33 . HÓA HỌC CÙA MƯA ACID
3.7.4. Ảnh Kưdng của mưa acid dốl VỚI các nguồn lợl thủy sân
Ảnh hưởng quan trọng nhất của mưa acid dối với các hệ động thực vật dưới nước là sự giảm mật độ các loài cá, đặc biệt nó sẽ gây th iệt hại cho câu cá giải tri và ảnh hưởng trực tiếp đến vân đề kinh tế của ngành du lịch.
Những hệ động thực vật nước bị ảnh hưởng của mưa acid sẽ gây ra các ảnh hưởng khác như :
- Ảnh hưởng đôì với con người, những người àn phải cá sông trong các ao hồ chứa nước mưa acid mà thịt của chúng tích tụ hàm lượng kim loại cao;
- Sự suy giảm một vài nhóm phiêu sinh động vật, tảo, thực vật nước mà nó sẽ phá vỡ chuỗi thức ăn trong hồ gáy ra khả năng mất cân bằng sinh thái.
Nhiều nghiên cứu đâ cho thấy rằng cá hồi đặc biệt nhạy cảm ở mức pH thấp, ở ahững mức pH thấp như thế sẽ cản trở quá trình sinh sản của cá hồi và thường ỉàm cho bộ xương của cá hồi bị biến dạng. Hàm lượng nhôm cao trong nước bị acid hóa thực sự ỉà một mối nguy hiểm cho các ỉoài sinh vật sống trong nước. Cá sống trong môi trường nước như thế sẽ bị chết hàng loạt và các sinh vật nhạy cảm khác như loài giáp xác phiêu sinh vật cũng có khả năng bị chết.
Trong các hồ, khỉ nước có tính kiềm hay gần như trung tính, hàm lượng nhôm rất thấp. Tuy nhiên khi pH giảm, lượng nhôm ở dạng không hòa tan có hàm ỉượng rất cao trong đất đá, bùn lắng ở đáy sông hồ bắt đầu hòa tan vào trong dung dịch (nước sông hồ bị acid hóa). Khi đã hòa tan vào trong dung dịch, nhòm chỉ cần ỗ nồng độ thấp (từ 0,1 mg/ỉ đến 1 tng/l) cũng có độc tính cao đối với nhiều loài thủy sinh. Mặc dù nồng độ của nhôm tăng theo qui luật hàm SỐ mũ trong khoảng pH nằm dưứi giá trị 4,5 - 4,7, nhưng nó có độc tính đối với cá ngay khi ở pH cao hơQ giá trị này. Nhiều nghiên cứu ở Đại học Comell do Baker và Schotield thực hiện (1980) đă chứng minh rằng dộc tùih tối đa của nhốm đối với cá xảy ra ở giá trị pH dao động trong khoảng 5,0. Điều này là do tính chất hốa học của nhôm khá phức tạp, các hình thức và tỷ lệ của chúng trong dung dịch thay đổi theo pH. Nhốm ở dạng ion tự do chủ yếu xảy ra khi pH của dung dịch thấp hơn 4,2, h in h th ứ c n à y c ứ a n h ô m tr o n g d u n g d ị c h l à Cực k ỳ đ ộ c . Khi pH trong khoảng 5,0 thì nhôm trong dung dịch chủ yếu à hinh thức hydroxyl và độc tính đ5ì với cá sẽ giảm dần khi pH lớn hơn hay nhỏ hơn giá trị này. ở pH bằng 5,0, nồng độ của nhôm
lớn hơn hay bằng 0,2 mg// sẽ gây tổn thưctog cho mang cá và ức chế sự tiết ra chất nhờn trên mang cá. Chất nhờn tiết ra từ mang cá quá ít, sẽ gây khó khàn cho hô hấp của cá. Ngoài ra, chính sự ức chế này sẽ làm tổn thương đến tình trạng nguyên vẹn của các lớp màng bán thấm của mang cá, mà nhờ các lớp màng này cá có thể trao đổi khí và các muôi khoáng với môi trường.
Vì vậy, không những chỉ có sự tăng nồng độ ion làm chết và giảm mật dộ cá mà sự có mặt của nhôm kim loại do sự hòa tan từ đất đá, bùn lắng ở đáy ao hồ cũng góp phần không nhỏ vào thảm họa này. Có lẽ mức độ độc hại chủ yếu xảy ra trong nước có pH trong khoảng 5,0 và chắc chắn cũng xảy ra ở pH bằng 4,0.
Trong một số trường hợp Cá có thể bị chết và giảm số ỉượng do nước bị acid hóa, còn thông thường thì chúng không thể sinh sản được trong môi trường nước acid này. Vi vậy, sau nhiều năm thiếu sự sinh sản sẽ dẫn đến
"dân s ố già" của cá gia tăng và cuôi cùng là cá biến m ất khỏi hồ và các sông, suôi.
Một vài khu vực trên thế giới bị ảnh hưởng bởi mưa acid được nêu ra dưới đáy (Freedman, 1994) ;
- Nhiều sông hồ ở Nova Scotia, không còn khả năng nuôi sống (hay ỉà môi trường sống), loài cá hồi Atlantic nữa;
- Khoảng 200 hồ ở Adirondacks trên vùng cao thuộc bang New York không còn khả năng nuôi sống cá hồi và cá vược Smallmouth nữa. Hàng ngàn hồ trong khu vực này đã mất khả năng đệm dôì với mưa acid.
- Trong số 4.016 hồ đă dược kiểm tra ở vừng Ontario, có 155 hồ (4%) được phát hiện dã oỊ acid hốa, và khả năng của chúng dể nuôi sông các ỉoài thủy sinh vật lè n .t hạn chế. Tổng cộng khoảng 2.896 hồ đâ ít nhiều nhạy cảm với sự acid hóa.
Hiện tượnp tương tư cũng đã xảy ra ỗ nhiều con sông miền Nam Na Uy cũng như trong nhiều hồ có giá trị ở Gallovvay - Scotland và ở vùng Erzgebirge thuộc Đông Đúc (cũ), ở những nơi này nhiều loài cá hoặc bị biến mất một cách bất ngờ hoặc chịu thiệt hại dẫn đến sự giảm sô' ỉượng rõ rệt trong hơn 30 nâm qua.
Nhiều loài lưỡng cư như ếch nhái (Frogs), cóc ỰToads), kỳ nhông iScUa- m anders) đẻ trứng tiong các ao, vũng tạm thời mà chúng hình thành do các trận mưa. Trứng và sự phát triển phôi thai của các loài này bị phơi hay ngâm trong các cơn mưa acid sê bị chết hay đột biến gien nở ra các sinh vật dị dạng. Nhiều điều tra và nghiên cứu thực địa đâ xác minh rằng 80% trứng của kỳ nhông không thể nở trong nước có độ pH khoảng 6 ,0 . Còn đối với ếch nhái bị phơi hay ngâm mình trong nước có độ acid khoảng 4,0 đưa đến tỷ lệ tử
vong lớn hơn 85%. Các ioài lưỡng cư là những thành viên quan trọng của cả hệ sinh thái nước và đất. Chúng là những mắt xích quan trọng trong chuỗi thức ăn bởi vì chúng là thú ăn thịt chinh đối với các loài côn trùng và sâu bọ dưới nước dồng thời chúng còn là nguồn thức ăn giàu protein cho các ỉoài chim và động vật có vú.
Một số nhóm sinh vật như loài nhuyễn thể bao gồm các dộng vật có vỏ cứng (ấc, con hà, con trai, và con sò) sông phụ thuộc chủ yếu vào nguồn calcium trong nước; chứng sử dụng caỉcium để cấu tạo bộ xương bảo vệ bên ngoài cơ thể chúng : Bởi vi nước acid dễ dàng hòa tan carbonate caỉcium và làm thiệt hại đến nguồn caỉcium mà các sinh vật này sử dụng, nên chúng không thể sống sót trong các nguồn nước lứiư vậy.
Nhiều loài giáp xác (họ tôm hùm) trong nhóm bơi tự do nhỏ đã biết như là phiêu sinh động vật cũng rất nhạy cảm khi độ acid của nước tăng lên.
Nhiều loài phiêu sinh động vật này là nguồn thức ăn cực kỳ quan trọng cho cá. Sự biến mâ't của loài phiêu sinh có thể dẫn đến sự biến mất một vài loài cá cho dù các loài cá này không chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi độ tăng acid của nước.
lấn
Hkih 10. Diễn biến năng suất đánh bắt cá hồi Atlantic ở cảng cá thuộc các con sông vùng Nava Scotica. S ố liộu đâ được tiêu chuẩn hóa và qui về các điều kiện chuẩn để so sánh với các con sông bị hóa chua và ít bị hóa chua.
{Nguồn:Preedman).