TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC BÁO CÁO THU HOẠCH CHUYÊN ĐỀ THỰC TẾ 1 Họ và tên Phương Dung Mã học viên 22AM0404002 Mã lớp học phần CD1NL28A Lớp hành chính CH28AQTNL GV giảng dạy Phạm.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
PHẦN 1: NHỮNG NỘI DUNG HỌC TRONG BUỔI CHUYÊN ĐỀ THỰC TẾ 2
1 Tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO 2
2 Tổng quan chung về EVFTA 3
3 Luật hoá trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 4
4 Người lao động trong nền kinh tế Gig tại Việt Nam 7
5 FTA thế hệ mới và cơ chế thực thi 9
6 Chuỗi cung ứng toàn cầu 10
PHẦN 2:HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG Ở VN……… 13
1 Cơ hội của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam 13
2 Những thách thức của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam.14 3 Những điểm mạnh của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam17 4 Những điểm yếu của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam .18
PHẦN 3: NHỮNG GIẢI PHÁP, KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÁC BÊN LIÊN QUAN ĐỂ NẮM BẮT ĐƯỢC CƠ HỘI, VƯỢT QUA THÁCH THỨC TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ 20
KẾT LUẬN 24
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Chặng đường gần 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay làmột quá trình đồng hành đầy thử thách, khó khăn Những thành công đạt được có ý nghĩalịch sử, tạo tiền đề và động lực để Việt Nam bước vào giai đoạn hội nhập quốc tế sâurộng và phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn Hội nhập quốc tế là một quá trình phát triểntất yếu, do bản chất xã hội của lao động và quan hệ giữa con người với nhau Ngày nay,quá trình hội nhập quốc tế đang diễn ra ngày càng nhanh hơn, mạnh hơn dưới sự tác độngcủa nhiều nhân tố, trong đó kinh tế thị trường và sự phát triển như vũ bão của khoa họccông nghệ là động lực hàng đầu Hội nhập quốc tế đã, đang là một xu thế lớn của thế giớihiện đại, tác động sâu sắc đến quan hệ quốc tế và đời sống của từng quốc gia
"Hội nhập quốc tế" (Interational integration) là một thuật ngữ được dùng khá phổ biến ởViệt Nam hiện nay Trên thực tế, có rất nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về thuậtngữ hội nhập quốc tế Dù chưa có một định nghĩa nhận được sự nhất trí hoàn toàn tronggiới học thuật và giới làm chính sách, song, hội nhập quốc tế thường được hiểu là mộtquá trình các nước tiến hành các hoạt động tăng cường sự gắn bó giữa các nước với nhau,qua việc tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực, dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mụctiêu, nguồn lực, quyền lực, giá trị… Tuy nhiên, phải tuân thủ các nguyên tắc, luật chơichung trong khuôn khổ của tổ chức khu vực và quốc tế đó
Hội nhập quốc tế có thể diễn ra trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế,văn hóa, an ninh - quốc phòng, giáo dục , Trong đó hội nhập quốc tế ảnh hưởng mạnh
mẽ đến thị trường lao động của Việt Nam Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề này, saubuổi chuyên đề thực tế vừa qua, em xin chọn đề tài “Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực laođộng ở Việt Nam”
Trang 4PHẦN 1: NHỮNG NỘI DUNG HỌC TRONG BUỔI CHUYÊN ĐỀ THỰC TẾ
1 Tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO
Tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO là những tiêu chuẩn lao động được quốc tế côngnhận, được ban hành dưới hình thức các công ước và khuyến nghị của ILO do chínhcác quốc gia thành viên ILO bao gồm các đối tác ba bên là Chính phủ, tổ chức đạidiện của giới chủ và tổ chức đại diện của người lao động tham gia xây dựng tại Hộinghị ILO (ILC) thường niên tại Giơ - ne - vơ, Thụy Sĩ Trong tổng số 189 tiêu chuẩnlao động của ILO, có 08 Tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản/cốt lõi bắt buộc các nướcvới tư cách là thành viên của ILO phải thực hiện
Tám tiêu chuẩn lao động cốt lõi của ILO được thông qua dưới dạng 08 công ước cơbản của ILO thuộc 04 nhóm vấn đề: (i) Nhóm các công ước về tự do lập hội vàthương lượng tập thể: Công ước số 87 về tự do hiệp hội và việc bảo vệ quyền được tổchức (Công ước số 87), Công ước số 98 về áp dụng những nguyên tắc của quyền tổchức và thương lượng tập thể (Công ước số 98); (ii) Nhóm các công ước về xóa bỏcác hình thức lao động cưỡng bức: Công ước số 29 về lao động cưỡng bức và bắtbuộc (Công ước số 29), Công ước số 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức (Công ước số105); (iii) Nhóm các công ước về tiền lương công bằng và chống phân biệt đối xử:Công ước số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và nữ cho một công việc
có giá trị ngang nhau (Công ước số 100), Công ước số 111 về chống phân biệt đối xử
về việc làm và nghề nghiệp (Công ước số 111); (iv) Nhóm các công ước về tuổi tốithiểu được đi làm việc và xóa bỏ những hình thức lao động tồi tệ đối với trẻ em: Côngước số 138 về tuổi tối thiểu được đi làm việc (Công ước số 138), Công ước số 182 vềnghiêm cấm và hành động khẩn cấp xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất(Công ước số 182)
Việt Nam đã phê chuẩn 06/08 công ước (bao gồm: Công ước số 98, Công ước số 100,Công ước số 111, Công ước số 138, Công ước số 182, Công ước số 29) hai công ước
Trang 5còn lại là Công ước số 105 và Công ước số 87 dự kiến sẽ được phê chuẩn lần lượt vàonăm 2020 và 2023.
Việc phê chuẩn hay gia nhập các công ước quốc tế là công việc quan trọng, cần có sự cânnhắc thấu đáo để phù hợp với điều kiện, đặc điểm và vì lợi ích quốc gia Tuy nhiên, Điều
2 Tuyên bố 1998 của ILO đã khẳng định rằng, các quốc gia thành viên ILO, dù đã phêchuẩn hay chưa phê chuẩn 08 công ước cơ bản đều có nghĩa vụ phải tôn trọng, thúc đẩy
và thực hiện 08 công ước này một cách thiện chí Đây là sự khác biệt cơ bản về mặt nghĩa
vụ tuân thủ giữa 08 công ước cơ bản với các công ước khác của ILO Như vậy, ngoàiviệc phải thực hiện đầy đủ nội dung của 06 công ước cơ bản của ILO mà Việt Nam đãphê chuẩn, thì Việt Nam với tư cách là thành viên của ILO có nghĩa vụ phải tôn trọng,thúc đẩy và thực hiện một cách thiện chí đối với 02 công ước cơ bản còn lại của ILO màViệt Nam chưa phê chuẩn Hơn nữa, các Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyênThái Bình Dương (CTTPP) TPP và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minhChâu Âu (EVFTA) đều có các quy định về tiêu chuẩn lao động, đòi hỏi Việt Nam phảisửa đổi pháp luật cho phù hợp và thực hiện trong thực tiễn, để được hưởng lợi ích thươngmại trong các hiệp định Bên cạnh cơ chế giám sát của ILO, các hiệp định này đều có các
cơ chế giám sát việc thực hiện các tiêu chuẩn lao động quốc tế ở các quốc gia thành viên.Việt Nam tham gia trở lại tư cách thành viên của ILO từ năm 1992 Từ đó đến nay, ViệtNam tích cực thực hiện các Tiêu chuẩn lao động quốc tế, hoàn thiện thể chế quản trị thịtrường lao động…
2 Tổng quan chung về EVFTA
EVFTA là Hiệp định thương mại được kí kết giữa Liên Minh Châu Âu EU và Việt Nam.
Đây là hiệp định toàn diện, chất lượng cao và đảm bảo cân bằng lợi ích cho cả Việt Nam
và EU, trong đó cũng đã lưu ý đến chênh lệch về trình độ phát giữa 2 bên EVFTA là mộtFTA thế hệ mới, có phạm vi và mức độ cam kết rất cao Theo đó, Hiệp định thương mạigiữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu bao gồm các lĩnh vực sau:
– Thương mại hàng hóa
Trang 6– Quy tắc xuất xứ hàng hóa
– Hải quan và thuận lợi hóa thương mại
– Các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động vật
– Thương mại dịch vụ và đầu tư
Trong đó, thương mại hàng hóa là được quan tâm nhiều nhất khi mà cả 2 phía Việt Nam
và EU đều có những cam kết ở phạm vi lớn Hiệp định gồm 17 Chương, 2 Nghị định thư
và một số biên bản ghi nhớ kèm theo với các nội dung chính là: thương mại hàng hóa(gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), quy tắc xuất xứ, hải quan vàthuận lợi hóa thương mại, các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), các rào cản kỹthuật trong thương mại (TBT), thương mại dịch vụ (gồm các quy định chung và cam kết
mở cửa thị trường), đầu tư, phòng vệ thương mại, cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước,mua sắm của Chính phủ, sở hữu trí tuệ, thương mại và Phát triển bền vững, hợp tác vàxây dựng năng lực, các vấn đề pháp lý-thể chế
3 Luật hoá trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (TNXHDN) là một khái niệm quen thuộc ngàynay được nhiều người nhắc tới Nhưng sự ra đời và phát triển của thuật ngữ này lạikéo dài trong thời gian dài với xuất phát điểm từ thế kỷ XIX và tiếp tục được bànluận, hoàn thiện vào những năm thế kỷ 20 với nhiều khái niệm được đưa ra như năm
1973, Keith Davis đưa ra khái niệm “TNXHDN là sự quan tâm và phản ứng củadoanh nghiệp với các vấn đề vượt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu pháp lý, kinh
tế, công nghệ” Khái niệm về TNXHDN vẫn được các nhà nghiên cứu tiếp tục pháttriển, năm 1999, Archie Carroll đã đưa ra khái niệm khác về TNXHDN “Là tất cả cácvấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức và những lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi ở doanhnghiệp trong mỗi thời điểm nhất định Theo đó, TNXHDN sẽ bao gồm trách nhiệmkinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện Năm 2004, Matten và Moon đã đưa ra khái niệm
Trang 7“TNXHDN là một khái niệm chùm bao gồm nhiều khái niệm khác như đạo đức kinhdoanh, doanh nghiệp làm từ thiện, công dân doanh nghiệp, tính bền vững và tráchnhiệm môi trường Đó là một khái niệm động và luôn được thử thách trong bối cảnhkinh tế, chính trị, xã hội đặc thù”.
Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý hài hòa giữa bamặt: kinh tế, xã hội và môi trường với nội dung cụ thể như sau:
Phát triển bền vững về kinh tế: là quá trình đạt được tăng trưởng kinh tế ổn
định và đều đặn, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô như lạm phát, lãi suất, nợchính phủ, đảm bảo cân đối cán cân thương mại, đầu tư có chất lượng, có năngsuất cao thông qua việc nâng cao hàm lượng khoa học và công nghệ trong sảnxuất, không làm phương hại đến xã hội và môi trường
Phát triển bền vững về xã hội: là phát triển nhằm đảm bảo sự công bằng
trong xã hội, xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập chongười lao động, đảm bảo người dân có cơ hội được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ
cơ bản như y tế, giáo dục nhưng không làm phương hại đến kinh tế và môitrường
Phát triển bền vững về môi trường: là việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên
nhiên, duy trì một nền tảng nguồn lực ổn định, tránh khai thác quá mức các hệthống nguồn lực tái sinh Phát triển bền vững về môi trường cần duy trì sự đadạng sinh học, sự ổn định khí quyển và các hoạt động sinh thái khác, cần hạnchế vấn đề nhiễm môi trường bao gồm cả ô nhiễm đô thị và khu công nghiệp,cần phải quản lý và xử lý tốt chất thải rắn, chất thải nguy hại, có khả năng ngănngừa và giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu và thiên tai
Ngoài ra, phát triển bền vững về môi trường cần phải hướng được các doanh nghiệp từngbước thay đổi mô hình sản xuất, hướng doanh nghiệp đến các công nghệ sản xuất sạch
Trang 8hơn, thân thiện với môi trường hơn Phát triển bền vững về môi trường phải đảm bảokhông làm phương hại đến kinh tế và xã hội.
Việt Nam đã ban hành Chiến lược phát triển bền vững nhằm mục tiêu tăng trưởng bềnvững, có hiệu quả, đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường,giữ vững ổn định chính trị – xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất vàtoàn vẹn lãnh thổ quốc gia
Về kinh tế, cần duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững, từng bước thực hiện tăng trưởng
xanh, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; thực hiện sản xuất và tiêu dùng bềnvững; bảo đảm an ninh lương thực, phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững; pháttriển bền vững các vùng và địa phương Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2016 – 2020 đạttrung bình 7%/năm, nâng mức thu nhập bình quân đầu người hằng năm tính theo GDPtăng lên 3.200 – 3.500 USD (so với mức 2.100 USD năm 2015) Lạm phát giữ ở mứcdưới 5%
Về xã hội, tập trung đẩy mạnh công tác giảm nghèo theo hướng bền vững; tạo việc làm
bền vững; Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân khoảng 2%/năm, riêng các huyện nghèo giảmtrên 4%/năm Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; thực hiện tốt các chính sách an sinh
xã hội; năm 2014 đã có 1,4 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, trên 8,5 triệu ngườitham gia bảo hiểm thất nghiệp, trên 72% dân số tham gia bảo hiểm y tế Đời sống nhândân được cải thiện Thu nhập bình quân đầu người đạt 2.052 USD/người (2014) Tuổi thọtrung bình đạt 73,5 tuổi (2015) Hoàn thành nhiều mục tiêu Thiên niên kỷ Ổn định quy
mô, cải thiện và nâng cao chất lượng dân số; phát triển văn hoá hài hoà với phát triểnkinh tế, xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam; phát triển bền vững các đô thị, xâydựng nông thôn mới, phân bố hợp lý dân cư và lao động theo vùng; nâng cao chất lượnggiáo dục và đào tạo để nâng cao dân trí và trình độ nghề nghiệp thích hợp với yêu cầu của
sự phát triển đất nước, vùng và địa phương;…
Trang 9Về tài nguyên và môi trường, chống thoái hoá, sử dụng hiệu quả và bền vững tài
nguyên đất; bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền vững tài nguyên nước; khai thác hợp
lý và sử dụng tiết kiệm, bền vững tài nguyên khoáng sản; bảo vệ môi trường biển, venbiển, hải đảo và phát triển tài nguyên biển; bảo vệ và phát triển rừng; giảm ô nhiễmkhông khí và tiếng ồn ở các đô thị lớn và khu công nghiệp…
4 Người lao động trong nền kinh tế Gig tại Việt Nam
Nền kinh tế GIG (được hiểu nôm na là nền kinh tế hợp đồng) bao gồm tất cả các loạicông việc được sắp xếp một cách ngẫu nhiên, chẳng hạn công việc của những người làmnghề tự do; chuyên gia tư vấn; các nhà thầu và các chuyên gia độc lập; công nhân hợpđồng tạm thời Những công việc kiểu này được gọi là công việc hợp đồng và người thựchiện các công việc đó là lao động hợp đồng
Lực lượng lao động tham gia nền kinh tế GIG phát triển lớn mạnh hơn bao giờ hết Chỉtrong vòng một vài năm, kinh tế GIG đã phát triển với quy mô nghìn tỷ đô la Mỹ vớihàng chục triệu người tham gia Sở dĩ nền kinh tế GIG ngày càng phát triển vì nó đem lạilợi ích rất lớn cho các bên tham gia Cụ thể như sau:
Thứ nhất, sự linh hoạt đối với người lao động và doanh nghiệp là lợi ích kinh tế chính
của nền kinh tế GIG Từ góc độ người sử dụng lao động, khả năng thuê một người nào đótrong một khoảng thời gian ngắn có thể là một lợi ích lớn, đặc biệt là đối với nhữngdoanh nghiệp nhỏ không thể thuê nhân viên làm việc toàn thời gian để thực hiện một sốcông việc nhất định Đối với những lao động hợp đồng, họ có thể kiếm được mức lươngđáng kể trong khi có thể thiết lập giờ làm việc của riêng mình Tính linh hoạt là lý doquan trọng nhất khiến những người này chọn công việc phi truyền thống
Thứ hai, sự xuất hiện ngày càng nhiều các trung gian, đặc biệt là các nền tảng trực tuyến,
như: Grab, Now và Lazada… đã mở rộng cơ hội cho lực lượng lao động hợp đồng, đồngthời cung cấp cho các doanh nghiệp cơ hội lớn hơn trong việc tìm kiếm người lao độngvới các kỹ năng cụ thể mà họ cần Công việc phi truyền thống cho phép các doanh
Trang 10nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ, tiếp cận nguồn lao động với các kỹ năngchuyên môn đặc biệt Trong khi đó, nếu không có thị trường lành mạnh cho các công việchợp đồng, các doanh nghiệp này có thể phải thuê nhân viên toàn thời gian, từ đó làm giatăng chi phí của doanh nghiệp Nói cách khác, các nền tảng trung gian cùng với ứng dụngcông nghệ hiện đại đã giúp người lao động và doanh nghiệp dễ dàng gặp nhau hơn.
Thứ ba, những công việc hợp đồng cũng tạo ra hiệu quả bằng cách cho phép người lao
động cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho nhiều khách hàng, giúp khách hàng có thể hưởnglợi từ kỹ năng đặc biệt mà những người lao động này có
Bên cạnh việc mang lại lợi ích cho người lao động và doanh nghiệp, nền kinh tế GIG đã
và đang bộc lộ nhiều vấn đề Cụ thể:
Một là, đối với nền kinh tế GIG, rất khó phân loại rõ ràng đâu là một phần của nền kinh
tế này và đâu là không Đối với nhiều người tham gia nền kinh tế GIG, các công việc hợpđồng cho phép họ bổ sung thu nhập hàng tháng Tuy nhiên, có một số người kiếm sốngchính bằng các công việc này Nhóm này bao gồm các chuyên gia có tay nghề cao, hợptác với nhiều doanh nghiệp khác nhau Họ cũng có thể là những người có gia đình cầnphải chăm sóc và họ không có lựa chọn nào khác để kiếm sống
Trong vài năm qua, các báo cáo từ nhiều nguồn khác nhau đã công bố những thông tintrái ngược nhau về kinh tế GIG Theo Cục Thống kê Lao động Hoa Kỳ, trong năm 2018,lao động làm việc trong nền kinh tế GIG chỉ chiếm 6,9% trong toàn bộ nền kinh tế Trongkhi đó, một số tổ chức lại cho rằng, người lao động trong nền kinh tế GIG được cho là đãđóng góp 1,4 ngàn tỷ USD vào GDP của nước Mỹ năm 2018 (Phạm Hoài Nhân, 2020).Những mâu thuẫn này có thể bắt nguồn từ việc ai được coi là một phần của nền kinh tếGIG và ai không thuộc nền kinh tế này
Hai là, nền kinh tế GIG khiến cho sự an toàn của một công việc có lương thưởng ổn định
bị xóa bỏ Người lao động phải gánh chịu nhiều hơn rủi ro thị trường khi xảy ra nhữngthăng trầm kinh tế, hoặc đơn giản là thay đổi sở thích của người tiêu dùng Chẳng hạn,với những người tài xế Grab, việc giảm nhu cầu đi lại của người sử dụng dịch vụ chỉ
Trang 11trong một đêm có thể ảnh hưởng trực tiếp đến số tiền mà một người sẽ kiếm được trongmột ngày.
Ba là, mối quan hệ lâu dài giữa người lao động, người sử dụng lao động, khách hàng và
nhà cung cấp bị xói mòn do tính chất lỏng lẻo của các giao dịch và mối quan hệ kinh tế.Điều này làm mất đi lợi ích từ việc xây dựng niềm tin lâu dài, thông lệ, sự quen thuộc vớikhách hàng và nhà tuyển dụng Trong nền kinh tế GIG, lao động hợp đồng không đượccoi là người lao động cho bất kỳ một công ty nào Những người này phải tự đóng thuế, tựtìm và trả tiền bảo hiểm y tế, thậm chí tự tiết kiệm để nghỉ hưu Sự kết hợp của tất cả cácyếu tố này tạo thêm gánh nặng cho những người lao động Trong khi đó, nếu làm việctrong nền kinh tế truyền thống, họ thường không phải bận tâm đến những vấn đề này Sựthiếu an toàn trong quá trình làm việc và quyền của người lao động là những vấn đềnghiêm trọng nhất có thể nảy sinh khi tham gia vào nền kinh tế GIG Việc bóc lột nhânviên hợp đồng có thể là một vấn đề tiềm ẩn, bởi vì, không giống như nhân viên truyềnthống, ở hầu hết các nơi, nhân viên hợp đồng không có quyền thành lập công đoàn vàthương lượng tập thể theo luật lao động Nếu một nền tảng trung gian nào đó có thể pháttriển “sức mạnh độc quyền” (nghĩa là, nếu nó trở nên thống trị đến mức không bị cạnhtranh trên thị trường lao động), thì đây sẽ là một mối lo ngại nghiêm trọng
5 FTA thế hệ mới và cơ chế thực thi
Theo quan điểm truyền thống, FTA là hiệp định hợp tác kinh tế được ký kết giữa ít nhấthai nước, nhằm cắt giảm các hàng rào thương mại, cụ thể là thuế quan, nhập khẩu (và cáchàng rào phi thuế quan khác), đồng thời thúc đẩy thương mại hàng hóa và dịch vụ giữacác nước này với nhau Một trong các đặc điểm quan trọng của FTA “truyền thống” làcác thành viên của FTA không có biểu thuế quan chung trong quan hệ thương mại vớicác nước bên ngoài FTA Các FTA điển hình theo khái niệm này là: FTA ASEAN(AFTA); FTA Trung Âu (CEFTA), …
– Mức độ tự do hóa (mở cửa) sâu: Với tiêu chí “FTA tiêu chuẩn cao”, dù chưa kết thúcđàm phán, có thể chắc chắn rằng mức độ mở cửa của Việt Nam cũng như các đối táctrong các FTA này là rất sâu (xóa bỏ phần lớn các dòng thuế, mở cửa mạnh các ngành
Trang 12dịch vụ…) và tất nhiên là rộng hơn nhiều so với WTO cũng như các FTA trước đây củaViệt Nam (trừ ATIGA);
– Phạm vi cam kết rộng: Trong khi các FTA trước đây chủ yếu tập trung vào lĩnh vựcthương mại hàng hóa, các FTA thế hệ mới sắp tới sẽ bao gồm những cam kết về nhiềulĩnh vực mới mà Việt Nam chưa từng cam kết/mở cửa trước đây, ví dụ: doanh nghiệpNhà nước, mua sắm Chính phủ, lao động – công đoàn, môi trường…
– Nhiều cam kết về thể chế: Khác với các FTA trước đây chủ yếu ảnh hưởng tới chínhsách thuế quan tại biên giới, các FTA thế hệ mới sắp tới có nhiều các cam kết ảnh hưởngtrực tiếp và lớn đến thể chế, chính sách pháp luật nội địa (những vấn đề sau đường biêngiới);
– Đối tác FTA đặc biệt lớn: Trong các FTA thế hệ mới mà Việt Nam đang đàm phán cónhững đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản
6 Chuỗi cung ứng toàn cầu
Chuỗi cung ứng toàn cầu bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến việc cungcấp, sản xuất và phân phối một sản phẩm hoặc dịch vụ từ nhà cung cấp đầu tiênđến người tiêu dùng cuối cùng trên phạm vi toàn cầu C ũng có thể hiểu rằng,chuỗi cung ứng toàn cầu là một mạng lưới có phạm vi trên toàn thế giới Trongmạng lưới đó một doanh nghiệp sẽ mua hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ từ nướcngoài để thực hiện việc cung cấp, sản xuất và phân phối một sản phẩm hoặc dịch
Trang 13Không những vậy, vai trò của Việt Nam trong chuỗi cung ứng và và sản xuất của
Mỹ cũng ngày càng quan trọng hơn Bằng chứng là rất nhiều công ty nổi tiếngcủa Mỹ đã và đang tăng cường đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam như Apple,Intel, Ford, General Electric, Pepsi, Coca-Cola, Nike, Microsoft, Citi Group,P&G,…
Ông Steve Lamar - Chủ tịch, kiêm Tổng Giám đốc AAFA (Hiệp hội May mặc vàGiày dép Mỹ ) cho biết “Việt Nam đã trở thành nhà cung cấp chính các nguyênliệu đầu vào cho ngành sản xuất giày dép của Mỹ Đồng thời cũng là nhà cungcấp hàng dệt may, giày dép lớn thứ hai cho thị trường Mỹ, chiếm 20% tổnglượng hàng xuất khẩu”
Việc AAFA đề nghị Tổng thống Mỹ cấp vaccine cho Việt Nam đã cho thấy Mỹđánh giá rất cao vai trò của Việt Nam trong chuỗi cung ứng
Bên cạnh đó, xu hướng đa dạng hóa nguồn sản xuất và dịch chuyển sản xuất rakhỏi Trung Quốc đã khiến Việt Nam trở thành địa điểm thay thế tiềm năng Rấtnhiều doanh nghiệp lớn của Mỹ như Google, Microsoft, Apple đang có xu hướngdịch chuyển sản xuất sang Việt Nam Từ đó có thể thấy Việt Nam đang dần trởthành điểm thay thế quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu
Nếu như 10 năm trước các cụm từ như “chuỗi cung ứng” hay “supply chain” rất
ít được sử dụng, thì hiện nay với xu hướng toàn cầu hóa và khi Việt Nam gianhập WTO đã đưa Việt Nam trở thành một mắt xích quan trọng của chuỗi cungứng toàn cầu
Môi trường kinh doanh thông thoáng và chi phí lao động cạnh tranh đã khiếnngành supply chain tại Việt Nam trở thành lĩnh vực hoạt động sôi nổi bậc nhất.Rất nhiều doanh nghiệp lớn và tập đoàn đa quốc gia có bộ phận chuyên quản lýchuỗi cung ứng Số lượng doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực supply chaincũng gia tăng nhanh chóng Thống kê cho thấy có ít nhất 300.000 doanh nghiệp
và hơn 1,5 triệu lao động hiện đang hoạt động trong ngành supply chain