TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI LÊ THỊ DUNG HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT VUA LÊ VÀ VUA TÂY SƠN TRONG HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN Thanh Hóa, tháng 05 năm 2019.
Lịch sử vấn đề
Những công trình nghiên cứu về tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí và các nhân vật trong tác phẩm
và các nhân vật trong tác phẩm
Trải qua thời gian dài hơn một thế kỷ xuất hiện trong đời sống văn học,
Hoàng Lê nhất thống chí đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và độc giả, họ đã phân tích sâu về các giá trị nổi bật của tác phẩm, góp phần khẳng định vị trí quan trọng của nó trong lịch sử văn học Việt Nam trung đại Trong cuốn "Khảo và luận một số thể loại tác gia – tác phẩm Văn học trung đại Việt Nam" của Bùi Duy Tân, chương V đặc biệt dành riêng để bàn luận về tác phẩm này, thể hiện tầm quan trọng của nó trong sự nghiệp nghiên cứu và phát triển văn học cổ truyền Việt Nam.
Lê nhất thống chí: “Hoàng Lê nhất thống chí là một tập sách viết bằng chữ
Ngô Thời Chí là thành viên của bộ Ngô gia văn phái với tập toàn gồm 17 hồi, chia làm hai quyển Hiện nay chưa có bản chính, nhưng bản sao lưu giữ ghi nhận quyển đầu là "di thảo" của ông Gia đình Ngô Thời Chí nổi bật với truyền thống thi ca và còn lưu trữ nhiều tác phẩm quý bằng chữ Hán Cha và anh của ông đều giữ chức quan to trong triều Lê mạt Trong tác phẩm "Hoàng Lê nhất thống chí," chúng ta biết rằng thời Lê Chiêu Thống, Ngô Thời Chí đã đạt chức Thiêm thư bình chương.
Mặc dù Hoàng Lê nhất thống chí do nhiều người viết theo các hoàn cảnh khác nhau, nên một số phần có giá trị không đều và có những điểm không nhất trí, nhưng về cơ bản, các tác giả trước và sau vẫn hướng đến một phương hướng chung Nội dung tư tưởng và hình thức biểu đạt của tác phẩm vẫn giữ được sự nhất quán, phản ánh giá trị văn học và lịch sử đặc sắc của tác phẩm.
Trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, đến thế kỷ XVIII, xã hội chứng kiến sự chuyển biến nhanh và mạnh mẽ về giai cấp, với ý thức giai cấp rõ rệt hơn bao giờ hết Chế độ phong kiến suy yếu, các mâu thuẫn nội tại ngày càng gay gắt và gây ra những cuộc đấu tranh quy mô lớn chống lại chế độ, làm rung chuyển toàn bộ xã hội những năm cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX Hoàng Lê nhất thống chí là tập ký sự ghi lại những sự kiện lịch sử quan trọng trong giai đoạn này, phản ánh đời sống phong phú của nhân dân và hiện thực thời đại, từ đó giúp người đọc hình dung rõ nét về không khí đau thương, phẫn nộ nhưng cũng có cả niềm phấn khởi, tự hào của một quá trình lịch sử đầy biến động Tác phẩm còn mang sức mạnh nghệ thuật đặc biệt, giúp người đọc nhận thức rõ hơn về bộ mặt thực của giai đoạn lịch sử, vượt xa các phương pháp ghi chép lịch sử thông thường.
Cuốn “Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX” của Đặng Thanh Lê, Hoàng Hữu Yên, Phạm Luân phân tích giá trị nội dung của “Hoàng Lê nhất thống chí” là tác phẩm văn học có giá trị nhất trong kho tàng văn học Việt Nam Tác phẩm thể hiện tư tưởng hoài Lê mang tính bảo thủ của giới quý tộc, nhưng sức mạnh của hiện thực thời đại đã vượt qua quan điểm này, phản ánh chiều sâu và ý nghĩa khách quan vượt ngoài ý định chủ quan của tác giả Nội dung chính tập trung vào ngai vàng của vua Lê và chúa Trịnh, đồng thời nêu bật nhiều hạn chế khi bỏ qua các mốc phát triển lịch sử quan trọng của Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII, dẫn đến nội dung của tác phẩm có phần nghèo nàn và chưa phản ánh đầy đủ cuộc sống và lịch sử đất nước.
Sự suy thoái của chế độ phong kiến, bao gồm các tập đoàn vua chúa, quan liêu, quý tộc, đều là hậu quả của các cuộc khởi nghĩa nông dân liên tục nhằm vào thành trì của chế độ Quá trình này diễn ra theo quy luật tất yếu tại Việt Nam, Trung Quốc và nhiều nước phương Đông khác Sự tàn rụi của xã hội thượng lưu đương thời phản ánh chân thực và sinh động qua các tác phẩm, tạo nên giá trị đặc sắc trong văn học lịch sử.
Nhiều trang văn ghi lại những trải nghiệm, chìm nổi của chính tác giả hoặc của người thân quen Cuốn phim thời sự Hoàng Lê nhất thống chí tái hiện hơn 100 năm lịch sử, chủ yếu tập trung vào 20 năm cuối thế kỷ XVIII, từ cuối đời vua Cảnh Hưng, chúa Trịnh Sâm đến thời Tây Sơn và đầu triều Nguyễn Gia Long Nội dung phần sau của tác phẩm thể hiện sự sơ lược hơn so với phần trước, phản ánh rõ nét diễn biến lịch sử của giai đoạn này.
Hoàng Lê nhất thống chí phản ánh rõ nét sự sụp đổ hoàn toàn của các tập đoàn thống trị Lê, Trịnh, diễn ra trong giai đoạn cuối cùng của thời kỳ này Tác phẩm mô tả cảnh tượng như một ngôi nhà cũ nát trước cơn bão, với triều đình Lê Trịnh dột từ nóc dột xuống, nền móng, rường cột, phên dậu đều đổ sụp hoàn toàn Qua đó, tác giả đã khắc họa sinh động sự suy tàn của triều đình và lật tẩy thực trạng suy vong của bộ máy chính quyền phong kiến này.
Hoàng Lê nhất thống chí là tác phẩm mô tả sâu sắc sự suy sụp tận gốc của chế độ phong kiến Việt Nam, đặc biệt là sự sụp đổ của ý thức hệ cốt lõi - "phần hồn" của chế độ Chế độ phong kiến dựa trên tam cương ngũ thường để duy trì trật tự xã hội, nhưng lúc này đã bị đảo lộn, phá sản, thể hiện qua sự suy yếu của các nguyên tắc truyền thống Chính các vua Lê chúa cũng nhận thấy rõ sự khủng hoảng trong hệ thống cương thường, chứng tỏ sự sụp đổ của khuôn phép cũ trong thời kỳ thay đổi lớn của lịch sử Việt Nam.
Trinh đã tự tay phá nát mọi thứ kỷ cương bằng những cuộc chiến tranh đoạt đẫm máu như tác phẩm đã mô tả
Cuốn tiểu thuyết chương hồi này nổi bật với nghệ thuật kể chuyện độc đáo, thể hiện rõ nét tài năng của các tác giả như Lê Trí Viễn, Phan Côn, Đặng Thanh Lê, Phạm Văn Luận, và Lê Hoài Nam Các tác giả đã khéo léo kết hợp các yếu tố lịch sử và truyền thống dân tộc để tạo nên một tác phẩm hấp dẫn, giàu cảm xúc và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc Nội dung phong phú, cách kể chuyện sinh động cùng việc xây dựng nhân vật chân thực đã giúp cuốn tiểu thuyết trở thành một trong những tác phẩm tiêu biểu của văn học chương hồi Việt Nam Nghệ thuật xây dựng cốt truyện chặt chẽ, cùng với sự hài hòa trong ngôn ngữ và hình ảnh, đã góp phần làm nổi bật giá trị nghệ thuật và tác dụng giáo dục của tác phẩm.
“Hoàng Lê nhất thống chí là một tác phẩm ghi chép người thực việc thực, có giá trị cả về lịch sử lẫn văn học Mặc dù chưa hoàn chỉnh như một sáng tác nghệ thuật, tác giả chú trọng ghi lại các sự kiện hơn là xây dựng tính cách nhân vật, nhằm tạo cảm giác chân thực cho người đọc Tác phẩm được viết theo kiểu diễn nghĩa, mang đậm ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung Hoa cổ điển, với hình thức và kết cấu không theo phương pháp sử học mà theo phương pháp văn học Các chương, hồi trong truyện thường kết thúc ở những điểm cao trào của sự kiện, kích thích người đọc tiếp tục theo dõi để biết diễn biến tiếp theo Đặc biệt, tác phẩm không chỉ ghi chép những sự kiện lớn mà còn đưa vào nhiều chi tiết sinh động về đời sống thường ngày, thể hiện yêu cầu nghệ thuật của thể loại tiểu thuyết, mặc dù ở cuối tác phẩm, tác giả đôi khi bỏ quên yếu tố này.”
Nguyễn Lộc trong “Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – hết thế kỷ XIX” nhấn mạnh rằng “Hoàng Lê nhất thống chí dựng lên bức tranh rộng lớn, phức tạp và chân thực về xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX,” phản ánh giai đoạn khủng hoảng nghiêm trọng, thời kỳ đen tối và bế tắc của xã hội phong kiến Việt Nam Tác phẩm này được coi là một thiên ký sự lịch sử đồ sộ, ghi lại trung thành và sâu sắc những biến cố quan trọng của thời đại cùng hàng trăm nhân vật thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác nhau Nguyễn Lộc cũng đề cập đến nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật anh hùng và gian hùng trong bối cảnh loạn lạc, thể hiện rõ nét tài năng nghệ thuật trong các tác phẩm lịch sử này.
Phạm Tú Châu trong bài viết “Hoàng Lê nhất thống chí – tác giả, văn bản và nhân vật” nhấn mạnh rằng tác phẩm phản ánh một giai đoạn lịch sử đặc biệt với nhiều sự kiện lớn lao, mới lạ và chứa đựng nhiều bài học sâu sắc, thu hút sự quan tâm của nhiều độc giả Ông cho biết rằng các bộ sử chính của triều Nguyễn hoặc sách sử tư nhân thường bỏ qua hoặc ghi chép thiếu rõ ràng các sự kiện này, điều đó khiến người đọc cảm thấy chưa thỏa mãn và buộc phải bổ sung thông tin để hiểu thêm về thời kỳ lịch sử này.
Phạm Tú Châu đã khảo sát bản nền chung cho ba văn bản để tiến hành xác nhận bản in, nhằm chọn ra phiên bản Hoàng Lê nhất thống chí bằng chữ Hán hoàn chỉnh nhất Mục đích của việc này là khẳng định tính chính xác cao nhất của bản dịch của Nguyễn Đức Vân và Kiều Thu Hoạch.
Ngô Gia Văn Phái là tên gọi tổng hợp các tác phẩm nhiều thể loại và phản ánh tư tưởng của các nhà văn trong dòng họ Ngô Thì, nhằm thay thế tên tác giả cụ thể do còn nhiều băn khoăn về việc xác định các tác giả của tác phẩm Phạm Tú Châu sử dụng thuật ngữ này để thể hiện sự đoàn kết và thống nhất trong công trình nghiên cứu, đồng thời tránh nhầm lẫn giữa các tác giả trong giai đoạn chưa rõ ràng, đặc biệt liên quan đến việc xác định tác giả "Hoàng Lê nhất thống chí."
Những công trình nghiên cứu về vua Lê và vua Tây sơn trong Hoàng Lê nhất thống chí
Hiện tại, chưa có công trình nghiên cứu nào xác minh chi tiết về vua Lê và vua Tây Sơn Các nhà nghiên cứu thường chỉ đề cập đến các vấn đề liên quan mà không đi sâu vào nội dung cụ thể, và số lượng nghiên cứu về chủ đề này còn hạn chế Một số công trình tiêu biểu đã được đề cập, nhưng vẫn chưa đủ để hình thành một nghiên cứu toàn diện về các vị vua này.
Trong cuốn giáo trình “Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – hết thế kỷ XIX”, tác giả Nguyễn Lộc phân tích chân dung các nhân vật vua chúa tiêu biểu, đánh giá xã hội phong kiến lúc bấy giờ là nơi cương thường đảo lộn, con người mất đi tình nghĩa, thay vào đó là thù hận và xung đột Ông nhấn mạnh rằng tất cả các giá trị tinh thần đều bị sụp đổ trong một xã hội vua chúa khó lường, hỗn loạn Bên cạnh đó, tác giả còn phân tích sâu sắc sức mạnh của các phong trào cách mạng diễn ra trong giai đoạn này, cho thấy tác động to lớn đối với sự biến đổi của xã hội Việt Nam.
Tây Sơn và hình ảnh đẹp của Nguyễn Huệ.
Trong “Lời giới thiệu” của tác phẩm “Hoàng Lê nhất thống chí”, Kiều Thu Hoạch đã đưa ra những đánh giá có giá trị về xã hội phong kiến, chỉ rõ rằng các nhân vật của giới trên trong xã hội không còn là những thần tượng tôn quý nhờ vào những nét viết hiện thực sắc bén của các tác giả Ông nhấn mạnh rằng, “Dưới ngòi bút hiện thực sắc bén của các tác giả, những nhân vật lớp trên của xã hội phong kiến không còn là những thần tượng thiêng liêng tôn quý Bên phủ Liêu, chúa chẳng ra chúa, vua chẳng ra vua,” thể hiện rõ sự phê phán sâu sắc trạng thái mất uy quyền của các tầng lớp lãnh đạo phong kiến đương thời Khi đánh giá về phong trào Tây Sơn, Kiều Thu Hoạch tiếp tục thể hiện cái nhìn khách quan và sắc sảo, góp phần làm rõ vai trò của cuộc cách mạng này trong quá trình thay đổi xã hội.
Thu Hoạch cho rằng dù đứng ở phía đối lập, nhưng tác giả vẫn dành nhiều sự trân trọng cho lực lượng Tây Sơn, tiêu biểu là người anh hùng Nguyễn Huệ, người xuất hiện như một anh hùng kiệt xuất của thời đại Trong cuốn “Đặc điểm văn học trung đại, Những vấn đề văn xuôi tự sự” của Nguyễn Đăng Na, từ trang 90 đến 124, tác giả trình bày cách tiếp cận nhân vật đa chiều một cách thuyết phục, giúp độc giả hiểu rõ chân dung các nhân vật và tư tưởng Ngô gia Đỗ Đức Dục trong bài viết “Tính cách điển hình trong Hoàng Lê nhất thống chí” (Tạp chí văn học số 9-1968) nhấn mạnh rằng điểm đặc biệt của tác phẩm chính là khả năng khắc họa nhân vật và tính cách một cách sinh động Cuốn “Thi pháp văn học trung đại Việt Nam” (NXB Đại học Quốc gia) cũng đã phân tích sâu về phong cách và kỹ thuật xây dựng nhân vật trong văn học trung đại Việt Nam.
Trong tác phẩm của Trần Đình Sử, nghệ thuật xây dựng nhân vật được thể hiện rõ qua việc mô tả nhân vật bằng âm mưu, lời đối thoại, cử chỉ, tiếng cười và tiếng khóc một cách cô đọng Ông nhận xét rằng, các nhân vật không chỉ được khắc họa qua hành động mà còn qua cảm xúc chân thực, tạo nên hình ảnh sống động, sâu sắc trong lòng người đọc Phương pháp này góp phần làm nổi bật đặc điểm tâm lý nhân vật, mang lại sự sinh động và chân thực cho tác phẩm.
Ngoài ra, Nguyễn Thị Chung Thủy trong Luận văn thạc sĩ với đề tài
"Hoàng Lê nhất thống chí giúp độc giả hiểu rõ hơn về giá trị và vẻ đẹp của tác phẩm trong bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII." "Tác giả Ngô Thì đã phản ánh chân thực những vấn đề lớn của xã hội Việt Nam thời kỳ nửa cuối thế kỷ XVIII, từ cảnh rối loạn của tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh đến cuộc sống khó khăn của nhân dân." "Cuộc kháng chiến chống lại sự sụp đổ của triều đình Lê – Trịnh và hình ảnh người anh hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ trong phong trào Tây Sơn được miêu tả chân thực và sinh động." "Hoàng Lê nhất thống chí là tác phẩm văn xuôi sinh động, tổng hợp lại lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XVIII một cách sinh động và chân thực."
Cao Thị Vân Anh trong khóa luận tốt nghiệp, với đề tài mang tên
Trong tác phẩm “Hoàng Lê nhất thống chí với cuộc khởi nghĩa Tây Sơn,” yếu tố sử thi được thể hiện rõ nét, góp phần làm nổi bật khí thế của lịch sử và hình tượng các anh hùng tiêu biểu như Nguyễn Huệ – Quang Trung trong bối cảnh thời đại biến động dữ dội Khái quát này khẳng định rằng việc kết hợp tài tình giữa bút pháp sử thi và hiện thực đã tạo nên hình tượng người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ chân thực, hào hùng nhưng vẫn gần gũi, thân quen Các nhà văn họ Ngô Thì đã thêm luồng gió mạnh vào cơn lốc cách mạng văn học cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, dần dần thoát khỏi phương thức tư duy nghệ thuật trung đại và mở ra hướng đi mới cho văn học Việt Nam.
Nghiên cứu về các nhân vật vua Lê và vua Tây Sơn trong Hoàng Lê nhất thống chí vẫn còn thiếu những công trình hệ thống và sâu sắc Đa số các tác giả tập trung vào thành công nghệ thuật xây dựng nhân vật và hình tượng vua chúa nói chung, nhưng chưa đi sâu vào phân tích chi tiết các nhân vật này Nhiều vấn đề liên quan đến nội dung xã hội còn bỏ ngỏ, chưa được khai thác đầy đủ trong các nghiên cứu trước đó Những công trình này đã cung cấp cho tôi những ý tưởng và kiến thức quý giá để phát triển khóa luận một cách toàn diện và sâu sắc hơn.
Mục đích nghiên cứu
Trong bài viết này, tôi muốn tập trung khai thác nghệ thuật xây dựng hình tượng các nhân vật lịch sử như vua Lê, chúa Trịnh và vua Quang Trung để làm rõ nét đặc sắc trong cách khắc họa nhân vật Qua đó, ta có thể nhận thấy sự khác biệt và điểm nổi bật trong phương pháp xây dựng hình tượng nhân vật của tác giả, góp phần làm tăng giá trị nghệ thuật và ý nghĩa lịch sử của các nhân vật này Việc phân tích các nhân vật này giúp làm rõ nghệ thuật miêu tả tâm lý, tính cách và vai trò của họ trong các tác phẩm văn học, từ đó thể hiện rõ nét chủ đề và nội dung của tác phẩm.
Khi phân tích chi tiết đề tài, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về cấu trúc và đặc điểm của tiểu thuyết chương hồi trong văn học trung đại Việt Nam Đồng thời, việc khám phá các nhân vật trong tiểu thuyết giúp làm rõ nội dung và ý nghĩa của tác phẩm, từ đó nâng cao kiến thức về văn học trung đại Việt Nam.
Trong tiểu thuyết này, các tác giả đã thành công khi sử dụng các thủ pháp xây dựng hình tượng nhân vật vua Lê và vua Tây Sơn, góp phần thể hiện thành tựu nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm Những hình tượng tiêu biểu này không chỉ phản ánh giá trị nghệ thuật mà còn mở ra góc nhìn mới để khám phá đề tài và ý nghĩa sâu xa của tác phẩm Đây là một cách tiếp cận sáng tạo giúp người đọc hiểu rõ hơn về các giá trị lịch sử và nhân văn được truyền tải qua tác phẩm.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp khảo sát thống kê giúp tôi nắm bắt tổng quan về các nhân vật trong "Hoàng Lê nhất thống chí," bao gồm tần suất xuất hiện và vai trò của từng nhân vật ở các chương, hồi khác nhau Kỹ thuật này cung cấp dữ liệu chính xác, rõ ràng để phân tích nội dung một cách khoa học và khách quan Việc sử dụng phương pháp thống kê còn giúp xác định những nhân vật trung tâm và những điểm nhấn quan trọng trong tác phẩm Nhờ đó, quá trình nghiên cứu trở nên hệ thống hơn, đảm bảo phân tích đúng thực tế và nâng cao độ tin cậy của kết quả.
Phương pháp thống kê phân loại giúp tôi có cái nhìn toàn diện về các nhân vật qua từng chương, hồi khác nhau Việc phân chia các nhân vật dựa trên lai lịch, xuất thân, tính cách và hoàn cảnh sống của họ giúp hiểu rõ ảnh hưởng của từng nhân vật đối với lịch sử và xã hội đương thời Phương pháp này làm nổi bật vai trò và ảnh hưởng của từng nhân vật trong bối cảnh lịch sử cụ thể, từ đó góp phần phân tích sâu sắc hơn về tác động của họ.
Phương pháp phân tích, tổng hợp đóng vai trò quan trọng trong quá trình nghiên cứu tác phẩm, bao gồm phân tích cả về nội dung và phương thức thể hiện Quá trình phân tích giúp xác định các dữ liệu cần thiết, từ đó tiến hành tổng hợp và khái quát các vấn đề chính của tác phẩm Cuối cùng, dựa trên những dữ liệu đã phân tích và tổng hợp, phương pháp này giúp đưa ra kết luận chính xác và rõ ràng nhất.
Trong bài viết, phương pháp so sánh được sử dụng để làm rõ sự đối lập giữa hai hình tượng vua Lê và vua Tây Sơn, đại diện cho hai triều đại khác nhau trong lịch sử Việt Nam Vua Lê tượng trưng cho chế độ phong kiến đương thời, phản ánh giai đoạn truyền thống và quyền lực vua chúa, trong khi đó, hình tượng vua Tây Sơn, tiêu biểu là Nguyễn Huệ, thể hiện hình ảnh những anh hùng áo vải đã lập nên những chiến công vang dội cho đất nước Dù hai nhân vật này mang những đặc điểm khác biệt, nhưng cả hai đều góp phần tạo nên bức tranh lịch sử đầy biến động, thăng trầm của dân tộc Việt Nam.
Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của khóa luận gồm có ba chương:
-Chương 1: Khái quát chung về hình tượng nhân vật và tác phẩm Hoàng
-Chương 2: Hình tượng nhân vật vua Lê và vua Tây Sơn trong “Hoàng
Lê nhất thống chí” về phương diện nội dung.
-Chương 3: Hình tượng nhân vật vua Lê và vua Tây Sơn trong “Hoàng
Lê nhất thống chí” về phương diện nghệ thuật.
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT VÀ TÁC PHẨM HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ
Khái quát về hình tượng nhân vật
1.1.1 Khái niệm về nhân vật
Nhân vật luôn được coi là yếu tố trung tâm của tác phẩm văn học, là nơi nhà văn thể hiện tư tưởng, thẩm mỹ và quan điểm sáng tạo của mình Trong văn học, nhân vật mang tính ước lệ, không phải là bản dập khuôn như con người ngoài đời thực mà phản ánh các hình tượng nghệ thuật đa dạng Nhân vật được xây dựng dựa trên nhiều quan điểm, nhiều bình diện và cấp độ khác nhau, thể hiện chiều sâu tâm lý và vận động nội tâm linh hoạt của tác phẩm Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về nhân vật, nhấn mạnh vai trò quan trọng của nó trong việc truyền đạt tư tưởng và tạo nên giá trị nghệ thuật của tác phẩm văn học.
Nhân vật văn học là khái niệm mô tả hình tượng của con người trong tác phẩm, thể hiện qua quá trình nhà văn nhận thức, tái tạo và biểu đạt bằng các phương tiện nghệ thuật ngôn từ độc đáo Đó chính là cách nhà văn khắc họa sâu sắc các đặc điểm cá nhân, tạo nên sự chân thực và sinh động cho nhân vật trong văn học.
“Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học”[6; tr 45]
Nhân vật là yếu tố cơ bản nhất trong tác phẩm văn học, đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện chủ đề chính của tác phẩm Nhân vật cũng là trung tâm để các yếu tố hình thức tập trung khắc họa, giúp truyền tải giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm một cách sinh động Vì vậy, nhân vật chính là nơi hội tụ những giá trị nghệ thuật và ý nghĩa sâu sắc của tác phẩm văn học.
Nhân vật văn học không chỉ là con người có tên hoặc không tên được khắc họa trong tác phẩm, mà còn có thể là các sự vật, loài vật khác nhau, phản ánh sâu sắc ý tưởng và chủ đề của tác phẩm Có nhiều định nghĩa về nhân vật, từ những nhân vật cụ thể như Tấm, Cám, Thúy Kiều, A Phủ đến những nhân vật không tên như thằng bán tơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, thể hiện tính đa dạng và phong phú của nhân vật trong văn học Nhân vật là yếu tố trung tâm, mang tính khái quát cao, giúp tác phẩm truyền tải tư tưởng, chủ đề và dụng ý nghệ thuật của nhà văn một cách sinh động và sâu sắc.
Trong tác phẩm văn học, đặc biệt là trong tiểu thuyết, nhân vật giữ vai trò quan trọng như là mắt xích cơ bản liên kết các biến cố và sự kiện, đồng thời là công cụ giúp nhà văn triển khai tư tưởng chủ đề Nhân vật góp phần làm cho tác phẩm sinh động, hấp dẫn hơn, đưa người đọc khám phá, tưởng tượng và suy ngẫm về cuộc sống thực trong tác phẩm Vai trò của nhân vật được thể hiện qua ba khía cạnh chính: là phương diện để nhà văn khái quát hiện thực, là phương diện cốt yếu thực hiện tư tưởng của tác phẩm, và quyết định hình thức thể hiện như lựa chọn chi tiết, ngôn ngữ, kết cấu và biện pháp nghệ thuật Các nhà nghiên cứu phân loại nhân vật thành ba loại chính: nhân vật chính, nhân vật trung tâm và nhân vật phụ Nhân vật chính giữ vai trò then chốt trong tổ chức và triển khai câu chuyện, xuất hiện trong các tình huống và xung đột; số lượng của nhân vật này phụ thuộc vào ý đồ sáng tạo của tác giả Nhân vật trung tâm đồng thời là nhân vật chính quyết định phát triển chủ đề của tác phẩm, tham gia vào các xung đột và tổ chức các xung đột nhỏ và lớn Nhân vật phụ đóng vai trò thứ yếu, có thể xuất hiện ít hoặc thoáng qua, giúp làm rõ tính cách và số phận nhân vật chính, đồng thời có ý nghĩa tương đối độc lập trong câu chuyện.
1.1.2 Vai trò của nhân vật trong tác phẩm
Trong văn học, nhân vật đóng vai trò không thể thiếu vì là phương tiện chính để nhà văn khái quát hiện thực một cách ấn tượng Nhân vật được sáng tạo để thể hiện nhận thức của nhà văn về cá nhân, loại người hoặc các vấn đề của đời sống Nhân vật chính dẫn dắt độc giả vào thế giới riêng của đời sống trong một thời kỳ lịch sử nhất định, phản ánh quan điểm và cảm xúc của tác giả Theo Phêđin, nhân vật là một công cụ tinh vi và sắc bén để khai thác các bí mật của xã hội và tâm hồn con người, như trong tác phẩm "Sống lại" của L Toonxtôi, nơi nhân vật Nhêkhiliuđốp thể hiện rõ nét những bí mật của người Nga bị bóp nghẹt dưới chế độ Nga hoàng Thay thế nhân vật chính sẽ khiến tác phẩm mất đi tính chân thực và ý nghĩa vốn có.
Nhân vật trong tác phẩm rất đa dạng và đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện chủ đề, tư tưởng của tác phẩm Các loại nhân vật gồm nhân vật chính, nhân vật phụ và nhân vật trung tâm, trong đó nhân vật chính xuất hiện nhiều nhất và giữ vai trò chủ đạo Truyện Kiều có nhiều nhân vật chính như Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải, Thúc Sinh, Hồ Tôn Hiến, với nhân vật trung tâm là Thúy Kiều, còn trong Tắt đèn, nhân vật trung tâm là chị Dậu Bên cạnh đó, các nhân vật phụ như Lý Cường, bà cô Thị Nở trong tác phẩm hay các nhân vật trong Chí Phèo của Nam Cao mang tính sinh động hoặc chỉ xuất hiện qua vài tình tiết Xét về quan hệ lý tưởng xã hội, nhân vật chính diện đại diện cho những lý tưởng, đạo đức tốt đẹp của tác giả và thời đại, còn nhân vật phản diện phản ánh những phẩm chất xấu xa, trái đạo lý, thường bị tác giả phê phán và phủ định Nhân vật lý tưởng thể hiện lý tưởng sống cao đẹp của một giai cấp hoặc dân tộc, góp phần truyền tải thông điệp tiến bộ của tác phẩm.
Trong văn học cổ đại và trung cổ, các nhân vật thường xuất hiện với chức năng nhất định như mụ phù thủy trong Tấm Cám hay bà phù thủy trong Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn, phản ánh khuynh hướng xã hội và quan niệm đạo đức của từng thời kỳ Ngoài ra, có những nhân vật mang tính tư tưởng như Giave trong Những người khốn khổ của Victor Hugo, thể hiện quan điểm phụng sự pháp luật hoặc tư tưởng nhân đạo, góp phần thể hiện đặc trưng tư tưởng của tác phẩm Các loại nhân vật này thường không có đời sống nội tâm rõ ràng, chủ yếu thể hiện qua hành động, và việc phân loại nhân vật cần linh hoạt dựa trên khả năng phản ánh thực tế và mục đích nghệ thuật của nhà văn Trong tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu, có sự phân biệt rõ ràng giữa các tuyến nhân vật như Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Hớn Minh, Tử Trực và các nhân vật cha con Võ Thể Loan, Bùi Khiệm, Trịnh Hâm, thể hiện quan điểm về nhân vật chính diện và phản diện phù hợp với khuynh hướng xã hội và đạo đức của thời kỳ.
Khái quát về tác phẩm Hoàng lê nhất thống chí
Ngô Gia Văn Phái là một nhóm các nhà văn nổi bật của Việt Nam thuộc dòng họ Ngô Thì, sinh sống tại làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội) Nhóm văn này có hai tác giả chính: Ngô Thì Chí (1753-1788), làm quan dưới triều Lê Chiêu Thống, và Ngô Thì Du (1772-1840), làm quan dưới triều nhà Nguyễn Ngô Gia Văn Phái nổi bật với đóng góp trong văn học và hoạt động chính trị của thời kỳ cuối Lê – đầu Nguyễn.
Nhóm bút Ngô Gia văn phái gồm các nhân vật tiêu biểu như Ngô Thì Ức, Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Đạo, Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Chí, Ngô Thì Điển, Ngô Thì Hoàng, Ngô Thì Du, Ngô Thì Hương, Ngô Thì Hiệu và Ngô Thì Giai Họ là những nhà văn, nhà hiền triết có đóng góp to lớn trong nền văn học và tư tưởng Việt Nam thời kỳ phong kiến Nhóm Ngô Gia đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng nền văn học đặc sắc, phản ánh tư tưởng, đạo đức và truyền thống dân tộc qua các tác phẩm của mình.
Ngô Thì Lữ và Ngô Thì Đậu, đại diện cho dòng họ Ngô Gia văn phái, đã để lại di sản hơn 200 năm sáng tác phản ánh sâu sắc về xã hội, chính trị, văn hóa và văn học Việt Nam qua nhiều triều đại Đây là một phần quan trọng thể hiện lịch sử và đời sống của đất nước qua các thời kỳ Trong đó, đặc biệt nổi bật là tác phẩm “Hoàng” - cuốn tiểu thuyết chương hồi phản ánh chân thực về triều đại Tây Sơn, mang ý nghĩa lịch sử và văn hóa to lớn của Việt Nam.
1.2.2 Hệ thống nhân vật trong Hoàng Lê nhất thống chí
Hoàng lê nhất thống chí là một cuốn tiểu thuyết lịch sử lấy phong cách chương hồi, ghi chép chân thực về cuộc đấu tranh quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến thời Lê mạt và phong trào Tây Sơn Tác phẩm phản ánh rõ nét những biến động lớn của lịch sử Việt Nam, góp phần lưu giữ các sự kiện quan trọng của thời kỳ này Đây là tác phẩm mang giá trị lịch sử và văn hóa đặc biệt, giúp độc giả hiểu rõ hơn về giai đoạn đổi thay của đất nước.
Trong 30 năm cuối thế kỷ thứ 18, từ khi Trịnh Sâm lên ngôi chúa năm 1767 đến khi Nguyễn Ánh đăng quang năm 1802, đất nước Việt Nam trải qua giai đoạn nhiều biến động lớn Thời kỳ này chứng kiến sự đảo lộn toàn diện về cơ cấu xã hội phong kiến cũng như những hình thái ý thức, tư tưởng và đạo đức truyền thống, gây ảnh hưởng sâu rộng đến nền tảng văn hóa và lịch sử của đất nước.
Hệ thống nhân vật vua chúa đóng vai trò trung tâm trong việc thể hiện nội dung và tư tưởng thẩm mỹ của Ngô Gia, qua đó phản ánh sự sâu sắc trong tác phẩm Mặc dù số lượng nhân vật này ít hơn so với toàn bộ thế giới nhân vật (chỉ chiếm 13/400), nhưng lại có ý nghĩa lớn trong bối cảnh lịch sử đầy biến động của dân tộc Những nhân vật này giữ vai trò then chốt trong việc tổ chức, triển khai cốt truyện, đồng thời quyết định vận mệnh lịch sử của đất nước.
Trong 13 nhân vật xuất hiện, có những nhân vật được tác giả khắc họa sắc nét, rõ ràng để biểu đạt một tưởng, chủ đề chính của tác phẩm Đó là vua
Trong bài viết, các nhân vật lịch sử như Lê, chúa Trịnh và Nguyễn Huệ đóng vai trò quan trọng, thể hiện những nét đặc trưng của thời kỳ đấu tranh và giành độc lập Nguyễn Ánh mặc dù xuất hiện ở phần cuối tác phẩm nhưng giữ vai trò kết thúc một giai đoạn lịch sử, đưa đất nước thống nhất Bắc – Nam Các nhân vật như chúa Nguyễn Phúc Thuần, vua Tây Sơn (Nguyễn Nhạc, Quang Thiệu, Quang Toản) và vua Thanh dù ít xuất hiện nhưng góp phần làm rõ diện mạo vua chúa, tăng cường giá trị tư tưởng chung của tác phẩm Từ đó, khóa luận nhấn mạnh rằng các tập đoàn phong kiến là phần thiết yếu của tiến trình lịch sử, với hình tượng người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đại diện cho tinh thần chống ngoại xâm và sức mạnh của tầng lớp nông dân trong thời kỳ đổi mới.
Thống kê khảo sát nhân vật vua Lê, vua Tây Sơn
STT Nhân vật vua Lê
Nhân vật vua Tây Sơn Số lượt được kể
1 Lê Hiển Tông Hồi 1: 1 Nguyễn Nhạc
Hồi 4: 6 Hồi 6: 12 Hồi 9: 4 Hôi 13: 1 Hồi 17: 1
2 Lê Duy Cận Hồi 3: 2 Nguyễn Huệ
Hồi 4: 30 Hồi 6: 8 Hồi 7: 2 Hồi 9: 6 Hồi 10: 2 Hồi 11: 6 Hồi 12: 1 Hồi 14: 10 Hồi 15: 6 Hồi 16: 3
Hồi 3: 5Hồi 6: 10Hồi 7: 6Hồi 8: 2Hồi 9: 6Hồi 10: 9Hồi 11: 11Hồi 12: 9Hồi 14: 1Hồi 15: 5
"Hoàng Lê nhất thống chí" là tác phẩm văn xuôi chữ Hán thuộc tùng thư của "Ngô gia văn phái", đây là bộ sưu tập gồm nhiều tác phẩm văn học, sử học và triết học của dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Sơn Bình Tác phẩm là một cuốn tiểu thuyết lịch sử theo lối chương hồi, được viết bởi nhiều tác giả liên tục qua các thời kỳ khác nhau Nội dung chính của tác phẩm phản ánh cuộc tranh đoạt ngôi vị dữ dội giữa các tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh và cuộc nổi dậy sôi động của phong trào Tây Sơn, mang đậm khí thế của thời kỳ lịch sử đầy biến động này.
Thời gian từ cuối thế kỷ XVIII, kể từ năm 1767 khi Trịnh Sâm lên ngôi chúa đến năm 1802 khi Nguyễn Ánh đăng quang, là giai đoạn khủng hoảng kéo dài của chế độ phong kiến Việt Nam Trong thời kỳ này, mâu thuẫn nội bộ giai cấp phong kiến và giữa giai cấp thống trị với nhân dân trở nên gay gắt chưa từng thấy, dẫn đến những biến cố lịch sử liên tiếp xảy ra, gây xáo trộn tận gốc cấu trúc xã hội và hệ tư tưởng Chương 1 của tác phẩm đã khái quát rõ ràng hình tượng vua Lê và vua Tây Sơn, tạo tiền đề cho các phân tích sau này Các tác giả sống trong thời kỳ hỗn loạn này, do đó những trải nghiệm và quan sát của họ ảnh hưởng sâu sắc đến thế giới quan, mặc dù phần lớn tác phẩm mang đậm quan điểm phong kiến chính thống, nhưng vẫn thể hiện rõ thái độ gần gũi, đồng cảm với nhân dân Tổng thể, Hoàng Lê nhất thống chí không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật có giá trị hiện thực phê phán mà còn thể hiện lòng tự hào dân tộc sâu sắc.
HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT VUA LÊ VÀ VUA TÂY SƠN
Hình tượng nhân vật vua Lê
Mặc dù không có thành tựu nổi bật, nhưng cuộc đời làm vua của Lê Hiển Tông vẫn mang nhiều điểm thú vị Lê Hiển Tông, tên thật là Lê Duy Niêu, được mô tả có mắt phượng và râu rồng, trải qua nhiều thử thách trong giai đoạn làm Thái tử Trong thời gian trị vì, ông phải đối mặt với nhiều loạn lạc của đất nước, nhưng về sau xã hội trở lại ổn định, dân cư an cư lạc nghiệp và đất nước thái bình Dù sinh ra trong gia đình vua chúa, nhưng giai đoạn này vua Lê mất hết quyền lực vào tay chúa Trịnh, như trường hợp của các vua trước như Lê Kính Tông thường bị chúa Trịnh bức tử.
Năm 1738, vua Lê Dụ Tông bị ép thoái vị do các thế lực Trịnh thống trị Một số hoàng thân nhà Lê nổi dậy chống lại sự lấn át của họ Trịnh, trong đó Lê Duy Mật đã tiến hành chính biến thất bại Sau khi Lê Duy Mật bỏ trốn, Lê Duy Niêu bị Trịnh Giang bắt giam, nhưng do ăn chơi sa đọa và liên tiếp hãm hại các vua Lê, Trịnh Giang bị ép thoái vị nhường ngôi cho Trịnh Doanh Trịnh Doanh theo đở chính sách ôn hòa, ưu tiên ổn định và thu phục lòng người thông qua đối xử tốt với các vua Lê Năm 1740, ông lên ngôi chúa, và Lê Duy Niêu bị đưa đến giam tại nhà cậu là Vũ Tất Thận Một đêm trước đó, Vũ Tất Thận mơ thấy thiên tử tới nhà, cờ quạt phấp phới, âm nhạc vang vọng, tượng trưng cho thái bình thịnh vượng Sáng hôm sau, ông kinh ngạc khi quân lính đưa hoàng tử đến, tin rằng đó là điềm may, và kể lại cho Trịnh Doanh Trịnh Doanh xem đó là điềm báo phúc lớn và tôn Lê Duy Niêu lên làm vua, đặt tên niên hiệu Hiển Tông Vĩnh Hoàng Đế.
Cảnh hưng (1740-1786)” [10;11] Vậy là nhờ vào giấc mơ của Vũ Tất Thận,
Hoàng tử Lê Duy Niêu đang từ thân phận tù nhân đã trở thành vua của nhà Hậu lê danh chính ngôn thuận
Lê Hiển Tông là vị vua sống thọ nhất của nhà Hậu Lê, kéo dài 69 năm, và có thời gian tại vị lâu nhất là 46 năm Trong suốt triều đại, ông chỉ sử dụng một niên hiệu duy nhất là Cảnh Hưng, được áp dụng không chỉ trong nội bộ triều đình mà còn ở các địa bàn do chúa Nguyễn chiếm đóng, với các văn bản hành chính vẫn sử dụng đúng niên hiệu này Sau khi vua qua đời, niên hiệu Cảnh Hưng vẫn tiếp tục được sử dụng cho đến năm 1802, khi vua Gia Long lên ngôi và thay thế bằng niên hiệu khác Trong thời gian trị vì, Lê Hiển Tông gần như không gặp phải sự phản kháng nào từ họ Trịnh, thậm chí còn có ý định trừng phạt những ai có ý định giúp vua giành lại quyền lực đã mất.
“Cương mục của triều Nguyễn” ghi nhận rằng vua Quang Trung Nguyễn Huệ là vị vua duy nhất có tới 3 con rễ làm vua, bao gồm vua Tây Sơn và vua Gia Long nhà Nguyễn, thể hiện mối liên hệ phức tạp trong dòng họ vua Việt Nam Lê Hiển Tông nổi bật với tài năng về âm nhạc và các kỹ năng nghệ thuật, được mô tả là vua giỏi các kỹ nghệ lặt vặt, sáng tác nhiều bài hát mới mang âm thanh du dương, trong sáng Thời kỳ quyền hành thực tế nằm trong tay chúa Trịnh, các vua Lê chỉ còn vai trò bù nhìn, chứng kiến nhiều vua trước bị phế truất và tầm ảnh hưởng giảm sút, trong khi vua Hiển Tông tỏ ra từ tốn, nhân hậu và chịu đựng những áp bức của Trịnh Sâm Lâu ngày rảnh rỗi, vua cao tuổi và yếu sức, cảm thấy ngai vàng là gánh nặng, và trong nội tâm dễ cảm thấy lo lắng, như lời vua Hiển Tông tâm sự rằng: “Trời sai nhà chúa phò ta Chúa gánh cái lo, ta hưởng cái vui.”
Mất chúa tức là cái lo lại về ta , ta còn vui gì” [10;79].
Tháng 7 năm 1786, tướng Tây Sơn là Nguyễn Huệ với chiêu bài “phù
Lê diệt Trịnh là chiến dịch quân sự nhằm đưa quân ra Thăng Long đánh đổ Trịnh Khải (Trịnh Tông) và thể hiện ý định tôn vâng Lê Hiển Tông Khi quân Tây Sơn tiến vào, nhà vua đã lâm bệnh, các hoàng tử lo lắng nâng giấc ở trong nội điện Thấy ngoài cung có lính và voi, nhà vua tưởng là giặc kéo đến uy hiếp, liền tỉnh dậy, định lánh đi chỗ khác để tránh nguy hiểm.
Khi kinh đô bị mất, Bình vào thành và ra lệnh cho tỳ tướng đem một đội quân vây giữ cung điện Trong thời điểm đó, hoàng thượng đang ốm yếu, các hoàng tử đều ở trong điện để hầu hạ Khi thấy sân điện bị quân lính vây kín, họ nghĩ địch đã đến để bức bách nhà vua và vội vàng nâng hoàng thượng dậy, định đưa ra vườn Tam Sơn ở phía sau điện để trốn thoát Tuy nhiên, tại sân điện có một viên tỳ tướng quỳ gối, nâng tờ tâu lên trán để dâng vua xem, và các gia thần nội điện nhanh chóng đón lấy tờ tâu để trình vua Nội dung tờ tâu vừa hỏi thăm sức khỏe nhà vua, vừa xin phép ngày khác sẽ đến ra mắt Sau khi xem xong, hoàng thượng cảm thấy yên tâm hơn.
Nhà vua triệu kiến Nguyễn Huệ tại điện Vạn Thọ, sau đó sai đặt một chiếc giường cạnh giường vua để Văn Huệ có chỗ ngồi Khi Văn Huệ quỳ lạy và dập đầu trước hoàng thượng, nhà vua mời hoàng tử nâng Bình dậy và mời ông ngồi vào một chiếc sập bên trái sập ngự Tuy nhiên, Văn Huệ rụt rè không dám ngồi, phải nhiều lần dụ dỗ, ông mới ngồi nghiêng vào góc chiếu cuối sập với một chân thõng xuống đất Trong buổi gặp, Văn Huệ cũng trình bày về lý do lật đổ họ Trịnh và tôn phù nhà vua, thể hiện lòng tôn kính và sự kính trọng đối với triều đình.
Lê Nguyễn Huệ khẳng định rằng ông vốn là người hèn mọn ở đất Tây Sơn, chưa từng được mặc áo của bệ hạ hay nhận lộc vua ban, nhưng nhờ thánh đức của vua tràn đầy, ông vẫn một lòng kính mến dù ở xa xôi Ông coi việc được thấy mặt rồng là nhờ tấm lòng thành kính của mình, so sánh với hoa quì luôn hướng về mặt trời, thể hiện lòng trung thành với nhà vua Huệ cũng nhấn mạnh rằng việc tiêu diệt họ Trịnh, những kẻ vô lễ và lấn ép nhà vua lâu dài, là do sự phù trợ của thiên đình để thể hiện uy thế của bệ hạ Thành công trong cuộc đại nghĩa này là nhờ phúc lớn của nhà vua, và ông mong thần linh phù hộ cho sức khỏe của vua để trị thiên hạ, đồng thời cầu mong được hưởng chút phúc lộc từ sự nghiệp này.
Nguyễn Hữu Chỉnh, cựu thần của Bắc Hà, đã đứng ra mai mối trong mối quan hệ giữa triều đình và Tây Sơn Hiển Tông đã tổ chức đám cưới cho công chúa Lê Ngọc Hân của Đại Việt với Nguyễn Huệ, nổi bật trong các chiến dịch của phong trào Tây Sơn Đồng thời, nhà vua đã ban hành lệnh bắt giữ và truy nã các tướng lĩnh Phan Lê Phiên, Uông Sĩ Điển, Trần Công Thước cùng hơn mười người khác vì có liên quan đến các hành động phản nghịch, góp phần làm rõ các biến cố trọng đại trong lịch sử thời kỳ này.
Nguyễn Huệ đề nghị định ngày tổ chức lễ dâng sổ sách binh dân để báo cáo về công cuộc thống nhất đất nước, trong khi Hiển Tông cố gắng gượng dậy để ra ngự điện Kính Thiên nhận lễ và ban hành chiếu thư về việc thống nhất Vào ngày lễ, Bình xin vua mở cuộc triều đại ở điện Kính Thiên, các quan theo thứ tự đứng hầu, rồi tự dẫn tướng sĩ qua cửa Đoan-môn để trình bày công lao diệt họ Trịnh cùng các sách quân, dân, nhằm báo cáo với hoàng thượng về chiến công và phân công giữ gìn tài liệu quân sự và dân sinh.
Hoàng thượng nhận lễ triều yết xong, truyền đưa tiễn Bình ra khỏi cửa điện, rồi bãi triều.
Sau khi Bình nhận phong làm nguyên soái phù chính dực vũ, Uy quốc công, ông đã tổ chức lễ bái mạng và cảm ơn vua một cách trang trọng Ngày 17 tháng 7 cùng năm, vua Lê Hiển Tông qua đời tại điện Vạn Thọ, sau 46 năm trị vì và hưởng thọ 69 tuổi, sống qua 4 đời chúa Trịnh Trước khi mất, vua dặn dò cháu trai kế vị là Duy Khiêm (Lê Chiêu Thống) phải biết lựa ý Nguyễn Huệ trong việc xác định người kế nghiệp Sau khi qua đời, vua Lê Hiển Tông được an táng tại lăng Bàn Thạch, để lại dấu ấn quan trọng trong lịch sử triều đại nhà Lê.
Lê Duy Vỹ và Lê Duy Cận là con trai của hoàng đế Lê Hiển Tông, trong đó Duy Vỹ nổi bật bởi vẻ đẹp trai và sự tài giỏi, được chúa Trịnh Doanh rất yêu quý Thái tử Duy Vỹ còn thể hiện khát vọng giành lại quyền lực thực sự cho nhà Lê từ tay họ Trịnh Một lần, thái tử và thế tử cùng vào thăm Ân vương, vương mời họ ăn cơm và để con rể cùng con trai ngồi chung mâm, khiến chính phi phản đối bằng câu nói: “Chính phi thấy vậy liền nói rằng”.
- Sao chúa lại được cùng ăn với vua?
Bà ta bắt mỗi người ngồi riêng ra, khiến Thế tử giận tái mặt nhưng vẫn cố gắng giữ bình tĩnh Khi tiệc tan, Thế tử đã lên tiếng với Thái tử, thể hiện sự bất bình về quy định kỳ quặc này Hiện tượng phân chia chỗ ngồi riêng lẻ trong buổi tiệc làm tăng thêm căng thẳng và thể hiện rõ mối quan hệ phức tạp giữa các nhân vật Thái tử cũng nhận thấy sự bất mãn của Thế tử, tạo tiền đề cho những diễn biến tiếp theo trong câu chuyện.
- Hai chúng ta sẽ phải một người sống, một người chết Vua ấy cũng không nên đứng cùng với chúa này!”[10; 67].
Trịnh Sâm rất căm tức, từ đó tìm cách giết Duy Vỹ Duy Vỹ mất, thành thử em trai Lê Duy Cận được kế vị “Bà nội thế tử Tông xưa nay vốn thân với thái tử Lê Duy Cận Thấy hoàng tôn về, bà ta sợ thái tử Cận mất ngôi, liền sai người giả vờ mời hoàng tôn vào chầu ở cung Huỳnh, để lừa bắt hoàng tôn đem dìm xuống sông Nhĩ Hà Lúc hoàng tôn vào cung, bà ta cho tay chân bức hoàng tôn phải nằm lên cáng rồi bí mật khiêng đi.
Bấy giờ ba quân ồn ào nhốn nháo, muốn tra ra kẻ mưu hại hoàng tôn để bắt mà giết đi.
Thái tử Cận nghe được chuyện đó, liền vào phủ hầu chúa.
Hình tượng vua Tây Sơn
“Nhân dĩ sơn phiêu danh nhi thoa kế tăng quang Sơn dĩ nhân đắc hiệu nhi thảo hoa sinh sắc”
(Người nhờ núi nêu danh mà trâm tóc thêm sáng Núi nhờ người được hiệu mà hoa cỏ tốt tươi) ( Tác giả khuyết danh)
Trong số những non xanh của đất Tây Sơn, có ngọn núi mang tên Hòn ông Nhạc và núi Núi Hoàng Đế, được xem như những biểu tượng thiêng liêng gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Nhạc Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo, đã nổi bật như một ngọn triều cường, lật đổ chính quyền chúa Nguyễn và chúa Trịnh, cùng quân Xiêm trong trận Rạch Gầm – Xoài Mút khiến kẻ thù kinh hồn bạt vía Nguyễn Nhạc, vua Thái Đức, là người phát động và đóng vai trò trung tâm trong sự nghiệp dựng lập phong trào Tây Sơn, góp phần làm nên trang sử vẻ vang của dân tộc Theo Hoàng Lê nhất thống chí, Nguyễn Nhạc xuất thân từ làng Tây Sơn, thuộc dòng họ Nguyễn có tổ tiên từ Nghệ An, đánh dấu bối cảnh xuất thân và hành trình của một anh hùng dân tộc.
An đã chiếm đóng bảy huyện phía nam sông Cả và đẩy tất cả dân cư vào vùng Tây Sơn sinh sống Tổ bốn đời của Văn Nhạc cũng bị bắt trong số những người này Ban đầu, Văn Nhạc nghèo khó nhưng sau đó trở nên giàu có nhờ nghề đẩy bạc Ông từng làm biện lại ở Vân Đồn, nên người ta gọi ông là biện Nhạc Do tiêu tiền công, biện Nhạc trốn vào núi, tụ tập hơn trăm người để đi cướp bóc các châu ấp, gây khó khăn cho viên trấn tướng địa phương trong việc kiểm soát.
Nguyễn Nhạc bắt đầu khởi nghĩa với danh xưng Đệ Nhất Trại chủ, thể hiện sự khiêm nhường phù hợp với thực lực ban đầu của Tây Sơn Trong giai đoạn đầu, ông vui vẻ nhận danh xưng Tiên phong tướng quân từ Hoàng Ngũ Phúc để thể hiện vai trò dẫn dắt khi tạm hòa hoãn với quân Trịnh nhằm tránh xung đột trực tiếp Sau khi giành lại đất Quảng Nam, sự nhún nhường của Tây Sơn không còn phù hợp, và Nguyễn Nhạc tự xưng là chúa Tây Sơn để củng cố quyền lực Trong một lần đột nhập thành Qui Nhơn, ông đã phá cũi, lấy gươm giết lính canh, đốt thành và chiếm giữ thành, thể hiện quyết tâm chiến đấu và mở rộng lực lượng Tại thời điểm đó, để củng cố thực lực, Nguyễn Nhạc đã phát động chiến tranh, liên kết với các nhóm quân nổi dậy như nhóm của các thương nhân Trung Quốc là Tập Đình và Lý Tài, những người xưng là Trung nghĩa quân và Hoà nghĩa quân đều giúp đỡ trong cuộc khởi nghĩa nhằm chống lại kẻ thù bên ngoài và xây dựng lực lượng vững mạnh.
Lý Tài và Tập Đình chiến đấu hết sức dũng mãnh, khiến quân địch vô cùng sợ hãi Nhạc thường chọn những người cao lớn, ăn mặc giống như quân của Lý Tài và Tập Đình để giả danh, nhằm tạo ấn tượng mạnh khi ra trận, khiến quân Nguyễn khi thấy bóng đã bỏ chạy Người phương Bắc nói đây chính là chiêu trò nhằm vào những người Hoa-kiều giả dạng làm quân cứu viện của Tập Đình nhằm chống lại quân nhà Nguyễn Trong các trận đánh, quân nhà Nguyễn đều không thắng nổi, qua đó thanh thế của Tây Sơn ngày càng lớn, danh tiếng vang dội Một danh xưng uy tín hơn là điều cần thiết để củng cố thế lực chính thống, vì danh nghĩa chính thống luôn có sức thu hút mạnh mẽ đối với những người thiện chí vì nước, vì dân Khi thấy điềm rồng vàng, Nhạc đã cho đóng ngai rồng, lên ngôi vua và tự xưng là Thiên Vương, đặt niên hiệu Thái Đức, nhằm khẳng định uy thế và nghĩa khí của mình.
Nguyễn Nhạc vận dụng mưu kế chiến lược đã chiếm được thành Quy Nhơn, mở đầu quá trình mở rộng lãnh thổ Trong khi đó, Nguyễn Khắc Tuyên bỏ lại gia đình để chạy trốn, thể hiện tình hình nguy cấp của phe đối phương Từ Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc tiếp tục tiến đánh và chiếm Quảng Ngãi, sau đó đem quân tiến vào các khu vực Phú Yên và Diên, nhấn mạnh bước tiến quan trọng trong sự nghiệp kháng chiến của ông.
Khánh, Bình Khang, Bình Thuận, quân Nguyễn phải rút vào Nam Bộ, trong khi quân Tây Sơn kiểm soát vùng đất Quảng Quận Việp thường cử Nguyễn Hữu Chỉnh làm sứ giả để trao đổi với Tây Sơn, và Nhạc rất quý mến tài biện luận của Chỉnh Từ khi có Nguyễn Hữu Chỉnh làm quân sư, vua Thái Đức ngày càng ưng thuận và tin cậy ông hơn, đặc biệt khi Chỉnh gửi vợ con làm tin thể hiện lòng trung thành Nhạc vốn đã yêu thích tài năng của Chỉnh, nên ngày càng thân mật và tin cậy hơn, còn Chỉnh hết lòng thờ Nhạc, đề xuất kế hoạch chiếm đất các nước Chiêm Thành, Xiêm La, Bồn Man Chỉnh tự mình cầm quân dẫn đầu các cuộc tấn công, khiến các quốc gia lân cận lần lượt thất bại, làm tăng thêm tình cảm giữa Nhạc và Chỉnh Thấy Chỉnh thường chém thuyết khách, Nguyễn Nhạc càng thêm thân cận và tín nhiệm ông hơn.
Nguyễn Hữu Chỉnh quyết định mưu kế về nước để chiếm lĩnh đất Thuận Hóa Trong cuộc họp quan trọng, Chỉnh đề xuất lấy mạnh đánh ngay Phú Xuân và xin Nhạc điều động binh tướng Nhạc đồng ý và giao cho Nguyễn Văn Bình (Nguyễn Huệ) chỉ huy quân thủy bộ, đồng thời triệu tập Võ Văn Nhậm làm tả quân đô đốc và Nguyễn Hữu Chỉnh làm hữu quân đô đốc Đến ngày 28 tháng tư, quân đội của họ xuất phát, tiến thẳng về Phú Xuân nhằm mục tiêu chiếm đóng thành phố.#SEO Keywords: Nguyễn Hữu Chỉnh, chiếm đất Thuận Hóa, Phú Xuân, binh tướng, Tây Sơn, Nguyễn Huệ, Võ Văn Nhậm, quân thủy bộ.
Sau một thời gian, Nguyễn Huệ tiến ra Bắc và kết duyên với công chúa Ngọc Hân, con gái vua Lê, góp phần củng cố liên minh Khi vua Thái Đức hay tin, ông đã đích thân chỉ đạo quân tiến lên phía Bắc để mở rộng lãnh thổ và khẳng định quyền lực Vào ngày mồng năm tháng Tám, vua Tây Sơn đến kinh thành, được hoàng thượng thân hành đón tiếp ở cửa Nam Giao, thể hiện sự trọng thị và lễ nghi trang trọng, sau đó chào mừng rồi rời đi Chúa Tây Sơn cũng đã sai người đáp lại sự chào đón, tiếp đó truyền lệnh cho xe vào thành, mở ra một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử trị vì của nhà Tây Sơn.
Vua Tây Sơn không ngại đường xa, rong ruổi vượt muôn dặm để đến đây Hành trình của ngài diễn ra trong sự hối hả và vội vã, thể hiện quyết tâm và trách nhiệm lớn lao Tại sao nhà vua lại vội vàng như vậy? Đoàn đại quân và người dân đều kinh ngạc trước sự gấp rút này, không hiểu rõ nguyên nhân đằng sau hành động của ngài Điều này cho thấy tầm ảnh hưởng và quyết tâm của vua Tây Sơn trong việc đạt được mục tiêu lịch sử quan trọng.
Cá kình vượt biển giương vây nhảy Cọp dữ lìa rừng mượn cánh bay”.
Vua Thái Đức vừa nhận tin thắng trận từ Nguyễn Huệ, cảm xúc của ông vừa vui mừng vừa tức giận Nhà vua Tây Sơn hiểu rõ Bình là người khôn ngoan, giảo quyệt, sợ rằng Bình sẽ lấy được Bắc Hà và do đó sẽ trở nên kiêu căng, khó kiểm soát Nhà vua còn lo ngại về ý đồ của Bình, believing that his family has always dwelled in Nam, which khiến ông thêm phần cảnh giác và đề phòng.
Hà, từ xứ Thuận Hoá, cho rằng không cần mở rộng lãnh thổ thêm các nước lớn vì điều đó dễ dẫn đến những rủi ro không kiểm soát được Ông nhấn mạnh rằng, việc mở rộng thêm đất đai không chỉ khó giữ vững mà còn có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng nếu thất bại Đây là quan điểm nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giữ vững nội lực và hạn chế mở rộng để tránh những rủi ro về an ninh và ổn định đất nước.
Trước sức mạnh của Nguyễn Huệ lúc đó, ngay cả thư từ cũng không thể khiến Huệ trở về Vua Thái Đức nghĩ rằng nếu không trực tiếp ra Bắc bắt Huệ, thì như thả hổ về rừng, khó có thể kiểm soát Vào ngày hôm đó, vua Tây Sơn đã tự thân dẫn theo năm trăm lính thị vệ đi thẳng đến Phú Xuân, rồi huy động hơn hai nghìn quân tại Phú Xuân đi gấp về kinh sư Đoàn quân với dáng vẻ mệt mỏi, tiều tụy, đến nỗi mọi người không còn nhận ra đó là quân của triều đình nữa.
Trong chuyến đi này, hình ảnh vị vua Thái Đức giản dị và gần gũi với nhân dân lại hiện lên rõ nét, thể hiện sự khiêm tốn và gắn bó với cuộc sống thường ngày của nhân dân Khi vua Thái Đức tới cửa biển Hội Thống ở Nghệ An, một người dân quê đã mang ít đồ biển xin ra mắt vua, thể hiện sự kính trọng và tình cảm chân thành của người dân đối với vị vua Những tình tiết này giúp làm nổi bật hình ảnh người đứng đầu đất nước gần gũi, thân thiện và luôn lắng nghe, chia sẻ với nhân dân.
- Chúng tôi thấy quan lớn đi qua, nhân có chút quà mọn, gọi là tỏ tấc lòng thành kính [10;148].
Vua Tây Sơn tính vốn thật thà, không quen ăn nói văn hoa, thấy vậy, liền đáp:
- Tôi không phải là quan lớn, tôi là họ ngoại của chúa Nam Hà (Chúa
Nam Hà chỉ vào họ Nguyễn, vì Nhạc gả con gái cho thế tử Dương của chúa
Nguyễn thường tự xưng là họ ngoại và quen gọi là biện Nhạc Khi thấy tôi đi xa, ăn lương khô và chế độ ăn nhạt, các người hậu tình đã đem tặng những món ngon lành, thể hiện sự quan tâm và tình cảm chân thành Tôi vô cùng cảm ơn sự đùm bọc của mọi người, điều này làm tôi cảm thấy ấm lòng và trân quý những mối quan hệ thân thiết.
Vua Thái Đức là người phát động phong trào Tây Sơn, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng lực lượng ban đầu và gây dựng sự nghiệp của phong trào này Ông đã tập hợp và lãnh đạo một đội quân đông đảo, mạnh mẽ nhằm mục tiêu lật đổ Chúa Nguyễn, đồng thời sử dụng thành công hoạt động ngoại giao với các nước láng giềng để củng cố thực lực Trước áp lực từ quân Trịnh và quân Nguyễn, Nguyễn Nhạc đã đưa ra quyết định sáng suốt về mặt chiến lược, tìm cách hòa hoãn với địch lớn hơn để rảnh tay xây dựng lực lượng phía nam Đặc biệt, ông dũng cảm giao quyền cho người em trẻ tuổi Nguyễn Huệ đánh trận quyết định tại Phú Yên, từ đó mở ra cơ hội thắng lợi quan trọng cho phong trào Tây Sơn.
Tình cảm của tác giả với nhân vật vua Lê và vua Tây Sơn
Hoàng Lê nhất thống chí chủ yếu kể lại những biến cố lịch sử của một triều đại, nhưng không chỉ đơn thuần ghi chép sự kiện mà còn thể hiện quan điểm phê phán sâu sắc về hiện thực Tập sách phản ánh rõ nét quá trình suy vong của giai cấp phong kiến, đặc biệt tập trung mô tả những tiêu cực trong sinh hoạt của các tầng lớp xã hội dưới ách thống trị Trong đó, tác giả không bỏ qua cảnh đời khốn khổ của nhân dân dưới thời chiến tranh và đàn áp, như cảnh dân Thăng Long nhốn nháo chạy loạn, hoặc cảnh tàn sát khủng khiếp của quân Nguyễn Hữu Chỉnh tại Bái Hạ, khiến cả đất nước rơi vào hỗn loạn và chiến tranh liên miên Những hình ảnh này nhấn mạnh nạn đói nghèo, giá cả tăng vọt, nông thôn mất mùa kéo dài, khiến cuộc sống của người dân ngày càng bấp bênh, suy sụp trầm trọng trong thời kỳ đen tối của lịch sử.
Các nhà đều trống như chiếc khánh treo, biểu lộ tấm lòng xót thương và căm giận của người cầm bút đối với những nỗi cơ cực của nhân dân Tập sách chủ yếu thể hiện bộ mặt của giai cấp phong kiến, làm rõ thói lam tàn, nham hiểm của chúng để kích thích sự nhận thức và căm ghét của độc giả Những câu chuyện về tuẫn tiết của những viên quan trong đám bại thần thể hiện khí tiết suy yếu hoặc bị diễn đạt một cách lố bịch, ngu xuẩn, khiến hình ảnh họ vừa đáng thương vừa đáng ghét Tác giả phê phán những hành động xấu xa, bất nhân, bất nghĩa của các thế lực phản diện với tinh thần rõ ràng, đồng thời thể hiện sự cảm thông với những khó khăn của họ Trong khi đó, các hành động liều lĩnh của một số quan lại như Trần Công Sán, Lý Trần Quán, Vũ Văn Nhậm đều mang tính bi hài, phản ánh sự đớn đau và ngu xuẩn của chính họ Tác phẩm nhắm vào các thế lực phản diện là những kẻ hành động đen tối, phi nghĩa, coi lợi ích bản thân là trên hết, không quan tâm đến lợi ích của nhân dân hay dân tộc Tác giả thể hiện thái độ khinh bỉ, tố cáo, phủ định những tên phản diện qua việc vạch trần mâu thuẫn giữa vẻ ngoài và hành động thực tế của chúng, chứng minh những ý đồ phi nghĩa của chúng đều dẫn đến thất bại nhục nhã trong xã hội.
Trong "Hoàng Lê nhất thống chí," tác giả thể hiện lòng tôn sùng dòng họ Lê, đồng thời còn giữ quan niệm cứng nhắc về chính thống, coi nhà Lê là chính quyền hợp pháp duy nhất Tác phẩm vừa phê phán giai cấp phong kiến và quý tộc nhà Lê, vừa ca ngợi vai trò của họ trong việc giữ gìn độc lập và phát triển đất nước, phản ánh mong muốn về một nền hòa bình, thống nhất và thịnh vượng Tác giả thể hiện tình cảm yêu mến Nguyễn Huệ và xem ông là người tài giỏi trong khi lên án những hành động bán nước của Lê Chiêu Thống, nhân cách thấp hèn của y thể hiện rõ qua các hành vi phản quốc và tự cao tự đại Những hành động của Lê Chiêu Thống như bán nước cho giặc, lợi dụng chức quyền để cướp bóc, phản ánh sự tha hóa của giai cấp phong kiến cuối thời Lê, gây tổn hại lớn đến uy tín và lòng tin của dân chúng đối với triều đình Tác phẩm không chỉ phản ánh những mặt tích cực về lịch sử, mà còn phê phán sâu sắc những yếu kém, những hành vi tiêu cực của số đông lãnh đạo thời bấy giờ, qua đó nâng cao ý thức về trách nhiệm và đạo đức trong xây dựng đất nước.
Lê Chiêu Thống khiến Thái hậu thất vọng và phẫn nộ, trải qua những ngày cuối cùng trong cuộc sống lưu vong ở Trung Quốc một cách tủi nhục Trong khi Lê Quýnh đã khảng khái phản đối việc bắt buộc phải gọt tóc, ăn mặc theo kiểu Mãn Thanh, thì Lê Chiêu Thống lại coi đó là sự hi sinh khi đất nước đã mất và được thiên triều cứu trợ, chấp nhận mọi cách ăn mặc theo ý của Trung Quốc Một tác giả đã châm biếm rằng, “Nước Nam ta từ khi có đế vương đến giờ không thấy có vua nào hèn hạ đến thế,” phản ánh sự nhục nhã và thất vọng về phẩm cách của vị vua này.
Lê Chiêu Thống, dù có những điểm không tốt, vẫn có câu chuyện hậu trường đằng sau những lời phán xét dễ dàng Sinh ra là một đứa trẻ mồ côi, ông sống trong những ngày tháng đầy biến động bên cạnh gia đình, phải đối mặt với nguy cơ mất mạng bất cứ lúc nào Không sinh ra trong nhung lụa của cung đình, Lê Duy Kỳ trải qua thời thơ ấu đầy thử thách và lãng quên May mắn đến khi dòng họ Trịnh đang sụp đổ và các phe phái tranh giành quyền lực cần một biểu tượng cho hoàng gia, giúp ông trở thành vua Tuy nhiên, trong suốt 28 năm trị vì, Lê Chiêu Thống chỉ mang danh vua hư danh, luôn bị các thế lực khác thao túng và kiểm soát quyền lực thực sự.
Lê Chiêu Thống thường bị xem là người hèn kém, yếu ớt, thiếu khả năng lãnh đạo, phù hợp với hình ảnh của một vị vua yếu đuối trong lịch sử Việt Nam Cuộc đời của vua Lê Chiêu Thống và ngai vàng nhà Lê những năm cuối cùng như chiếc lá trôi nổi giữa dòng nước, phản ánh sự bất lực và mất phương hướng trong thời kỳ đầy biến động Mặc dù tác giả không dành nhiều thiện cảm cho vua Lê, nhưng vẫn có những chi tiết thể hiện sự cảm thương và xót xa trước số phận của ông, như một biểu tượng cho những người lãnh đạo bị khuất phục bởi hoàn cảnh lịch sử.
Trong tháng Giêng năm ấy, các bề tôi mở quan tài vua Lê Chiêu Thống và phát hiện da thịt đã nát hết, chỉ còn trái tim vẫn còn đỏ tươi, chứng tỏ sự sống còn sót lại dù đã mười hai năm trôi qua Điều này khiến ai chứng kiến đều cảm thấy lạ lẫm và xót xa Rốt cuộc, vua Lê Chiêu Thống giống như một con chim trong lồng, một nhân vật chính trị mờ nhạt, bị cuốn vào vòng xoáy của những sự kiện nằm ngoài tầm kiểm soát của chính mình.
2.3.2 Đối với vua Tây Sơn
Trong bối cảnh xã hội rối ren, đầy những tiêu cực và tham lam, hình ảnh người anh hùng Nguyễn Huệ nổi bật như một biểu tượng sáng chói của trí tuệ và phẩm chất cao cả Trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí, Nguyễn Huệ hiện lên như một con người phi thường, thể hiện tinh thần đại nghĩa của dân tộc, vượt lên trên cái ác và sự đậm đặc của các thế lực quý tộc Lê – Trịnh cũng như kẻ xâm lược Mãn Thanh Tính cách cao cả của ông trái ngược hoàn toàn với hình ảnh đen tối của bè phái quý tộc và quân xâm lược, và ngay cả những kẻ thù đã tận mắt chứng kiến hành động anh hùng của Nguyễn Huệ cũng không khỏi thán phục trước khí phách của vị thủ lĩnh áo vải.
Nguyễn Huệ được trình bày với hình ảnh rực rỡ, thể hiện sự kính phục của tác giả đối với nhân vật vĩ đại này Hình ảnh này không chỉ phản ánh nguyện vọng của nhân dân muốn tôn vinh công lao to lớn của Nguyễn Huệ trong lịch sử, mà còn giúp người đọc thoát khỏi không khí ngột ngạt của những cuộc tranh đấu đẫm máu và tàn bạo của các thế lực phong kiến.
Các tác giả đã sử dụng hình ảnh lịch sử sinh động để mô tả bối cảnh xã hội phong kiến Đàng Ngoài thời Lê mạt, phản ánh rõ nét tình trạng thối nát và những cảnh bể dâu tang thương Trong tác phẩm, những nhân vật thuộc tầng lớp trên không còn là hình mẫu thiêng liêng mà thay vào đó xuất hiện hình ảnh xấu xa, ghê tởm qua góc nhìn phản biện sắc nét của tác giả Vua Lê Cảnh Hưng thể hiện sự cam chịu, sống cuộc đời bù nhìn bạc nhược, trong khi Vua Lê Chiêu Thống tỏ ra hèn nhát, bỉ ổi trước quân giặc Mãn Thanh, đẩy nhiều người dân thường phải than thở và kêu gọi chân thành.
Nước ta từ khi có đế, có vương đến nay chưa từng có vua nào đê hèn như họ Lê, chỉ là "cục thịt trong túi da." Sự sụp đổ của triều đình phong kiến nhà Lê mở đường cho phong trào Tây Sơn ngày càng mạnh mẽ, tiêu biểu nhất là hình tượng anh hùng Nguyễn Huệ với tài năng quân sự kiệt xuất và lòng dũng cảm phi thường Chúng ta tự hào về chiến thắng vẻ vang chống quân Thanh, được phản ánh chân thực và sâu sắc trong Hoàng Lê nhất thống chí, góp phần xây dựng truyền thống hào hùng của dân tộc Việt Nam Những trang sử này là bản anh hùng ca lan tỏa hào khí và tự hào dân tộc qua mọi thời đại, trở thành điểm sáng chói lọi trong lịch sử Việt Nam.