1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Sinh thái môi trường ứng dụng = applied environmental ecology

644 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sinh Thái Môi Trường Ứng Dụng
Tác giả Lê Huy Bá, Lâm Minh Triết
Trường học Nhà xuất bản Khoa Học Và Kỹ Thuật
Chuyên ngành Môi trường học
Thể loại Sách tham khảo
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 644
Dung lượng 29,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

117 3.9 Ảnh hưởng của mưa acid đến chất lượng nước ngầm, vật liệu MÔI TRƯỜNG SINH THÁI lnfluence of Sulphate Acidification and Salthatỉon on Ecologỉcal Envirmment 4.2 Ảnh hưồng của độc

Trang 1

LÊ HUY BÁ - LÂM MINH TRIẾT

SINH THÁI MÔI TRƯỜNG ỨNG DỤN(

(APPLIED ENVIRONMENTAL ECOLOGỸ)

Ễ l l

NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT

Trang 2

LÊ HUY BÁ - LÂM MINH TRIỂT

SINH T É MÔI TRƯỜNG É G DỤNG

(APPLIED ENVntONMENTAL ECOLOGY)

NHÀ XUẤT BẲN KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT

Trang 4

THAY LỜI NÓI ĐẦU

Môi trường học (Environmental Science) la một ngành khoa học còn rất non trẻ, mới được hình thành vài chuc năm gần đây và chỉ tăng trưởng trong vài năm cuối cúa thế kv 20 Tuy nhiên, ngành khoa học thiết yếu này cũng vẫn có những chuyên ngành riêng cùa nó Trong đó, Sinh thái môi trường {Bnvironmentaỉ Ecology) là một ngành cơ bàn cùa Môi trường học Nó là ngành học họ hàng gần với Sinh thái học (Ecology) nhưng lại không hoàn toàn thuộc dối tượng nghiên cứu của Sinh học (Biology).

Với tư cách là ngành học chuyên sâu của Môi trường học, Sinh thái môi

trường có 2 phần gọi là 2 bộ môn : Sinh thái môi trường học cơ bản (Pundamental

linvironmental Ecology) và Sinh thái môi trường học ứng dụng (Applied Hnvironmental Ecology).

Tác giả viết cuốn sách này muốn giới thiệu những tư liệu, các phương pháp cùa Sinh thái môi trường ứng dụng Trong đó, sử dụng các lý luận khoa

I kk ' cúa nhiều nhà nghiên cứu về Sinh thái môi trường vào các trường hỢp kliác nhau cùa khoa học, quản lý, công nghệ, Giáo dục môi trường, và Môi trưởng nhân văn.

Cuốn sách có nhiều thông tin chọn lọc và được viết theo lối "Tổng luận khoa học", nhiều trích dẫn biện luận, phục vụ cho mục đích tham khảo cùa tác nhà môi trường, các sinh viên đại học và các trường đại học, trung học chuyên nghiộp có giàng dạy bộ môn về Môi trường học, cũng như môn học

"Con người và môi trường" Với cách viết "tổng luận" ây, dẫu rằng có "dài dòng văn tư" nhiíng chúng tôi muốn cung câ'p cho bạn đọc được nhiều thông tin, nhiều quan niệm khác nhau về Sinh thái môi trường của nhiều trường phái dang rất được quan tâm.

Sinh thái môi tĩường được ứng dụng trên nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, trong giới han nhỏ hẹp một quyển sách, chúng lôi nhận thây rằng, vẫn có nhiều phần chưa có điều kiện được dề cập Ví dụ như "phân vùng Sinh thái môi

trường", "quy hnạch và thiết kế môi trvíởng" trẻn ccf sở Sinh thái môi trường

hay là "Sinh thái du lịch" phục vụ cho "Du lịch sinh thái", "Sinh thái môi trường nhân văn "

Trong cuốn sách này, chúng tôi dã cố gắng chọn lọc nhiều thông tin tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau để cuốn sách được phong phú Tuy nhiên, sách không thê tránh khôi những hạn chế nhất định, mong được sự góp ý cùa độc giả Tấc giả chân thành cám Cfn sự nhiệt lìhh ủng hộ cúa quý bạn đọc và sự đóng góp ý kiến xin gửi đến Chi nhánh Nhà xuâ't bản Khoa học

và Kỹ thuật : 28 Đồng Khởi và 12 Hồ Huấn Nghiệp, Quận 1, TP Hồ Chí Minh - ĐT : 8225062 - 8290228 - 8296628.

Trang 5

LỜI GIỚI TH IỆU

Từ nhiều năm nay, những cụm danh từ Môi trường, Sinh thái môi trường, ô

nhiễm môi trường v.v đã được báo chí ưuyền hình, sách vở đề cập đến nhiều.

Nhân loại sống giữa uời và đâ't,dang cảm nhận đưỢc ưách nhiệm của minh,

cQng như dự đoán được những khả năng xâu như tầng ôzon Nam Cực bị thùng, inà do

nguyên nhân chính là con người gây ra cho dù có chủ ý hay không chù ý Từ nhiều thập kỷ nay đã có những lác động không tốt dẫn đến sự phá hoại môi trường sống trên trái đất, và rồi chính con người phr.i chịu hậu quả râ't nghiêm trọng.

Nhiều tổ chức, nhiều quốc gia đã quan tâm đến môi trường, bảo vệ môi

trường Nhiều tỷ đôia đã được bỏ ra để nghiên cứu cũng như tìm những giải pháp tô't cho việc bảo vệ môi trường.

Ngành Khoa học môi trường (Environmenta! Science) !à một npành khoa học

ưẻ đã đưỢc ra đời Ngay ở nưđc ta - Nhà nưđc đã râ'! quan tâm đến môi trường và việc

bảo vệ môi trường, như luật về bảo vệ môi trường cũng đã đưỢc ban hành

Các trường đại học đã bắt đầu quan tâm đến việc giảng dạy cho sinh viên ngành khoa học mới mẻ này.

Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật trân trọng giới thiệu bạn đọc cuốn sách vđi tên gọi Sinh th ii môi trường ứng dụng (Applied Environmental Ecology) củã tác giả GS.TSKH Lê Huy 8á và GSTS Lâm Minh Triết Cuốn sách là một công trình khoa học dài hơn 600 trang được viếi nghiêm túc và công phu, có nhiều thông lin quan trọng và bổ ích Cuốn sách đưỢc cấu trúc h(lp lý gồm 11 chương đề cập nhiều Víín đề

từ ảnh hưởng của chiến tranh đến môi trường; phú dưỡng hoá môi irường đến ô nhiỗm

môi trường rồi đến ảnh hưởng không tốt của việc tôn dư thuốc bảo vệ thực vật và phân bón đến môi trường đất v.v Mười một chưđng đưỢc viết súc tích, rỗ ràng, các ví dụ minh chứng đầy đủ làm sáng tỏ nhiều điều về môi trường mà nhiều bạn đọc thường quan tâm.

Cuô"n sách là một giáo trình tối trong giảng dạy, dạy và học đồng thời là tài liệu khoa học tốt cho các bạn nghiên cứu tìm hiểu về môi trường cũn2 như các nhà quản iý Nhà nước hiểu đưỢc tầm quan trọng phải bảo vệ môi trường trong lành như thế nào - khi mà các vụ phá rừng bừa bãi nạn ô nhiễm ưàn dầu xảy ra do các vụ đụng làu trên sông có chiều hưđng gia tâng

Bằng lý luận khoa học vđi các thông sô”, tư liệu đầy sức Ihuyết phục, cuốn sách sẽ cuốn hút bạn đọc ngay từ những trang đầu đôì với những người yêu thích nổ Những việc mà chúng ta coi thường, những vụ ngộ độc khi ăn phải rau không sạch còn thuốc bảo vệ thực vật vđi nồng độ cao dẫn đến tử vong đã được thống kê và trỏ thành lời răn đe mà mọi người phải thật sự quan tâm vì sức khỏe chung của cộng đồng.

Sách về môi trường, có khá nhiều tác giả viết, riêng cuốn Sinh thái Môi trường ứng dụng của GS.TSKH Lê Huy Bá và GSTS Lâm Minh Triếl, chúng tỏi đánh giá là một tài liệu có tính tổng hợp cao, có tính chuyền sâu của nghề và có lính phổ biến khoa học nên Nhà xuất bàn Khoa học và Kỹ thuật đã chọn và cho xuâ”t bẳn (lể giới ihiệu cùng bạn đọc khắp cả nước.

NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỢC & KỸ THUẬT

Trang 6

MỤC LỤC

Thai lời nói đâu

Lời (iởi thiệu.

1.3 Hai ctiộc đại chiến thê giới lần thứ nhất và íằn tíiứ hai 13

(Eutrophicatìơn of Fresh Water)

2.5 Tác động của sự phú dưỡng hóa lên hệ sinh thái nưỡc ngọt 45

2.9 Tác động qua lại ừong cộng đồng vầ sự phú dưỡng hóa 50

l i Càc quá trinh trong hệ sinh thái hồ 62

65

Trang 7

Chương J MƯA ACIO VÀ sự HÓA CHUA MÔI TRƯỜNG

(Acid Rain and Acidiỷication)

3.6 Những thay đổi hóa học trong lưu vực do mưa acid 78

3.8 Ảnh hưỏng của mưa acid đối với cây trồng và mùa màng 117 3.9 Ảnh hưởng của mưa acid đến chất lượng nước ngầm, vật liệu

MÔI TRƯỜNG SINH THÁI

(lnfluence of Sulphate Acidification and Salthatỉon

on Ecologỉcal Envirmment)

4.2 Ảnh hưồng của độc chất trong đất, trong cây đến đặc tính sinh vật

và năng suất của một số giống cây trồng và đặc tính giống

NHƯ XÓI MÒN, SA MẠC HÓA LATERIT HÓA

(Degmdations of Etrvironment as Erosion, Desertiỷication, Lateritừation)

5.2 Khái quát tinh hình đất nông nghiệp ừên ttiế giới vầ Việt Nam 174

Trang 8

chươtg 6 ẢNH HƯỞNG ô NHIỄM DẦU LÊN MỔI TRƯỜNG SINH THÁI

(Effects of Oil Poỉlution on Ecological Environment)

6.6 Ảnh hưởng sinh học của các hydrocacbon trong nước 233

6.9 Dầu loang ở những dàn khoan ngoài khơi 239 6.10 Bảo vệ môi trường và xử lý dầu tràn ở Việt Nam và thế giới 242

VẢ PHÂN BÓN LÊN SINH THẢI MÔI TRƯỜNG

(Environmental Effects of Excess Pesticide and Pertilừer)

7.2 Một số kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng thuốc bảo vệ thực vật

7.3 Sử đụng an toàn, có hiệu quả tììuốc bảo vệ thực vật 283

7.4 Thị ứường thuốc trừ dịch và số lượng sử dụng 286

7.7 Tác hại của phân bón đối với người, động vật, vi sinh vật 307

7.8 Định hướng giải pháp tổng thể về hạn chế ô nhiễm môi trường

do các hóa chất dùng ừong nông nghiệp 3 1 0

Chươĩg 8 SINH THÁI MỎI TRƯỜNG ĐẤT ƯỚT

(Wetland Environmental Ecciogy)

8.2 Phân bô - phân loại các loại đất ướt - chế độ nước 318

8.4 Chế độ nước đất ướt (Hydrology of vvetiands) 339 8.5 Địa sinh hóa của đất ướt (Biogeochemistry of vvetlands) 344

8 6 Sự thích nghi sinh học đối với môi trường đất ướt

(Biological adaptations to the vvetland environment) 360

8.7 Sự phát triển hệ sinh thái đất ướt (Wetland ecosystem development) 36 3

Trang 9

8.8 Các hệ sinh ửiái đât ngập nước d Việt Nam 365

Chííơng 9 SINH THÁI MỔI TRƯỜNG NÔNG THÔN - NÔNG NGHIỆP

(Agroecdogy - Rural Environmental Ecoỉogy)

9.1 Hệ sinh thái môi tmờng nông thôn (HSTMTNT) 384

9.3 Những đặc trưng chù yếu của sinh ửiái môi trường vùng gò đồi 414

Chương 10 MÔI TRƯỜNG SINH THÁI TOÀN CẨU, THÁCH THỨC

VẢ HIỂM HỌA

(The Glòbal Ecdogical Environment, Challenges and Hazards)

10 1 Sinh quyển, sự biến đổi sinh quyển (Biosphere and its changes) 426

1 0 ^ Sinh thái khí tuợng và ảnh hưdng của nó lên hệ sinh thái toàn câu

(Meteoroio^cal Ecology and its Effects on Global Environmental

10.3 Tác động của khí tượng, khí hậu lên hệ sinh thái nông nghiệp 460 10.4 Sự phân â n g khí hậu do tác động con người (Climate ModiĩicatioiỊ) 465

10.7 Trái đất nóng lên - hiệu ứng nhà kính và tác hại 475 Ỉ0.8 Sự tưdlig t*c gioa 'Vệt đen mặt trời" và khi gây "hiệu úng nhà kính" 502

10.9 Ảnh hudng dối với nống nghiệp khi môi trường khí hậu thay đổi 506

lỌ.lO Ozon, Ồng ozon vầ vai trò của nó đối với môi trường sinh thái 5Ỉ2

10.13 Diễn biến mội tmỉng sinh toàn cầu ttieo quá trình

(Some Appíkations of Ecotogkai Environment)

1 1 2 ứng dụng sinh thái môi trường để giải quyết vấn đề hiệu ứng

của các tác nhân lên cấu trúc và chức năng của hệ sinh tìiái 543

Trang 10

11.4 ứng dụng vào giám sát sinh thái và các hoạt động liên quan 555 11.5 Những nhà sinh thái và những vấn đề môi trường 566

11.6 Các phương pháp sinh thái môi trường ứng dụng

11.7 Lý thuyết chọn lọc nhân tạo và chọn lọc tự nhiên

11.8 Các thử nghiệm sử dụng chỉ thị cho hiện trạng hệ sinh th á i:

tiêm năng của chỉ thị sinh học trong việc quan trắc đa dạng

11.9 Phương pháp sử dụng nguyên sinh động vật để đánh giá ô nhiễm

11.10 Sử dụng Giun đất {Lumbricus terrestris) thay Chuột bạch

để đánh giá độc tính và thuốc giải độc arsen 598

11.12 ứng dụng tính nhạy cảm của động vật không xương sống

để xác định mức độ ô nhiễm do thuốc trừ sâu tồn tại trong đất 606

11.14 Xin hây thận trọng với những trận mưa đầu mùa 609 11.15 Bảo vệ môi trường ven biển - một việc làm cấp bách 610 11.16 Du lịch sinh thái và xây dựng Rừng ngập mặn Cần Giờ thành

- Phụ lục : Phân vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam 6 18

Trang 12

Everyvvhere, concerns for the environment have been increased People have realized that they are components of the environment, and must theretore

be part of the solutions to problems

Chapter one điscusses the ecologica! effects of warfare Some details are resolved : Destruction by conventional warfare, Chemical weapons in warfare, effects of nuclear warfare In them, it contains the World wars, the Vietnam war (1954 -1975), the Legacy of unexploded munitions Chemical vveapons in warfare include anti-personel agents, herbicides in Vietnam and the petrolium as a weapon in the Gulf war And, effects of nuclear warfare related to the nuclear arsenals, Hiroshima and Nagasaki hazards, nuclear test explosions, experimental exposure to ioni2ing radiation and problems of possible consequences from a Large-scale nuclear exchange

Chapter two speaks about “Eutrophication" of íresh water, includes Introduction, causes by eutrophication and case studies of eutrophication.Chapter three provides acid rain and aciditication with đetinitions of what

is acid rain and aciditication It introduces the deposition of aciđiíying substances from the atmosphere, the chemical changes within watershed, biological effects

of acidiíication, reclamation of acidilied water bodies and problem of abatement

of emissíons of acìditying substances and their precursors

Chapter four tocuses the sulphate aciditication, salti2ination and their effects

on environment, which are happened in Mekong Delta The reasons of aciditication, íirst one is from potential aciđ sulphate soils and second is caused

by the acid sulphate contamination from upstream to downstream On the other hand, the saltinization is caused by tide and ỉt's iníluertce on rice cultivation, especially in the dry season in 1999

Chapter five deals with some differential đegradations For example, the erosion process, the desertitication and lateritiíication their detinitions, characteristics and effects on the environmental components

Chapter six discusses the oil pollutíon with introduction, characteristics of petrolium, oil spillage, biological effects of hydrocarbons and ecological effects from oil pollution Some examples oil spills from wrecked tankers, oH spills from offshore drill platíorms as well as effects of oil on salt Marshes, effects of Chronicoil pollution and oil spills in Aretic as well as there were 4 times of oil spills on Sai Gon river in 1998

Trang 13

Chapter seven shows the inlluences of pesticides and fertilizes in the íieids

on environmental ecology It includes the introduction, classitication of pesticicies and fertilizes and then etlects of their use It notices that the environmental effects of the use of DDT and its relatives in soil environment on the Birds through the food chains Some poisons to people were happened in Hochiminh City, which caused by effects of pesticides onto vegetable as well as toxicities from fertilizes remain in the water supply

Chapter eight proviđes VVetland environment with the concept, classitication, distribution, water regime, the characteristics, biodiversity, adaptation and limit conditions of it on organism

Chapter nine deals with rural and agricultural environment; includes detinition, classiíication structure, components and actions of this environmeiit

as well as input, out put, changes, ecological session It describes the different between rural-agroenvironment of Northern, Middle and Southern Viet Nam.Chapter ten tocuses the global environmental changes with the “Green house gases and Green house effect“, Ozone and the ozone depletion in the troposphere, sunspot, sea level rising, Elnino, torest wildfire and their effects on ecological environment

Chapter eleven provides some applications of environmental ecology, for examplb 9ffects of stressors on ecosystem, structure and tunctions (cological effects of longerterm, chronic stress, of an intensítication of stress and reduction

in the intensity of stress) This chapter speaks about the use of the environmental impact assessment, ecologica: monitoring and related activities and then, it gives subjects of ecological and environmental problems Some environrr.ental ecological applications are resolvíng For example, uses earthvvorm as envỉronmental impact assessment of arsenic toxic

We would like to thank all the protessors, who have given opinions to build

up thi$ book In particular, we would like to express our thanks to our colteagues

at Vietnam National Unỉversity of Hochiminh City and Individuals for their inierest and encouragement

Trang 14

nằm < Bắc Phi - Đâ't nước có nguồn muôi và những cánh đồng nông nghiệp).

SỊ tàn phá của chiến tranh gây ra cho nhân loại râ't nặng nề trong đó

có nềi văn hóa và văn minh của đôi phương Chiến tranh có thể và dĩ nhiên gây n nhiều thiệt hại, mất mát khủng khiếp cho đời sông con người Chẳng hạn t ong :

-Chiến traiih thế giới lần thứ 1 (1914 - 1918) ước tính có 20 triệu nhân niạngtử vong.

-Chiên tranh thp giới lần thứ 2 (1939 - 1945) ước tính có 38 triệu nhân

Eoạt động quân sự chiếm một số lượng đáng kể giá trị thặng dư của các hoạt lộng kinh tế; hay nói một cách khác thu nhập của hoạt động kinh tế phầníớn là để chi hoạt đ,ộng quân sự Mức lăng phí cao nhất chi trả cho mục đích (Uân sự toàn cầu trong nàm 1987 là 715 tỷ đôla (trong số này 83% do

Trang 15

các nước phát triển chi tiêu, còn lại là cùa các nước đang phát triển) Đ(>'n năm 1991 khoản tiêu hao cho quán sự đă giảm xuống còn 655 tỉ (theo ty giá đôla năm 1991 thì bằng khoảng 3,6'^r ngân sách hoạt động kinh tê cùa thê giới) và tổng số tiền bán vũ khí trong nâin 1985 là 250 tỉ đỏla.

Các môi liên quan khác mà quân sự cần hoạt động kinh tế chi viện nliư lương bổng, bồi dưỡng các đợt tập huấn, các kê hoạch quân sự dài hạn, híỊu cần, phương tiện nghiên cứu thàm dò và những công việc mạo hiêm khác Giữa những năm 1960 và 1987, phi tổn toàn thè' giới cho quán sự là 17.000 tỉ USD (17.10^^), hơn hẳn phí tổn cùa thế giới cho giáo dục, y tê là 15.000 tỉ USD (15.10^^) Và cũng trong khoảng thời gian này phí tôn cúa toàn cầu tăng dần từ 640.10® lên 750.10^ USD và 850.10® USD.

Hoạt động quân sự còn chiếm số lượng lớn nguồn nhân lực Trong năm

1989 có khoảng 27 triệu người nhập ngũ vào các lực lượng quân đội khác nhau trên toàn th ế giới, còn 77 triệu người khác là quân dự bị hoặc nằm trong các

tổ chức bán quân sự, còn một số đỏng làm việc trong các nhà máy sản xuất

vũ khí, kho chứa vũ khí, các xí nghiệp cung cấp quân trang, quân phục và những thứ cần thiết khác cho lực lượng quân sự nói riêng và các hoạt động quân sự nói chung.

ở một vài nơi khác trên thê giới, diễn tiến cùa chiến tranh không được nhân dân đồng tình nên diễn ra chậm suốt thập niên 1980 và đầu thập nièn

1990 Và trong những năm đầu thập niên 1980 có các cuộc điều đình cùng dấu hiệu ký kết diễn ra về việc giảm bớt số lượng vũ khí giữa Hoa Kỳ và Liên Xô (CŨ) Gần đây hơn, Nga và những quốc gia thuộc Liên bang Xô Viết

cũ đang thúc đẩy nhanh để thực hiện các hiệp ước đã ký kết Kết quả là có nhiều lý do để có thể trỏ nên lạc quan hơn về việc giảm bớt vũ khí, giảm bớt tai họa toàn cầu do chiến tranh hạt nhân có thể gây ra trong tương lai Nhưiig nguy cơ và rủi ro vẫn chưa được diệt trừ vì vần còn những kho chứa vũ khí hạt nhân và khôi lượng vũ khí đạn dược khổng lồ còn tồn trữ ớ

hhiều nơi trên th ế giới Cấc cuộc lật (lố chính phủ cấc nước Xô V iết cũ làm

cho vũ khí hạt nhân và các tổ chức khùng bố gia tàng, phát triển với quy mô lớn hơn, mở rộng phạm vi hoạt động hơn.

Chiến tríuih tàn phá khủng khiếp, tiêu diệt vạn vật Có một điều khá quan trọng xảy ra bên cạnh cuộc sông nià chúng ta phải chú ý đến, đó là chiến tranh đă phá hủy hệ sinh thái, gáy thiệt hại nặng nề cho môi trường Tuy nhiên trong thời kỳ này việc ảnh hướng đến hệ sinh thái do chiến tranh cũng dà được đầu tư nghiên cứu và quan tám hơn nhưng vẫn chưa được đánh giá một cách đúng mức.

Ngày nay những vấn đề như thiệt hại, ảnh hưởng hệ sinh thái bao gồm các tác nhân như thuốc nổ trong các hiệp định về đạn dược, sử dụng các loại

Trang 16

khí đcc, các loại thuốc diệt cỏ và đây là những hậu quả gián tiếp và trực tiếp da chiến tranh gây ra cho con người và hệ sinh thái tại thời điểm đó và tương lai sau này.

Khi thấy được hậu quả, tác hại do chiến tranh gây nên, trực tiếp là phươni tiện chiến tranh và khả năiig xuâ't hiện hệ sinh thái mới trong tương lai, ng^ời ta nhận định rằng : "Chiên tranh quá khủng khiếp", tât cả mọi thứ

sê bị lủy diệt trong nháy mắt Thật ra có một vài dự đoán rằng khi tiến hành ũệc cho nổ vũ khí hạt nhân sẻ làm sinh quyển sụp đổ, và khí hậu trong tương lai phụ thuộc một phần vào chiến tranh.

1.2 sự T I Ê U D IỆ T BỞI C Á C v ũ KH Í C H IẾ N t r a n h

Trong mọi cuộc chiến tranh : thuốc nổ, vũ khí, đạn dược là phương tiện chủ yếu được các phe tham chiến sử dụng với khối lượng khổng lồ Người ta ước tíih :

- Trong đại chiến thế giới lần 2, khối lượng thuốc nổ đă sử dụng là 21,1.10^ kg tương đương khoảng 25,3.10^^ J nàng lượng nổ (Trong số này Mỹ sử dụng 36%, Đức 42% phần còn lại là của các quôc gia tham chiến khác).

- Trong cuộc chiến Triều Tiên tổng số đạn dược chi dùng là 2,9.10® kg (trong sô này Mỹ sử dụng chiêm 90% chiếm đa số).

- Trong chiến tranh Mỹ xám lược Việt Nam, tổng ỉượng thuốc nổ đă sử dụng là 14,3.10® kg mà hơn 95% số này do Mỹ và lực lượng quân ngụy

1.3 MAI C U Ộ C Đ Ạ I C H IẾ N T H Ế GIỚI L Â N TH Ứ N H Ấ T

V^À LAN THỨ HAI

Mi đến chiến tranh là nói đến chết chóc, gây mất mát và thiệt hại cho nhân oại Những thiệt hại nhiều nhâ't, khốc liệt nhất, và đau khổ nhất phải nói đái hai cuộc chiến nổi bật đó là đệ chiến thê' giới lần 1 và lần 2 đả xảy

ra troig lịch sử loài người Suốt hai cuộc đại chiến, các mâu thuẫn gây xung đột càig lan rộng thì con số thiệt mạng càng tăng, phá hủy các làng mạc,

Trang 17

chặn đứng sự phát triển của nền văn minh khoa học hiện đại bàng nhiều cách thức khác nhau.

Trong sô' những thiệt hại do chiến tranh gáy ra thì hệ sinh thái bị ảnh hưởng trầm trọng Trước chiến tranh, hệ sinh thái là tài nguyên thiên nhiên

vô giá của con người Nó không bị khai thác nhiều vì mục đích sử dụng lúc

đó chưa nhiều và cũng không có tài liệu nào nghiên cứu về khoa học thiên nhiên một cách tỉ mĩ và cũng không được khảo sát tường tận nên hệ sinh thái rất phong phú nhưng tư liệu về nó thì nghèo nàn Hơn thế nữa chúng đóng vai trò rất quan trọng, là thành phần côt yếu cho sự sông con người

nhưtig ít được quan tâm như ngày nay.

Khi chiến tranh xảy ra, các ảnh hưởng, tác động của chiến tranh đến hệ sinh thái lẽ ra phải được chú ý nhiều như là hậu quả thảm khốc mà con người phải nhận lấy một cách sâu sắc nhâ't Nhưng mọi thứ đều đi ngược lại, th ế chiến bừng nổ cô't chỉ để tranh giành thuộc địa và quyền lợi, xem thường sinh

mạng của con người thì hệ sinh thái còn có ý nghĩa gì ở đáy ? Đến một lúc

nào đó, việc đánh giá cao của ảnh hưởng sinh thái có thể tìm thấy trong các

ý tưởng, hay sự mô tả sinh động trong các bài viết của nhà vản theo dòng thời gian cho phép con người thấy rõ tác hại kinh khủng của chiến tranh, nó tàn phá rừng và hệ sinh thái khác Nó được miêu tả trong nền văn học và đặc biệt từ mặt trận phía Tây của đại chiến thế giới lần thứ nhất.

Các cuộc chiến có tính chất vĩ mô thường xảy ra ở những vùng đồng bằng

thấp của Bỉ và Pháp Cuộc chiến kéo dài suốt năm, quân đội trở lại chiến đâu và phòng thủ chặt chê, địa thế, chiến lược được bao bọc bằng những lũy, hào và giao thông hào được phòng thủ kiên cố, chắc chắn Trong tình huông này muôn tiến sâu vào địa phận của đối phưđng thì rất khó khăn mặc dù sử dụng nhiều phươiig tiện, thiết bị chiến tranh trong suô't các đợt mở chiến dịch tấn công của hai phe tham chiến và đồng minh Sự đôi đẩu cảng thẳng kéo dài đă hủy hoại hệ sinh thái như bỏ hoang các vùng đất nông nghiệp và phá hủy vùng rừng cây vì quân đội dÙQg chúQg làm chiến trường để sát phạt Iihau

Đặc biệt là ở những vùng đất bằng phẳng, nít nước khỏi các vùng đất thííp,

nghèo chất dự trữ vùng Planders của Bỉ, thành phố và các vùng lân cận bị tàn phá thành bình địa làm phí phạm các khu đất có giá trị phát triển công nghiệp.

Khi trở thành chiến trường, dất đai trở nên bầy nhầy như keo làm vướng lại máy móc vì các phương tiện chiến tranh và các cuộc hành quân ngang qua

đó Những đầm lầy sâu, lún được hình thành do các trận ném bom oanh tạc lẫn nhau của các bên tham chiến, làm phí phạm không biết bao nhiêu nhân lực, tài nguyên và vật chất.

Đất sét có tính thẩm thấu kém, mưa xuống, nước không thể thoát ra được làm ứ đọng cả một vùng rộng ỉđn và ngày càng lan rộng, dạng bùn nhão

Trang 18

ngày càng tăng rồi trở thành đầm lầy lún thụt Những hô' bom khổng lồ là

do ảnh hưởng của sự dội bom hàng loạt vào một chỗ Bùn tạo thành một lớp bên trên sền sệt như nhựa đường Từ các đầm lầy, hố bùn đều bốc lên mùi rất hôi, dơ dáy, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường xung quanh.

Các vùng đất bị khuấy động mạnh, rất nhiều các loại cây ở vùng này

không còn mọc được nữa vì chất độc, chất hóa học là những loại chủ yếu sử dụng trong chiến tranh, nó phá hủy toàn bộ hệ thông dinh dưỡng của cây

Tuy vậy, những cây mọc được ở nơi hôi thôi, rác rưởi, dơ bẩn lại phát triển

với có số lượng lớn, nhất là trong mùa hè Đáng chú ý nhất là cây Tức hoa

đỏ thuộc họ thuốc phiện Ngoài ra còn có loại cây dại khác nhưng số lượng không nhiều.

Các tư liệu (Martin, 1985) đề cập nhiều đến sự phí phạm của con người đối với rừng Nhiều hình ảnh về việc rừng bị tàn phá do chiến tranh được các phóng viên chiến trường viết như sau :

• Mặt đâ't khô cằn, hoang vu trơ trọi, những vỏ cây tróc khỏi thân bị vỡ vụn do bị những trận bom oanh tạc và những đợt bắn phá tới tấp, dữ dội.

• Cây côi bị thiêu rụi, hủy diệt, như những cánh tay đau khổ còn lại đă

kêu cứu một cách vô hiệu trên bầu trời tối tăm, các cành «:ây lớn bị xoắn lại, bị ỉột trụi vỏ cây và thân cây bị tra tấn hành hạ dã man bdi

bom đạn.

Đoạn cuối miêu tả các cánh rùng bị phá hủy, nhữỉig cành cây, tàn cây

lớn rậm rạp bị gày và cháy do bom đạn bắn phá liên tục : Khi những bụi cây nhỏ bốc cháy dữ dội bắt lửa lên những vỏ cây Iđn, tấ t cả như bị nhổ bật rễ ahư ta nhổ một nắm ỉông chim và khỉ đã cháy hết hoàn toàn vừng"đó là vùng trắng sáng, đem ỉại sự cằn cỗi xơ xác.

Các trận địa có rừng trong chiến tranh th ế gidi ỉAn 1 khá nhiều, nố bị phá hủy tiêu hao vô cớ Con ngưìri phí phạm rất ohỉều trong d ù ếii đấu và do khai thác rừng lấy gỗ ỉàm khí đốt và phục vụ cho a h ỉỉu mục đích quân sự khác Sự phá rừng phát quang à mặt trận phía Tây và những nơi khác được miêu tả khá chi tiết và nghiêm trọng được minh họa bdi những hìiứi ảnh và những họa đồ về sự tàn lụi, phá hủy

Thêm vào đó bên kia vùng chiến, rừng bỉ đốn chặt thu hoạch iấy gỗ à mức triệt để để cung úng nAng lượng phục vụ d ù ểo tranh Nước Bỉ hầu như

bị mất hết rừng tronp khi Pháp chl mất 10% ở các đảo của Anh, nơi khống c6 chiến tranh, mức dốn rừng gia tàng ít ‘ ’ 20% cho đến phân nửa vùng tùuti LỊ kliiú thac líuu cẩu quan trọỉ^ rniủt cùa quân sự 'í.*! với cáp khu rừng

ở Anh là cung cấp gỗ sử dụng iAm hấbn bẫy hố chốQg dưới mặt đâ't đuẹc ngụy trang cẩn thận, hoặc dưới các mỏ than cũng cần gỗ chống lò đế khai thác

Trang 19

than cung cấp nhiên liệu có tính chất chiến lược cho các ngành công nghiệp, trong các hoạt động kinh tế và cho Hải Quán Tưcmg tự với một số lượng lớn các vùng rừng như thế của Châu Àu cũng bị khai thác để phục vụ thế chiến thứ hai,

Một vài nhà thực vật học đả miêu tả hệ thực vật và các chuồi sinh thái được phát hiện ra quanh các thành phố London sau khi bị bom công phá Suốt đại chiến 2 Salibury (1943) ghi lại vị trí đánh bom và bị cháy như sau : Dầu tiên là sự chiếm ưu thế của các loài cỏ dại sau các lần cháy mọc lèn (cỏ

Ceratodon purpureus, Epilobium angustifolium), Các loài cỏ chịu được nhiệt

độ nóng cao (như Punaria hydrometrica và marchantia polimorpha) ơ nhưng

vùng bị ném bom những không bị cháy thì các loài thực vật nhiều và phong phú hơn Chiếm ưu thế nhất vẫn là các cây mọc gần nơi ô nhiểm hữu cơ gồm

có cây thuộc họ Cúc Tây (đặc biệt là Erỉgeon canadensis, Galinsoga parviịlora v.v ), các thảm cỏ {Agrostis alba, Lolium perenne và Poa annua), cây có 3 lá {Tripholium pratense và T repens), cỏ dại hoa trắng nhỏ (Stellaria m edia) và cây mă đề lá rộng {Plantago mạịor).

“ Kết quả là những nơi đã bị đánh bom, có nhiều hệ thực vật của hơn

350 loài phát triển mạnh Dựa vào vị trí tiêu biểu (có sẩn các vùng đất ẩm ô nhiễm» những nơi đó là bình địa gạch vụn ngổn ngaiig) thực vật sinh sản và tồn tại phát triển trong quần thế những cây bụi chiếm

ưu th ế hoặc dưới những quần thể thảo mộc.

- Động vật hoang dâ cũng bị ảnh hưởng bởi chiến tranh và cũng như thực vật; chỉ một số ít loài có khả năng thích nghi với điều kiện môi trường mới (đă bị hủy hoại) mới tồn tại.

- Gladstone (1919) đã bàn đến một vài tác động ảnh hưdng trực tiếp của phương tiện chiến tranh như thuõc nổ, min, bom lên nhiều loài chim trong chiến tranh thế giới I ỏng đà mô tả cái chết của loài Hải

âu (Alcids, gulls, sea ducks) do việc làm ô nhiễm dẩu trên biển từ các

tàu ngứ lòi bị chìm; nhưng nhiều Yầ đấng lên ấn nhất vẫn là những

cái chết phi nghĩa của chim chóc trong hai cuộc chiến tranh cùng nhĩrng trận xung đột khác nhau Thêm vào đó là nhừng tổn hại nặng nề tác động mạnh đến sô' lượng quần thể chim hải âu vì các trận tập bắn và thử đại bác, chim hải âu là điểm bắn trúng hay còn gọi là bia, đích bắn, mục tiêu và sô' lượng cá chết được thu gom lại lềnh bềnh trên mặt biển.

- Đáng chú ý nữa là Gladstone (1919) miêu tả cuộc sông các loài chim trên đất liền sông trong khoảng không gian mà 2 bên là các đường giao thông hào ở mặt trận phía Tây và nhiều nơi khác Nói đúng hơn

!à chúng sống giữa chiến trường đầy bom đạn, chính nơi đó giảm hẳn mnt số lượng lớn phong phú các loài, một vài loài đáng chú ý vì nó

Trang 20

ĩhanh chóng thích nghi được với nhừng tiếng nổ dữ dội của bom đạn, ĩhửng trảng bán liên tục của súng và những trái pháo khổng lồ có sức (ỏng phá lớn Tiếng nổ và chân động liên tục ở trong vùng chiến đấu cnác chắn một điều là chỉ có rảt ít loài với sô" lượng nhỏ chịu nổi thôi

7roiig số (ló đặc biệt là các quần thể chim sẻ {Passer dom esticus) loài

công đúc nhát, có tính cách thờ ơ mạnh ai nấy sống, chúng trú ngụ troiig cac vùng cáy ăn quả bị bỏ hoang và những căn nhà bị tàn phá

lới boni dạn.

^ ùng đất nối bật khác ở vùng phía Tây được mệnh danh là "đất không

ú bóng người" nhưng ở đây tồn tại loài chim cắt ịPalco tinnunculus),

Cìiin chiều chiện, chim két, chim mũi đen, chim chào mào cổ đỏ, chim Kín ca, họa mi và nhiều loài chim khác nữa Nhiều giai thoại miêu

ti lại nhừng cá thế của các loài này làm tổ ở giữa những vùng dường ihư bị phá hủy hoàn toàn, thậm chí có cả tiếng chim hót Mặt khác, Igười ta ngạc nhiên thấy chúng đi lại kiếm ăn và làm những công việc Ihác như thế nào giừa vùng bom đạn oanh tạc liên miên một cách rất linh thường.

Hột vài loài động vật hoang dã bị tiêu diệt dần và dang dần bị tiệt chủng nià hậu quả trực tiếp và gián tiếp là do chiến tranh gây nên Thần cuối cùng là mô tả của ông Peter David (1985) :

Hươu, Nai (Elaphurus diavidianus) bị giết bởi các đoàn quân tham

(liiốn trong cuộc phiến loạn mang tên Boxer ở Trung Quốc vào năm

898 - 1900 (hiện còn tồn tại trong khu rừng được sự bảo vệ của con Igười).

Ịò rừng châu Àu đã bị diệt gần hết tưởng như tiệt chủng trong đại tiiiến thê giới lần thứ nhất do việc sán bắn làm thức ăn cho đoàn (Uản; một số cá thể của loài bò rừng này bột phát trở lại, người ta bắt (ầiỊ bảo vệ và nhân giống tại nơi chúng được tìm thây để tiếp tục cuộc

/lột số loài động vật có vú lớn có giá trị thương mại lớn ở Châu Phi liên đang bị đe dọa mà hậu quả trực tiếp là do :

;) Chiến tranh và các cuộc nổi loạn chống chính quyền.

Trang 21

b) Thiếu Ổn định chíĩxh trị và liên kết chính trị, Đảng cầm quyền không

vỏ dao găm, cliế biến thuốc kích dục: kế đến là Voi ở Cháu Phi

iLoxodontia Africana) bị nguy hiêiĩi do ngà voi có giá trị kinh tê CIIO,

- Kết quả của cuộc cháến ở Thái Bình Dương trong suốt chiến tranh th ế

giới lần 2, đáng lưu ý là sự tiệt chủng một số loài động vật lớn ở những

hòn đảo xa Ví dụ, trên một hòn đảo nhỏ Iwo Jima chỉ còn 3 loài chim đất liền và một loài chim trên biển, sau một tháng khi hòn đảo bị oanh tạc, xâm lăng bdi quân đội Mỹ Chúng đươc 'gom lại" để chẩn đoán và chữa trị vết thưcỉng, để đoán được bệnh tật của chúng do ảnh hưdng bom đạn tromg tương lai.

- ở đảo Paciíìc, Guad;aleaned, sự phá hủy rừng nhiệt đới bằng các cuộc chiến đấu ác liệt cửa con người đă đuối các loài vật ra khỏi rừng, di tản đi khắp nơi Gần đây, với nhiều chính sách bảo vệ và phục hồi, chúng đă xuất hiện trd lại.

- Trong giai đoạn đầu của thời hậu chiến ở Guadaỉcanal, rừng biến thành dồi trọc và nhiều vùng dất trông; tâ”t cả bị hủy diệt hoàn toàn Toàn

bộ chim chóc chết hoặc di tản đi nơi khác, nó trở thành một đảo hoang Đến một thời gian sau, các loài cây phù hợp với môi trường bị phá hủy này phát triển nhiều; rồi đến các loại động vật trên đảo bắt dầu nhộn nhịp ríu rít tiiếng chim hót mà loại đầu tiên có mặt trở lại là

chim Sáo (Apỉonis mntaroides), kế đến là Vẹt (Acridotheres trístis), chim Én {Hemiprocme mystacea) và vài loài cây bụi khác đâm chồi phát

triển mạnh Khỉ cấ(c feụi rầìĩì phất triển dày đặc thì các thực vật eó

hạt lớn lên và chiếim ưu thế làm thành một vùng rộng lớn giống như một vương quốc; mộit sô' vài dộng vật khác cũng phát triển theo thực

vật như chim đớp riuồi (Myiagra ferrocyanea).

- Khi vùng có quần thể nhiều loại cây phát triển md rộng thành rừng cây, dộng thực vật đều phát triển, dông đúc dần và trd nên chật chội, hình thành rừng mum nhiệt đới; tỪDg nơi, từng nơi xuất hiện các (lặc dỉểm khác nhau của hệ động thực vât, chúng thích nghi và cải biến dần để thích nghi V'đi điều kiện mới.

- Trên một vài đẲo nbỏ hơn hoặc tưcmg đối xa và tách rời khỏi các dảo

Paciíìc, chiến traiứỉ là sự oanh tạc, quấy ohiễu làm nguy hiểm nghiêm trọng đến loài chim đặc thù, Ví dụ ; Trên đảo Guãin, loài gà nước

Trang 22

Laysan bị tiêu diệt, loài chim thuộc bộ sẻ (Vịt trời), thiên nga của vùng Mariaras cũng cùng chung sô' phận Giảm nhiều về số lượng, quần thể không còn phong phú như trước Đảo Wake cũng m ất loài gà nước

đặc trưng {Rallus ivakensis) (Westing, 1980).

T‘ong một vài trường hợp đặc biệt,sự đa dạng của một sô' quần thể dộng vật lại gia tăng, phần nhiều là động vật hoang dâ Hậu quả gián tiếp là do chiến ranh, thường thi điều này xảy ra khi quân cai trị hay phe liên minh cầm qiyền bớt khai thác bóc lột và một phần là do những đảo này xa vùng đá’t liềi.

Siốt hai cuộc đại chiến, sự phong phú và đa dạng của loài chim rừng ở

Anh lậ gia tăng vững chắc, mạnh mẽ vì việc sàn bắt giảm đáng kể Số lượng loài chm ăn thịt tăng nhanh vì các người canh rừng không cho săn trộm thú Mặt kiác, xác của những binh lính tử trận trong các khu rừng này đă trở thành nồi ngon cho các loài thú trong khu rừng này Càng bi thảm hơn, một

sô bini lính bị thương và mất liên lạc với bên ngoài, kiệt sức nằm tại dó

và chin đến ăn thịt

Siô't thế chiến 2, những đoàn thuyền săn cá ở phía bắc Đại Tây Dương gia tăig, và những loài cá bị khai thác triệt để, luôn cả cá nhỏ cũng bị khai thác, ^gược lại, trong các cuộc xung đột tương tự, sô' động vật sinh sản có vú

và lôn{ mao gia tăng ở phía Bắc và Đông Âu vì săn bắn và bẫy thú giảm

Với xu thế này chúng lại được lặp lại trong chiến tranh xâm lược cửa Mỹ vào

nước ti Số lượng cọp gia tăng nhanh và trô nên đông đúc ở những vùng bom

đạn, v»ng liên tục bị bắn phá và nơi gần căn cứ của quân đội Các xác chết của líih tử trận là nguồn thức ăn vô giá cho chúng Còn các loài tìiú cổ vú

và lòn,' như gấu Bắc cực (Ursus Maritimus), cáo đỏ hung ịVulpes vidpes), chó sói (Cơiis Lupus) vá chồn (Gulo gulo) vẫn tồn tại và phát triển phong phú ở

vùng c.) chiến tranh.

1.4 C Í I Ế N T R A N H DO M Ỹ G Â Y R A ở V I Ệ T N A M

vài dữ liệu lớn vể sự xáo trộn hệ sinh thái do chiến tranh gây nên cùng víi những xung đột khó tránh khỏi, bởi sự thật cho thấy sô' lưọng khổng

lồ đạn dược, chất nổ đã được chi dùng Suốt cuộc chiến do Mỷ gây ra ở Việt

Nam ( 961 - 1975) sô' lượng vQ khí chỉ riêng một mình quân đội Mỹ sử dụng thôi là hơn 14,3 triệu tấn tưctog đương 2/10 phần khối lượng vũ khí đả dùng

trong iại chiến thế giới lần 2, ĩ/2 khối lượng thuốc nổ được đưa vào không

trung, phân nửa bắn bằng đại bác và ít hơn 1/100 của các tàu chiến ngoài

khơi, "rong thời kỳ đó số lượng thiết bị nổ, thuôc nổ Mỹ tương đương khoảng

20 tri<u quả bom lơ lửng trên không gian với nhiều kích cỡ và sức oanh tạc khác ihau, năng lượng cháy nổ nằm trong 230 triệu khẩu đại bác và hàng trăm t iệu quả lựu đạn, hàng trăm quả tên lửa và súng côl.

Trang 23

Việc rải bom ồ ạt vào khoảng không rộng lớn này phá hủy toàn bộ hệ sinh thái cảnh quan của đât nước ta Một ảnh hướng đặc trưĩig là bom nổ lạo

ra những hố bom to lớn Trong nám 1967 và 1968 ước tính có khoảng 2,5 triệu

hố bom được hình thành với sức công phá của 225 - 340 tấn thuốc nò điíợc rải xuống mặt đất, Không gian phải ở trong trạng thái bảo hòa vì các (|uả bom B52 với độ cao hơn 10 ngàn mét trên bầu trời thà xuống Mỗi chuyến bay xuất kích tạo ra vùng bị oanh tạc rộng khoảng 65 hecta Tổng cộng các vùng bị tấn công, rải bom là 3,1 triệu hecta tương đương toàn lânh thổ Đông Dương, ở địa phận miền Nam nước ta bị thiệt hại nặng nề nhất : 4,5 triệu hecta tương đương 4,5%.

Phương Tây miêu tả Đông Dương : Việt Nam sè bị xé nát, bị đốt cliáy thành tro bụi khi Mỹ tham gia vào chiến tranh vùng này Một hố bom trung binh có diện tích ngang 15 m sâu 12 m Khi mưa xuống chúng trở thành những đầm đầy nước tạo môi trường sống cho các thực vật sống trong nước

và các loài côn trùng độc hại như muỗi Một số vùng nông nghiệp, các hô nước đó được sử dụng để nuôi thủy sản, làm ao hồ lấy nước tưới tiêu, trồng các loài thực vật chịu nước.

Bom rải đều và nổ tung lửa bắn cháy các vùng đất cỏ xanh um và các

cánh rừng rậm rạp ước tính phá hủy 40% diện tích rừng ở miền Nam nước

ta, đa sô' trồng gỗ thông, bạch đàn, tràm và những vùng đất đồn điền trồng chè, trồng cao su bị cháy trong trận chiến Lửa bắt nguồn từ thuốc nổ trong các quả bom công phá ác liệt Tất cả vùng sinh thái bị dội bom hoàn toàn bị hủy diệt.

1.5 C H IẾ N T R A N H V Ù N G VỊN H

Chiến tranh vùng Vịnh năm 1990 - 1991 là cuộc chiến diễn ra trong thời

gian ngắn nhưng ác liệt, gay cấn nhất Là cuộc chiến do xung đột giữa Irắc

và phe liên minh cầm đầu là Mỹ Công bằng mà nói thì lý do chính cùa cuộc chiến tranh này Ịà dành quyền cung cấp dẩu ở Trung Đông cho Châụ Âu, Bắc

Mỹ và Nhật Như cả thê giới đểu rỗ thì dầu đẵ dược khai thác và liAi trCr là

124,6 tỉ tấn mà khoảng 63% sô' này được xuâ't phát từ Trung Đông do Kô-oét đang nắm giữ Còn phía Irắc có lượng dầu dự trữ ỉà 13,6 tỉ tấn bằng 11% lượng dự trữ toàn th ế giới.

Sau khi xâm chiếm, lượng dầu tồn trừ của Kô-oét và Irắc ỉà 12,7 tỉ tăn chiếm 21% lượng dầu toàn cầu, trong khi đó phần còn lại do Ảrập Saudi và các nước Ảrập Thống Nhất khoảng 29%.

ước tính khoảng 100 - 120 ngàn quân Irắc bị giết trong cuộc chiến trunh vùng Vịnh So sánh như sau : 343 quân liên minh bỏ mạng bao gồm 143 cái chết hoàn toàn không do chiến đấu Cộng thêm 49,76 ngàn công dân Irắc thiệt mạng trong các trận ném bom của phe liên minh và chiến tranh trên mặt đất cùng với hơn 2.000 dân Kô-oét bị giết hại và mâ't tích.

Trang 24

Một vài dừ kiện về đạn dược ghi nhận lại từ cuộc chiến một cách chi tiêt ưđc tính khá chính xác là 120 ngàn tấn thuốc nổ đâ được sử dụng, hầu hết là do quân liên minh Việc sử dụng được tính như sau : Mỗi 1 trận oanh tạo là 1 tấii thuốc nổ được chi dụng cho một quân đội kẻ thù (Trong chiến

tranh ỏ Việt Nam là 1/2 tấn/1 đội quân và 1/4 tấn cho chiến tranh Triều

Tiòn).

Sự gia tăng "hiệu suất" của các quả bom oanh tạc trong cuộc chiến vùng Vịnh tùy thuộc vào việc sử dụng vũ khí Vũ khí có thể được xác đmh đúng hướng dể tấn công chính xác vào mục tiêu, hướng đúng vào các đcfn vị quân đội Irắc đang đồn trú quân trên sa mạc.

Một tai họa sinh thái là dầu bị dô't gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cùng vđi các bệnh "Di chứng vùng Vịnh" vẫn còn nhiều chục năm sau chưa xóa hết hậu quả : Các bệnh thần kinh.

1.6 TAI HỌA CỦA BOM, MÌN CHƯA N ổ

Hậu quả tại hại thứ nhì của việc rải bom, dặt mìn, các quả đạn không

110 là một khối iượng lớn thuôc nổ còn lại dưới dạng bom, mìn, đạn để lại nguy hiểm cho những vùng bị thả bom oanh tạc Sự sót lại của các vật liệu

nổ này da phần từ chiến tranh thế giới lần 2 Chẳng hạn ở OALAN còn hcm

88 ngàn tấn thuốc nổ được tìm ra và đã di dời chúng đi nơi khác Trong quá trình di đời có một khoản lợi nhuận lớn cho việc bán các chất hóa học mỗi năm, còn những thứ nguy hiểm dang tồn tại tương tự như các mối đe dọa khác từ chiến tranh mà ra Trong chiến tranh chống Mỹ còn khoảng 10% vũ khí chưa nổ tại Đông Dương do quân Mỹ sử dụng, để lại cho Đông Dương một

"di sản nguy hiểm" kếch xù vởi tổng cộng khoảng 2 triệu quả bom, 23 triệu quà pháo đại bác và hàng chục triệu vũ khí đạn dược gây nổ khác.

Thời gian chiến tranh, vũ khí được cất dấu trong các hầm để sử dụng và khi chiến tranh đi qua, các hầm chứa vũ khí mất dấu để lại hậu quả khó

lường cho mỗi lần phát hiện ra chúng Ngay trong cuộc chiến vùng Vịnh xảy

ra gần đây nhất, người ta ước tính còn khoảng 6 triệu quả mìn còn đang được

cài đặt dưới đất nhưng mất đấu, nguy cơ gây nổ sẽ rất cao, chỉ cần một yếu tô' rất nhỏ như nhiệt độ tăng cao chẳng hạn Những quả mìn giết người này không có khả năng phát hiện ra khi người ta đả dùng nam châm dể rà soát

vị trí đặt mìn vì mỗi quả mìn chỉ chứa 1 g kim loại Gần đây người ta phát hiện nhiều thùng châ't độc hóa học của Mỹ còn sót lại trên rừng Đắc Lắc, Bình Phước là một ví dụ.

Cuộc nội chiến ở Campuchia kéo dài từ 1970 đến đầu thập niên 1990 làm cho khoảng 35 ngàn người bị tàn phế suô't đời trong tổng dân sô' lúc đó

là 8,5 triệu người Hầu hết bị tàn phế do đạp phải mìn Tỷ lệ người bị giải phẫu cắt cụt chân tay do min gây ra mỗi năm là 6 ngàn người, số lượng này

Trang 25

không giảm mà ngày càng tăng vì có những cuộc chiến x ả y ra không D g ừ n g

trong thời gian k ế tiếp.

1.7 v c KHÍ VÀ CHẤT ĐỘC HÓA HỌC TRONG CHIẾN TRANH

• Chốt hóa học gitft ngưdl

Cuộc chiến tranh sử dụng vũ khí và chất độc hóa học bắt đầu được áp dụng với quy mô ỉớn là đại chiến thế giới lần thứ 1 Hơn một trăm triệu kg chất độc hóa học giết người được sử dụng gây thiệt mạng hàng loạt Những

loại chất độc hóa học được sử dụng gây hư phổi, viêm da, với các chất như

Clo, Phốtpho, Tricloromethyl chloroíormate và chloropicrin Chất độc hóa học

trong chiến tranh tồn tại dưới dạng dầu lỏng, đậm màu, mùi hôi Dung lượng phun rải ỉà 100 kg/hecta, ước tính có khoảng 1,3 triệu nạn nhân bị ảnh hưởng bởi tác dụng của nó Thêm vào đó là hàng trăm ngàn người phải chết Bên cạnh chất độc hóa học còn có các loại khí làm chết người mà chủ yếu là c s và 0-Chlorobenzonmalononitrile do quán đội Mỹ sử đụng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam với tổng lượng là 9 triệu kg c s được phun đều từ bầu trời xuống đất, trung bình từ 1 - 10 kg/hecta Hcfn 1 triệu hecta

đất bị phun xịt ở Miền Nam nước ta Những nơi bị phun xịt người ta phải di

tản đi khỏi trong vòng 15 ngày đến 45 ngày vì không cư trú được.

Về sinh thái không còn một loài nào có thể tồn tại, cả thực vật lẫn động vật Tất cả bị hủy hoại trầm trọag bởi các loại khí độc và chất dộc hóa học trong lúc xảy ra chiến tranh Ảnh hưdng này càng nghiêm trọng hom khi nó hủy diệt luôn cả các ỉoài thú hoang dã với số lượng lớn.

• Sử dụng'chốt d i« tc d 'd v iậ t Nam

Đến đúng thời điểm nhất định, chất độc hóa học được trang bị sẵn sàng cho quân đội Mỹ sử dụng Trong số các c h ít độc hóa học có,thuốc diệt cỏ phát huy tác dụng mạoh mẽ nhất và Mỹ đă chọn nó để phun xịtjjihỊliji tiứu dịệt các cứ điểm và đường mòn Hồ c h í Minh trong các cánh rừng bao phủ của ta

và phá hoại hậu phương, khũng cho cây ỉtỉa hoa màu phát triển, nhằm cắt đứt chi viện hậu cần cho tiền tuyến Đây ỉà một chương trình có dự tính kỹ càng với quy mô rộng lớn Hơn 1,4 triệu hecta dết bị rải chất độc, trong đó

ỉ triệu hecta ỉà diện tích đất miền Bắc nước ta kể cả đất trổng trọt Chưang trinh này được áp dụng 1961, đạt đến đỉnh cao 1967^rồi chấm dứt năm 1971 Phần lớn châ't độc hóa học được sử dụng có công thức pha chế hỗn hợp

tỷ lệ 50 : 50 do hai chất 2,4,5-T với 2,4-D cho ra một loại chất độc mà ai cQng biết đến đó là "chất độc màu da cam", bên cạnh đó chất piclogram và cacodylic axỉt vẫn được dùng nhưng ít hơn.

Trang 26

Sau đây là bảng tóm lược khôi lượng chất độc hủy diệt do quân đội Mỹ

sử dụng trong chiến tranh Việt Nam.

Bảng 1.1 Bảng thống kố khối iượng chất độc hóa học

Mỹ đã sử dụng trong chiến tranh xâm iược việt Nam.

(Nguòn : VVesting, 1971 và Tusnor 1977).

Tổng cộng hơn 25 triệu kg chất 2,4-D và 21 triệu kg chất thuốc 2,4,5-T

và 1,5 triệu kg chất piclogram được rải trong chương trình này của quán đội

Mỹ Mức thu hoạch tương đối mỹ mãn của Mỹ vì trung bình cứ khoảng 12 kg

loại 2,4,5-T hòa với 13 kg 2,4-D phun xuống cho 1 hecta đất Áp dụng càng triệt để gay gắt hơn cho những vùng đã ký hiệp ước phát triển rừng Khoảng

86% khối lượng chất độc hóa học được phun xịt vào các cánh rừng nhằm mục

đích hủy hoại, số còn lại để phá hoại đất trồng.

Các chất độc hóa học trải đều khắp nơi, rừng bắt đầu rụng lá, động vật

số thì di tản, số bị ảnh hưởng chất độc thì bị chết Ảiìh hưởng bắt đầu nghiêm

trọng khi chất độc hóa học phát huy tác dụng Tên của chiến dịch này là :

"Thuốc diệt cỏ hủy diệt hệ sinh thái toàn diện" Hành động này bị thê' giới phản đôì kịch liệt, nhất là các hoạt động chống phá môi trường, phải mất rất nhiều thời gian để cải tạo lại môi sinh cho hệ sinh thái những vùng rộng lớn phát triển trở lại; như&g tất cả đã muộn.

Mặc dù chất thuốc diệt cỏ trải đầy ở Việt Nam ảnh hưởng lên hệ sinh thái nhưng không có một tài liệu nào mô tả chi tiết về sự tàn phá và bị tàn phá này Nhưtig các nhà sinh thái học đă làm cuộc khảo sát nhanh và tái hiện lại môi trường bị hủy diệt để xếp chúng lại thành một sự kiện lịch sử theo một trình tự thời gian Những hiện tượng này được mô tả lại như sau :

"Hệ thực vật đại quy mô nhất là rừng đã bị rải chất độc hóa học nhiều nhất,

Trang 27

toàn bộ hệ sinh thái bao gồm động và thực vật bao quanh với diện tích rừng

là 10 triệu hecta ở Miền Nam Việt Nam, chiếm khoảng 60% diện tích đâ't Rừng ngập mặn đặc biệt nhạy cảm với tác dụng của thuôc diệt cỏ, ít nhất

có khoảng 110 ngàn hecta vùng đất duyên hải bị rải châ't độc mà rừng ngập mặn Cần Giờ (trước đây gọi là "rừng Sát") và rừng ngập mặn Ngọc Hiến, Đầm Dơi là những ví dụ điển hình Hầu hết các cây tụ họp trong cánh rừiig ngập mận (bao gồm các cầy chiếm ưu th ế như Đước, Mắm) đều bị tiêu diệt Trong toàn bộ diện tích rừng bị tàn phá bởi chất độc hóa học của Mỹ thì loại rừng ngập mặn này chiếm 36%.

Kết quả là dưới ảnh hưởng của việc phun thuốc diệt cỏ lên hệ sinh thái ngập mặn làm cho những vùng đang phong phú, màu mỡ, đa dạng, đông điíc trở nên nghèo nàn Đất bị mất hết chất dinh dưỡng, cây cỏ không đâm chồi, đồng bằng duyên hải trở nên khô cằn, trơ trụi Các loài cây mọc lại để thích nghi với môi trường mới này về cơ bản phát triển chậm, lưa thưa một số cồy bụi hoặc rừng Chà Là dại với gai nhọn mọc um tùm.

Những năm trước thập niên 1980, những thảm thực vật bị chất độc hóa

học tiêu diệt ở những vùng rừng ngập mặn đã phát triển trở lại nhưng không

còn giá trị thương mại nữa, như cây cỏ lác biển, cây ngập mặn, cây bụi nhỏ, cây dương xỉ và các loại cỏ ô rô, cóc kèn, ráng đại và cỏ nước mặn hoặc rau muông tím nước mặn Có một vài biến động quanh việc phát triển lại rừng

do các loài cây khác mà chủ yếu là những cây sống được trong độ mặn như

Đước { R h i z o p h o r a Apiculata) được trồng lại trên 100 ngàn hecta Mức độ để

trồng cây khoanh lại thành đồn diền chỉ còn khoảng 50% diện tích so với lúc trước và rải rác ở một sô' nơi không nhiều Chiến tranh của Mỹ ỏ Việt Nam

sử dụng các chất thuốc diệt cỏ để hủy hoại các khu rừng ngập mặn duyên hải, dẩn đến loại hlnh sinh thái mới nhiều bất lợi.

Ảnh hưởng nghiêm trọng hcfn hết là các loại cây quý hiếm trong các rừng nguyên sinh với sấ ỉượng nhiều, quần thể đa dạng phong phú gồm cả khu rừng nguyên sinh diện tích là 10,5 triệu hecta Các ỉoại thực vật ở vùng đâ"t nhiệt đới này là các loài hoa bí tử họ Dipterocarpaceae và họ Leguminoseae

Có loại cây cao trên 40 tn hoặc cao hơn nữa nhưng trung bình từ 2 m trở lêti Còn một phần thuốc diệt cỏ trên không trung chưa tác dụng kịp thòi

cũng bắt đầu phát huy tính năng của nó, tàn phá 10% cây ở tầng thấp hon

(vì rừng nhiệt đới của ta có 5 tầng) Tổng số các cây rụng lá thì nhiều hơn

ỉượng thuấc phun xịt nhưng bản thân DÓ không thể tránh khỏi tai họa khủng

khiếp này Đâ thế, các máy bay Mỹ lại tiếp tục phun thuốc lần 2 Vì vậy,

khoảng 34% trên tổng sấ diện tích đất trồng cây lại ở trong tinh trạng thê thảm hơn ỉần đầu Lần này thì các cây có tán lá rộng, nhánh sum xuê chỉ còn trơ gốc, các cây thấp, cây bụi và những thực vật mọc sát mặt đất đều bị phá hủy đến tiêu điều xơ xác.

Trang 28

Tổng số loài gỗ có tiềm năng thương mại bị phá hủy bởi vũ khí đạn dược

và chât độc hóa học ở Miền Nam nước ta là khoáng 47 triệu m^ Duy chỉ còn

sót lại một vài loại cây trồng tương đôi ít bị ảnh hưởng của châ't thuôc diệt

cỏ VI nằm dưới các tàn cây to mà chi bị rải chất độc có 1 lần Những loại cây

này sinh sôi nảy nở rồi cạnh tranh thúc đẩy nhau phát triển tràn lan khi

những cáy làm mái che bên trên đã chết Ví dụ loại cây hứng chịu hết tất cả

các chất độc hóa học che chờ cho các cây bên dưới phát triển là Irvingỉa malayana và Parinari annaniense Còn có thêm một vài loại cây còn sông sót

như cây mọc thấp gần mặt đất khi có cây lớn bên trên che chở; nhưng số lượng loài này hạn hẹp Nhưng chính loại này lại bị xâm lấn bởi các cây mọc

bải rác chiếm uu th ế nhiều hơn, đây là loại cây duy nhất tồn tại sau 2 đợt

phun xịt Các loại tre, nứa, vầu, trúc như là Bambusa, Thrysostachys sp và

O xyteranthera spp, Thrỵsos sp Và những thảm cỏ dại như cỏ tranh, cỏ hôi,

cò trinh nữ ựm perata cylindrỉca và Rennisetum polystachyon) bắt đầu mọc trd

lại.

Xuất hiện đầu tiên của hệ thực vật là cây hai lá mầm gồm các loài A dina scnssilifolia, R adỉa tomentosa, Coiona auriculate v.v mọc tập trung thành một vùng và thêm một số loài cây khác thêm đông dúc hẳn ra Khu rừng tái sinh dần dần được hình thành nhưng còn phát triển chậm Bên cạnh đó có vài loại sinh vật có khả năng tái sinh cao được trồng trên các khu rừng đâ

bị chất độc hóa học tàn phá để tái tạo lại rừng tự nhiên.

Động vật bị ảnh hưởng mạnh nhất thì phải nói đến động vật hoang dã sống trong các khu rừng bị hủy diệt đó Sau khi rải chất độc hóa học với quy

mô lớn, môi trường sông của động vật trong các khu rừng ở phía Nam nước

ta, không có con sô' nào chứng minh cụ thể nhưĩìg có một vài ghi nhận cho thấy, các quần thể giảm hẳn Từ một sô' ỉượng râ"t lớn các loài đang râ't phong phú đông đúc, nhất là chim chóc, các loài động vật có vU, loài bò sát và vài ioài thú hoang dă khác tiêu biểu thi nay không còn nữa Ngoài ra, các loài

cá sống gần bờ cũng bị tiêu diệt gần hết Việc nghiên cứu các thời kỳ bi đát,

về cái chết của các loài động thực vật trong vùng nội địa cũng bị thay đổi

hoàn toàn vì tác dụng cửa thuôc diệt cồ.

Trên nhiều vùng của Tây Nguyên và 80% vùng rùrng nhiệt đới, ngưởi ta chỉ còn tìm thấy 4 loài chim và 5 loài động vật có vú so với số loài ban đầu của chim là 175 loài và của động vật có vú là 30 - 55 loài trước 2 đợt rải chất độc hóa học (Võ Quý, 1984) Nó chứng tỏ thời kỳ hệ sinh thái dộng thực vật bi đát nhất.

Việc nghiên cứu sự biến đổi khác nhau của vùng rừng bị rải chất độc hốa học đă giảm bớt sô' lượng, không còn da dạng phong phú như liỉc trước Động vật có vú còn tồn tại rất ít nhưng một sô' loài khác thì gia tãng, các loài được

mô tả là đông đảo nhâ't về số lượng trước lúc bị rải chất độc hóa học là : iợn

Trang 29

rừng đực iSu s Scofa), bò rừng nước (Bubalus bubaỉis), dê Sumatran (Capri- cornis), cọp Parthera và các loài hươu nai đa dạng khác (Pam ily Cervidne)

nhưng sau này thì gần như tuyệt chủng Đáng lưu ý là khi có môi trường n»ới sau tác dụng của thuốc diệt cỏ, các loài động vật có cơ hội phát triển mạnh

như chuột nâu (Aíus cervicolor), chuột Sladen và các loài chuột khác cộng thẽm

một sô' loài sống theo chủ nghĩa cơ hội nữa (Westing, 1980) Như vậy thuốc diệt cỏ là một trong số các loại chất độc hóa học ảnh hưởng xấu dến dời sống động thực vật và làm thay đổi môi trường theo chiều hướng tệ hcrn rất nhiều

so với tình trạng ban đầu.

Một tác hại nữa cũng không kém phần quan trọng là tác hại của thuôc diệt cỏ làm ảnh hưdng đến hệ sinh vật, gây ra các bệnh khó chữa cho động vật và các loài cây bị biến dạng, dị hình Sau khi rải chất dộc hóa học, người

ta dưa ngay ra một bảng báo cáo kết luận về các căn bệnh có thể xảy ra cho các loài thú nuôi trong nhà, thú hoang dã, động thực vật và cả hệ sinh thái môi trường và sức khỏe con người Một số loài chịu ảnh hưởng trực tiếp của

chất độc hóa học như bò đực, bò ư ở Châu Á (Bos indicus), loài lợn lớn (Sus scropha). Cùng nhiều căn bệnh ác nghiệt khác có thể dẫn đến cái chết vô lý cho gà, lợn, vịt nuôi trong nhà Đó là các báo cáo về căn bệnh do thuôc diệt

cỏ gây ra không có phương pháp chữa trị và ảnh hưdng đến các th ế hệ mai sau Các bài bắo cáo đố còn cho biết thuôc diệt cỏ còn hiện diện ngay trong thức án của súc vật 18 - 20 năm sau khi phun xịt Các tội ác, thử đoạn đồi bại được vạch trần và được phổ biến rộng răi nhưng hậu quả tác hại của nó vẫn ngấm ngầm phát triển một cách độc ác trong cơ thể con người, động thực vật và môi trường chung quanh.

Thêm một tác hại nữa trong việc sử dụng chất thuôc diệt cỏ phenoxy ở

nước ta là sự nhiễm chất phóng xạ của một trong số các chất độc hóa học có công thức 2,4,5-T có chất đồng phân cực mạiih như dã biết là TCDD (2,3,7,8- tetrachlorodibenzo - p-dioxin) TCDD là một chất phụ được hình thành trong

quy trình bào chế ra 2,4,5^T là một địch hòa tan có thể được bảo quản tộ't

dưới mức độ max < 0,1 phần triệu, được sản xuất ra từ viện bảo vệ môi trường của Mỹ Châ't độc hóa học 2,4,5-T dùng để phun rải ở Việt Nam nhiễm phóng

xạ hoàn toàn với chất TCDD Người ta đo lường cụ thể TCDD có nồng độ

khoảng 45 phần triệu chất độc hóa học, đó là con số quá lớn và trung bình

khoảng 2 phần triệu Tính ra con số có lẽ khoảng 110 - 170 kg chất TCDD được rải chung với thuốc diệt cỏ ở Miền Nam nước ta TCDD được biết đến

bởi được bào chế vói độc tính rất cao, tác dụng của nó rất khửng khiếp gây

ra việc sinh thiếu tháng, sẩy thai ở động vật có vú lớn khi bị nhiễm một lượng phóng xạ nhỏ Đối với loài người, ảnh hưdng của chất phóng xạ iiày

k h ó p h á t h i ệ n v ì n ó k h ô n g g â y h ậ u q u ả n g a y , b i ể u h i ệ n ả n h h ư ở n g c ử a DÓ

trên cơ thể của con người rất khó nhận ra Khi chế biến ra 2,4 ,5-T có lượng

Trang 30

TCDD con người không hiểu rõ tác dụng của nó trở ngược lại với chính người trực tiếp bào chế ra nó.

Cin bệnh nghề nghiệp sẽ dần dần lộ ra do ảnh hưởng của TCDD trong suốt qjá trình sản xuất ra 2,4,5-T và các chất độc hóa học khác hoặc các châ't

nó hóf học trichlorophenol ở Seveso trong nhà máy chế tạo châ't độc hóa học

Nếu động vật trúng phải chất độc hóa học phóng xạ TCDD, sẽ chết ngay trong vòng 33 ngày.

Eáng lưu ý là khi rải chất độc hóa học không đến 2 tuần rưỡi mà có khoảng 700 ngàn người di tản đi khỏi các vùng cư trú bị nhiễm chất phóng

xạ nặig gần các nhà máy hóa học Sự xuâ't hiện TCDD ở Severo làm cho

117 triờng hợp bị bệnh về da giông như là Chloracne, tác dụng của nó cũng giống nhau, gầy mụn trứng cá cho cá nhân ở độ tuổi thanh niên nhưng ngày càng Ighiêm trọng hctn Sâu xa hơn nữa là sự thông kê đáng quan tâm lo lắng lì tỷ lệ phụ nữ trong thời kỳ mang thai sẽ bị quái thai rất cao trong các vùng >Ị nhiễm chất phóng xạ như ở Ý (Kilpatric, 1980).

Quan trọng hcfn hết là các chất hóa học, trong đó có 2,4,5-T chứa một lượng không nhỏ chất làm nhiễm phóng xạ TCDD, bên cạnh đó có nhiều cuộc tranh iuận về ảnh hưởng của nó xảy ra cho con người ỉàm thay đổi nhận dạng

xạ git tăng về vấn đề sức khỏe của lực lượng không quân liên quan trực tiếp

đến diưomg trinh phun rải chất dộc hóa học, ảoh hưởng đến khả Qăng làm

cha cia những đứa trẻ sơ sinh thiếu ngày, dị tật và biến dạng Người ta bắt

dầu tến hành quan sát đấi với phụ nữ d các vùng bị chất độc và nghiên cứu thốní kê những người cha là cựu chiến binh có tiếp xúc với chất độc hóa học Hàng loạt các cuộc nghiên cứu diễn ra và người ta kết luận, ti lệ ảnh hưởng của ciất phổng xạ TCDD lên phái nam ít hcm lên phái nữ, nó có thể gây ra các qiái thai khi phụ nữ có mang Ảnh hưởng của hàng triệu tấn chất độc màu ia cam lên con người rất khủng khiếp, ta còn có thể thấy được biểu hiện cùa ĩổ qua th ế hệ con cháu của những người bị nhiễm chất độc hốa học này Các »ố liệu chứng tỏ, những ảnh hưởng của phái nam có nhẹ hơn của phái

nữ niưng hậu quả thì khổng kém phần bi thảm Hàng chục ngàn trường hợp

bố bi nhiễm thì con bị dị tật hoặc ngớ ngổn, hoặc -ìi:' : lihicu Iiuùug hfíp ât cX những đứa C O I I cùa cựu chiên binh bị tàn phê bẩm sinh Tuy vậy,

quan điểm khoa học có xu hướng thay đổi được số phận, tức là họ đft nghiên

cứu ^à tìm ra phưcTQg pháp chữa tri nhung râ't tốn kém.

Trang 31

Trong ngành dịch tể học, người ta đưa ra nhừng đề nghị về các ảiih hưởng lớn tác hại cùa chát phóng xạ có khả năng biểu hiện ra bên ngoài của cộng đồng loài người và đề nghị này được ủng hộ Chất độc màu da cam có những ảnh hưởng đặc biệt giống như chất TCDD cộng với ảnh hưởng sinh thái trực

tiếp và gián tiếp giông như thuốc diệt cỏ ở Việt Nam.

1.8 X Ă N G D Ầ U L À M Ộ T D Ạ N G v ũ K H Í T R O N G C H IẾ N t r a n h Một S ố lượng lớn xăng dầu được sử dụng và gảy ô nhiềm trong chiến tranh, Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này là do sự cố ý bắn phá nhắm vào các con tàu có hầm dầu đang neo đậu ngoài khơi Hành động này là một mưu lược trong chiến tranh vùng Vịnh, về phía Irắc thì có lợi vì sẽ phá vở nền kinh t ế cùa Kô-oét sau chiến tranh Anh hưdng này lan rộng toàn th ế giới, Sự tràn ngập xăng dầu trên bề mặt đại dương trong khoảng thời gian suốt chiến tranh vùng Vịnh, khi quân đội Irắc cô ý làm tràn 8.10^ tấn dầu thô vào vịnh Batư từ một vài tàu chở dầu ngoài khơi,., và Kô-oét hứng chịu hoàn toàn.

Người ta nỗ lực triệt để để sử dụng nguồn nước biển đưa vào cho Ảrặp Saudi làm th ế nào để không bị ảnh hưởng lượng dầu thô này vì lượng nước này cung cấp 80^ lượng nước sạch cho đất và có chiến lược to lớn Hơn thế nữa, người ta còn phải tìm cách ngàn ngừa và xử lý lượng dầu tràn mà tác dụng của nó ảnh hưởng đến hệ sinh thái đại dương.

Khoảng 770 km đường biển ngẫu nhiên bị ô nhiễm của các chất cặn bả của xăng dầu, ảnh hưởng nhiều nhất là Ảrập Saudi, ở những nơi không có sóng lớn, dầu thô và cát quyện lại sền sệt làm thay đổi môi sinh từ từ, số lượng này phát triển lên» dày 35 cm trên mặt đại dưcmg Khoảng 20 km đường

bờ biển được trải rộng nhiều dầu bao phủ Một nám sau ngày đổ đầu trên

bề mặt đại dương thỉ bề mặt biển bị phủ một lớp dầu bên trên và các loại vi khuẩn của môi trường nhiễm bẩn này thích nghi và phát triển mạnh trong

đó ỉoài Micròcỏlêus sp., Spirulin a sp, chiếm ưu thế.

Việc tràn dầu làm chết ít nhâ't khoảng 20 30 ngàn chim biển, phần

l ớ n l à c h i m có sô ' l ư ợ n g đ ô n g c ủ a v ù n g t r à n d ầ u n h ư c h i m c ò n g c ọ c g i ô n g

chim như vịt nhưng chân không có màng Thêm vào đó là những loài chim biển, 260 ngàn chim biển bị tiêu diệt dần do ảnh hưởng của sự tràn dầu, 2.000 con bị ảnh hưởng bởi dầu đà được cứu sông và đưa về chữa trị, nhưng trong sô^ này chỉ có 20% sông sót trong sự đau đớn Động vật cố vú ở biển như Rùa biển, Rắn biển cũng bị chết do tác hại của dầu,

Ngoài thiệt hại dầu tràn còn có sự phá hủy do đôt cháy 788 giếng dầu trên tổng sô^ 1.116 giếng ở Kô-oét nám 199L Sự đô't cháy dầu làm đọng lại các cặn bă và khói bụi trên đất liền và không trung Khối lượng xáng dầu từ

Trang 32

các giếng xăng dầu bị đô't ước tính khoảng 2 10^ -)■ 6.10® tấn/ngày và người

ta đă lấp phân nửa sô' lượng giếng dầu bị đốt trong vòng 6 tháng tính đến đầu tháng 11 năm 1991.

Nhiều loại xàng dầu và hiển nhiên là khí Methane chủ yếu bị đốt cháy trong không khí Một khối lượng lớn xăng dầu bị đốt cháy khoảng 5 21.10^ tấn dầu thô chứa trong các hô dầu sâu 7 mét Việc đô't cháy các giếng dầu tạo ra lượng khói dầu tương đương khoảng 10% lượng dầu đô't cháy Điển hình là những dày khói bay lên độ cao từ 3.000 5.000 m và cao nhất là 6.700 m và được phát hiện ở độ cao 10.000 m ở Kô-oét Những suy đoán ban đầu cho rằng bâ't luận thế nào thì những dãy khói từ các giếng dầu có thể ảnh hưởng làm thay đổi toàn cầu trong tương lai do các hiện tượng "albero"

vA hiệu ứng nhà kính Đây là một trong những ví dụ điển hình theo như trình bày cùa một nhà vật lý học sau khi đã quan sát tình hình (Carl Sagan, 1994)

và ông đã được mời phỏng vấn trên chương trình truyền hình ngày 22.1.1991 thật ngắn gọn nhưng chi tiết từ các giếng dầu bị đốt cháy : "Chúng tôi nghĩ rhng màn khí quyển sẽ bị ảnh hưởng tương tự như sự bùng nổ núi lửa Tambora

ớ Inđônêxia năm 1815 Kết quả là nàra 1816,như cả th ế giới đều biết,là năm

dó không có mùa hè Nền nông nghiệp thất bại nặng nề ở Đông Âu, ỉoài

người phải chịu đựng hậu quả này và nạn đói diễn ra, một vài nơi bị chết đói Đặc biệt ở Bắc Á ,dây khói giăng dài dường như ngăn thành một bức tường của bán cầu bắc với các vùng khác".

May mắn thay, dự đoán này của Carl Sagan và những dự đoán khác trong thời gian dài, đã được chứng minh là quá bi quan Vì những dăy khói không bay cao đến mức đủ đến tầng bình lưu khí quyển dể làm thay đổi khí hậu

toàn cầu Nhưng ở phạm vi cục bộ thì khói và sương quyện khói có độ ô nhiễm cao trên không trung trở nên dày đặc có thể che kín mặt trời giữa ban ngày, kết quả là trong tương lai gần ,thời tiết sẽ rất lạnh Nói một cách khác các trận mưa đen và tuyết xa trên cao vài chục ngàn mét khó xảy ra, vì người ta

đã sử dụng một số dụng cụ đo lường lên không trung cho nó bay theo các làn

khói gây ô nhiễm và tìm thấy một lượng rất nhỏ 0,5 -> 1 mg/m^ khối, trong

đó có khoảng 0,46 phần triệu CO2; 0,5 -> một phần triệu SO2, 0,03 -> 0.06phần triệu khói NO và O3 là 0,13 phần triệu so với 0,08 phần triệu bên ngoài dãy khói.

ơ những vùng lân cận đang lo sợ viền cảnh khủng khiếp của các vùng

co dẩu bị đô't cháy Xung quanh các cánh đồng bị dốt cháy lại có những bể dầu và các làn khói bám đầy ô n g William Reilly, quản lý viện bảo vệ môi trường của Mỹ nói : "Xăng dầu đă đốt cháy các công viên quốc gia, biến chúng thành những vùng tôl tăm, khói che mù mịt Tôi chưa bao giờ thấy ở bất cứ nơi nào có nhiều tác dộng xâu làm suy thoái môi trường như hiện nay".

Trang 33

1.9 C Á C Ẳ N H HƯỞNG C Ủ A C H IẾ N t r a n h h ạ t n h â n

Hầu hết tất cả mọi người, dù là không nhiều, nhưng ai cũng hiểu về khả năng tàn phá nặng nề của vũ khí hạt nhân và các vùng giới hạn bị vũ khí hạt nhân phá hủy nhằm mục đích hoán đổi chiến thuật Vũ khí hạt nhân tiêu diệt loài người và nền văn minh của họ như bài diễn văn của Đại Hội đồng LHQ dề nghị tổng thông Mỹ John F Kennedy nên chấm dứt chiến tranh :

"Loài người phải châm dứt chiến tranh hoặc bằng không chiến tranh sẽ kết thúc loài người" ít nhất, câu nói này mang một ý nghĩa sinh thái môi trường

rõ rệt

Chiến tranh hạt nhân còn là vấn đề nan giải cho việc xử lý hệ sinh thái

tự nhiên Báo Westing 1987 đă mô tả chiến tranh hạt nhân như sau : "Cuôi cùng chiến tranh hạt nhân đă bất kính với thiên nhiên".

[ VIRÚT NHUYỄN THỂ NGUYỀN SINH DỘNG VẬT

VI KHUẨN NẮM MỐC RÊU, TẰO CÔN TRÙNQ

I TÒM CUA

BÒ SẢT ( l ư ỡ n g Cư

ị_ jC À

ị THỰC VẬT BẬC C ầ O CHIM

tiéu phỗng xạ gầy chết nghỉềm trọng

JL _ 1 _ I _ L

Trang 34

Bảng 1.2 Độ nhạy cim của các dạng thực vật

đối vđi sự lon hóa phóng xạ*

Dạng thực vật

Liều (10^ rmé) Thtệt hại th íp Thiệt h«l trung bình ThlẬt h«l nặng

a- Nguồn do Harwell và Hutchison (1985) cung cáp, sử dụng dữ liộu của Whicker và Schultz

(1982).

b- Rad là liều hấp thụ lượng bức xạ ion hóa, lá một cách do liều lượng của ion hóa búc xạ, một thuật ngữ cùa năng lượng hẩp thụ Rad thay dổi theo các dạng bức xạ và mối trường

vặt lý mà nó đi qua.

Bảng 1.3 sự phân bố năng iượng được giải phóng

từ nổ bom nguyên tử tròng tầng đối lưu*

Năng Itlợng

Dung lưộng Kích thữđc bom

N ỉn g iưộng g iỉi phóng theo kteh thuớc bonĩ

(10’ * J)

(10’ ® J) 9.1 MT

Trang 35

Hinh 1.4 Phạm vi các liều gãy chết của ion hóa phóng xạ

đối với các nhóm sinh vật khác nhau.

Nguỗn do Harwall & Hutchison (1 9 ^ ) và sử dụng số liệu của Whichker và Scl.ultz (1982).

Quốc gia

Vũ khí chiến ìiiợc Vũ khí chiến thuật Tổng cộng

Đều đạn (10^)

Dung lượng (10^ MT

Đều dạn (10*)

Dung iượng (10®) MT

Đ ìu đọn (10^

Dung lượng (10® MT) Hoa Kỳ

37 - 50

4 - 8

7 - 1 1 0.2 - 1 0.2 - 0,4 0,1

11 - 20

Vũ khí chiến luợc được nhân rộng ra hàng ngàn km Vũ khí chiến thuật được thiết kế cho mgc đích đánh trận hoặc hăm đọa Một mega tấn (MT) lầ năng lượng nổ tương đuơng với năng lượng chứa trong 1 triệu tấn TNT, nghĩa là tưđng đuớng với 4.2 X 10® J.

Được hiệu chỉnh bỏi Grover & White (1985).

Bảng 1.5 Thiệt hạỉ do bom nguyên tử nổ đối vớí vùng

trong tầng đốl liAi hay trên mặt đất.

sinh vật

Diện tích b| thiệt h9l (ha)

18-kT bom

0.91-M Tbom

9.1-MT bom

18-kT bom

0.91-M Tbom

9.1 -MT bom

Trang 36

• Các lò họt nhân

:)ầu thập niên 80 việc sản xuất ra các loại vũ khí, chất nổ hạt nhốn là khoáag 11 20.10^ triệu tấn TNT (2,4,6 - trinitrotoluene - là thành phần thuốc nố có trong mìn) Con sô này lớn hơn 1.000 lần tổng ỉượng sản xuât ] 1-MĨ' của tất cả các loại chất nổ phi hạt nhân được sử dụng trong chiến traiil', thế giới lần 2 là 6 triệu tấn, chiến tranh Triều Tiên là 0,8 triệu tấn và chiến tranh Mỹ xâm lược Việt Nam là 4,1 triệu tấn Cuôì thập niên 80 lò vũ

khi hit nhân dược tiêu chuẩn hóa dựa trên cơ sở mỗi đầu người trên trái đất

tương đương 3 - 4 tấn TNT Việc sản xuất thuôc nổ dựa trên các chiến lược của va khí hạt nhân Khoảng châ't độc tương đương 6 triệu tấn TNT được thả xuống từ (!ộ cao cả ngàn mét nhiều hơn Hoặc nó còn có trong các ngòi nổ cùa t(ii lửa, 0.2 triệu tân được dùng ở chiến trường Giữa những năm 1980 các Ic hạt nhán cho ra 4.300 phương tiện vũ khí chiến đâu, các loại chủ yếu

là léi lứa, hóa tiễn, máy bay tầm xa Trung bình mỗi cái, mỗi chiếc 6 ngòi

nô tn n tốP.g sô' iượng thuốc nô là 11 ngàn triệu tấn.

FJio vũ khí hạt nhâu toàn cầu được giảm bớt từ nàm 1983, tổng số là 64,4 Igàii triệu tân xuông còn 26,7 ngàn triệu tấn vào giữa năm 1993 Tiến

xa hơi trong lĩnh vực giảm vũ khí hạt nhán này của toàn th ế giới được dự tính \à xứ lý với sự cộng tác của Mỹ và Liên Xô cũ Gần đây nhất, vũ khí hạt niân giảm xuông còn 10,6 đến 14,6 ngàn trong năm 2003.

• Hai thành phố Hiroshima và Nagasaki ổnh hưỏng bổl vũ khí họt nhân

Nột vài thông báo ngắn gọn được phổ biến rộng răi để đoán trước hậu quả !iòi trường trong tương lai có khả năng xảy ra theo chiều hướng xấu do

Mỹ SI dụng nhiều thuôc nô’ mang tính chất vũ khí hạt nhân trong các cuộc xung cột giữa các nước có Mỹ tham dự Tuy vậy chỉ có 2 trường hợp được xem

là nặi^ nề nhâ't, mặc dù không có việc nghiên cứu sâu sát hệ sinh thái nhưag một vii tác hại sau đó thu nhập được cũng đủ để chứng minh rằng vũ khí hạt nlản thật tàn nhẫn và khủng khiếp Môi trựờng con người lầ nạn nhân trực tiìp ciia các trái bom này.

Ci 2 kế hoạch này được Mỹ áp dụng để chống trả lại Nhật Việc làm

này đíợc thực hiện trước khi kết thúc chiến tranh th ế giới lần 2 Một quả bom d/ợc thả xuống thành phố Hiroshima ngày 6/8/1945 có hiệu suất công pliá lè 0.015MT của TNT và một quả được thả xuống thành phố Nagasaki, rnột và ngày sau đó, có hiệu suất công phá là 0,021 MT Các quả bom hạt nhân lày so ra còn tương đôi nhỏ so với những ngòi nổ có tính chất chiến lược nfày nay có hiệu suất gấp trăm ngàn lần mà hiện tại còn khoảng 0,6 triệu tấn đêi nhiều nhâ't là 6 triệu tấn.

Txing mỗi trận oanh tạc trên không, nó đã được nổ tung ngay trên độ cao khiảng 500 - 800 m Quả bom thả xuông Hiroshima giết 140 ngàn người,

Trang 37

tưcmg đưcmg 40% dân cư ở tlhàmh phô đó, Quả thứ 2 thả xuống Nagasaki giết chết 74 ngàn người tương điươing 24% dân cư ở thành phố đó.

Ảnh hưởng đầu tiên là llànn chết người, thứ 2 là phá hủy của cải vật chất

do nổ cốt mìn và năng iượDig nhiệt Khi 50% năng lượng nổ tạo ra các làn sóng mạnh, chuyển động quanlh tốc độ nhanh khủng khiếp và độ vang dội âm thanh truyền rất xa, khoảng 111 km trong 30 phút Sức ép nể mìn gây chấn động cho các nhà cao tầng mằim trong khoảng 2 - 3 km từ tâm của vỊ trí nổ Năng lượng nhiệt chiếnr 1/3 năng lượng nổ, những quả cầu iửa đủ nhiệt mang đến cư dân ở gần táim của vỊ trí nổ khi cốt min nổ và bắt lửa trong vòng 2 - 4 km gây ra việ c (chiáy lan rừng Lửa phát ra từ quả bom bắt sang

từ những vật cháy được, thiiêm trụi 13 km^ ỏ Hiroshima và 6,7 km^ đất ở

Nagasakỉ Những ảnh hưởng: tiiếp nối của các nguồn khói và năng lượng nhiệt

đủ để phá hủy khoảng 2/3 icủia 776 ngàn tòa nhà ở Hiroshima và 1/4 của 51 ngàn tòa nhà ở Nagasaki.

Sự bức xạ ion được hiìmh thành bởi 15% hiệu suất nổ của các quả bom, khoảng 1/3 lượng bức xạ iom được phát ra trong vòng 1 phút, phần còn lại làm sự nổ gia tăng bdi sự pihâin rà năng lượng phóng xạ thành bụi phóng xạ rơi xuông vật chất Sau 2 tirậm ném bom lớn có những trận "mưa đen", được phát sinh bởi một số khí dii chuyển bằng sức nóng đi lên cao, tạo ra những ngọn lửa to Những trận imuía bị đen bởi bồ hóng hay tàn tro có năng lượng phóng xạ cao Giữa nhữnig íảnih hưởng khác thi năng lượng ion gây ra bệnh

nhiễm phóng xạ cho nhiềiu mgiUời còn sống trong đợt dội bom ở lần nhất.

Triệu chứng của bệnhi bũểiu hiện bằng những thay đổi đột ngột của cơ thể như sự buồn nôn, nôn nn&a, tiiéu chảy, rụng tóc, sốt, cơ thể yếu dần, nhiễm trùng máu và có sự chảy imáu trong ruột, lợi, răng, máu mũi và cơ quan sinh dục bên ngoài.

Người ta tranh căi s»ự :xuất hiện bệnh lây nhiễm phóng xạ ngấm ngầm phát triển bên trong trónìg ììiiột tỉiơỉ gian iigắn Tuy nhiên cuối cùng có một

sự khẳng định tương dôli dhimhi xác sự gia tăng và những ảnh hưởng của những bệnh về mắt đáng được luíu tâiiĩi cùng với sự rối loạn máu, khối u ác tính, rối loạn thần kinh, bệiìh hạcdh cầu Nỗi đau này vẫn còn chưa thể so sánh được với những mất mát to lớni nuà trong lòng con người phải gánh chịu và im lặng đáng nói là nhân dân Nhiậtt.

• ViẬc thử nghlộm chiốtt nế hạt nhân (vũ khí hợt nhân).

Một vài tin tức được: bũếtt đến từ sự quan sát các cuộc thử nghiệm chất

nổ hạt nhân do Mỹ điề u ỉkhũển từ suôít thập niên 50 Sự nổi bật của việc thử nghiệm là tiêu diệt hệ sinah thiái trầm trọng, giảm bớt số lượng quần thể đang sống đông đúc trên vòng; mgoiài ảnh hưởng thử nghiệm và khoảng cách khá

Trang 38

xa từ tầm bắn Sau khi nổ hàng loạt, hệ sinh thái vừa được phục hồi lại bị

hủy diệt lần nữa Ví dụ như vùng thử châ't nổ ở sa mạc Mohave ở Nevada

lãm chết 89 loài sống trên mặt đất ứng với 10 kg thuốc TNT và nhiều nhất

là 67 kg thuôc.

Tiếng nổ long trời Id đất ở những vùng trung tâm của sự sống 73,0

^ 204 hecta, hủy hoại toàn bộ hệ thực vật trong khoảng đất 400 - 1.375 hecta nhưng không có thiệt hại vật chất của vùng xa 3.255 hecta Bắt đầu trong năm đầu tiên sau khi nổ, cây cỏ tróc vỏ, rụng lá, rối loạn sinh trưdng, và cũng bắt đầu bị xâm lấn bởi các loài cây tiên phong thích ứng được với môi trường mới.

Loài cây, như cây cỏ dại mọc lộn xộn, kéo dài theo thời gian, các loài này được ihay th ế bằng loại cây đa niên để tồn tại lâu hcfn Toàn bộ hệ thực vật cứ nôi tiếp nhau phát triển rồi bị hủy diệt, nhất là ở các vùng sa mạc vì các kế hoạch thử vQ khí cứ xảy ra liên tục, phát triển rồi lại bị diệt vong,

n h ư v ậ y n ó t r ở n ê n l ộ n x ộ n , t h e o c h i ề u h ư ớ n g x ấ u đ i v à b ị x á o t r ộ n t r ầ m

trọng.

Đã thế, Mỹ còn tiến hành các cuộc thử hạt nhân trên đất liền ở các quần

đáo Nam Thái Bình Dương Năm 1962, Palumbo nghiên cứu 7 loài cây leo

trên dảo Delle thuộc họ Noivetok Archipelago tập trung phát triển cách trung

tâm nổ khoảng 4,3 km ỉà những loại cây bị phá hoại đầu tiên sau sự nố nhưng lại phát triển râ't nhanh và đầy đủ cả về số lượng chỉ trong vòng 6 tháng Sau đó, đảo Eỉugelab bị xóa tên trên bản đồ vì địa hình biến đổi từ đảo thành

hồ nước.

Một vài cuộc nghiên cứu khác như Fosbeng (1959), tường thuật lại ảnh hưởng của bụi phóng xạ với khấi lượng lớn với những cuộc kiểm tra hạt nhân trên mặt đất của đảo Bikina năm 1954 và một số đảo khác như các quần đảo Marshall, ở những hòn đảo bị thiệt hại nặng nể nhất thì 13 trong tổng sô'

15 loài của hệ thực vật được quan sát ở một cấp bậc khác nhau ljởi các nhà nghiên cứu các bệnh dịch tễ học cho thấy, đa số chúng có những triệu chứng

không bình thường mà hầu như tấ t cả là do nhiễm iượng phóng xạ; 3 loài thì

nhạy cảm với phóng xạ, 2 loài khác thì thích nghi được trong môi trường bị

nhiễm xạ Trong khi đố, các vùng đảo ở xa nơi thử hạt nhân thi ít bị ảnh

hưởng hơn.

• Tác họi được chứng minh dựa trén cóc thí nghiệm bức xọ ion.

Một vài quá trình nghiên cứu thực nghiệm cung cấp nguồn tin tức quan trọng dùng để tiên đoán các bức xạ ion ảnh hưởng hệ sinh thái từ các chất

nổ có chứa nguyên tố hạt nhân hoặc các loại vũ khí hạt nhân hoặc từ những dụng cụ khác nhau.

Trang 39

Vì lượng nhiễm xạ ion giảm khi địa hình phức tạp và khi khoang cách

từ các nguồn tăng Ví dụ, giảm khoảng 50% khi qua 1 cm gỗ Có vùng thực vật thì bị tiêu diệt hủy hoại hoàn toàn Nhưng lại có trường hợp sau 6 tháng các bức xạ chiếu sáng vào vùng cằn cỗi sẽ khứ diệt trùng cho vung đó vưi iượng bức xạ xấp xỉ 345 Ronghen (RVngày.

Thêm vào đó có 4 trường hỢp xảy ra cho các vùng thực vật đxợc tạo rn

>■ Có một vùng trung tâm bị phá hủy với lượng bức xạ > 2)0 R/ngày, Những cây đặc trưng của vùng không sông nổi nhưng ít nhất cũng có

một vài loài bryophyte và địa y sông sót khi độ phóng xạ trên

1.000 R/ngày Đáng chú ý là loài chông chõi, ví dụ các địi y ở nước

Anh, Cladonia critatella.

>■ Giữa con sô' 200 và > 150 R/ngày có những vùng mà các oại cây sa

thảo chiếm ưu thế với hầu hết là loài Carex pensylvanica.

>■ Giữa < 150 và > 40R/ngày có những vùng cây bụi chiếm liU th ế bới

cây Thạch Nam, các loài ngắn ngày, các loài cây sồi (Quereut ilicifolia).

Giữa < 40 và > 160R/ngày là những vùng chiếm ưu thê lởi các cây sồi cỡ lớn.

Tóm lại "ảnh hưởng cuộc chiến tranh đến hệ sinh thái" đă quá rõ Hiện tại chúng ta đang phải đôi phó với sự trừng phạt của thiên nhiên n>à hậu quả

của nó ỉà do con người ở những thập niên trước gây ra Các hiệa tượng EI

Nino và La Nina hoành hành dữ dội khắp toàn cầu, gây thiệt hại klủng khiếp cho nhân loại Con người vừa dối phó với các hiện tượng này vừỉ phải dối phó với hiện tượng với hệ sinh thái bị hủy diệt, vừa chịu đựng cá: châ't hóa học gây ra cho con người nhiều chứng bệnh kỳ quặc chưa tìm ra '.huôc chữa hoặc kinh phí rất đắt Tư<hig lai của loài người phải gánh chịu chính những hậu quả do mình đã từng gây ra.

Lũ lut, cháy rừng xảy ra liên ỊXiiên ở miền Trung trong năm 1998 và gần

đây nhất là hai trận lụt khủng khiếp, liên tiếp xảy ra vào tháng l ỉ vầ 12 ỏ các tỉnh miền Trung đã gây ra nhiều thiệt hại rất nặng nề về ng/ời và của

Hệ sinh thái, hệ thực vật suy giảm, ở rừng Việt Bắc và Tây Ngjyên miền Đông Nam bộ, môi trường bị tác động mạnh do con người thiếu / thức bầo

vệ và bệnh tật do con người gây cho chính mình hoặc gây hại cho tgười khác

Cụ thể là những người lính chịu những "trận mưa" chất độc khai hoang quân đội Mỹ đă rải xuống khắp những cánh rừng nhiệt đới của chiến tiường Binh Trị Thiên Sau nám 1975 đất nước thống nhất, những người líni còn phải làm nhiệm vụ tháo gỡ bom mìn và thu gom những hố chôn chất hóa học

căn cứ Lành Ngạnh, Phong Điền, Thừa Thiên - Huế đầy nhữtg bao hóa châ't nồng nặc mà nhiều đổng đội dã ngâ't xỉu khi đă ngửi phải những người lính này trd về lập gia đình, con của họ và chính ngay cả họ ning mang

Trang 40

trong người mầm bệnh do nhiẻiĩi chất độc hóa học Chính phủ đà có chỉ thị cho Bộ LĐTB-XH phòi hợp với các cơ quan địa phương tổ chức điều tra xác định nạn nhân bị hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh trên phạm vi toàn quốc Cuộc điều tra đá diễn ra trong 2 năm 1998 - 1999 bắt đầu thực hiện từ ngày 18/04/1998 Đối tượng điều tra là các cán bộ chiến

sì, thanh niên xung phong, và các đôì tượng khác đã công tác sin h sông ở

nhừug vùng bị rái chât độc hóa học trong chiến tranh có con dị dạng, dị tật hoặc bản thán mang nhừng mầm bệnh hiểm nghèo do chất độc hóa học gây nén.

Ngày đăng: 27/01/2023, 17:04

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w