TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC BÁO CÁO THU HOẠCH CHUYÊN ĐỀ THỰC TẾ 1 Họ và tên Trần Diệu Linh Mã học viên 22AM0404003 Mã lớp học phần CDINL28A Lớp hành chính CDNL1318 Giảng viên giản.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC
- -BÁO CÁO THU HOẠCH CHUYÊN ĐỀ THỰC TẾ 1
Họ và tên: Trần Diệu Linh
Mã học viên: 22AM0404003
Mã lớp học phần: CDINL28A
Lớp hành chính: CDNL1318
Giảng viên giảng dạy: S Phạm Thị Thu Lan – Phó viện trưởng Viện Công nhân – Công đoàn Giáo viên trợ giảng: TS Đinh Thị Hương
Hà Nội, tháng 12/202
Trang 2MỤC LỤC
I LỜI MỞ ĐẦU 2
II NỘI DUNG 2
1 Khái quát chung về hội nhập quốc tế 3
1.1 Hội nhập quốc tế là gì? 3
1.2 Sự cần thiết của hội nhập quốc tế 3
2 Thực tiễn hội nhập quốc tế ở Việt Nam 3
2.1 Hội nhập kinh tế quốc tế 4
2.1 Hội nhập chính trị 4
2.3 Hội nhập về quốc phòng an ninh 4
3 Phân tích SWOT về hội nhập quốc tế trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam 5
3.1 Cơ hội của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam 5
3.1.1 Hội nhập quốc tế thúc đẩy sự phát triển trong lĩnh vực kinh tế 5
3.1.2 Hội nhập quốc tế thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa 5
3.1.3 Hội nhập quốc tế có tác động tích cực đến lao động, việc làm 6
3.1.4 Hội nhập quốc tế thúc đẩy khoa học và công nghệ 6
3.1.5 Hội nhập quốc tế góp phần bảo vệ môi trường sinh thái 6
3.1.6 Hội nhập quốc tế giúp phát triển văn hóa đa phương 7
3.2 Thách thức của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam 8
3.2.1 Việt Nam là một nước đang phát triển có trình độ kinh tế thấp 8
3.2.2 Phải chịu sự ràng buộc của các quy tắc kinh tế 8
3.2.3 Bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá 9
3.2.4 Tăng trưởng kinh tế đi đôi với xoá đói, giảm nghèo 9
3.2.5 Nguy cơ đe doạ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia 9
3.2.6 Tăng trưởng kinh tế đi đôi với xoá đói, giảm nghèo 9
3.2.7 Nguy cơ đe doạ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia 10
Trang 33.3 Điểm mạnh, điểm yếu của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam 10
3.3.1 Điểm mạnh 10 3.3.2 Điểm yếu 11
4 Giải pháp, khuyến nghị đối với các bên liên quan để nắm bắt được cơ hôi, vượt qua thách thức trong lĩnh vực lao động trong hội nhập quốc tế 12
4.1 Một số vấn đề đặt ra cho hội nhập quốc tế của Việt Nam trong thời gian tới
4.2 Giải pháp thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện của Việt Nam 14
5 Kết luận 15
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế là một xu thế khách quan Đây là một bước đi tất yếu, và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ Đặc biệt, Đại hội X của Đảng đã khẳng định: “Toàn cầu hóa kinh tế tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn, thách thức cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển” Việt Nam đã và đang từng bước cố gắng chủ động hội nhập quốc tế
Chặng đường hơn 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay
là một quá trình đồng hành đầy thử thách, khó khăn Những thành công đạt được có ý nghĩa lịch sử, tạo tiền đề và động lực để Việt Nam bước vào giai đoạn hội nhập quốc
tế sâu rộng và phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn Hội nhập quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu, do bản chất xã hội của lao động và quan hệ giữa con người với nhau Ngày nay, quá trình hội nhập quốc tế đang diễn ra ngày càng nhanh hơn, mạnh hơn dưới sự tác động của nhiều nhân tố, trong đó kinh tế thị trường và sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ là động lực hàng đầu
Trong quá trình hội nhập, nhờ vào những nỗ lực không ngừng của toàn dân và sự chỉ đạo tài tình của Đảng và Nhà nước, Việt Nam đã mở rộng được thị trường xuất nhập khẩu, thu hút được vốn đầu tư nước ngoài, tiếp thu được khoa học công nghệ tiên tiến, những kinh nghiệm quý báu của các nước kinh tế phát triển và tạo được môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế Tuy nhiên, một vấn để bao giờ cũng có hai mặt đối lập
Trang 4Bên cạnh những cơ hội thuận lợi thì hội nhập quốc tế cũng đem lại cho Việt Nam những khó khăn, thách thức Chính vì vậy, nhóm em xin chọn đề tài: “Cơ hội và thách thức của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế” với mong muốn tìm hiểu rõ bản chất của quá trình hội nhập quốc tế, từ đó đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả và liên hệ thực tiễn với sinh viên hiện nay
II NỘI DUNG
1 Khái quát chung về hội nhập quốc tế
1.1 Hội nhập quốc tế là gì?
Hội nhập quốc tế là quá trình liên kết, gắn kết giữa các quốc gia/vùng lãnh thổ với nhau thông qua việc tham gia các tổ chức, thiết chế, cơ chế, hoạt động hợp tác quốc tế
vì mục tiêu phát triển của bản thân mỗi quốc gia/vùng lãnh thổ đó và nhằm tạo thành sức mạnh tập thể giải quyết những vấn đề chung mà các bên cùng quan tâm Hội nhập quốc tế theo đúng nghĩa đầy đủ là hội nhập trên tất cả lĩnh vực khác nhau của đời sống
xã hội
Về bản chất, hội nhập quốc tế chính là một hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế nhằm đạt được một mục tiêu hoặc lợi ích chung nào đó Hội nhập quốc tế có ba cấp độ chính là: Hội nhập toàn cầu, khu vực và song phương Các phương thức hội nhập này được triển khai trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Cho đến nay, đối với Việt Nam, hội nhập quốc tế được triển khai trên 3 lĩnh vực chính gồm: Hội nhập kinh
tế quốc tế, hội nhập trong lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, giáo dục, khoa học - công nghệ và các lĩnh vực khác
1.2 Sự cần thiết của hội nhập quốc tế.
Hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu, có lịch sử phát triển lâu dài và có nguồn gốc, bản chất xã hội của lao động và sự phát triển văn minh của quan hệ giữa con người với con người Trong xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển phải có mối liên kết chặt chẽ với nhau Rộng hơn, ở phạm vi quốc tế, một quốc gia muốn phát triển phải liên kết với các quốc gia khác
Trong một thế giới hiện đại, sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ và kinh tế thị trường đòi hỏi các quốc gia phải mở rộng thị trường, hình thành thị trường khu vực
Trang 5và quốc tế nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế Từ những thập niên cuối của thế
kỷ XX cho đến nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật đã thúc đẩy sự phát triển vượt bậc các lĩnh vực của đời sống xã hội và xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất Quá trình xã hội hóa và phân công lao động ở mức độ cao đã vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia và được quốc tế hoá ngày một sâu sắc Sự quốc tế hoá như vậy thông qua việc hợp tác ngày càng sâu giữa các quốc gia ở tầm song phương, tiểu khu vực, khu vực và toàn cầu
Hội nhập quốc tế đang trở thành xu thế chủ đạo trong sự phát triển của thế giới ngay nay Hội nhập quốc tế đã, đang và sẽ chi phối, quyết định toàn bộ các quan hệ quốc tế
và làm thay đổi cấu trúc toàn cầu, dù cho thế giới vẫn còn tồn tại những bất đồng và chia rẽ
2 Thực tiễn hội nhập quốc tế ở Việt Nam
2.1 Hội nhập kinh tế quốc tế
Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao, kinh tế - thương mại với hầu hết các nước, vùng, lãnh thổ và là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế ở khu vực và thế giới Tính đến năm 2014, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 181 quốc gia, quan hệ kinh tế -thương mại với trên 230 thị trường nước ngoài, là thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức quốc tế và khu vực
Tháng 7/1995, Việt Nam gia nhập ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á); Năm 1996 là thành viên của APEC (Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương); Năm 2000, ký kết Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ; Tháng 1/2007 là thành viên chính thức của WTO (Tổ chức Thương mại Thế giới) Trong thời gian qua, Việt Nam đã tham gia nhiều Hiệp định Thương mại tự do (FTA) khu vực và song phương, như cùng với các nước ASEAN ký FTA giữa ASEAN với Trung Quốc, ASEAN - Hàn Quốc, ASEAN - Nhật Bản Ký FTA song phương Việt Nam - Nhật Bản, Việt Nam - Liên minh kinh tế Á - Âu Điểm nổi bật hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là tháng 10/2015 Việt Nam đã hoàn tất đàm phán để ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vào tháng 02/2016 Đây là một Hiệp định được kỳ vọng sẽ trở thành một khuôn khổ thương mại toàn diện, có chất lượng cao và
là khuôn mẫu cho các Hiệp định thế kỷ 21 Hội nhập quốc tế đã mở ra một không gian
Trang 6phát triển mới cho nền kinh tế Việt Nam, tranh thủ được môi trường quốc tế thuận lợi
để tập trung phát triển kinh tế - xã hội
2.2 Hội nhập chính trị
Tháng 4 năm 1976 Quốc hội Việt Nam chính thức trở thành thành viên của IPU(Liên minh nghị viện thế giới) Với uy tín và vị thế của Việt Nam, Nghị viện các nước đã bầu đại diện của Quốc hội nước ta làm Phó Chủ tịch IPU - đại diện cho Nhóm nước châu Á - Thái Bình Dương (nhiệm kỳ 2010-2011) và Ủy viên Ban chấp hành IPU (nhiệm kỳ 2007-2011) Điều đó đã khẳng định những thành tựu quan trọng trong hoạt động đối ngoại của Quốc hội nước ta trong quá trình hội nhập quốc tế và mở rộng quan hệ đối ngoại
Tháng 9/1977 Việt Nam trở thành thành viên thứ 149 của Liên hợp quốc - tổ chức quốc tế rộng nhất hành tinh.Trong chặng đường ấy, Việt Nam từ một nước nhỏ, chỉ biết đến chiến tranh đói nghèo, đã vươn lên trở thành một trong những quốc gia đi đầu trong việc thực hiện các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ mà Liên hợp quốc đề ra, được bạn bè quốc tế đánh giá cao.Bên cạnh đó Đảng cộng sản Việt Nam đã tham gia vào nhiều đảng phái chính trị, tăng cường hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau
2.3 Hội nhập về quốc phòng an ninh
Trong một thế giới ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, an ninh của Việt Nam không thể tách rời an ninh khu vực nói riêng và an ninh của thế giới nói chung Hợp tác quốc phòng là một trong những yếu tố quan trọng để duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực
và trên thế giới đồng thời cũng là một yếu tố quan trọng để thực hiện các mục tiêu quốc phòng của Việt Nam Chính vì vậy, Việt Nam chủ trương mở rộng đối ngoại quốc phòng, tham gia ngày càng tích cực vào các hoạt động hợp tác quốc phòng, an ninh của khu vực và của cộng đồng quốc tế
Việt Nam cùng với các nước trao đổi các đoàn quân sự, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm; hợp tác huấn luyện, đào tạo, giải quyết các vấn đề nhân đạo… Đến nay, Việt Nam đã
có quan hệ quốc phòng chính thức với 65 nước trong đó có các cường quốc trên thế giới; đã thiết lập tùy viên quốc phòng tại 31 nước và đã có 42 nước thiết lập Việt Nam
đã nỗ lực trong việc tăng cường, mở rộng và làm sâu sắc thêm các quan hệ đối ngoại của ASEAN, cùng phấn đấu vì hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển ở khu vực Việt
Trang 7Nam tham gia các cơ chế hợp tác của ASEAN như ARF.ADMM, ADMM+, MACOSA…, cùng các nước Đông Nam Á khác ký Hiệp ước khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ) Việt Nam cũng tham dự với vai trò quan sát viên các cuộc tập trận chung với các nước trên thế giới điển hình như cuộc tập trận lớn nhất châu Á mang tên “Hổ mang vàng”
3 Phân tích SWOT về hội nhập quốc tế trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam.
3.1 cơ hội của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam.
3.1.1 Hội nhập quốc tế thúc đẩy sự phát triển trong lĩnh vực kinh tế
Việt Nam, với tư cách là một nước đang phát triển, lại có quan hệ kinh tế đa dạng với nhiều nước thuộc cả nhóm phát triển và đang phát triển, hoàn toàn có thể tận dụng xu hướng này, tham gia vào các tập hợp lực lượng kinh tế mới để đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế quốc gia Thông qua các thể chế này Việt Nam tiếp tục có phạm vi hoạt động đối ngoại rộng Cụ thể, việc tham gia vào các cơ chế đa phương trong khu vực đã giúp tiếng nói của Việt Nam có trọng lượng hơn, đồng thời lợi ích quốc gia được đảm bảo tốt hơn đặc biệt khi lợi ích đó gắn với lợi ích của khu vực
Nhờ hội nhập, Việt Nam đã mở rộng thị trường cho xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ; thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, các nguồn vốn, thành tựu khoa học – công nghệ, để đạt được những thành tựu phát triển như những năm qua
3.1.2 Hội nhập quốc tế thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Hiện nay, Cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo điều kiện hình thành và phát triển kinh tế tri thức ở nhiều quốc gia, khu vực; tạo cơ hội hợp tác, giao lưu trong tìm kiếm, tiếp thu những thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại, tạo nguồn lực phát triển kinh tế Toàn cầu hóa làm cho thị trường thế giới ngày nay càng rộng lớn về quy mô, hoàn thiện về cơ chế hoạt động
Từ những cơ hội đó cán bộ, đảng viên của chúng ta có điều kiện để học hỏi, tiếp thu, trao đổi, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học, kinh nghiệm quản lý, nguồn vốn của thế giới, đặc biệt là những tri thức để phát triển nền kinh tế số,
Trang 8tham gia chuỗi cung ứng sản phẩm toàn cầu Qua đó, Việt Nam có cơ hội mở rộng, phát triển tiến trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa
3.1.3 Hội nhập quốc tế có tác động tích cực đến lao động, việc làm
Phân công lao động quốc tế cho phép các quốc gia khai thác lợi thế của mình khi tham gia thị trường thế giới Vì thế hội nhập quốc tế cho phép các Việt Nam xuất khẩu được nhiều lao động ra nước ngoài Đây được coi là cơ hội để thu về nguồn ngoại tệ lớn tăng thu nhập, đồng thời cải thiện đời sống dân cư, giải quyết việc làm và đào tạo được lực lượng lao động có chuyên môn tốt cho công cuộc xây dựng đất nước
Lĩnh vực lao động và xã hội ở nước ta đã được Đảng và Nhà nước tích cực, chủ động tham gia và thực hiện các cam kết quốc tế như công ước quốc tế về lao động, việc làm, người khuyết tật, phụ nữ, trẻ em, tham gia các hiệp định thương mại tự do CPTPP, EVFTA và tham gia vào các tổ chức đa phương, khu vực như hội đồng quản trị của tổ chức lao động quốc tế ILO, cộng đồng văn hóa xã hội ASEAN Sự tham gia vào các hiệp định thương mại tự do như CPTPP, EVFTA và các thỏa thuận hợp tác lao động song phương đã mở rộng cơ hội việc làm cả trong nước và ngoài nước
Bên cạnh đó, cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi mạnh mẽ phương thức sản xuất và chế tạo dẫn đến nhu cầu lao động có kỹ năng, trình độ cao tăng mạnh Công nghệ mới cũng sẽ thay thế nhiều việc làm cũ đồng thời tạo nên nhiều việc làm mới Người lao động trong nước, nhất là những lao động có trình độ, tay nghề
sẽ có điều kiện tiếp cận với thị trường lao động rộng lớn hơn cả trong nước và quốc tế
3.1.4 Hội nhập quốc tế thúc đẩy khoa học và công nghệ
Tiếp cận nhanh và khách quan tới những tiến bộ khoa học và công nghệ của thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao, mua bán công nghệ, rút ngắn khoảng cách về khoa học và công nghệ với các nước trong khu vực và quốc tế Có điều kiện tranh thủ khai thác các nguồn lực từ nước ngoài (tài chính, thông tin, nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa học và công nghệ) để phát triển tiềm lực khoa học và đổi mới công nghệ trong nước Có điều kiện tiếp cận đa dạng tới các hình thức cạnh tranh lành mạnh, hình
thức đào tạo tiên tiến để phát triển đội ngũ các nhà khoa học và cán bộ quản lý khoa
Trang 9học và công nghệ
3.1.5 Hội nhập quốc tế góp phần bảo vệ môi trường sinh thái
Kể từ khi tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta có điều kiện nhập khẩu những trang thiết bị, công nghệ tiên tiến, những sản phẩm thân thiện với môi trường, đồng thời nâng cao sức cạnh tranh, nâng cao chất lượng sản phẩm, thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển, tạo điều kiện thuận lợi thực thi các giải pháp bảo vệ môi trường Nhờ dòng đầu tư trực tiếp của nước ngoài, Việt Nam được tiếp cận với công nghệ tiên tiến, hiện đại, “xanh” và “thân thiện” hơn với môi trường, ít gây ô nhiễm và sử dụng nguyên liệu hiệu quả hơn trong quá trình sản xuất
Trên thực tế, với sự trợ giúp của quốc tế đã có một số dự án sản xuất sạch được thực hiện thành công tại Việt Nam Nó chứng minh hiệu quả và lợi ích cho doanh nghiệp thông qua giảm chi phí đầu vào, nâng cao hiệu quả sản xuất đồng thời bảo vệ môi trường
3.1.6 Hội nhập quốc tế giúp phát triển văn hóa đa phương
Việc mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại đã tạo điều kiện thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa nước ta với các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, với những quy mô, tầm mức khác nhau Nhiều hoạt động, như ngày/tuần/tháng văn hóa Việt Nam, biểu diễn nghệ thuật, lễ hội văn hóa - du lịch, chiếu phim, triển lãm sách, ảnh, sản phẩm văn hóa - nghệ thuật, hội thảo, xúc tiến, quảng bá du lịch nhằm giới thiệu hình ảnh đất nước, con người Việt Nam liên tục được tổ chức ở nhiều quốc gia
và vùng lãnh thổ trên thế giới Các hoạt động giao lưu văn hóa, văn hóa đối ngoại được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao và các bộ, ngành, địa phương liên quan, các cơ quan truyền thông đại chúng, các tổ chức đối ngoại nhân dân, các đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài tổ chức đã đem lại sự thấu hiểu, cảm mến, thân thiện, để lại ấn tượng đẹp đối với cộng đồng quốc tế, tạo tiền đề, điều kiện để nhiều quốc gia, tổ chức trên thế giới mong muốn, tích cực đẩy mạnh giao lưu, hợp tác với nước ta
Tại các tổ chức như: Tổ chức Du lịch thế giới của Liên hợp quốc (UNWTO), Quỹ Văn hóa dân gian quốc tế (IGF), Tổ chức Triển lãm thế giới (BIE), Tổ chức Sở hữu trí tuệ quốc tế (WIPO), Tổ chức Văn hóa - Giáo dục và Khoa học của Liên hợp quốc
Trang 10(UNESCO), Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP)…, đại diện Việt Nam
đã thể hiện được sự năng động, tinh thần trách nhiệm, đóng góp một số sáng kiến được ghi nhận, góp phần nâng cao vị thế đất nước Không chỉ tổ chức ở nước ngoài, các cơ quan văn hóa còn chủ động phối hợp tổ chức nhiều sự kiện, hoạt động giao lưu văn hóa quốc tế ngay tại Việt Nam, để các tổ chức quốc tế, đoàn ngoại giao, nhà văn hóa, nhà báo, nghệ sĩ, doanh nhân, du khách, …có thể tiếp xúc, tương tác với văn hóa, con người Việt Nam
Thông qua nhiều hoạt động, Việt Nam từng bước nâng cao khả năng hội nhập văn hóa; tiếp nhận hiệu quả những giá trị văn hóa, nghệ thuật và phương thức thể hiện hiện đại, hấp dẫn, tiêu biểu của thế giới, làm phong phú và nâng tầm về cả hình thức, nội dung, giá trị các sản phẩm văn hóa dân tộc Cùng với đó là việc thành lập và các hoạt động giao lưu văn hóa ngày càng trở thành một kênh chuyên nghiệp, hiệu quả góp phần nâng tầm vị thế, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trên trường quốc tế Giao lưu văn hóa không chỉ đẩy mạnh quan hệ với cộng đồng nước ngoài, mà còn truyền bá văn hóa nước nhà đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, gắn kết kiều bào với quê hương, đất nước, thẩm thấu văn hóa Việt Nam tới cộng đồng nước sở tại động của các
cơ sở văn hóa của nhiều nước tại Việt Nam, như Viện Goethe của Đức, Thư viện Phòng Văn hóa Sứ quán Mỹ; các trung tâm văn hóa và ngôn ngữ của Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc… tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động giao lưu văn hóa của nước ta
3.2 thách thức của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam
3.2.1 Việt Nam là một nước đang phát triển có trình độ kinh tế thấp
Doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân còn nhỏ bé, sức cạnh tranh của hàng hóa, dịch
vụ nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế nói chung còn nhiều hạn chế, hệ thống chính sách kinh tế, thương mại chưa hoàn chỉnh Vì vậy, nước ta sẽ gặp khó khăn lớn trong cạnh tranh cả ở trong nước cả trên trường quốc tế, với nhiều đối thủ hơn, trên bình diện sâu hơn, rộng hơn
Do thực hiện những cam kết của một thành viên WTO, nhất là việc phải cắt giảm mạnh thuế nhập khẩu, mở cửa sâu rộng về kinh tế, trong đó có việc phải mở cửa các lĩnh vực thương mại hàng hoá và dịch vụ nhạy cảm cao như: ngân hàng, bảo hiểm,