Nghệ thuật miêu tả nhân vật

Một phần của tài liệu Khóa luận dung k18a đã sửa (Trang 92 - 98)

CHƯƠNG 3. HÌNH TƯỢNG VUA LÊ VÀ VUA TÂY SƠN TRONG TÁC PHẨM HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ VỀ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT

3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật

3.1.1. Nghệ thuật miêu tả nhân vật

Lịch sử do con người làm ra, trong đó các yếu nhân lịch sử giữ vai trò gần như quyết định. Vì thế, một tiểu thuyết lịch sử như Hoàng Lê nhất thống chí không thể thiếu các nhân vật. Nhưng con người vốn là sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội, cho nên bên cạnh hệ thống nhân vật đại diện quốc gia, còn có tần lớp dưới đáy như bọn kiêu binh. Chúng vừa là sản phẩm của thời đại “mũ dép đảo lộn, cương thường sai trái”, vừa làm hoàn chỉnh bức tranh xã hội Việt Nam thời Hoàng Lê.

Trong 400 nhân vật Ngô gia đã tập trng vào gần 100 nhân vật chính. Mỗi người một tính cách vừa cá biệt nhưng vẫn hiện thực. Nếu đã đọc Hoàng Lê nhất thống chí thì khi nghe nhắc đến tên nhân vật nào cũng có thể mường tượng họ ra trước mắt mình. Khi nhắc đến nhân vật vua Lê Duy Kỳ người đọc sẽ nhớ ngay đến vẻ ngoài hình của nhân vật này “Hoàng tôn mặt rồng mắt phượng, tiếng nói như chuông, quân lính thấy vậy đều khen: "Thật đúng là bậc thiên tử"[10;tr7]. Khi miêu tả tính cách nhân vật, tác giả thường tỏ ra

“khách quan”, chỉ là người “quan sát”, có sao thì ghi vậy. Ví như hồi 15 có

đoạn viết về vua Lê Chiêu Thống khi ở Trung Quốc có những hành động thật hèn hạ và nhu nhược, một vị vua nhưng đến cả thuần phong mỹ tục của cố quốc cũng đánh mất:

“Khang An lại mời vua Lê yến tiệc say sưa, rồi ung dung nói:

- Ngày xuất quân không còn xa, vương nên tự mình đem tả hữu liêu thuộc làm quân dẫn đường đi trước. Nhưng bây giờ nên gọt đầu gióc tóc (kiểu đầu của người Mãn Thanh: gọt tròn xung quanh như cái nồi đất, rồi tết đuôi xam ở đằng sau), thay đổi quần áo giống như người Trung Quốc, để khi về Nam quân giặc không thể phân biệt được, thì công lớn mới có thể thành.

Sau khi khôi phục nước nhà, bấy giờ sẽ lại theo như tục cũ. "Việc binh không ngại dùng cách xảo trá" Vương nên nghĩ tới chỗ đó.

Vua Lê cho là phải và đáp:

- Chúng tôi không giữ được nước nhà, may nhờ thiên triều cứu viện, dù cả nước phải ăn mặc như người Trung Quốc, cũng xin vâng lệnh. Việc ấy còn có tiếc gì?

Rồi vua Lê cùng các bề tôi đều gióc tóc, thay đổi đồ mặc. Khang An thấy vậy, mừng lắm, liền cho một số tiền bạc và tiếp đãi tử tế. Vua tôi nhà Lê đều không biết sự lừa dối của Khang An’ [11;tr 240]

Hay có đoạn miêu tả bề tôi của vua Lê là Nguyễn Văn Quyên cho ta thấy được qua miêu tả hành động chứng tỏ Văn Quyên là một bề tôi trung thành, có lòng tự trọng, có danh dự: “Vua Lê nghe tin ấy, lo giận bồn chồn, đến sáng sớm cưỡi ngựa vào nhà Kim Giản, định kêu cho các bề tôi. Vừa lúc ấy, Kim Giản đã vào chầu vua Thanh ở vườn Viên Minh. Vua Lê lập tức ruổi ngựa đi thẳng tới cửa vườn, nhưng đến nơi thì bị lính canh cửa ngăn lại.

Người dắt ngựa của vua Lê là Nguyễn Văn Quyên, quê ở Bố Vệ, phục xuống đất kêu ầm lên. Bọn người Thanh sợ tiếng kêu gào vang đến chỗ vua Thanh, bèn giật lấy con ngựa của vua Lê, rồi vực luôn cả nhà vua lên xe bắt đến toà Thận Hình giữ lại.

Văn Quyên bèn cất tiếng mắng to:

Hay cả những nhân vật tiêu biểu của tác phẩm cũng vậy, tác giả không đi sâu vào phân tích miêu tả từng nhân vật một mà miêu tả một cách khách quan, ngay cả những đoạn phân tích tâm lý nhân vật, người viết cũng tỏ ra hững hờ. Nhưng chính sự dửng dưng này mà người đọc càng thấy nhân vật như hoàn toàn có thực, không hề chau truốt mà rất gần gũi với chúng ta, có cảm xúc buồn vui, thăng hoa, niềm vui khi chiến thắng,...Để khắc họa tính cách nhân vật, tác giả thường chọn những thời điểm nhân vật bộc lộ bản chất.

Họ thường không kể dài dòng mà chỉ chớp lấy một vài lời nói, cử chỉ, hành động mang ý nghĩa như những tín hiệu đặc trưng nhất cho tính cách nhân vật mà chỉ nhân vật đó mới nói năng, hành động như vậy. Có một vài chi tiết miêu tả thôi nhưng cũng đủ cho người đọc thấy được chân dung của nhân vật, đó là một Nguyễn Nhạc rất bình dị, gần gũi với nhân dân:

“Vua Thái Đức nhận được tin thắng trận của Nguyễn Huệ, trong lòng vừa mừng nhưng lại vừa tức giận. “vua Tây Sơn vốn đã biết Bình là người khôn ngoan, giảo quyệt, sợ Bình lấy được Bắc Hà, lúc trở về ắt sinh ra kiêu căng, khó kiềm chế. Vua Tây Sơn lại còn nghĩ rằng: "Nhà mình đời đời vẫn ở Nam Hà, được xứ Thuận Hoá là nơi bờ cõi cũ, đủ rồi; không cần lấy thêm một nước lớn nữa làm gì. Ví dụ có lấy được, chưa chắc đã giữ được, vạn nhất vấp ngã một cái, thì sự tai hại không phải là nhỏ”.[10;146,147]

Trước khi thế của Nguyễn Huệ lúc bấy giờ, một vài lá thư cũng không thể nào gọi Huệ về được, vậy nên vua Thái Đức suy nghĩ “Nếu mình không thân hành ra Bắc, bắt hắn phải về, ấy là thả hùm ra khỏi cũi, không bao giờ còn có thể nuôi dạy được nữa vậy”. “Thế rồi, luôn trong bữa đó, vua Tây Sơn tự đem năm trăm tên lính thị vệ ra thẳng Phú Xuân. Tới nơi, lại lấy thêm hơn hai ngàn quân Phú Xuân đi gấp ra kinh sư. Đoàn quân tất tưởi kéo đi, dáng dấp tiều tuỵ, người ta không còn nhận ra đó là đám quan quân nào nữa”.

[10;149]

Trong chuyến đi này, một lần nữa người đọc chúng ta lại thấy hình ảnh vị vua hết sức giản dị và gần gũi với nhân dân. Lúc vua Thái Đức đi đến cửa

biển Hội Thống ở Nghệ An, có người dân quê đem ít đồ biển xin ra mắt và nói rằng:

- Chúng tôi thấy quan lớn đi qua, nhân có chút quà mọn, gọi là tỏ tấc lòng thành kính.[10;148]

Vua Tây Sơn tính vốn thật thà, không quen ăn nói văn hoa, thấy vậy, liền đáp:

- Tôi không phải là quan lớn, tôi là họ ngoại của chúa Nam Hà (Chúa Nam Hà chỉ vào họ Nguyễn, vì Nhạc gả con gái cho thế tử Dương của chúa Nguyễn, nên tự xưng là họ ngoại), vẫn quen gọi là biện Nhạc ấy mà! Các người hậu tình, thấy tôi đi xa, lương khô, ăn nhạt, mà đem cho những món ngon lành thế này, cám ơn lắm, cám ơn lắm!”[10;148]

Để nói về nhân vật Nguyễn Huệ thì bao nhiêu giấy mực cũng không đủ, khi đánh trận Nguyễn Huệ là một người anh hùng dũng mãnh, có tài thao lược, có thần thái của một vị lãnh đạo tài ba. Tác giả mượn lời người cung nhân cũ để làm nổi bật tính cách anh hùng phi thường của Nguyễn Huệ khi trận Ngọc Hồi chưa xảy ra: “Không biết rằng, Nguyễn Huệ là một tay anh hùng lão luyện, dũng mãnh và có tài cầm quân. Xem hắn ra Bắc vào Nam, ẩn hiện như quỷ thần, không ai có thể lường biết. Hắn bắt Hữu Chỉnh như bắt trẻ con, giết Ván Nhậm như giết con lợn, không một người nào dám nhìn thẳng vào mặt hắn. Thấy hắn trỏ tay, đưa mắt là ai nấy đã phách lạc hồn xiêu, sợ hắn hơn sợ sấm sét”[11;214]

Chỉ qua một vài hành động cũng có thể nhận ra tính cách của con người này, một Nguyễn Huệ cẩn trọng, chu đáo: “Đến ngày 14, bệnh của hoàng thượng đã nguy kịch. Bình muốn nhân lúc nhà vua đang còn sống, xin nhà vua nhận lễ chúc mừng về cuộc nhất thống để trong ngoài đều biết, cho trọn vẹn cái công tôn phò của mình. Bình bèn chọn ngày rằm để đặt lễ đại triều rồi dâng tờ tâu lên xin với hoàng thượng. Đúng ngày, triều đình bày cuộc đại nhạc ở mé đông và mé tây đan trì (thềm sơn đỏ nơi cung điện nhà vua) Các lễ quan sắp đặt đồ nghi vệ cực kỳ trang trọng, rồi xin hoàng thượng ra ngự

ba phát súng làm hiệu lệnh, trăm quan đều lần lượt làm lễ mừng. Lễ xong, hoàng thượng ban tờ chiếu nói về việc nhất thống sai đem dán ở ngoài cửa Đại hưng. Thần dân thiên hạ thấy vậy đều khen "phúc, lộc, thọ khảo" (Phúc là điều tốt lành, lộc là của cải, thọ khảo là sống lâu) của hoàng thượng thế là hoàn toàn tốt đẹp.

 Công chúa mời Bình vào thăm, Bình nói:

Nay tôi với hoàng thượng, nghĩa như cha con. Tôi thành thật muốn kịp thời vào thăm khi hoàng thượng còn sống, để chiêm ngưỡng mặt rồng, cho tỏ tấm lòng lưu luyến. Song, tôi mới từ xa tới đây, người trong nước chưa chắc đã tin hết cả. Hôm qua hoàng thượng ra ngự chầu, ai biết thánh thể mang bệnh? Nếu như tôi vào thăm lại chẳng may đúng lúc Người về chầu giời, há chẳng khiến cho tôi mang tiếng muôn đời với thiên hạ ư? Chi bằng, nàng cứ về thăm hoàng thượng và nói rõ với các anh em như thế, để ai nấy đều hiểu lòng tôi”. [10;tr 137, 138].

Với cách thức đó, Ngô gia văn phái đã xây dựng hàng loạt nhân vật đại diện cho cả một thời kỳ giông tố. Miêu tả nhân vật, ngoài dựa vào sự khách quan của người viết, sự đánh giá của các nhân vật trong tác phẩm, người viết còn đặt nhân vật trong sự tương phản để làm nổi bật lên hình tượng nhân vật ấy. Tiêu biểu là hồi thứ 14, khi miêu tả sự thất bại thảm hại của quân Thanh cùng tướng Tôn Sĩ Nghị đã làm bật lên hình ảnh nhân vật trung tâm – người anh hùng Nguyễn Huệ.  Nguyễn Huệ là một anh hùng có tài điều binh khiển tướng, trù hoạch quân mưu như thần. Ra quân đánh thắng như chẻ tre. Bắt sống toàn bộ toán quân Thanh đi do thám tại Phú Xuyên, dùng mưu gọi loa, vây kín làng Hà Hồi, quân Thanh " rụng rời sợ hãi" phải đầu hàng. Dùng kì mưu kết ba tấm ván thành một bức bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là 20 bức; mỗi bức có 20 dũng sĩ, lưng dắt dao ngắn thành trận chữ "nhất"

xông thẳng vào đồn Ngọc Hồi. Súng quân Thanh bắn ra đều vô hiệu. Vua Quang Trung cưỡi voi đốc chiến. Sáng mồng 5, đồn Ngọc Hồi bị tiêu diệt, Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự tử, hàng vạn giặc bị giết "thây nằm đầy đồng, máu chảy thành suối, quân Thanh đại bại". Vua đã đặt phục binh tại đê Yên

Duyên và Đại Áng, hợp vây quân Thanh tại Quỳnh Đô, giặc trốn xuống Đầm Mực vị quây Tây Sơn " lùa voi cho giày đạp, chết đến hàng vạn người". Thừa thắng, vua Quang Trung tiến vào giải phóng Kinh thành Thăng Long đúng trưa mồng 5 tháng Giêng năm Kỉ Dậu. trước kế hoạch hai ngày. Có tài thao lược vô song, có tin vào sức mạnh chiến đấu và tinh thần yêu nước của tướng sĩ, của nhân dân ta mới có niềm tin tất thắng ấy. Chiến thắng Đống Đa 1789 đã làm cho tên tuổi người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ sáng ngời mãi ngàn thu. Các tác giả " Hoàng Lê nhất thống chí" đã từng ăn lộc của nhà Lê, vốn có cảm tình với nhà Lê nhưng trước họa xâm lăng và chiến công Đống Đa oanh liệt, họ đã đứng trên lập trường dân tộc, đã viết nên những trang văn đẹp nhất, dựng nên một tượng đài kì vĩ, tráng lệ của người anh hùng Nguyễn Huệ. Bằng biện pháp nghệ thuật tương phản đối lập, các tác giả " Hoàng Lê nhất thống chí" đã miêu tả và nêu bật sự thảm hại của quân Thanh xâm lược và số phận nhục nhã, bi đát của bọn vua phản nước hại dân.

    Chỉ huy 29 vạn quân Thanh sang xâm lược nước ta là Tôn Sĩ Nghị. Sau khi chiếm được Thăng Long " không mất một mũi tên, như vào chỗ đông người", hắn vô cùng " kiêu căng buông tuồng". Bọn tướng tá chỉ biết " chơi bời tiệc tùng, không hề để ý gì đến việc quân". Chúng huênh hoang tuyên bố là đầu xuân sẽ kéo quân thẳng đến sào huyệt của Tây Sơn để "bắt sống, không một tên nào lọt lưới".

    Thế nhưng, trước sự tiến công như vũ bão của Nguyễn Huệ, bao đồn giặc bị đánh tơi bời. Đồn Hà Hồi phải đầu hàng. Đồn Ngọc Hồi bị dập nát, Sầm Nghi Đống phải tự tử. Hàng vạn giặc bỏ mạng ở đầm Mực. Tôn Sĩ Nghị " sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc giáp...nhằm hướng Bắc mà chạy". Quân tướng " hoảng hồn, tan tác bỏ chạy". Chúng tranh nhau chạy, xô đẩy nhau rơi xuống sông. Cầu phao đứt, hàng vạn giặc bị rơi xuống nước mà chết, đến nỗi nước sông Nhị Hà bị tắc nghẽn. Bọn sống sót chạy tháo thân về nước!

   Bọn Việt gian bán nước cầu vinh như Lê Chiêu Thống, Lê Quýnh, Trịnh

chạy đến Nghi Tàm, " thình lình gặp được chiếc thuyền đánh cá vội cướp lấy rồi chèo sang bờ bắc".

 Tại cửa ải, Lê Chiêu Thống và bọn cận thần " than thở, oán giận, chảy nước mắt" trông thật bi đát, nhục nhã. Còn Tôn Sĩ Nghị " cũng lấy làm xấu hổ".

Chết nhưng nết không chừa! Lê Chiêu Thống hứa "lại xin sang hầu tướng quân", nghĩa là tiếp tục rước voi về giày mả tổ ! Còn Tôn Sĩ Nghị vẫn khoác lác: "Nguyễn Quang Trung chưa diệt, việc này còn chưa thôi!". Có thể nói, hình ảnh lũ xâm lược và bọn bán nước được miêu tả bằng nhiều chi tiết châm biếm, thể hiện một thái độ khinh bỉ sâu sắc.

Nghệ thuật miêu tả nhân vật rất chân thực và sinh động đã tạo nên những trang văn hào hùng tuyệt đẹp, vừa giàu giá trị văn chương, vừa mang tính lịch sử sâu sắc.

Một phần của tài liệu Khóa luận dung k18a đã sửa (Trang 92 - 98)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(117 trang)
w