào trên thị trường có được những tiêu chuẩn nói trên như sản
Trang 36phẩm của mình Tùy từng mức độ so sánh và tính chất trung thực của thông tin mà khảnăng xâm hại cho đối thủ và cho khách hàng sẽ là khác nhau.
Luật Cạnh tranh năm 2004 ngăn cấm mọi hành vi quảng cáo so sánh mà khôngphân biệt giữa so sánh bằng, so sánh hơn và so sánh nhất Hành vi quảng cáo bị coi làquảng cáo so sánh nhằm cạnh tranh không lành mạnh khi thỏa mãn hai dấu hiệu sau
đây: Một là, sản phẩm quảng cáo đã đưa ra những thông tin khẳng định sản phẩm
được quảng cáo có các điều kiện thương mại như chất lượng, mẫu mã, số lượng, giá
cả, điều kiện mua bán… ngang bằng, tốt hơn hoặc tốt nhất so với các sản phẩm cùngloại của doanh nghiệp khác Như vậy, các thông tin trong sản phẩm quảng cáo khôngchỉ nói về sản phẩm được quảng cáo mà còn đề cập đến sản phẩm cùng loại của doanhnghiệp khác (sản phẩm bị so sánh), khẳng định sản phẩm được quảng cáo có chấtlượng, mẫu mã, cung cách phục vụ… ngang bằng hoặc tốt hơn sản phẩm bị so sánh.Thông tin so sánh có thể đúng hoặc không đúng Với hành vi quảng cáo so sánh,những thông tin so sánh đúng hoặc không đúng đều là cạnh tranh không lành mạnh.Trong dấu hiệu này, có hai nội dung cần xác định sau đây:
– Sản phẩm được quảng cáo và sản phẩm bị so sánh phải là nhữngsản phẩm cùng lọai Các sản phẩm chỉ có thể được coi là cạnh tranh với nhau khichúng cùng loại và các thông tin trong quảng cáo khi nói đến hai sản phẩm cùng loạicủa hai doanh nghiệp khác nhau thì mới là so sánh Ngược lại, một sản phẩm quảngcáo đưa ra những thông tin nói về hai loại hàng hoá, dịch vụ không cùng loại thì hành
vi ấy được kinh tế học coi là quảng cáo liên kết chứ không phải là so sánh ví dụ,quảng cáo về sản phẩm bột giặt ô mô có sử dụng nước xả vải hương Downy… Cácsản phẩm cùng loại với nhau khi chúng phục vụ cho cùng một nhu cầu sử dụng
– Sản phẩm bị so sánh phải là sản phẩm do doanh nghiệp khác sảnxuất hoặc kinh doanh Nếu nội dung quảng cáo so sánh các sản phẩm cùng lọai dodoanh nghiệp thực hiện việc quảng cáo kinh doanh như : so sánh sản phẩm mới và sảnphẩm trước đây để cho khách hàng thấy được tính năng của sản phẩm mới thì việcquảng cáo đó không coi là quảng cáo so sánh
Hai là, hành vi quảng cáo so sánh phải là so sánh trực tiếp với sản phẩm cùng loại của doanh nghiệp khác Các thông tin quảng cáo sẽ là so sánh trực tiếp nếu những
hình ảnh, màu sắc, tiếng nói, chữ viết… được sử dụng trong sản phẩm quảng cáo đủ để
Trang 37người tiếp nhận thông tin xác định được sản phẩm bị so sánh Trong thực tế, nhiềudoanh nghiệp đã gọi tên sản phẩm cạnh tranh, doanh nghiệp cạnh tranh khi thực hiệnquảng cáo so sánh, song cũng có trường hợp doanh nghiệp chỉ sử dụng hình ảnh, têngọi chung chung về sản phẩm khác để so sánh Nếu những hình ảnh, màu sắc, tiếngnói… cho thấy đặc trưng riêng có của sản phẩm bị so sánh mà không cần gọi tên cụthể cũng cấu thành việc so sánh trức tiếp Với dấu hiệu này, có nhiều khả năng sau đây
sẽ xảy ra trong việc so sánh:
– So sánh trực tiếp (còn gọi là xâm phạm trực tiếp đến đối thủ cụthể) có thể là việc doanh nghiệp vi phạm điểm mặt, chỉ tên sản phẩm và doanh nghiệp
cụ thể mà nó muốn so sánh đến Các trường hợp quảng cáo so sánh với những thôngtin chung chung như so sánh độ tẩy trắng của bột giặt Tide với bột giẳt thường, hoặchình ảnh so sánh nước xả vải Downy với hình ảnh mờ mờ của loại nước xã vải khácnhưng không xác định cụ thể là sản phẩm nào, của ai có thể sẽ không bị coi là viphạm;
– Sự so sánh sẽ là trực tiếp nếu như những thông tin đưa ra làm chokhách hàng có khả năng xác định được loại sản phẩm, nhóm doanh nghiệp bị so sánh
mà không cần phải gọi tên các doanh nghiệp cụ thể nào
Quảng cáo so sánh là hành vi cạnh tranh không lành mạnh bởi những lý do sauđây:
– Việc quảng cáo bằng cách so sánh trực tiếp với hàng hóa, dịch vụcùng loại của doanh nghiệp khác đã vượt quá giới hạn cho phép và nhiệm vụ của hoạtđộng quảng cáo Quảng cáo là việc doanh nghiệp giới thiệu về sản phẩm để xúc tiếnviệc tiêu thụ sản phẩm nên những thông tin được đưa ra phải là những thông tin vềhàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp thực hiện quảng cáo Mọi hành vi dùng thông tin
về sản phẩm cùng loại của người khác để tạo ấn tượng, đề cao sản phẩm của mình đều
đi ngược lại bản chất của việc quảng cáo
– Sự so sánh thể hiện mong muốn dựa dẫm vào sản phẩm của người
khác, nhất là những sản phẩm nổi tiếng Ví dụ như quảng cáo cho rằng sản phẩm đượcquảng cáo có chất lượng không thua gì một sản phẩm quen thuộc đối với người tiêudùng hoặc một sản phẩm rất nổi tiếng trên thị trường nhằm đề cao vị thế của mình, hạ
Trang 38thấp uy tín của sản phẩm cùng loại của doanh nghiệp khác trên thị trường liên quan.Pháp lệnh Quảng cáo cũng có quy định tương tự về hành vi quảng cáo so sánh.
6.2 Bắt chước sản phẩm quảng cáo để gây nhầm lẫn cho khách hàng
Sản phẩm quảng cáo là những thông tin bằng hình ảnh, hành động, âm thanh,tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, màu sắc, ánh sáng… chứa đựng nội dung quảng cáo,được trình bày thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, pano, áp phích… đểđưa các thông tin mà nó chứa đựng đến với khách hàng Sự hấp dẫn của cách thứctrình bày và nội dung trong sản phẩm quảng cáo quyết định mức độ thu hút của nó đốivới khách hàng làm cho mục đích quảng cáo sẽ đạt được hiệu quả Bên cạnh nâng caonăng lực cạnh tranh qua giá cả, qua chất lượng, việc cạnh tranh qua hoạt động quảngcáo diễn ra rất quyết liệt đòi hỏi các sản phẩm quảng cáo của các doanh nghiệp ngàycàng đa dạng, hấp dẫn và có quy mô đầu tư ngày càng lớn Chi phí dành cho quảngcáo trong cơ cấu chi phí kinh doanh của doanh nghiệp cũng chiếm một tỷ lệ khôngnhỏ Sự lựa chọn ngày càng khắt khe của người tiêu dùng trong môi trường cạnh tranh
đa thông tin và đa phương tiện đã buộc mọi doanh nghiệp phải biết cách xây dựngchiến lược đầu tư để tạo ra các sản phẩm quảng cáo độc đáo, ấn tượng đối với kháchhàng. Trước tình hình đó, xuất hiện nhiều toan tính không lành mạnh bằng cách bắtchước sản phẩm quảng cáo của người khác nhằm gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng.Bắt chước sản phẩm quảng cáo là việc dùng các thông tin, hình ảnh, âm nhạc, màu sắc,chữ viết… giống với sản phẩm của doanh nghiệp khác đã công bố trước đó với mụcđích gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, về chất lượng… của sản
phẩm được quảng cáo Luật Cạnh tranh không thể xác định cụ thể mức độ bắt chước của sản phẩm quảng cáo nhái so với sản phẩm quảng cáo bị nhái để có thể gây
nhầm lẫn cho khách hàng Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, cơ quan thực thipháp luật sẽ xác định căn cứ vào tình hình cụ thể của sự việc và của thị trường Về vấn
đề này, Pháp lệnh quảng cáo cấm doanh nghiệp thực hiện việc quảng cáo gây nhầm lẫn với cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của người khác.
6.3 Quảng cáo đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng
Luật Cạnh tranh cấm doanh nghiệp thực hiện hành vi “đưa thông tin gian dốihoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng trong hoạt động quảng cáo về một trong các nộidung sau: giá, số lượng, chất lượng công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày sản
Trang 39xuất, thời hạn sử dụng, xuất xứ hàng hoá, người sản xuất, nơi sản xuất, người gia công,nơi gia công; cách thức sử dụng, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành; và các nộidung gian dối hoặc gây nhầm lẫn khác”(Khoản 3 Điều 46 Luật Cạnh tranh.)
Các thông tin về giá, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng,chủng loại… được liệt kê trong Luật Cạnh tranh là những thông tin có ý nghĩa quantrọng tác động đến sự lựa chọn của khách hàng đối với sản phẩm quảng cáo Các thôngtin bị sai lệch sẽ làm cho sự lựa chọn sẽ không chính xác Hành vi gian dối trongquảng cáo bằng cách làm sai lệch nhận thức, gây nhầm lẫn trong ý thức lựa chọn củakhách hàng đều là không lành mạnh Pháp luật cạnh tranh và pháp luật chuyên ngànhtrong lĩnh vực quảng cáo quy định ngăn cấm việc quảng cáo gian dối Căn cứ Khoản 3Điều 46 Luật Cạnh tranh, hành vi này có hai cấp độ vi phạm: đầu tiên là quảng cáogian dối Cụ thể, đó là việc doanh nghiệp cung cấp các thông tin quảng cáo về giá, sốlượng, chất lượng… sai sự thật khách quan Với cấp độ này, để xác định hành vi, cơquan có thẩm quyền chỉ cần đối chiếu nội dung của thông tin quảng cáo với thực tếkhách quan Tiếp đó là quảng cáo đưa thông tin nhầm lẫn Cụ thể là việc doanh nghiệpcung cấp những thông tin có khả năng gây nhầm lẫn cho khách hàng về giá, số lượng,chất lượng, công dụng của sản phẩm… Trong trường hợp này, thông tin quảng cáochưa là gian dối, song lại có thể làm cho khách hàng hiểu không chính xác về nội dungquảng cáo với điều kiện khách hàng đang trong trạng thái bình thường
Để xác định sự gian dối trong hành vi quảng cáo, cần có quy trình thẩm địnhthông tin một cách khoa học và trung thực Phải phân tích, so sánh tính đúng đắn củanhững thông số kinh tế – kỹ thuật liên quan đến giá, sản phẩm
Trên thị trường Việt Nam hiện nay, việc kiểm soát tính trung thực của các thôngtin về quảng cáo một cách qua loa, chiếu lệ đã làm cho người tiêu dùng cảm thấy loạihàng hoá nào cũng tốt nhất trái với thực tế khi sử dụng hàng hoá không
7 Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh (Điều 46 Luật Cạnh tranh.)
Sự hiếu kỳ và hám lợi của con người (nhất là khi họ lại là người tiêu dùng) đượccác nhà kinh doanh khai thác thông qua hoạt động quảng cáo và khuyến mại nhằm xúctiến việc tiêu thụ sản phẩm của mình Quảng cáo là hình thức thoả mãn tính hiếu kỳbằng thông tin đưa ra cho thị trường, khuyến mại là việc dùng lợi ích vật chất để
Trang 40khuyến khích mua hàng Người tiêu dùng khi mua hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp
có khuyến mại sẽ được dành cho những lợi ích vật chất nhất định trước hoặc sau khimua hàng (Trường ĐH Luật Hà nội, Giáo trình Luật thương mại (NXB Công an nhândân, 2001), tr 288.) ngoài giá trị sử dụng của hàng hoá, dịch vụ Các hình thức khuyếnmại bao gồm việc đưa hàng mẫu để khách hàng dùng thử mà không phải trả tiền; việctặng hàng hoá, cung ứng dịch vụ không lấy tiền; việc bán hàng với giá thấp hơn giábình thường trước đó; việc tổ chức các giải thưởng.v.v
Để điều chỉnh hoạt động khuyến mại, Luật Thương mại năm 2005 quy định vềhình thức, chủ thể và cách thức tổ chức hoạt động khuyến mại của thương nhân Dướigóc độ của lý thuyết cạnh tranh, là một trong những cách thức thu hút, tranh giành vàtạo thói quen tiêu dùng cho khách hàng bằng những chiến dịch, khuyến mại có thể làmxuất hiện nhiều khả năng tranh giành một cách không lành mạnh Theo quy định củaLuật Cạnh tranh, những hành vi khuyến mại sau đây sẽ bị coi là cạnh tranh không lànhmạnh:
- Tổ chức khuyến mại mà gian dối về giải thưởng Hành vi này xảy
ra khi doanh nghiệp thực hiện khuyến mại bằng hình thức tổ chức giải thưởng nhưng
đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng giải thưởng đã công bố trước đó
– Khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hoá, dịch vụ để lừa dối khách hàng. Trong trường hợp này, hoạt động khuyến mại được
doanh nghiệp sử dụng làm công cụ để làm cho khách hàng bị nhầm lẫn về hàng hóa,dịch vụ Ví dụ, doanh nghiệp tặng hàng mẫu cho khách hàng dùng thử với chất lượngcao hơn so với hàng hóa đang được bán trên thị trường
Hai hành vi này được thực hiện với thủ đoạn đưa những thông tin gian dối về giảithưởng, không trung thực về hàng hoá, dịch vụ hoặc gây nhầm lẫn để lừa dối ngườitiêu dùng Bản chất lừa dối của hành vi khuyến mại khác với sự lừa dối trong quảngcáo ở chỗ, quảng cáo lừa dối là việc doanh nghiệp không trung thực khi đưa ra cácthông tin trực tiếp về giá, số lượng, chất lượng… của hàng hoá, dịch vụ được quảngcáo, trong khi đó, lừa dối trong khuyến mại là việc các doanh nghiệp đã không trungthực về các lợi ích mà khách hàng sẽ được hưởng hoặc dùng các lợi ích đó để tạo ra sựnhận thức sai lệch về hàng hoá, dịch vụ của khách hàng Những hành vi như tổ chức
và công bố công khai về giải thưởng song không có giải thưởng hoặc giải thưởng