TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC BÁO CÁO THU HOẠCH CHUYÊN ĐỀ THỰC TẾ 1 Họ và tên Đỗ Thùy Linh Mã học viên 22AM0404004 Mã lớp học phần CD1NL28A Lớp hành chính CH28AQTNL GV giảng dạy TS.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU 3
PHẦN 1: PHÂN TÍCH CÁC NỘI DUNG ĐƯỢC CHIA SẺ TRONG BUỔI BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM 4
1 Lực lượng lao động tại Việt Nam 4
2 Tăng lương để tăng năng suất hay Tăng năng suất để tăng lương 5
3 Tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO 6
4 Tổng quan chung về EVFTA 8
5 Luật hoá trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 8
6 Người lao động trong nền kinh tế GiG tại Việt Nam 10
7 FTA thế hệ mới và cơ chế thực thi 12
8 Chuỗi cung ứng toàn cầu 13
PHẦN 2: CÁC MẶT CỦA CÂU CHUYỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM 15
1 Cơ hội của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam 15
2 Những thách thức của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam 17
3 Những điểm mạnh của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam 18
4 Những điểm yếu của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam 19
PHẦN 3: NHỮNG GIẢI PHÁP, KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÁC BÊN LIÊN QUAN ĐỂ NẮM BẮT ĐƯỢC CƠ HỘI, VƯỢT QUA THÁCH THỨC TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ 21
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu, có lịch sử phát triển lâu dài và có nguồn gốc,bản chất xã hội của lao động và sự phát triển văn minh của quan hệ giữa con người vớicon người Trong xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển phải có mối liên kết chặtchẽ với nhau Rộng hơn, ở phạm vi quốc tế, một quốc gia muốn phát triển phải liên kếtvới các quốc gia khác Trong một thế giới hiện đại, sự phát triển của kinh tế thị trường đòihỏi các quốc gia phải mở rộng thị trường, hình thành thị trường khu vực và quốc tế Đâychính là động lực chủ yếu thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế
Chặng đường gần 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay làmột quá trình đồng hành đầy thử thách, khó khăn Những thành công đạt được có ý nghĩalịch sử, tạo tiền đề và động lực để Việt Nam bước vào giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng
và phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn Hội nhập quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu,
do bản chất xã hội của lao động và quan hệ giữa con người với nhau Ngày nay, quá trìnhhội nhập quốc tế đang diễn ra ngày càng nhanh hơn, mạnh hơn dưới sự tác động củanhiều nhân tố, trong đó kinh tế thị trường và sự phát triển như vũ bão của khoa học côngnghệ là động lực hàng đầu Hội nhập quốc tế đã, đang là một xu thế lớn của thế giới hiệnđại, tác động sâu sắc đến quan hệ quốc tế và đời sống của từng quốc gia
"Hội nhập quốc tế" (Interational integration) là một thuật ngữ được dùng khá phổ biến ởViệt Nam hiện nay Trên thực tế, có rất nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về thuậtngữ hội nhập quốc tế Dù chưa có một định nghĩa nhận được sự nhất trí hoàn toàn tronggiới học thuật và giới làm chính sách, song, hội nhập quốc tế thường được hiểu là một quátrình các nước tiến hành các hoạt động tăng cường sự gắn bó giữa các nước với nhau, quaviệc tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực, dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu,nguồn lực, quyền lực, giá trị… Hội nhập quốc tế có thể diễn ra trên từng lĩnh vực của đờisống xã hội (chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh - quốc phòng, giáo dục ), hoặc diễn ratrên cùng nhiều lĩnh vực với tính chất, phạm vi, hình thức khác nhau Chủ thể chính củahội nhập quốc tế là các quốc gia có đủ năng lực và thẩm quyền đàm phán, ký kết và thựchiện các cam kết quốc tế khi đã ký tham gia Hội nhập quốc tế là một xu thế lớn, tất yếu
và là đặc trưng quan trọng của thế giới hiện nay Trong chuyên đề thực tế này chúng ta sẽcùng đi sâu hơn về Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam
Trang 4PHẦN 1: PHÂN TÍCH CÁC NỘI DUNG ĐƯỢC CHIA SẺ TRONG BUỔI BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG Ở
VIỆT NAM.
1 Lực lượng lao động tại Việt Nam
Việt Nam là nước có quy mô dân số lớn, tháp dân số tương đối trẻ và bắt đầu bước vàothời kỳ “cơ cấu dân số vàng” với nguồn nhân lực dồi dào nhất từ trước đến nay Tính đếnhết năm 2017, dân số nước ta đạt 96,02 triệu người, trong đó nữ chiếm khoảng 48,94%.Gia tăng dân số trong những năm qua kéo theo gia tăng về lực lượng lao động Nhìnchung, mỗi năm Việt Nam có khoảng gần 1 triệu người bước vào độ tuổi lao động, đây làmột lợi thế cạnh tranh quan trọng của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài gópphần phát triển kinh tế - xã hội
Xét cơ cấu lực lượng lao động theo giới tính, tỷ lệ lao động nam lại nhiều hơn nữ vớitrên 50% lao động là nam giới Tuy nhiên, sự chênh lệch này không đáng kể và cho thấylao động nữ chiếm một lượng đông đảo Tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ khá cao so vớilao động nam do hạn chế về sức khỏe, những mâu thuẫn giữa sinh đẻ và làm việc, cơ hộitìm được việc làm vừa ý sau khi sinh là thấp
Hiện nay, lực lượng lao động vẫn tập trung đông nhất ở khu vực Đồng bằng sông Hồng(chiếm trên 22%), tiếp đến là khu vực Bắc trung bộ, Duyên hải miền Trung (trên 21%)
và Đồng bằng sông Cửu Long Đây là các khu vực có diện tích đất rộng, tập trung nhiềuthành phố lớn, khu đô thị và nhiều khu công nghiệp, thuận lợi cho việc sản xuất kinhdoanh nên thu hút đông đảo lao động tập trung ở những khu vực này Những khu vựcchiếm tỷ lệ thấp, là những khu vực có diện tích đất hẹp, nhiều đồi núi, ít khu đô thị vàkhu công nghiệp nên không thu hút nhiều lao động đến đây
Cơ cấu lực lượng lao động phân theo 2 khu vực thành thị và nông thôn cũng có sự chênhlệch lớn Nhìn chung, lực lượng lao động ở nước ta chủ yếu tập trung ở khu vực nôngthôn, chiếm khoảng gần 70% Con số này có xu hướng giảm qua các năm nhưng vẫn ởmức cao Cả nước hiện có khoảng 17 triệu thanh niên nông thôn có độ tuổi từ 15-30,chiếm 70% số thanh niên và 60% lao động nông thôn Tuy nhiên, 80% trong số này chưaqua đào tạo chuyên môn Đặc điểm này là trở ngại lớn cho lao động nông thôn trong tìmkiếm việc làm Tính đến năm 2017, dân số trong độ tuổi lao động của Việt Nam là hơn72,04 triệu người (chiếm khoảng 75% tổng dân số cả nước), trong đó, tỷ lệ tham gia lựclượng lao động đạt 75,5%, với 54,4 triệu người So với năm 2010 (tỷ lệ tham gia lựclượng lao động là 75%), lực lượng lao động tính đến năm 2017 tăng cả về tỷ lệ và sốlượng tuyệt đối
Tính đến năm 2022 lực lượng lao động ở Việt Nam là khoảng 52 triệu người Tỷ lệ thamgia lực lượng lao động chiếm 60% Lao động chân tay giảm dần cho sự phát triển của
Trang 5kho học công nghệ, máy móc dần thay thế con người Ngành công nghiệp, nông nghiệp,dịch vụ chiếm khoảng 30% mỗi ngành, ngành dịch vụ vẫn chiếm số lượng đông nhất TạiViệt Nam những ngành công nghiệp phát triển phải kể đến như Dệt may, da giày, điện
tử, cơ khí, thủy sản đây là do đặc thù ngành nghề dẫn đến thâm dụng lao động Giátrị/chi phí lao động thấp, giá trị gia tăng thấp, năng suất thấp, thiết bị lạc hậu, trình độquản lý thấp, trình độ lao động thấp, v.v., hạn chế về vốn và trình độ công nghệ,
Năm 1995 nhớ nước ta có nhiều chính sắc nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, đây là mộtquyết định nhằm kiên doanh với nước ngoài để học hỏi kinh nghiệm tuy nhiên khôngmang lại hiệu quả như kỳ vọng hiện tại đang dần chuyển FDI tuy nhiên vẫn chưa có nhiềuthành quả vượt bậc Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thất bại đến từ việc chúng
ta không làm chủ công nghệ Mô hình hiện tại ưu tiên tính Kinh tế, giờ phải chuyển sang
mô hình Bền vững, xanh, phát triển bao trùm, cân bằng giữa Kinh tế - lao động - môitrường Các chính sách hiện đang ưu tiên Kinh tế, thay vì các chính sách liên quan đếnttiền lương, lao động, đãi ngộ
2 Tăng lương để tăng năng suất hay Tăng năng suất để tăng lương
Đây là chủ đề được thảo luận sôi nổi trong buổi chuyên đề thực tế đó là Tăng lương đểtăng năng suất hay Tăng năng suất để tăng lương Với nội dung này trong lớp học cónhiều ý kiến khác nhau và chia thành các ý kiến khác nhau
Với ý kiến đứng về Tăng lương để tăng năng suất các căn cứ được đưa ra dựa theoThuyết nhu cầu của Maslow các thành viên lớp cho rằng cần phải đảm bảo các nhu cầutối thiểu về sinh lý và an toàn mang tồn tại trong cuộc sống Con người cần tồn tại đượcthì sau đó họ mới bắt đầu chu ý đến việc phát triển các tầng nhu cầu cao hơn và từ đó nhàquản trj có thể tạo động lực cho người lao động Căn cứ này đặc biệt phù hợp với ngànhnào có điều kiện lao động thấp bởi công nhân là đối tượng lao động chân tay không cóbằng cấp bởi vậy họ quan tâm nhiều đến tiền lương vì vậy cần ưu tiên giải pháp Tănglương để tăng năng suất, đặc biệt ở Việt Nam phần lớn các ngành vẫn thâm dụng laođộng
Còn đối với ý kiến Tăng năng suất để tăng lương cho rằng việc tăng năng suất giúp tạo ranhiều giá trị gia tăng, qua đó tăng tổng giá trị tạo ra cho xã hội, từ đó gián tiếp cải thiệnthu nhập người lao động Tốc độ tăng lương phải nhỏ hơn tốc độ tăng năng suất lao động
để tái đầu tư vào tư bản Phải dựa theo năng suất cá nhân để tăng lương cụ thể qua các kỳreview lương các công ty vẫn đang áp dụng cách thức này để tạo động lực cho nhân sựdựa trên năng suất lao động thực tế học trả ra Dựa trên tháp nhu cầu Maslow một ý kiếnkhác cho rằng con người đều có nhu cầu được tưởng thưởng về những gì họ làm đượcđây là loại nhu cầu cao mà có thể đi từ đó để doanh nghiệp có những hoạt động khác thểhiện được sự ghi nhận đóng góp của công ty đối với người lao động từ đó tạo ra năng
Trang 6suất chứ không phải mỗi tăng lương Khi người lao động được ghi nhận thì sẽ có hiệuquả công việc cao hơn
Với hai quan điểm trên doanh nghiệp nên chọn theo quan điểm nào để tăng năng suất.Câu trả lời được đưa ra đó là cần phải đặt vào bối cảnh cụ thể để lựa chọn quan điểm phùhợp nếu ưu tiên phát triển Kinh tế thì cần chọn Tăng năng suất rồi mới tăng lương Ở đấtnước phát triển, dựa vào máy móc thiết bị công nghệ thì sẽ đi theo lý thuyết Tăng năngsuất để tăng lương đó là theo mô hình lý thuyết cũ Ở các nước này, đây là việc phát triểnbền vững, cân bằng để chia sẻ giá trị giữa máy móc và người lao động Tuy nhiên, trongnền kinh tế hiện nay để nền kinh tế phát triển bền vững cần đi theo hướng tăng lương đểtăng năng suất để có thể đóng góp vào phát triển Bền vững
Một số giải pháp để Tăng lương để tăng năng suất tại Việt Nam cũng được đưa ra thảoluận đó là Thu hút đầu tư (nhà nước, tư nhân, khối ngoại), cải thiện nội lực doanh nghiệp(cải tiến quy trình nội bộ, v.v.), ưu tiên, cải thiện các quy định, quy chế, chính sách vềtiền lương và bảo vệ người lao động (phòng chống tham nhũng, tín dụng đen, các gói hỗtrợ của chính phụ, rà soát luật) Nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: sự đónggóp và tác động của doanh nghiệp đối với xã hội, xuất khẩu lao động nhằm nâng caonăng lực nguồn nhân lực, qua đó nâng cao năng suất đặc biệt trong Chuyển đổi số, vay
để đầu tư vào con người, sau đó đến cơ sở hạ tầng và cuối cùng là thương lượng để Chiatrước, giải quyết ngay bài toán tạo động lực
3 Tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO
Tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO cũng là một chủ đề được đề cập trong buổi chuyên
đề thực tế Tiêu chuẩn quốc tế ILO là những tiêu chuẩn lao động được quốc tế công nhận,được ban hành dưới hình thức các công ước và khuyến nghị của ILO do chính các quốcgia thành viên ILO bao gồm các đối tác ba bên là Chính phủ, tổ chức đại diện của giớichủ và tổ chức đại diện của người lao động tham gia xây dựng tại Hội nghị ILO (ILC)thường niên tại Giơ - ne - vơ, Thụy Sĩ Trong tổng số 189 tiêu chuẩn lao động của ILO, có
08 Tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản/cốt lõi bắt buộc các nước với tư cách là thành viêncủa ILO phải thực hiện
Tám tiêu chuẩn lao động cốt lõi của ILO được thông qua dưới dạng 08 công ước cơ bảncủa ILO thuộc 04 nhóm vấn đề: (i) Nhóm các công ước về tự do lập hội và thương lượngtập thể: Công ước số 87 về tự do hiệp hội và việc bảo vệ quyền được tổ chức (Công ước
số 87), Công ước số 98 về áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượngtập thể (Công ước số 98); (ii) Nhóm các công ước về xóa bỏ các hình thức lao độngcưỡng bức: Công ước số 29 về lao động cưỡng bức và bắt buộc (Công ước số 29), Côngước số 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức (Công ước số 105); (iii) Nhóm các công ước vềtiền lương công bằng và chống phân biệt đối xử: Công ước số 100 về trả công bình đẳnggiữa lao động nam và nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau (Công ước số 100),
Trang 7Công ước số 111 về chống phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp (Công ước số111); (iv) Nhóm các công ước về tuổi tối thiểu được đi làm việc và xóa bỏ những hìnhthức lao động tồi tệ đối với trẻ em: Công ước số 138 về tuổi tối thiểu được đi làm việc(Công ước số 138), Công ước số 182 về nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xóa bỏ cáchình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (Công ước số 182).
Theo thông tin được công bố chính thức, Việt Nam đã phê chuẩn 06/08 công ước (baogồm: Công ước số 98, Công ước số 100, Công ước số 111, Công ước số 138, Công ước số
182, Công ước số 29) hai công ước còn lại là Công ước số 105 và Công ước số 87 dự kiến
sẽ được phê chuẩn lần lượt vào năm 2020 và 2023
Việc phê chuẩn hay gia nhập các công ước quốc tế là công việc quan trọng, cần có sự cânnhắc thấu đáo để phù hợp với điều kiện, đặc điểm và vì lợi ích quốc gia Tuy nhiên, Điều
2 Tuyên bố 1998 của ILO đã khẳng định rằng, các quốc gia thành viên ILO, dù đã phêchuẩn hay chưa phê chuẩn 08 công ước cơ bản đều có nghĩa vụ phải tôn trọng, thúc đẩy
và thực hiện 08 công ước này một cách thiện chí Đây là sự khác biệt cơ bản về mặt nghĩa
vụ tuân thủ giữa 08 công ước cơ bản với các công ước khác của ILO Như vậy, ngoài việcphải thực hiện đầy đủ nội dung của 06 công ước cơ bản của ILO mà Việt Nam đã phêchuẩn, thì Việt Nam với tư cách là thành viên của ILO có nghĩa vụ phải tôn trọng, thúcđẩy và thực hiện một cách thiện chí đối với 02 công ước cơ bản còn lại của ILO mà ViệtNam chưa phê chuẩn Hơn nữa, các Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên TháiBình Dương (CTTPP) TPP và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Châu
Âu (EVFTA) đều có các quy định về tiêu chuẩn lao động, đòi hỏi Việt Nam phải sửa đổipháp luật cho phù hợp và thực hiện trong thực tiễn, để được hưởng lợi ích thương mạitrong các hiệp định Bên cạnh cơ chế giám sát của ILO, các hiệp định này đều có các cơchế giám sát việc thực hiện các tiêu chuẩn lao động quốc tế ở các quốc gia thành viên.Việt Nam tham gia trở lại tư cách thành viên của ILO từ năm 1992 Từ đó đến nay, ViệtNam tích cực thực hiện các Tiêu chuẩn lao động quốc tế, hoàn thiện thể chế quản trị thịtrường lao động…
Mặc dù Việt Nam đã tham gia khá đầy đủ các công ước của ILO nhưng thực tế vẫn cònnhiều điều chưa làm hoàn thiện theo đúng như nội dung các công ước Điều này cũngđược đưa ra trong buổi thảo luận Câu hỏi được đặt ra đó là tại sao các công ước khôngđược thực hiện? và điều quan trọng đó là việc dù công ước đưa ra và có hệ thống giámsát khá chặt chẽ nhưng lại Không có các cơ chế trừng phạt, nguyên tắc hoạt động của ILO
là về đạo đức bởi vậy vẫn còn nhiều nước chưa thực hiện đúng theo những điều có trongcông ước Bộ luật tại Việt Nam cũng đã thay đổi khác nhiều để có thể đưa công ước củaILO về và áp dụng ở nước ta Luật mới cho phép việc thành lập tổ chức đại diện NLĐ ởcấp cơ sở (doanh nghiệp) bởi Phải ở trên cấp này mới có sức mạnh, do thương lượng
Trang 8trong ngành thì luật pháp mới góp phần thay đổi theo Ở các nước phát triển, thươnglượng mạnh hơn luật do thương lượng sẽ thay đổi luật pháp
4 Tổng quan chung về EVFTA
Chủ đề về EVFTA cũng được đưa ra đây là Hiệp định thương mại được kí kết giữa Liên
Minh Châu Âu EU và Việt Nam Đây là hiệp định toàn diện, chất lượng cao và đảm bảocân bằng lợi ích cho cả Việt Nam và EU, trong đó cũng đã lưu ý đến chênh lệch về trình
độ phát giữa 2 bên EVFTA là một FTA thế hệ mới, có phạm vi và mức độ cam kết rấtcao Theo đó, Hiệp định thương mại giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu bao gồm cáclĩnh vực sau:
– Thương mại hàng hóa
– Quy tắc xuất xứ hàng hóa
– Hải quan và thuận lợi hóa thương mại
– Các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động vật
– Thương mại dịch vụ và đầu tư
Trong đó, thương mại hàng hóa là được quan tâm nhiều nhất khi mà cả 2 phía Việt Nam
và EU đều có những cam kết ở phạm vi lớn Hiệp định gồm 17 Chương, 2 Nghị định thư
và một số biên bản ghi nhớ kèm theo với các nội dung chính là: thương mại hàng hóa(gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), quy tắc xuất xứ, hải quan vàthuận lợi hóa thương mại, các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), các rào cản kỹthuật trong thương mại (TBT), thương mại dịch vụ (gồm các quy định chung và cam kết
mở cửa thị trường), đầu tư, phòng vệ thương mại, cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước,mua sắm của Chính phủ, sở hữu trí tuệ, thương mại và Phát triển bền vững, hợp tác vàxây dựng năng lực, các vấn đề pháp lý-thể chế
5 Luật hoá trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (TNXHDN) là một khái niệm quen thuộc ngày nayđược nhiều người nhắc tới Nhưng sự ra đời và phát triển của thuật ngữ này lại kéo dàitrong thời gian dài với xuất phát điểm từ thế kỷ XIX và tiếp tục được bàn luận, hoàn thiệnvào những năm thế kỷ 20 với nhiều khái niệm được đưa ra như năm 1973, Keith Davisđưa ra khái niệm “TNXHDN là sự quan tâm và phản ứng của doanh nghiệp với các vấn
đề vượt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu pháp lý, kinh tế, công nghệ” Khái niệm về
Trang 9TNXHDN vẫn được các nhà nghiên cứu tiếp tục phát triển, năm 1999, Archie Carroll đãđưa ra khái niệm khác về TNXHDN “Là tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức vànhững lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi ở doanh nghiệp trong mỗi thời điểm nhất định.Theo đó, TNXHDN sẽ bao gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện Năm
2004, Matten và Moon đã đưa ra khái niệm “TNXHDN là một khái niệm chùm bao gồmnhiều khái niệm khác như đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp làm từ thiện, công dândoanh nghiệp, tính bền vững và trách nhiệm môi trường Đó là một khái niệm động vàluôn được thử thách trong bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù”
Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý hài hòa giữa bamặt: kinh tế, xã hội và môi trường với nội dung cụ thể như sau:
Phát triển bền vững về kinh tế: là quá trình đạt được tăng trưởng kinh tế ổn
định và đều đặn, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô như lạm phát, lãi suất, nợ chínhphủ, đảm bảo cân đối cán cân thương mại, đầu tư có chất lượng, có năng suấtcao thông qua việc nâng cao hàm lượng khoa học và công nghệ trong sản xuất,không làm phương hại đến xã hội và môi trường
Phát triển bền vững về xã hội: là phát triển nhằm đảm bảo sự công bằng trong
xã hội, xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người laođộng, đảm bảo người dân có cơ hội được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ cơ bảnnhư y tế, giáo dục nhưng không làm phương hại đến kinh tế và môi trường
Phát triển bền vững về môi trường: là việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên
nhiên, duy trì một nền tảng nguồn lực ổn định, tránh khai thác quá mức các hệthống nguồn lực tái sinh Phát triển bền vững về môi trường cần duy trì sự đadạng sinh học, sự ổn định khí quyển và các hoạt động sinh thái khác, cần hạnchế vấn đề nhiễm môi trường bao gồm cả ô nhiễm đô thị và khu công nghiệp,cần phải quản lý và xử lý tốt chất thải rắn, chất thải nguy hại, có khả năng ngănngừa và giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu và thiên tai
Ngoài ra, phát triển bền vững về môi trường cần phải hướng được các doanh nghiệp từngbước thay đổi mô hình sản xuất, hướng doanh nghiệp đến các công nghệ sản xuất sạchhơn, thân thiện với môi trường hơn Phát triển bền vững về môi trường phải đảm bảokhông làm phương hại đến kinh tế và xã hội
Việt Nam đã ban hành Chiến lược phát triển bền vững nhằm mục tiêu tăng trưởng bềnvững, có hiệu quả, đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường,giữ vững ổn định chính trị – xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất vàtoàn vẹn lãnh thổ quốc gia
Trang 10Về kinh tế, cần duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững, từng bước thực hiện tăng trưởng
xanh, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; thực hiện sản xuất và tiêu dùng bềnvững; bảo đảm an ninh lương thực, phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững; pháttriển bền vững các vùng và địa phương Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2016 – 2020 đạttrung bình 7%/năm, nâng mức thu nhập bình quân đầu người hằng năm tính theo GDPtăng lên 3.200 – 3.500 USD (so với mức 2.100 USD năm 2015) Lạm phát giữ ở mứcdưới 5%
Về xã hội, tập trung đẩy mạnh công tác giảm nghèo theo hướng bền vững; tạo việc làm
bền vững; Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân khoảng 2%/năm, riêng các huyện nghèo giảmtrên 4%/năm Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; thực hiện tốt các chính sách an sinh
xã hội; năm 2014 đã có 1,4 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, trên 8,5 triệu ngườitham gia bảo hiểm thất nghiệp, trên 72% dân số tham gia bảo hiểm y tế Đời sống nhândân được cải thiện Thu nhập bình quân đầu người đạt 2.052 USD/người (2014) Tuổi thọtrung bình đạt 73,5 tuổi (2015) Hoàn thành nhiều mục tiêu Thiên niên kỷ Ổn định quy
mô, cải thiện và nâng cao chất lượng dân số; phát triển văn hoá hài hoà với phát triển kinh
tế, xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam; phát triển bền vững các đô thị, xây dựngnông thôn mới, phân bố hợp lý dân cư và lao động theo vùng; nâng cao chất lượng giáodục và đào tạo để nâng cao dân trí và trình độ nghề nghiệp thích hợp với yêu cầu của sựphát triển đất nước, vùng và địa phương
Về tài nguyên và môi trường, chống thoái hoá, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên
đất; bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền vững tài nguyên nước; khai thác hợp lý và sửdụng tiết kiệm, bền vững tài nguyên khoáng sản; bảo vệ môi trường biển, ven biển, hảiđảo và phát triển tài nguyên biển; bảo vệ và phát triển rừng; giảm ô nhiễm không khí vàtiếng ồn ở các đô thị lớn và khu công nghiệp…
6 Người lao động trong nền kinh tế GiG tại Việt Nam
Nền kinh tế GIG (được hiểu nôm na là nền kinh tế hợp đồng) bao gồm tất cả các loại côngviệc được sắp xếp một cách ngẫu nhiên, chẳng hạn công việc của những người làm nghề
tự do; chuyên gia tư vấn; các nhà thầu và các chuyên gia độc lập; công nhân hợp đồngtạm thời Những công việc kiểu này được gọi là công việc hợp đồng và người thực hiệncác công việc đó là lao động hợp đồng
Lực lượng lao động tham gia nền kinh tế GIG phát triển lớn mạnh hơn bao giờ hết Chỉtrong vòng một vài năm, kinh tế GIG đã phát triển với quy mô nghìn tỷ đô la Mỹ với hàngchục triệu người tham gia Sở dĩ nền kinh tế GIG ngày càng phát triển vì nó đem lại lợiích rất lớn cho các bên tham gia Cụ thể như sau:
Trang 11Thứ nhất, sự linh hoạt đối với người lao động và doanh nghiệp là lợi ích kinh tế chính
của nền kinh tế GIG Từ góc độ người sử dụng lao động, khả năng thuê một người nào đótrong một khoảng thời gian ngắn có thể là một lợi ích lớn, đặc biệt là đối với những doanhnghiệp nhỏ không thể thuê nhân viên làm việc toàn thời gian để thực hiện một số côngviệc nhất định Đối với những lao động hợp đồng, họ có thể kiếm được mức lương đáng
kể trong khi có thể thiết lập giờ làm việc của riêng mình Tính linh hoạt là lý do quantrọng nhất khiến những người này chọn công việc phi truyền thống
Thứ hai, sự xuất hiện ngày càng nhiều các trung gian, đặc biệt là các nền tảng trực tuyến,
như: Grab, Now và Lazada… đã mở rộng cơ hội cho lực lượng lao động hợp đồng, đồngthời cung cấp cho các doanh nghiệp cơ hội lớn hơn trong việc tìm kiếm người lao độngvới các kỹ năng cụ thể mà họ cần Công việc phi truyền thống cho phép các doanhnghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ, tiếp cận nguồn lao động với các kỹ năng chuyênmôn đặc biệt Trong khi đó, nếu không có thị trường lành mạnh cho các công việc hợpđồng, các doanh nghiệp này có thể phải thuê nhân viên toàn thời gian, từ đó làm gia tăngchi phí của doanh nghiệp Nói cách khác, các nền tảng trung gian cùng với ứng dụng côngnghệ hiện đại đã giúp người lao động và doanh nghiệp dễ dàng gặp nhau hơn
Thứ ba, những công việc hợp đồng cũng tạo ra hiệu quả bằng cách cho phép người lao
động cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho nhiều khách hàng, giúp khách hàng có thể hưởnglợi từ kỹ năng đặc biệt mà những người lao động này có
Bên cạnh việc mang lại lợi ích cho người lao động và doanh nghiệp, nền kinh tế GIG đã
và đang bộc lộ nhiều vấn đề Cụ thể:
Một là, đối với nền kinh tế GIG, rất khó phân loại rõ ràng đâu là một phần của nền kinh
tế này và đâu là không Đối với nhiều người tham gia nền kinh tế GIG, các công việc hợpđồng cho phép họ bổ sung thu nhập hàng tháng Tuy nhiên, có một số người kiếm sốngchính bằng các công việc này Nhóm này bao gồm các chuyên gia có tay nghề cao, hợptác với nhiều doanh nghiệp khác nhau Họ cũng có thể là những người có gia đình cầnphải chăm sóc và họ không có lựa chọn nào khác để kiếm sống
Trong vài năm qua, các báo cáo từ nhiều nguồn khác nhau đã công bố những thông tintrái ngược nhau về kinh tế GIG Theo Cục Thống kê Lao động Hoa Kỳ, trong năm 2018,lao động làm việc trong nền kinh tế GIG chỉ chiếm 6,9% trong toàn bộ nền kinh tế Trongkhi đó, một số tổ chức lại cho rằng, người lao động trong nền kinh tế GIG được cho là đãđóng góp 1,4 ngàn tỷ USD vào GDP của nước Mỹ năm 2018 (Phạm Hoài Nhân, 2020).Những mâu thuẫn này có thể bắt nguồn từ việc ai được coi là một phần của nền kinh tếGIG và ai không thuộc nền kinh tế này