1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

2 tom tat tieng viet homaudung 6513

12 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kết luận về Xây dựng các đại đoàn chủ lực trong kháng chiến chống Pháp
Trường học Học viện Quân sự
Chuyên ngành Lịch sử Quân sự Việt Nam
Thể loại Báo cáo, Tổng kết
Năm xuất bản 1954
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 301,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng các đại đoàn chủ lực làm nòng cốt cho toàn quân, toàn dân kháng chiến là yêu cầu khách quan trong quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng.. Lý do lựa ch

Trang 1

KẾT LUẬN

1 Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ

Cộng hòa vừa mới ra đời đã phải đối mặt với thù trong, giặc ngoài

Thực dân Pháp đã quay trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ hai Để

tiến hành cuộc kháng chiến thắng lợi, phải xây dựng được các đại

đoàn chủ lực Xây dựng các đại đoàn chủ lực làm nòng cốt cho toàn

quân, toàn dân kháng chiến là yêu cầu khách quan trong quá trình

lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng

2 Đánh giá đúng âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp; tình hình

thế giới, khu vực và yêu cầu nhiệm vụ kháng chiến, Đảng đã kịp thời

hoạch định chủ trương xây dựng các đại đoàn chủ lực Chủ trương xây

dựng các đại đoàn chủ lực, được xác định từ Hội nghị cán bộ Trung

ương lần thứ sáu, được bổ sung và phát triển qua các văn kiện của Đảng

Những chủ trương đã phản ánh toàn diện, tính chất, mức độ của cuộc

kháng chiến, đòi hỏi ngày càng cao trong xây dựng các đại đoàn chủ lực

3 Thực hiện chủ trương của các hội nghị và Đại hội lần thứ II,

Đảng đã chỉ đạo tiến hành xây dựng các đại đoàn chủ lực từng bước

vững chắc, chất lượng ngày càng nâng cao Tập trung xây dựng các

đại đoàn trên các mặt: quân sự, chính trị, hậu cần - kỹ thuật Thông

qua nhiều biện pháp, Đảng đã lãnh đạo xây dựng các đại đoàn chủ

lực có tổ chức biên chế gọn nhẹ; nâng cao trình độ chiến thuật, kỹ

thuật và chất lượng chính trị; các chế độ, tiêu chuẩn được cụ thể hóa

Trên cơ sở đó, Đảng đã phát huy vai trò của các đại đoàn chủ lực, đánh

bại ý chí xâm lược của thực dân Pháp

4 Tổng kết quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng các đại đoạn chủ

lực (1949 - 1954), cho thấy: Đảng đánh giá đúng âm mưu, thủ đoạn

của thực dân Pháp và thực tế của Việt Nam để đề ra chủ trương đúng

đắn Quá trình chỉ đạo, bám sát thực tiễn, Đảng kịp thời xử lý đúng

những vấn đề mới nảy sinh Các đại đoàn chủ lực được xây dựng

vững mạnh và lập được nhiều chiến công xuất sắc Tuy nhiên, bên

cạnh những thành tựu là chủ yếu, quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng

các đại đoàn chủ lực vẫn còn những hạn chế nhất định

5 Thành công, hạn chế trong lãnh đạo xây dựng các đại đoàn chủ

lực, cho thấy rõ vai trò quyết định của Đảng Trên cơ sở đó, luận án đúc

rút những kinh nghiệm có giá trị tham khảo, vận dụng trong điều kiện mới

vào xây dựng các sư đoàn vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu nhiệm

vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Xây dựng các đại đoàn chủ lực (nay là sư đoàn) làm nòng cốt cho toàn quân, toàn dân kháng chiến là một chủ trương đúng đắn của Đảng trong quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Với vai trò

là lực lượng cơ động, tác chiến tập trung, hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, các đại đoàn chủ lực đã phối hợp cùng các đơn vị chủ lực, bộ đội địa phương (BĐĐP), dân quân du kích, thực hiện những đòn đánh tiêu diệt lớn quân chủ lực của Pháp trên hướng chiến lược, làm chuyển biến cục diện chiến tranh, tiến tới đánh bại hoàn toàn ý chí xâm lược của thực dân Pháp Trên thực tế từ năm 1949 đến năm 1954, được Mỹ tiếp sức, thực dân Pháp đã tăng cường lực lượng, đẩy mạnh càn quét, bình định; bổ sung vũ khí, trang bị, xây dựng các phòng tuyến, tập đoàn cứ điểm kiên cố Cùng với đó, quân Pháp ráo riết phản công, tấn công trên khắp các chiến trường và đẩy mạnh thực hiện chính sách “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” Những âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp, nhằm tiêu diệt bộ đội chủ lực (BĐCL), đè bẹp ý chí, tinh thần kháng chiến của quân, dân Việt Nam

Trước bối cảnh đó, với tầm nhìn chiến lược, Đảng đã lãnh đạo xây dựng các đại đoàn chủ lực vững mạnh Với chủ trương đúng đắn, sự chỉ đạo sâu sát, toàn diện của Đảng, các đại đoàn chủ lực được xây dựng, lớn mạnh về mọi mặt, nhất là trình độ tác chiến Trên cơ sở được xây dựng vững mạnh về mọi mặt, Đảng đã phát huy vai trò của các đại đoàn chủ lực trong các chiến dịch, góp phần quyết định vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Tuy nhiên, bên cạnh những thành công là chủ yếu, quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng các đại đoàn chủ lực từ năm 1949 đến năm 1954, vẫn còn những hạn chế nhất định

Nghiên cứu Đảng lãnh đạo xây dựng các đại đoàn chủ lực từ năm 1949 đến năm 1954 là vấn đề có ý nghĩa thiết thực Góp phần làm phong phú thêm lịch sử Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954); cung cấp thêm những dữ liệu để lý giải

vì sao Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam mới ra đời, vũ khí, trang bị thiếu, lạc hậu nhưng đã đánh thắng quân đội nhà nghề của thực dân Pháp có vũ khí hiện đại, sức cơ động và trình độ tác chiến cao, lại được đế quốc Mỹ tiếp sức

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực đang diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo Nhiệm vụ xây dựng QĐND, xây dựng nền quốc

Trang 2

phòng toàn dân vững mạnh nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã

hội chủ nghĩa (XHCN) đặt ra những yêu cầu mới Mặt khác, các thế lực

thù địch chưa từ bỏ âm mưu thôn tính Việt Nam khi có thời cơ thuận lợi

Vì vậy, nghiên cứu, làm rõ Đảng lãnh đạo xây dựng các đại đoàn chủ lực

trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp từ năm 1949 đến năm 1954,

đúc rút những kinh nghiệm có giá trị tham khảo, vận dụng vào xây dựng

các sư đoàn trong thời kỳ mới là việc làm cần thiết

Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề, đến nay đã có nhiều công

trình nghiên cứu về các đại đoàn chủ lực, được đề cập dưới nhiều cấp

độ, phạm vi khác nhau Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên

cứu một cách độc lập, toàn diện, có tính hệ thống về Đảng lãnh đạo xây

dựng các đại đoàn chủ lực từ năm 1949 đến năm 1954 dưới góc độ

chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Từ những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài “Đảng lãnh

đạo xây dựng các đại đoàn chủ lực trong cuộc kháng chiến chống

thực dân Pháp từ năm 1949 đến năm 1954” làm luận án tiến sĩ Lịch

sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Làm sáng tỏ quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng các đại đoàn

chủ lực trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp từ năm 1949

đến năm 1954 Trên cơ sở đó, đúc kết những kinh nghiệm có giá trị

tham khảo, vận dụng cho xây dựng các sư đoàn của QĐND Việt

Nam hiện nay

Nhiệm vụ nghiên cứu

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Làm rõ sự cần thiết xây dựng và đẩy mạnh xây dựng các đại

đoàn chủ lực từ năm 1949 đến năm 1954, qua hai giai đoạn: 1949

- 1951 và 1951 - 1954

Hệ thống hóa, phân tích làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng

về xây dựng và đẩy mạnh xây dựng các đại đoàn chủ lực từ năm 1949 đến

năm 1954, qua hai giai đoạn: 1949 - 1951 và 1951 - 1954

Nhận xét và đúc rút kinh nghiệm Đảng lãnh đạo xây dựng

các đại đoàn chủ lực từ năm 1949 đến năm 1954

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động lãnh đạo của Đảng về xây dựng các đại đoàn chủ lực trong

cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp từ năm 1949 đến năm 1954

4.2.4 Xây dựng các đại đoàn chủ lực từng bước vững chắc, phù hợp với thực tiễn, yêu cầu của cuộc kháng chiến

Bám sát thực tiễn, Đảng đã tổ chức xây dựng các đại đoàn chủ lực từng bước vững chắc, phù hợp Trên cơ sở các trung đoàn chủ lực được xây dựng thành những đơn vị chủ lực mạnh, Đảng đã thành lập Đại đoàn

308 Khi cuộc kháng chiến có sự phát triển, nguồn viện trợ quốc tế tăng lên, Đảng đã tổ chức xây dựng các đại đoàn 304, 312, 320, 316, 351, 325 Việc xây dựng các đại đoàn chủ lực được Đảng thực hiện từng bước vững chắc, không chạy theo số lượng Bước đầu, xây dựng thí điểm, khi có đủ các điều kiện cần thiết, xây dựng các đại đoàn khác

Để đáp yêu cầu tác chiến, tổ chức biên chế các đại đoàn chủ lực đã từng bước được chấn chỉnh bảo đảm tinh gọn Vũ khí, trang bị từng bước được bổ sung đã sức đột kích mạnh hơn

Nhờ các đợt chỉnh huấn quân sự, trình độ chỉ huy của cán bộ; khả năng tác chiến tập trung, hiệp đồng binh chủng của các đại đoàn chủ lực từng bước được nâng lên

Tính chất quyết liệt, khó khăn, gian khổ đã làm cho tình hình chính trị, tư tưởng của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ có những diễn biến phức tạp Đảng tiến hành các đợt chỉnh huấn chính trị nâng cao trình độ giác ngộ giai cấp, củng cố tổ chức, đề cao sức chiến đấu của bộ đội Các chế độ, tiêu chuẩn, quân trang, quân nhu được quan tâm, đã góp phần quan trọng vào động viên tinh thần, bảo đảm cho bộ đội có đủ sức khỏe để xây dựng và chiến đấu thắng lợi

Trong giai đoạn hiện nay, cần quán triệt, thực hiện tốt mục tiêu: Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại Đấu tranh làm thất bại hoạt động diễn biến hòa bình Xây dựng tổ chức biên chế “tinh, gọn, mạnh” Nâng cao chất lượng huấn luyện, duy trì đúng các chế độ, nền nếp xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật

Kết luận chương 4

Những thành công, hạn chế và nguyên nhân từ quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng các đại đoàn chủ lực, đã phản ánh rõ chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng Qua đó, cho thấy vai trò to lớn, quyết định của Đảng đối với sự

ra đời, trưởng thành của các đại đoàn chủ lực Trên cơ sở đó, đúc rút ra những kinh nghiệm về Đảng lãnh đạo xây dựng các đại đoàn chủ lực Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN đang đặt ra những yêu cầu mới Các thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá cách mạng Việt Nam Những kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng các đại đoàn chủ lực, cần tiếp tục nghiên cứu nhằm kế thừa, vận dụng trong điều kiện mới

Trang 3

4.2.2 Xây dựng các đại đoàn chủ lực toàn diện, lấy xây dựng

về chính trị làm cơ sở

Đảng đã luôn chăm lo xây dựng các đại đoàn chủ lực về chính trị,

quân sự, hậu cần - kỹ thuật, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở

Xây dựng vững mạnh về chính trị, đã tạo cơ sở để Đảng tiến

hành chấn chỉnh về tổ chức biên chế Các đại đoàn chủ lực xác định rõ

trách nhiệm, cải tiến nền nếp làm việc, thu gọn các đầu mối, nâng cao

hiệu suất công tác, hiệu quả phục vụ

Trên nền tảng chính trị, cán bộ, chiến sĩ các đại đoàn chủ lực đã tích

cực học tập, rèn luyện, không ngừng nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật

Do thấm nhuần đường lối của Đảng, cán bộ, chiến sĩ các đại

đoàn luôn chủ động học tập để làm chủ, khai thác có hiệu quả các

loại vũ khí, trang bị; tích cực tăng gia, sản xuất để giảm bớt sự đóng góp

của nhân dân và tài chính của Chính phủ

Trong giai đoạn hiện nay, cần quán triệt sâu sắc, thực hiện tốt

đường lối của Đảng và đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại

đơn vị trong giai đoạn mới” Nâng cao chất lượng huấn luyện; duy trì

nghiêm nền nếp chính quy, chấp hành kỷ luật Quản lý chặt chẽ số

lượng, chất lượng, đồng bộ vũ khí, trang bị và nâng cao đời sống bộ đội

4.2.3 Dựa chắc vào dân và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của

quốc tế để xây dựng các đại đoàn chủ lực

Thực hiện tốt chủ trương dựa chắc vào dân để xây dựng và chiến đấu,

nên ngay trong lòng địch, các đại đoàn chủ lực vẫn tồn tại và phát triển Nhân

dân các địa phương luôn ủng hộ, giúp đỡ các đại đoàn chủ lực về mọi mặt

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các đại đoàn chủ lực đã nhận được sự ủng

hộ, giúp đỡ to lớn về mọi mặt của bạn bè quốc tế, nhất là Liên Xô và Trung

Quốc Nguồn viện trợ về vũ khí, trang bị của quốc tế có ý nghĩa vô cùng to lớn,

các đại đoàn chủ lực được trang bị vũ khí tương đối đầy đủ và hiện đại

Với chủ trương tranh thủ sự viện trợ bên ngoài để kháng chiến,

xây dựng LLVT của Đảng, các nước XHCN đã giúp đỡ mạnh mẽ Vũ

khí, vật tư quân sự của bạn bè quốc tế đã được trang bị, tạo nên sức mạnh

chiến đấu của các đại đoàn chủ lực

Đảng đã giáo dục cho nhân dân và LLVT ba nước nhận rõ bản chất

của kẻ thù, tạo sự nhất trí cao với đường lối của Đảng Nhờ đó, các đại

đoàn chủ lực cùng với LLVT cách mạng Lào, Campuchia đã kề vai sát

cánh, cùng giúp nhau trưởng thành và chiến đấu thắng lợi

Trong giai đoạn hiện nay, cần giáo dục để nhân dân thực hiện tốt

đường lối của Đảng, có ý thức sâu sắc về nhiệm vụ xây dựng quân đội

Tranh thủ sự giúp đỡ về mọi mặt của cấp ủy, chính quyền và nhân

dân các địa phương để xây dựng đơn vị Chủ động đấu tranh không

để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, gây chia rẽ đoàn kết quân

dân Đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng

Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Luận án nghiên cứu làm rõ chủ trương của Đảng gồm:

quan điểm, phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp; sự chỉ đạo của Đảng xây dựng các đại đoàn chủ lực về quân sự, chính trị, hậu cần - kỹ thuật qua hai giai đoạn 1949 - 1951 và 1951 - 1954

Về thời gian: Từ tháng 01 năm 1949, khi Hội nghị cán bộ Trung

ương lần thứ sáu họp, bàn về chủ trương xây dựng các đại đoàn chủ lực đến tháng 7 năm 1954, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc Giai đoạn 1949 - 1951, khi diễn ra Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ sáu đến trước Đại hội Đảng lần thứ II (02/1951) Giai đoạn 1951 -

1954, khi Đại hội Đảng lần thứ II diễn ra đến khi cuộc kháng chiến kết thúc Tuy nhiên, để đảm bảo tính hệ thống, luận án có đề cập đến một số nội dung liên quan đến trước thời gian nói trên

Về không gian: Từ Nam Trung Bộ trở ra miền Bắc Đây là không gian các đại đoàn chủ lực đã ra đời, chiến đấu và trưởng thành

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh cách mạng và xây dựng LLVT cách mạng

Cơ sở thực tiễn

Luận án dựa vào thực tiễn lãnh đạo của Đảng về xây dựng các đại đoàn chủ lực, thể hiện trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, nghị định, đề án, hồ sơ, kế hoạch, báo cáo tổng kết của Đảng, Quân

ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh, Tổng cục Chính trị,

Bộ Tổng Tham mưu, những hoạt động chiến đấu, xây dựng của các đại đoàn chủ lực từ năm 1949 đến năm 1954

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc là chủ yếu; đồng thời, sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê, để làm rõ các nội dung của luận án

5 Những đóng góp mới của luận án

Luận án cung cấp một số tư liệu mới và hệ thống hóa tư liệu về Đảng

lãnh đạo xây dựng các đại đoàn chủ lực từ năm 1949 đến năm 1954

Góp phần tái hiện một cách có hệ thống chủ trương và chỉ đạo của Đảng về xây dựng các đại đoàn chủ lực trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp từ năm 1949 đến năm 1954

Đưa ra những nhận xét, đánh giá có cơ sở khoa học về quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng các đại đoàn chủ lực từ năm 1949 đến năm 1954

Trang 4

Đúc kết những kinh nghiệm chủ yếu từ quá trình Đảng lãnh

đạo xây dựng các đại đoàn chủ lực từ năm 1949 đến năm 1954

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài

Luận án góp phần tổng kết hoạt động lãnh đạo của Đảng về xây

dựng các đại đoàn chủ lực trong cuộc kháng chiến chống thực dân

Pháp từ năm 1949 đến năm 1954

Khẳng định vai của Đảng đối với sự ra đời, trưởng thành của

các đại đoàn chủ lực và vai trò to lớn của các đại đoàn chủ lực trong

cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ cung cấp thêm những luận cứ

khoa học cho việc lãnh đạo xây dựng các sư đoàn vững mạnh, đáp ứng yêu

cầu xây dựng QĐND Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng

bước hiện đại, một số quân, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại

Luận án là tài liệu tham khảo, phục vụ cho nghiên cứu, giảng dạy

về lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc Việt Nam

ở các nhà trường, các cơ quan nghiên cứu trong và ngoài quân đội

7 Kết cấu của luận án

Luận án gồm: Mở đầu, 04 chương (10 tiết), kết luận, danh mục

các công trình của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài, danh mục

tài liệu tham khảo và phụ lục

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.1.1 Các nghiên cứu của tác giả nước ngoài

Yves Gras (1979), Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương;

Cục Lịch sử quân sự, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Lào

(1996), Lịch sử Quân đội nhân dân Lào; Ghi chép thực về việc

đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp

(Hồi ký những người trong cuộc); Nguyễn Đăng Vinh (2004),

Điện Biên Phủ qua con mắt người nước ngoài; Roger Bruge

(2004), Điện Biên Phủ - Từ góc nhìn của người lính Pháp;

Henri Navarre (2004), Đông Dương hấp hối; Henri Navare

(2005), Thời điểm của những sự thật Cecil B.Currey (2013),

Chiến thắng bằng mọi giá - Thiên tài quân sự Việt Nam Đại

tướng Võ Nguyên Giáp; Gérard Le Quang (2014), Võ Nguyên

Giáp hay cuộc chiến tranh nhân dân

quân đội cách mạng các nước vào xây dựng các đại đoàn chủ lực; Hai

là, có sự nỗ lực, quyết tâm cao trong xây dựng và chiến đấu của cán

bộ, chiến sĩ các đại đoàn chủ lực; sự giúp đỡ, đùm bọc của nhân dân;

4.1.2 Hạn chế và nguyên nhân

4.1.2.1 Hạn chế Một là, chỉ đạo kiện toàn một số đại đoàn còn chậm so với kế

hoạch; Hai là, công tác giáo dục, huấn luyện có thời điểm, có nội dung chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đặt ra; Ba là, công tác bảo

đảm về hậu cần - kỹ thuật có thời điểm chưa tốt

4.1.2.2 Nguyên nhân của hạn chế Một là, Đảng lãnh đạo xây dựng các đại đoàn chủ lực trong điều

kiện đất nước chiến tranh, khó khăn và đây là vấn đề mới nên chưa có

nhiều kinh nghiệm; Hai là, trình độ, nhận thức của một bộ phận cán

bộ, chiến sĩ các đại đoàn chủ lực còn hạn chế; Ba là, thực dân Pháp chống phá quyết liệt

4.2 Kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng các đại đoàn chủ lực (1949 - 1954)

4.2.1 Luôn giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng trong xây dựng các đại đoàn chủ lực

Thực tiễn cho thấy, Đảng lãnh đạo thống nhất, tuyệt đối các mặt hoạt động, đây là nhân tố quyết định sự ra đời, trưởng thành của các đại đoàn chủ lực Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng là cơ sở chính trị, thực tiễn định hướng cho quá trình xây dựng và chiến đấu của các đại đoàn chủ lực Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các đại đoàn chủ lực được xây dựng với tổ chức biên chế tinh gọn, thống nhất Chất lượng chính trị ngày càng được nâng lên, hệ thống tổ chức đảng đã thể hiện vai trò hạt nhân lãnh đạo tập trung, thống nhất Đây là nhân tố quyết định sự thành công trong xây dựng các đại đoàn chủ lực của Đảng

Những chủ trương đúng đắn, chỉ đạo của Đảng trong định hướng chương trình, nội dung huấn luyện là cơ sở để tổ chức huấn luyện, rèn luyện và xây dựng phương án tác chiến phù hợp Vũ khí, trang bị được bảo đảm Đời sống của cán bộ, chiến sĩ đã được cải thiện, tạo ra động lực chính trị - tinh thần to lớn

Trong giai đoạn hiện nay, cần tiếp tục quán triệt và giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo QĐND Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên bảo đảm về số lượng, chất lượng, cơ cấu hợp lý Đấu tranh làm thất bại hoạt động “diễn biến hòa bình”, đòi “phi chính trị hóa” quân đội

Trang 5

sự chỉ đạo của Đảng, các đại đoàn chủ lực được xây dựng vững mạnh về

quân sự, chính trị, hậu cần - kỹ thuật, sức mạnh chiến đấu của các đại

đoàn chủ lực được nâng cao Trên cơ sở đó, Đảng đã sử dụng các đại

đoàn chủ lực, mở các chiến dịch và giành thắng lợi to lớn, kết thúc cuộc

kháng chiến chống thực dân Pháp

Chương 4 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 4.1 Nhận xét Đảng lãnh đạo xây dựng các đại đoàn chủ lực (1949 - 1954)

4.1.1 Ưu điểm và nguyên nhân

4.1.1.1 Ưu điểm

Một là, Đảng đã đánh giá đúng bản chất, âm mưu, thủ đoạn của

thực dân Pháp và khả năng thực tế của đất nước để đề ra chủ trương

xây dựng các đại đoàn chủ lực đáp ứng yêu cầu cuộc kháng chiến

Trước âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp, Đảng nhận rõ để

lãnh đạo cuộc kháng chiến đến thắng lợi, phải xây dựng những đại đoàn

chủ lực mạnh làm nòng cốt cho toàn quân, toàn dân kháng chiến

Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ sáu (1949), chủ trương kiện

toàn BĐCL từ tiểu đoàn, trung đoàn, đến đại đoàn Để chuyển mạnh

sang giai đoạn tổng phản công, Đại hội lần thứ II (1951) xác định: Công

cuộc xây dựng quân đội chính quy trở thành “một công cuộc rất lớn

lao” Bộ đội chủ lực không chỉ xây dựng các đại đoàn bộ binh mà tiến

tới xây dựng các đại đoàn binh chủng

Hai là, quá trình chỉ đạo xây dựng các đại đoàn chủ lực, Đảng đã

bám sát thực tiễn, kịp thời xử lý đúng đắn những vấn đề mới nảy sinh

Đảng có sự chấn chỉnh các mặt phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ

từng giai đoạn của cuộc kháng chiến Đến năm 1953, tổ chức biên chế

thống nhất, quân số 9.500 người Nội dung huấn luyện điều chỉnh phù

hợp thực tiễn; Chế độ chính ủy “tối hậu quyết định”, được thay thế bằng

cơ chế tập thể Đảng ủy lãnh đạo, đã tăng cường và giữ vững nguyên tắc

Đảng lãnh đạo các đại đoàn chủ lực

Ba là, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các đại đoàn chủ lực được xây

dựng vững mạnh về mọi mặt và lập được nhiều chiến công xuất sắc

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chất lượng các mặt quân sự, chính trị,

hậu cần - kỹ thuật của các đại đoàn chủ lực ngày càng nâng lên Qua đó,

các đại đoàn chủ lực đã lập được nhiều chiến công xuất sắc

4.1.1.2 Nguyên nhân của ưu điểm

Một là, Đảng đã quán triệt và vận dụng sáng tạo lý luận của chủ

nghĩa Mác - Lênin, kinh nghiệm của dân tộc và kinh nghiệm xây dựng

1.1.2 Các nghiên cứu của tác giả trong nước

1.1.2.1 Các nghiên cứu chung về xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân

Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị

(1996), Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi

và bài học; Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Ban

Nghiên cứu lịch sử quân sự thuộc Tổng Cục Chính trị (2005), Lịch sử

Quân đội nhân dân Việt Nam (1944 - 1975); Nguyễn Hoàng Nhiên

(2006), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng Quân đội nhân

dân Việt Nam về chính trị trong những năm 1945 - 1954; Đảng bộ

Quân đội nhân dân Việt Nam (2009), Lịch sử Đảng bộ Quân đội nhân

dân Việt Nam (1944 - 1954), tập 1; Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân

sự Việt Nam (2009), Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

(1945 - 1954), tập 3, (Triển khai kháng chiến toàn diện); Bộ Quốc

Phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2010), Lịch sử Hậu cần - Kỹ

thuật quân sự Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945

- 1954;) Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2011), Lịch

sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), tập 4 (Bước ngoặt của cuộc kháng chiến); Nguyễn Thị Mai Hoa (2014), “Trung

Quốc ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam kháng chiến chống thực dân Pháp”; Nguyễn Thị Mai Hoa (2014), “Quan hệ Việt Nam - Liên Xô trong

kháng chiến chống thực dân Pháp”; Trần Văn Thức (2014), “Xây dựng

và phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân trong kháng chiến chống

thực dân Pháp (1945 - 1954)”; Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2014), Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

(1945 - 1954), tập 5 (Phát triển thế tiến công chiến lược); Quân đội

nhân dân Việt Nam, Bộ Tổng Tham mưu (2015), Lịch sử Bộ Tổng

Tham mưu trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954); Bộ

Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2015), Lịch sử tổ chức

quân sự Việt Nam, tập 3 (1930 - 1954); Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử

quân sự Việt Nam (2016), Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân

Pháp (1945 - 1954), tập 6 (Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân

1953 - 1954, kháng chiến kết thúc thắng lợi); Bộ Quốc phòng, Viện

Lịch sử quân sự Việt Nam (2017), Lịch sử cuộc kháng chiến chống

thực dân Pháp (1945 - 1954), tập 7 (Tính chất, đặc điểm, tầm vóc và bài học lịch sử) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch

sử Đảng (2018), Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 1 (1930 -

1954), quyển 2 (1945 - 1954)

Trang 6

1.1.2.2 Những nghiên cứu về các đại đoàn chủ lực trong cuộc

kháng chiến chống thực dân Pháp

Đảng ủy Binh chủng Pháo binh (2009), Lịch sử Binh chủng

Pháo binh (1949 - 2009) Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1, Sư đoàn 312

(2010), Lịch sử Sư đoàn bộ binh 312 (1950 - 2010); Bộ Tư lệnh

Quân đoàn 2, Sư đoàn 304 (2011), Lịch sử Sư đoàn 304 - tập 1

(1950 - 1975); Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3, Sư đoàn 320 (2016), Lịch

sử Đại đoàn Đồng Bằng - Sư đoàn 320 (1951 - 2016); Bộ Tư lệnh

Quân khu 2 (2011), Lịch sử Sư đoàn 316 (1951 - 2011); Bộ Tư lệnh

Quân đoàn 2, Sư đoàn 325 (2014), Lịch sử Sư đoàn 325 (1951 -

2013); Phan Ánh Tuyết (2014), “Qúa trình hình thành các đại đoàn

chủ lực theo tư tưởng Hồ Chí Minh”; Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1, Sư

đoàn 308 (2019), Lịch sử Sư đoàn 308 - Quân Tiên phong (1949 -

2019); Dương Đình Lập (2019), Các đại đoàn chủ lực Quân đội

nhân dân Việt Nam (1949 - 1954)

1.2 Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan và

những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục nghiên cứu

1.2.1 Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan

1.2.1.1 Về tư liệu

Nghiên cứu về xây dựng các đại đoàn chủ lực là chủ đề phong

phú về thể loại Giá trị nghiên cứu của các công trình, cung cấp cho

nghiên cứu sinh nguồn tài liệu đa dạng, có độ tin cậy

1.2.1.2 Về cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Các công trình nghiên cứu về xây dựng các đại đoàn chủ lực được

tiếp cận và sử dụng nhiều phương pháp khác nhau

1.2.1.3 Về nội dung

Một là, các công trình nghiên cứu đều khẳng định vị trí, vai

trò to lớn của các đại đoàn chủ lực Hai là, một số công trình đã làm

rõ sự ra đời, trưởng thành và đóng góp to lớn của các đại đoàn chủ

lực trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Ba là, một số

công trình phần nào đề cập đến thành tựu, hạn chế trong xây dựng

của các đại đoàn Bốn là, có công trình đã đề cập đến sự lãnh đạo

của Đảng về xây dựng các đại đoàn chủ lực nhưng còn rải rác, đánh

giá riêng biệt Dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng, đến nay chưa

có công trình nào nghiên cứu một cách có tính hệ thống, toàn diện

về chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng; đánh giá ưu điểm, hạn chế, làm

rõ nguyên nhân và đúc rút kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo

xây dựng các đại đoàn chủ lực (1949 - 1954)

Chính phủ kháng chiến Lào, Campuchia thống nhất mở một số chiến dịch trên đất bạn với sự tham gia của các đại đoàn chủ lực

3.3.3 Đẩy mạnh xây dựng, bảo đảm về hậu cần - kỹ thuật

Chấn chỉnh cơ quan hậu cần - kỹ thuật: Hệ thống bảo đảm hậu

cần - kỹ thuật trong BĐCL được tổ chức thống nhất Cấp đại đoàn tổ chức Phòng Cung cấp gồm: Phòng Quân nhu, Phòng Quân y, Ban Quân khí, Ban Vận tải

Đảng ủy, Bộ Tư lệnh các đại đoàn tổ chức kiện toàn cơ quan hậu cần - kỹ thuật các cấp Các tuyến điều trị, cứu chữa thương, bệnh binh cũng được củng cố Các phong trào thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm diễn ra sôi nổi

Bảo đảm các chế độ, tiêu chuẩn của bộ đội: Tổng cục Cung

cấp ban hành Quyết định số 658/QĐ-CC (26/9/1951), quy định tiêu chuẩn cung cấp về gạo, muối, tiền, thức ăn, các khoản phụ cấp cho BĐCL và BĐĐP Ngoài phụ cấp, cán bộ, chiến sĩ còn được hưởng phụ cấp thâm niên, thương tật, phụ cấp khi đi công tác Ngày 11 tháng 7 năm 1952, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Nghị định số 12/NĐ chính thức ban hành tiêu chuẩn cung cấp mới Tiêu chuẩn cung cấp mới được bổ sung một số điểm theo hướng tăng định lượng và tăng cao hơn cho một số thành phần

Tăng cường bổ sung vũ khí, trang bị: Cùng với đẩy mạnh sản

xuất vũ khí, đạn trong nước, Đảng và Chính phủ luôn tranh thủ sự ủng

hộ, giúp đỡ của quốc tế để bổ sung cho các đại đoàn chủ lực Từ tháng

5 năm 1950 đến tháng 6 năm 1954, Việt Nam đã “nhận được 21.517 tấn hàng viện trợ quốc tế; trong đó, toàn bộ pháo cao xạ 37 ly - 76 khẩu, toàn bộ hỏa tiễn (Cachiusa), toàn bộ số tiểu liên K50, phần lớn ô tô vận tải 685 trên tổng số 745 chiếc là của Liên Xô”

Huy động nguồn lực từ nhân dân: Nhân dân các địa phương

luôn ủng hộ, giúp đỡ không điều kiện đối với các đại đoàn chủ lực Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh đã chỉ đạo các ngành, các cơ quan xây dựng các quy định về quản lý tài sản, thu nhận và sử dụng chiến lợi phẩm Xử phạt nghiêm những trường hợp tham ô, gây lãng phí, vi phạm tiêu chuẩn của bộ đội

Kết luận chương 3

Trên cơ sở đánh giá đúng tình hình thế giới, khu vực; âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp; yêu cầu đẩy mạnh kháng chiến, Đảng đã

đề ra chủ trương đẩy mạnh xây dựng các đại đoàn chủ lực

Quán triệt chủ trương của Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh đã lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh xây dựng các đại đoàn chủ lực Dưới

Trang 7

Quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư BCHTW khóa II, Tổng

Quân ủy ra Nghị quyết về Chỉnh quân chính trị năm 1953 Từ tháng 6

năm 1953, các đại đoàn triển khai chỉnh huấn chính trị Ngày 23 tháng

6 năm 1953, lớp chỉnh huấn chính trị cho cán bộ trung, cao cấp khai

mạc ở Việt Bắc Lớp cho cán bộ sơ cấp và chiến sĩ học trong tháng 7 và

8 Cuộc chỉnh quân chính trị đã thu được nhiều kết quả lớn, tạo một

không khí mới trong bộ đội

Trong đợt 2 của chiến dịch Điện Biên Phủ, tình hình tư tưởng ở

các đơn vị có vấn đề hữu khuynh các đại đoàn tiến hành đợt sinh hoạt

chính trị sâu rộng, phát động cuộc đấu tranh chống hữu khuynh, đã tạo

được chuyển biến lớn về nhận thức tư tưởng và hành động

Củng cố, kiện toàn cơ quan chính trị, tổ chức đảng: Đảng chỉ đạo

tăng cường củng cố cơ quan chính trị cấp đại đoàn, trung đoàn và Ban

công tác chính trị đại đội Hoạt động công tác đảng, công tác chính trị đã

phát huy được vai trò to lớn trong mọi hoạt động của bộ đội

Tổng Quân uỷ chỉ đạo mạnh dạn đề bạt cán bộ; khai thác nguồn

cán bộ từ quần chúng, chiến sĩ nên chỉ một thời gian ngắn đội ngũ cán

bộ các cấp trong các đại đoàn đã tăng nhanh Căn bản đã giải quyết

được vấn đề thiếu cán bộ trong các đơn vị bộ đội chủ lực

Việc bồi dưỡng đối tượng phát triển Đảng trong thực tế chiến đấu,

tiến hành kết nạp đảng viên mới ngay trên chiến trường sau mỗi trận

đánh được tiến hành rộng khắp Sự lãnh đạo của Đảng được giữ vững,

đã khích lệ tinh thần dũng cảm chiến đấu của bộ đội

Thực hiện Nghị quyết số 07/NQ-TW “Về tổ chức Đảng trong

bộ đội chủ lực”, Tổng cục Chính trị đã chỉ đạo củng cố, phát triển Đảng

ở các cơ quan, đơn vị trong toàn quân Chú trọng củng cố tổ chức cơ sở

đảng, phát triển đảng viên, thực hiện chế độ cấp ủy ở các đại đoàn 308,

304, 312, 320, 316, 351

Công tác thi đua, khen thưởng: Công tác thi đua, khen thưởng được đẩy

mạnh, đã phát huy tinh thần hăng hái của bộ đội trong học tập, đánh giặc

Củng cố tổ chức quần chúng: Hội đồng binh sĩ được duy trì

hoạt động thường xuyên, phát huy ba dân chủ lớn về chính trị, kinh

tế, quân sự Đã tạo nên bầu không khí tin cậy, đoàn kết, giúp đỡ lẫn

nhau giữa cán bộ và chiến sĩ, cấp trên với cấp dưới

Củng cố các mối quan hệ chính trị - xã hội: Đảng ủy, Bộ Tư lệnh

các đại đoàn chủ lực chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, củng cố

tình đoàn kết nội bộ Các đại đoàn chủ lực luôn đoàn kết chặt chẽ với

quân đội Trung Quốc, Lào và Campuchia Chính phủ Việt Nam và

1.2.2 Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục nghiên cứu

Một là, sự cần thiết xây dựng các đại đoàn chủ lực trong cuộc

kháng chiến chống thực dân Pháp từ năm 1949 đến năm 1954; Hai là,

chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về xây dựng các đại đoàn chủ lực;

Ba là, ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân Đảng lãnh đạo xây dựng các

đại đoàn chủ lực; Bốn là, kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo

xây dựng các đại đoàn chủ lực từ năm 1949 đến năm 1954

Kết luận chương 1

Xây dựng các đại đoàn chủ lực đã thu hút được sự nghiên cứu của nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Thành công của những công trình khoa học đã tổng quan liên quan đến đề tài luận

án tương đối toàn diện Các công trình đều khẳng định vai trò quan trọng; chỉ ra những nội dung, kết quả và kinh nghiệm xây dựng các đại đoàn chủ lực trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp từ năm 1949 đến năm 1954

Nghiên cứu sinh hệ thống hóa và khái quát giá trị của các công trình đã tổng quan, kế thừa nội dung cần thiết phục vụ xây dựng luận án Vận dụng phương pháp luận đối tượng nghiên cứu lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng, nghiên cứu sinh đã xác định những vấn đề luận án

sẽ tiếp tục nghiên cứu

Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG

VỀ XÂY DỰNG CÁC ĐẠI ĐOÀN CHỦ LỰC (1949 - 1951) 2.1 Sự cần thiết xây dựng các đại đoàn chủ lực

2.1.1 Âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp đối với Việt Nam

Sau khi mở rộng phạm vi chiếm đóng, Pháp cho quân tấn công lên căn cứ địa Việt Bắc (10/1947), nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến và BĐCL; khóa chặt biên giới Việt - Trung

Sau Thu Đông 1947, Pháp chuyển sang “đánh lâu dài”; thực hiện chính sách “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” Đẩy mạnh xây dựng lực lượng với mục tiêu cao nhất, làm cho quân dân Việt Nam mất dần khả năng chiến đấu, suy yếu và đi đến tan rã Thực hiện kế hoạch Rơ-ve, Pháp tập trung quân Âu - Phi xây dựng những binh đoàn cơ động để tiêu diệt BĐCL; đánh phá về kinh tế Ngày 06 tháng 12 năm 1950, Đờ Lát đờ Tát-xi-nhi làm Tổng Chỉ huy và đã vạch ra kế hoạch gồm 4 điểm, nhằm bình định gấp rút, phản công quyết liệt Pháp hy vọng dùng sức mạnh quân sự để đè bẹp tinh thần, ý chí kháng chiến của quân và dân Việt Nam

Trang 8

2.1.2 Tương quan về lực lượng quân sự giữa Việt Nam và

Pháp trên chiến trường

Về lực lượng quân sự của Pháp: Tháng 12 năm 1949, bộ binh

Pháp có 235.000 quân Quân số, vũ khí của Pháp luôn được tăng cường,

bổ sung Cuối năm 1950, quân Pháp ở Đông Dương có 239.000 quân,

gồm 118 tiểu đoàn bộ binh, 13 tiểu đoàn pháo binh, 3 trung đoàn

thiết giáp, 143 máy bay các loại, 263 tàu các loại trong đó có 3 tàu

lớn; 1 tàu tuần dương hạm, 1 thông báo hạm hạng nặng Từ năm

1950, Mỹ đã can thiệp vào chiến tranh Đông Dương

Về lực lượng quân sự của Việt Nam: Cuối năm 1949, BĐCL có

179.602 người, gồm 1 đại đoàn, 42 trung đoàn và 11 tiểu đoàn độc lập,

1 tiểu đoàn pháo binh Đến tháng 12 năm 1950, tăng lên 238.884

người, gồm 2 đại đoàn, 24 trung đoàn và 8 tiểu đoàn độc lập, 2 trung

đoàn và 4 tiểu đoàn pháo binh

2.1.3 Quyết tâm kháng chiến của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân

Sau khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược, ngày 25 tháng 11 năm

1945, BCHTW Đảng đã ra Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”

Ngày 18 và 19 tháng 12 năm 1946, Hội nghị bất thường Ban

Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng họp tại làng Vạn Phúc, Hà Đông

(nay là Vạn Phúc, Hà Đông, Hà Nội), quyết định phát động cả nước kháng

chiến và đề ra những vấn đề cơ bản về đường lối kháng chiến

Cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam là cuộc chiến tranh

chính nghĩa nên phải động viên toàn dân tham gia Đó là, “Bất kỳ đàn

ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng

phái, dân tộc Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân

Pháp để cứu Tổ quốc” Quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

không chỉ thể hiện trong hoạch định đường lối chính trị, mà còn thể

hiện rõ trong chủ trương và sự chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang

(LLVT) ba thứ quân, nhất là BĐCL

2.2 Chủ trương của Đảng về xây dựng các đại đoàn chủ lực

2.2.1 Quan điểm

Một là, khẩn trương xây dựng các đại đoàn chủ lực phù hợp với điều

kiện thực tiễn kháng chiến

Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ sáu (01/1949), chủ trương, kiện

toàn BĐCL từ tiểu đoàn đến đại đoàn chủ lực Đến Hội nghị toàn quốc lần

thứ ba (01/1950), xây dựng các đại đoàn chủ lực được Đảng đặt ra một cách

khẩn trương và xác định đây “là một nhiệm vụ nặng và gấp rút”, phải tiến

hành khẩn trương, phù hợp với điều kiện thực tiễn kháng chiến

Từ tháng 7 năm 1952 đến tháng 01 năm 1953, Trung Quốc đảm nhận đào tạo cán bộ, nhân viên kỹ thuật, huấn luyện bộ đội cho Trung đoàn 45 - Trung đoàn pháo hạng nặng đầu tiên của QĐND Việt Nam Đầu tháng 7 năm 1953, Bộ Tổng Tham mưu tổ chức Hội nghị nghiên cứu cách đánh công sự mới, đánh tập đoàn cứ điểm và sử dụng một trung đoàn của Đại đoàn bộ binh 308 diễn tập thực binh Tiếp đó, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo các đại đoàn chủ lực cùng toàn quân tiến hành chỉnh huấn quân sự Các đại đoàn bộ binh tiếp tục tập trung huấn luyện 5 kỹ thuật; cách đánh công kiên và đánh vận động Theo chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu, các đại đoàn chủ lực tiến hành khóa huấn luyện quân sự (15/9 - 15/11/1953), nhằm nâng cao hơn nữa về kỹ thuật, chiến thuật cho bộ đội, nhất là cách đánh công sự mới, đánh tập đoàn cứ điểm Qua đợt huấn luyện quân sự, trình độ chiến thuật,

kỹ thuật, tác phong chỉ huy và khả năng tác chiến hiệp đồng binh chủng của các đại đoàn chủ lực đã có nhiều tiến bộ vượt bậc

Trên cơ sở những kết quả đạt được trong xây dựng, các đại đoàn chủ lực được sử dụng mở các chiến dịch: Lai Châu, Trung Lào, Hạ Lào - Đông Bắc Campuchia, Thượng Lào, Điện Biên Phủ và hoàn thành xuất

sắc nhiệm vụ

3.3.2 Đẩy mạnh xây dựng về chính trị

Tăng cường, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng:

Đảng ủy các đại đoàn đã lãnh đạo, chỉ đạo đơn vị tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao hơn nữa ý thức chấp hành đường lối của Đảng, rèn luyện ý chí chiến đấu của bộ đội

Thực hiện chủ trương Hội nghị lần thứ ba BCHTW khóa II, các đại đoàn chủ lực cùng toàn quân bước vào đợt chỉnh huấn chính trị Ngày 15 tháng 4 năm 1952, hai lớp cán bộ cấp đại đội khai mạc ở đại đoàn 308 và 312 Ngày 20 tháng 4, một lớp cán bộ đại đội khai mạc ở Đại đoàn 316 Tháng 4 và 5 năm 1952, các lớp chỉnh huấn cán bộ trung, cao cấp của các đại đoàn cũng được tiến hành Cũng từ tháng 5 năm 1952, các đại đoàn 312, 320, Đại đoàn 351 cùng các đơn vị còn lại từ Liên khu 5 trở ra đều tiến hành chỉnh huấn Cán bộ từ cấp đại đội trở lên, học tập tài liệu “Mấy vấn đề cách mạng Việt Nam” Cán

bộ trung đội, tiểu đội, chiến sĩ, học tập tài liệu “Quân đội nhân dân Việt Nam” và “Kháng chiến nhất định thắng lợi”

Các đơn vị chỉnh huấn chính trị đợt hai (16/6 - 31/8/1952), có 6 đại đoàn 304, 308, 312, 316, 320, 351 Trong đó: “Đại đoàn 308: 276; Đại đoàn 312: 203; Đại đoàn 316: 202; Đại đoàn 304: 204; Đại đoàn 351: 153; Đại đoàn 320: 127, đảng viên 88,4%, quần chúng 11,6%”

Trang 9

lập Đại đoàn công - pháo binh, lấy số hiệu “Đại đoàn 351” Tổ chức và

quân số gồm: Trung đoàn sơn pháo 675; Trung đoàn trọng pháo 45; Trung

đoàn công binh 151; Tiểu đoàn 960; Tiểu đoàn 355” Đại đoàn gồm các

phòng: tham mưu, chính trị, hậu cần và các đơn vị trực thuộc

Cùng ngày 01 tháng 5 năm 1951, Bộ Tổng Tư lệnh có Nghị định số

112/NĐA, thành lập Đại đoàn bộ binh 316 - “Đại đoàn Bông Lau” (nay là Sư

đoàn 316, Quân khu 2) Cơ sở tổ chức biên chế gồm: Trung đoàn bộ binh 174

(chủ lực Bộ), Trung đoàn bộ binh 98 (Mặt trận Đông Bắc), Trung đoàn bộ

binh 176 (tỉnh Lạng Sơn) Tổng quân số toàn Đại đoàn là 9.514 người

Ngày 23 tháng 6 năm 1951, Bộ Tổng Tham mưu chỉ thị cho Mặt

trận Bình - Trị - Thiên: “Gấp rút củng cố bộ đội địa phương, phát triển dân

quân du kích, sẵn sàng thay thế bộ đội chủ lực, tiến tới xây dựng đại đoàn

chủ lực đầu tiên ở Bình - Trị - Thiên” Ngày 05 tháng 12 năm 1952, Bộ

Tổng Tư lệnh chính thức ra quyết định thành lập Đại đoàn bộ binh 325 -

“Đại đoàn Bình - Trị - Thiên” (nay là Sư đoàn 325, Quân đoàn 2)

Tháng 6 năm 1952, Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo các đại đoàn chủ lực

chấn chỉnh về tổ chức biên chế và trang bị Về tổ chức biên chế thống

nhất: Mỗi đại đoàn có 3 trung đoàn bộ binh và các tiểu đoàn trực thuộc

Mỗi tiểu đoàn tổ chức một đại đội mạnh có bốn trung đội để làm nhiệm vụ

chủ công trong chiến đấu công kiên Mỗi đại đội bộ binh giảm 11 người

và được trang bị thêm 6 súng trường, 15 tiểu liên Cơ quan từ đại đội bộ

đến đại đoàn giảm 800 người Toàn đại đoàn giảm 1.000 người

Năm 1953, Bộ Tổng Tham mưu tiếp tục điều chỉnh, bổ sung quân

số và vũ khí cho các trung đoàn, đại đoàn chủ lực Tập trung 6 đại đoàn

(304, 308, 312, 316, 320, 325), 12 trung đoàn (246, 238, 42, 60, 137, 46,

254, 148, 270, 52, 108, 803) và 17 tiểu đoàn Theo biên chế mới, “quân số

mỗi đại đoàn chủ lực gồm hơn 9.500 người, có 3 trung đoàn bộ binh, 1

tiểu đoàn pháo binh, các đơn vị trinh sát, công binh, thông tin, vận tải,

cảnh vệ, quân y và cơ quan trực thuộc”

Đến tháng 12 năm 1953, BĐCL có tổng quân số là 252.031 người

Khối chủ lực trực thuộc Bộ gồm: 6 đại đoàn, 1 trung đoàn (246), 2 tiểu đoàn

bộ binh và toàn bộ lực lượng các binh chủng; khối chủ lực trực thuộc các

liên khu có 11 trung đoàn và 15 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh

Nâng cao chất lượng huấn luyện: Sau khi chiến dịch Trần

Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, các đại đoàn tập trung

đẩy mạnh huấn luyện, học tập theo tài liệu thống nhất do Bộ Tổng

Tham mưu biên soạn

Hai là, xây dựng các đại đoàn chủ lực bảo đảm về số lượng, tinh gọn, lực lượng chiến đấu đông đảo

Tại Hội nghị toàn quốc lần thứ ba, Đảng xác định xây dựng “quân đội nhân dân hùng mạnh, số lượng đầy đủ”; “tổ chức của chủ lực phải hợp với điều kiện trang bị, điều kiện địch, điều kiện chiến trường và sẽ tiến triển theo sự biến chuyển của các điều kiện ấy

Ba là, xây dựng các đại đoàn chủ lực trên cơ sở các đơn vị chủ lực mạnh

Trên cơ sở BĐĐP, BĐCL của Bộ và các liên khu để xây dựng thành các tiểu đoàn, trung đoàn chủ lực mạnh, làm nòng cốt xây dựng các đại đoàn chủ lực Tại Hội nghị toàn quốc lần thứ ba, Đảng tiếp tục khẳng định: “Bộ đội chủ lực sẽ xây dựng thành từng trung đoàn mạnh, rồi tiến tới đại đoàn, binh đoàn”

Bốn là, xây dựng các đại đoàn chủ lực phải toàn diện về quân sự, chính trị, hậu cần - kỹ thuật

Chủ trương của Đảng xây dựng các đại đoàn chủ lực không chỉ bảo đảm về số lượng, mà còn toàn diện về chính trị, quân sự, hậu cần - kỹ thuật Lấy xây dựng về chính trị làm “cái gốc” để xây dựng các mặt khác

2.2.2 Phương hướng, mục tiêu

Một là, xây dựng các đại đoàn chủ lực có khả năng cơ động và sức chiến đấu cao, tiêu diệt lớn quân chủ lực địch

Đảng xác định nguyên tắc tác chiến: “Tập trung binh lực cao độ, thực hiện ưu thế trong các chiến dịch và chiến đấu, để tiêu diệt sinh lực của địch” Các đại đoàn chủ lực có nhiệm vụ căn cứ vào những nguyên tắc đó để “tiến hành vận động chiến, với một quy mô ngày càng lớn rộng” nhằm tiêu diệt quân chủ lực Pháp Xây dựng các đại đoàn chủ lực

có sức chiến đấu cao, tiêu diệt số lượng lớn quân chủ lực của Pháp

Hai là, xây dựng các đại đoàn chủ lực bảo đảm tính dân tộc, dân chủ và tối tân

Đảng xác định mục tiêu xây dựng BĐCL, phải “có đủ 3 tính chất dân tộc, dân chủ và tối tân” Các đại đoàn chủ lực ra đời, chiến đấu vì mục tiêu độc lập, hạnh phúc cho nhân dân Cán bộ, chiến sĩ vừa là chủ, vừa làm chủ trên các lĩnh vực Để có được tính chất tối tân, cùng với việc đoạt vũ khí của quân Pháp, cần tăng cường phát triển “kỹ nghệ quốc phòng”;

“Quân đội ta cần tiến tới tối tân mới giải quyết được chiến trường và tiêu diệt hoàn toàn sinh lực của địch”

Ba là, xây dựng các đại đoàn chủ lực có tinh thần kỷ luật, chiến đấu anh dũng, bền bỉ, quyết chiến và quyết thắng

Các đại đoàn chủ lực là lực lượng làm nòng cốt cho toàn quân, toàn dân kháng chiến Để hoàn thành trọng trách đó, cán bộ, chiến sĩ

Trang 10

không những phải tinh thông về chiến thuật, kỹ thuật mà còn phải tiêu

biểu và luôn “nêu cao tinh thần chiến đấu, tinh thần kỷ luật, tinh thần

quyết chiến, quyết thắng”

Bốn là, các đại đoàn chủ lực luôn phối hợp và giúp đỡ bộ đội địa

phương, dân quân du kích trong xây dựng và tác chiến

Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ sáu của Đảng, chỉ rõ: “Bảo

đảm sự liên hệ chặt chẽ, sự giúp đỡ rất mật thiết, sự phối hợp tác chiến

giữa dân quân với quân đội quốc gia” Hội nghị toàn quốc lần thứ ba

khẳng định: “Trong khi chủ lực tiến hành vận động chiến thì nhiệm vụ

tiêu hao về kiềm chế binh lực của địch, phối hợp tác chiến với chủ lực

tiêu diệt địch trong địa phương là nhiệm vụ của du kích chiến”

2.2.3 Nhiệm vụ và giải pháp

Thứ nhất, bám sát thực tiễn, nghiên cứu xây dựng các đại đoàn

chủ lực có tổ chức biên chế gọn nhẹ

Thứ hai, xây dựng đội ngũ cán bộ các đại đoàn chủ lực có phẩm

chất tốt, năng lực toàn diện, đáp ứng yêu cầu chỉ huy bộ đội tập trung và

vận động chiến

Thứ ba, xây dựng chương trình, nội dung giáo dục, huấn luyện

phù hợp, định hướng cụ thể, sát thực tế chiến trường

Thứ tư, bảo đảm về vũ khí, trang bị và cấp dưỡng

2.3 Đảng chỉ đạo xây dựng các đại đoàn chủ lực

2.3.1 Xây dựng về quân sự

Xây dựng, kiện toàn tổ chức biên chế: Ngày 15 tháng 4 năm 1949,

Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký Nghị định số 46/NĐ về thành lập một đại

đoàn chủ lực “Đại đoàn có từ 10.319 người đến 12.271 người Đại đoàn

bộ: 1.475 người; hai trung đoàn từ 4.426 người đến 6.354 người; hai tiểu

đoàn độc lập: từ 1.626 người đến 1.650 người; một tiểu đoàn pháo binh

phối thuộc: 1.122 người; một tiểu đoàn công binh: 845 người; một tiểu

đoàn bổ sung: 825 người”

Ngày 12 tháng 7 năm 1949, Tổng Tư lệnh ra Chỉ thị số 29/CT

về việc chấn chỉnh tổ chức Trung đoàn 308 thành đại đoàn chủ lực

đầu tiên trực thuộc Bộ, mang phiên hiệu Đại đoàn bộ binh 308 - “Đại

đoàn Quân Tiên phong” (nay là Sư đoàn 308, Quân đoàn 1) Khi

thành lập gồm: Bộ chỉ huy Đại đoàn, cơ quan tham mưu, chính trị,

cung cấp; Trung đoàn Thủ đô, Trung đoàn 88, Tiểu đoàn 11 (Phủ

Thông) và các đơn vị trực thuộc

Ngày 09 tháng 02 năm 1950, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký Nghị

định số 62/NĐA, về việc thành lập Đại đoàn bộ binh 304 Đại đoàn bộ

chính quy đóng một vai trò quyết định” Đẩy mạnh xây dựng các đại đoàn chủ lực được Đảng xác định là nhiệm vụ trọng tâm Quân đội chính quy “có nhiệm vụ tác chiến binh đoàn tập trung, dùng vận động chiến mà tiêu diệt sinh lực của địch, thu hồi lãnh thổ”

Hai là, xây dựng các đại đoàn chủ lực chính quy, ngày càng hiện đại

Hội nghị lần thứ nhất BCHTW khóa II, xác định phải “củng cố và gia cường bộ đội chủ lực” Xây dựng quân đội trong đó có các đại đoàn chủ lực theo hướng chính quy, hiện đại luôn được Đảng đặt ra cấp thiết Đảng xác định: “Đảng phải phát triển quân đội, làm cho nó thành một đội quân chính quy hùng mạnh dần dần đưa quân đội ta đến mực hiện đại hóa thật sự”

Ba là, xây dựng các đại đoàn chủ lực có tính dân tộc, nhân dân

và dân chủ sâu sắc

Đại hội lần thứ II chỉ rõ: “Để giành thắng lợi hoàn toàn, để bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, Đảng ta và Chính phủ ta phải xây dựng một quân đội nhân dân mạnh mẽ, chấn chỉnh với ba đặc điểm: dân tộc, nhân dân và dân chủ” Các đại đoàn chủ lực phải “trung thành tuyệt đối với quyền lợi của dân tộc, chiến đấu cho độc lập, thống nhất của dân tộc”;

“Quân đội cách mạng Việt Nam vốn là quân đội nhân dân Quân đội ấy chiến đấu vì quyền lợi nhân dân”, bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân

Bốn là, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các đại đoàn chủ lực với bộ đội địa phương, dân quân du kích trong xây dựng và chiến đấu

Đại hội lần thứ II khẳng định: “Quân đội địa phương và dân quân

xã là dự trữ dồi dào, hùng hậu của quân đội chủ lực Ba lực lượng vũ trang này liên hệ và phối hợp mật thiết với nhau trong việc xây dựng cũng như trong khi tác chiến”

3.2.3 Nhiệm vụ và giải pháp

Thứ nhất, bám sát thực tiễn, học tập kinh nghiệm nước ngoài để xây dựng các đại đoàn chủ lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ kháng chiến Thứ hai, xây dựng đội ngũ cán bộ các đại đoàn chủ lực có phẩm chất tốt và năng lực toàn diện đáp ứng yêu cầu chỉ huy bộ đội Thứ ba, bổ sung chương trình nội dung, phương pháp giáo dục, huấn luyện; kết hợp lý thuyết với thực hành, huấn luyện sát thực tế chiến đấu Thứ tư, bảo đảm về vũ khí, hậu cần - kỹ thuật

3.3 Đảng chỉ đạo đẩy mạnh xây dựng các đại đoàn chủ lực

3.3.1 Đẩy mạnh xây dựng về quân sự

Đẩy mạnh xây dựng, kiện toàn tổ chức biên chế: Ngày 01 tháng 5

năm 1951, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký Nghị định số 112/NĐA, thành

Ngày đăng: 02/01/2023, 22:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w