CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT VÀ TÁC PHẨM HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ
1.1. Khái quát về hình tượng nhân vật
Nhân vật luôn được coi là yếu tố trung tâm của tác phẩm văn học, là nơi để nhà văn thể hiện tư tưởng thẩm mỹ của mình. Nhân vật văn học mang tính ước lệ, không phải bản dập khuôn như con người ngoài đời sống hiện thực.
Nhân vật được xây dựng trên nhiều quan điểm, nhiều bình diện và nhiều cấp độ khác nhau. Qua tìm hiểu tư liệu, các nhà nghiên cứu đưa ra một số định nghĩa về nhân vật như sau :
“Nhân vật văn học là khái niệm dùng để chỉ hình tượng của cá thể con người trong tác phẩm văn học – cái đã được nhà văn nhận thức, tái tạo, thể hiện bằng các phương tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ”[18;tr73]
“Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học”[6; tr 45]
“Nhân vật là yếu tố cơ bản nhất trong tác phẩm văn học, tiêu điểm để bộc lộ chủ đề và đến lượt mình nó lại được các yếu tốt có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc họa. Nhân vật do đó là nơi tập trung giá trị tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm văn học”[5; tr23].
Nhân vật văn học không chỉ là con người, những con người có tên hoặc không tên được khắc họa đậm hoặc thoáng qua trong tác phẩm, mà còn có thể là sự vật, loài vật khác nhau. Có nhiều định nghĩa khác nhau về nhân vật, với các mặt ưu điểm riêng. Nhưng nếu chỉ quan niệm nhân vật là con người trong tác phẩm thì chưa đủ. Bởi nhân vật là yếu tố, là đối tượng có sức khái quát lớn. Đối tượng có thể là con người, con người có tên cụ thể như: Tấm, Cám, Thúy Kiều, A Phủ,...Cũng có khi là những nhân vật không tên như: thằng bán
tơ (Truyện Kiều – Nguyễn Du),...Tóm lại, có thể hiểu đơn giản nhân vật là con người (tồn tại ở nhiều dạng thức khác nhau) được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm văn học, nhằm thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm, dụng ý nghệ thuật của nhà văn.
Trong tác phẩm văn học, đặc biệt là trong tiểu thuyết, nhân vật giữ vai trò quan trọng. Nó là mắt xích cơ bản xâu chuỗi, liên kết cá biến cố, sự kiện và là công cụ hữu ích để nhà văn triển khai tư tưởng chủ đề. Sự xuất hiện của nhân vật làm cho tác phẩm sinh động, hấp dẫn, hiện thực cuộc sóng trong tác phẩm văn học không còn tồn tại như một khái niệm khô khan, trừu tượng. Người đọc từ đó có thể khám phá, tưởng tượng, suy ngẫm về tác phẩm văn học. Nói đến vai trò của nhân vật trong tác phẩm văn học có thể kể đến ba vai trò cụ thể: Nhân vật là phương diện để nhà văn khái quát hiện thực; nhân vật là phương diện cốt yếu để thực hiện tư tưởng của tác phẩm; đặc biệt nhân vật quyết định hình thức tác phẩm, việc lựa chọn chi tiết, ngôn ngữ, kết cấu, biện pháp nghệ thuật thể hiện đều liên quan đến nhân vật. Có rất nhiều cách phân loại nhân vật, tuy nhiên theo các nhà nghiên cứu chia nhân vật thành ba loại:
nhân vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ. Nhân vật chính là nhân vật giữ vai trò then chốt trong việc tổ chức và triển khai tác phẩm. Loại nhân vật này xuất hiện trong các tình huống và xung đột. Số lượng nhiều hay ít phụ thuộc vào ý đồ sáng tạo của tác giả. Nhân vật trung tâm đồng thời là nhân vật chính quyết định đến việc bộc lộ chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Nhân vật này không chỉ tham gia vào các tình tiết xung đột, mà còn đóng vai trò tổ chức kết nôi những xung đột nhỏ và xung đột lớn. Nhân vật phụ là nhân vật đóng vai trò thứ yếu, có thể xuất hiện ít hoặc thoáng qua trong tác phẩm. Nhân vật phụ vừa có ý nghĩa làm rõ tính cách, số phận nhân vật chính vừa có ỹ nghĩa tương đối độc lập.
1.1.2. Vai trò của nhân vật trong tác phẩm
Văn học không thể thiếu nhân vật, vì đó chính là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách ấn tượng. Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó, về một loại người nào
đó, về một vấn đề nào đó của hiện thực. Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống trong một thời kỳ lịch sử nhất định. Với ý nghĩa như vậy, Phêđin cho rằng nhân vật là một công cụ, ông nói điều này khi bàn về tác phẩm “Sống lại” của L. Toonxtôi: “Nhêkhiliuđốp là một công cụ tinh vi, sắc bén – ngoài Nhêkhiliuđốp ra, không có ai có thể vạch ra tốt hơn những bí mật của bọn người nhà nước đang nắm giữ chính quyền, cũng như những bí mật của tâm hồn người Nga đang bị bóp nghẹt dưới chế độ Nga hoàng...Hãy thay thế Nhêkhliuđốp bằng một nhân vật khác, và như vậy “ Sống lại” cũng mất theo”.
Các loại hình nhân vật rất đa dạng. Xét về vai trò nhân vật trong tác phẩm, có thể nói tới nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm. Nhân vật chính là nhân vật xuất hiện nhiều hơn cả trong tác phẩm, đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện tập trung đề tài, chủ đề và tư tưởng tác phẩm.
Truyện Kiều có nhiều nhân vật chính, đó là Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải, Thúc Sinh, Hồ Tôn Hiến, …Trong số những nhân vật chính của tác phẩm lại có thể có nhân vật được thể hiện đặc biệt nỏi bật, có ý nghĩa tư tưởng – thẩm mỹ sâu sắc nhất, đó là nhân vật trung tâm. Ở Truyện Kiều, nhân vật trung tâm là Thúy Kiều, ở Tắt đèn là chị Dậu. Bên cạnh các nhận vật chính có thể nói tới các nhân vật phụ. Những nhân vật này hoặc được thể hiện khá sinh động như lý Cường, bà cô thị Nở, hoặc chỉ được nhắc qua một vài tình tiết như anh đi thả ống lươn, bà chủ quán, những người đi chợ buổi sớm (truyện Chí Phèo của Nam Cao). Xét về phương diện hệ tư tưởng, về quan hệ đối với lý tưởng xã hội của nhà văn, lại có thể nói tới nhân vật chính diện (còn gọi là nhân vật tiêu cực). Nhân vật chính diện thường được tác giả đề cao và khẳng định, đó là nhân vật mang lý tưởng, quan điểm tư tưởng và đạo đức tốt đẹp của tác giả, của thời đại; khi nhân vật này có ý nghĩa mẫu mực cao độ cho lối sống của một tầng lớp, một giai cấp, một dân tộc thì nó được gọi là nhân vật lý tưởng.
Còn nhân vật phản diện tất nhiên nằm trong sự phê phán, phủ định của tác giả, đó là những nhân vật mang phẩm chất xấu xa, trái với đạo lý là lý tưởng,
Nguyễn Đình Chiểu, có thể dễ dàng nhận thấy hai tuyến nhân vật này, một bên là Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Hớn Minh, Tử Trực, một bên là cha con Võ Thể Loan, Bùi Khiệm, Trịnh Hâm, v.v. Cần lưu ý: khái niệm “nhân vật chính diện” và “nhân vật phản diện” đều thuộc phạm trù lịch sử, chúng tương ứng với khuynh hướng xã hội và quan niệm đạo đực của từng thời đại, do đó không nên xem xét, phân loại chính một cách máy móc, áp đặt.
Trong văn học cổ đại và trung cổ có loại nhân vật thường xuất hiện chỉ để thực hiện một số chức năng nhất định, ví dụ: chức năng trong Tấm Cám;
chức năng cản trở, hãm hại người tốt như mụ phù thủy trong Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn. Loại nhân vật này thường không có đời sống nội tâm, chủ yếu được thể hiện ở những hành động bề ngoài và có tính cách không đổi từ đầu đến cuối tác phẩm. Sau nữa, có thể nói tới loại nhân vật tư tưởng, thường được nhà văn sáng tạo để minh họa cho một quan điểm tư tưởng của mình, hoặc để thể hiện một tư tưởng nào đó của thời đại. Trong Những người khốn khổ (V.Huygô), Giave là nhân vật thể hiện tư tưởng phụng sự pháp luật nhà nước, còn Giăng Vangiăng lại là nhân vạt thể hiện tư tưởng nhân đạo phụng sự con người…Ngoài ra, còn có thể nói tới một số loại hình nhân vật khác, nhưng nhìn chung khi phân định loại hình nhân vật phải rất linh hoạt dựa trên cơ sở khả năng phản ánh hiện thực của chúng và ý đồ tư tưởng – nghệ thuật của nhà văn.