1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

10 NGUYỄN HỒNG NHUNG BÁO CÁO THU HOẠCH CHUYÊN ĐỀ THỰC TẾ SỐ 1

21 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo Cáo Thu Hạch Chuyên Đề Thực Tế Số 1
Tác giả Nguyễn Hồng Nhung
Người hướng dẫn TS. Phạm Thị Thu Lan
Trường học Trường Đại học Thương Mại
Chuyên ngành Quản Trị Nhân Lực
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC

Giảng viên giảng dạy: TS PHẠM THỊ THU LAN

Viện Công nhân và Công đoàn

Hà Nội, tháng 12/2022

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN 1: CÁC NỘI DUNG CHÍNH TRONG CHUYÊN ĐỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM 1

1 Quan điểm, tầm nhìn vĩ mô về chính sách Tiền lương và Năng suất lao động 1

1.1 Tăng lương để tăng năng suất 1

1.2 Tăng năng suất để tăng lương 2

1.3 Quan điểm phù hợp với bối cảnh tại Việt Nam ở thời điểm hiện tại 2

1.4 Đề xuất, khuyến nghị đối với quan điểm Tăng lương để tăng năng suất 4

2 Tiêu chuẩn lao động quốc tế 5

2.1 Giới thiệu chung (về ILO) 5

2.2 Tình hình phê chuẩn và thực hiện các công ước cốt lõi tại VN 6

3 Chuỗi cung ứng toàn cầu 10

PHẦN 2: PHÂN TÍCH SWOT VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM 1

1 Điểm mạnh 1

2 Cơ hội 1

3 Điểm yếu 3

4 Thách thức 3

PHẦN 3: GIẢI PHÁP, KHUYẾN NGHỊ VỀ LĨNH VỰC LAO ĐỘNG ĐỂ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 5

1 Với Nhà nước 5

2 Với doanh nghiệp 6

3 Với người lao động 6

Trang 3

PHẦN 1: CÁC NỘI DUNG CHÍNH TRONG CHUYÊN ĐỀ HỘI NHẬP QUỐC

TẾ TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM

1 Quan điểm, tầm nhìn vĩ mô về chính sách Tiền lương và Năng suất lao động

Chính sách tiền lương là một bộ phận đặc biệt quan trọng, quan hệ chặt chẽ với cácchính sách khác trong hệ thống chính sách kinh tế-xã hội, liên quan trực tiếp đến cáccân đối kinh tế vĩ mô, thị trường lao động và đời sống người hưởng lương, góp phầnxây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phòng,chống tham nhũng Chính sách tiền lương ở nước ta đã trải qua 4 lần cải cách (năm

1960, năm 1985, năm 1993 và năm 2003), nhưng vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứngđược yêu cầu của thực tiễn, đời sống của đa số người hưởng lương còn khó khăn; tiềnlương trong khu vực doanh nghiệp vẫn chưa theo kịp sự phát triển của thị trường laođộng; tiền lương trong khu vực công vẫn còn thấp so với khu vực doanh nghiệp và yêucầu phát triển của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Hiện nay vẫn còn nhiều tranhcãi về việc Tăng lương để tăng năng suất hay Tăng năng suất rồi rồi mới tăng lương?

1.1 Tăng lương để tăng năng suất

Theo thống kê của các cơ quan chức năng, cả nước hiện có hơn 22 triệu người laođộng làm công hưởng lương (chiếm hơn 40% số người có việc làm) Theo đà tăngtrưởng, từ năm 2004 đến nay, tiền lương tối thiểu của người lao động tăng trung bìnhgần 6%/năm Tuy vậy, mức lương tối thiểu mới chỉ đáp ứng được khoảng 90% nhucầu tối thiểu của người lao động

“Thu nhập của đa số người lao động chỉ đủ trang trải cho các nhu cầu vật chất tốithiểu, chưa có điều kiện để nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần” - đây là ý kiến củanhiều chuyên gia tại Viện Công nhân và Công đoàn sau khi thực hiện các nghiên cứuđiều tra từ thực tế

Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này được nhóm nghiên cứu thuộcTrung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) lýgiải, đó là năng suất lao động ở nước ta chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển

và đòi hỏi của thực tiễn Theo đó, có nhiều ý kiến đề xuất về việc tăng lương tối thiểutương đương với mức lương đủ sống để từ đó cải thiện năng suất lao động

Theo lý thuyết về nhu cầu của Maslow, con người cần được đáp ứng các nhu cầu từmức thấp lên mức cao Đặc biệt, với số lượng đông đảo người lao động trình độ thấpnhư nước ta hiện nay, trước hết họ mong muốn được đáp ứng các nhu cầu rất cơ bản là

ăn, mặc, ở, từ đó mới có thể nghĩ đến việc nâng cao giáo dục, sức khỏe tinh thần cũngnhư thể chất nhằm nâng cao năng suất làm việc của bản thân và gia đình

Trang 4

Cũng theo khảo sát của Viện Công nhân công đoàn khảo sát năm 2017 còn cho thấythực tế: Lương tối thiểu chỉ giúp 16 % người lao động có tích luỹ (khoảng 1 triệuđồng/tháng), 20 % không đủ để sống, đa số còn sống tằn tiện và cực khổ.

Tăng lương là tăng chi phí cho doanh nghiệp, nhưng tăng lương cũng chính là khoảnđầu tư sinh lời mạnh bởi nó giúp người lao động có thêm hứng thú và động lực để làmviệc với năng suất cao hơn, chất lượng tốt, giúp doanh nghiệp phục hồi hoạt động sảnxuất, kinh doanh nhanh hơn, bền vững hơn

1.2 Tăng năng suất để tăng lương

Nghị quyết 99/NQ-CP ngày 30/8/2021 về Chương trình hành động của Chính phủnhiệm kỳ 2021-2026 thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh

tế - xã hội 5 năm 2021-2025 Cụ thể, về vấn đề tiền lương của người lao động, Nghịquyết nêu rõ: Cải cách tổng thể, đồng bộ chính sách tiền lương của người lao độngtheo hướng tuân thủ nguyên tắc lấy tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinhdoanh là cơ sở để tăng lương

1.3 Quan điểm phù hợp với bối cảnh tại Việt Nam ở thời điểm hiện tại

Thực hiện đường lối đổi mới theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,Đảng và Nhà nước đã chỉ đạo ban hành nhiều văn bản điều chỉnh, bổ sung, từng bướchoàn thiện chính sách tiền lương, hoàn thiện cơ chế quy định mức lương tối thiểu vùng

và chế độ tiền lương của khu vực doanh nghiệp theo yêu cầu phát triển kinh tế thịtrường có sự quản lý của Nhà nước; thực hiện nguyên tắc chỉ điều chỉnh mức lương cơ

sở và ban hành chính sách, chế độ mới đối với khu vực công khi đã bố trí đủ nguồnlực, không ban hành mới các chế độ phụ cấp theo nghề, bước đầu triển khai xây dựngdanh mục vị trí việc làm để làm cơ sở cho việc trả lương Cụ thể là:

Trong khu vực công, tiền lương từng bước được cải thiện, góp phần nâng cao đời sốngcủa người hưởng lương Từ năm 2003 đến nay đã 11 lần điều chỉnh tăng mức lươngtối thiểu chung từ 210.000 đồng lên 1.300.000 đồng/tháng (tăng thêm 519%, cao hơnmức tăng chỉ số giá tiêu dùng cùng kỳ là 208,58%), thu gọn hệ thống bảng lương, rútbớt số bậc và mở rộng khoảng cách giữa các bậc lương Quy định bảng lương chuyênmôn theo ngạch, bậc đối với công chức, viên chức; quy định các chức danh lãnh đạo từthứ trưởng và tương đương trở xuống thực hiện xếp lương ngạch, bậc và hưởng phụcấp chức vụ lãnh đạo, tạo thuận lợi cho việc điều động, luân chuyển cán bộ trong hệthống chính trị Bảng lương của lực lượng vũ trang được quy định riêng thể hiện rõ sự

ưu đãi của Nhà nước Thực hiện nâng bậc lương đối với cán bộ, công chức, viên chức;xét thăng quân hàm đối với sĩ quan; nâng ngạch công chức theo nguyên tắc cạnh tranh.Quy định phụ cấp theo 5 nhóm gồm: Phụ cấp chức vụ lãnh đạo; phụ cấp theo vùng;phụ cấp theo điều kiện lao động, ưu đãi nghề, công việc; phụ cấp theo thời gian côngtác; phụ cấp theo cơ quan Từng bước đổi mới và tách riêng cơ chế quản lý tiền lương

Trang 5

và thu nhập của cơ quan Nhà nước với đơn vị sự nghiệp công lập để tăng thêm thunhập cho cán bộ, công chức và viên chức; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạtđộng của cơ quan Nhà nước và chất lượng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công Đổi mớigiải pháp tạo nguồn cải cách tiền lương, gồm 4 nguồn thay cho việc bảo đảm toàn bộ

từ ngân sách Trung ương như trước năm 2003

Chính sách tiền lương trong khu vực doanh nghiệp đã từng bước thực hiện theo cơ chếthị trường có sự quản lý của Nhà nước Nhà nước giảm dần sự can thiệp hành chính,quản lý tiền lương thông qua quy định mức lương tối thiểu vùng là mức sàn thấp nhất

để bảo vệ người lao động yếu thế Thay đổi cơ chế xác lập mức lương tối thiểu vùng,

từ ấn định của Nhà nước sang dựa trên kết quả thương lượng 3 bên Mức lương tốithiểu vùng được điều chỉnh tương đối phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội, khả năngcủa doanh nghiệp, từng bước cải thiện đời sống của người lao động Doanh nghiệpđược quyết định chính sách tiền lương theo nguyên tắc chung, bảo đảm hài hòa lợi íchgiữa người lao động và người sử dụng lao động trong điều kiện thị trường lao độngchưa phát triển, năng lực thương lượng của người lao động và tổ chức đại diện ngườilao động tại cơ sở còn hạn chế Vai trò của tổ chức công đoàn trong tham gia quyếtđịnh chính sách tiền lương của doanh nghiệp từng bước được tăng cường, bảo đảmcông khai, minh bạch trong quá trình ban hành chính sách và trả lương cho người laođộng Nhà nước hướng dẫn, hỗ trợ nâng cao năng lực, kết nối cung-cầu và cung cấpthông tin để người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận Chính sách tiềnlương khu vực DNNN được đổi mới phù hợp với chủ trương của Đảng về sắp xếp, cơcấu lại, nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN; tách tiền lương của người quản lývới người lao động, gắn với hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Với những nỗ lực, cố gắng của cả hệ thống chính trị, quá trình cải cách chính sách tiềnlương của nước ta đã đạt được nhiều kết quả tích cực nhưng cũng còn nhiều hạn chế,bất cập như: Tiền lương khu vực công còn thấp, chưa bảo đảm nhu cầu đời sống củacán bộ, công chức, viên chức và gia đình họ, thiết kế hệ thống bảng lương còn phứctạp, chưa phù hợp với vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo, còn mang tínhbình quân, cào bằng, chưa thực sự tạo được động lực để nâng cao hiệu quả làm việccủa người lao động Quy định mức lương bằng hệ số nhân với mức lương tối thiểu đãkhông thể hiện rõ giá trị thực của tiền lương Nhiều trường hợp tiền lương của lãnhđạo cấp trên thấp hơn tiền lương của lãnh đạo cấp dưới, không thể hiện rõ thứ bậchành chính trong hoạt động công vụ Có quá nhiều loại phụ cấp, đặc biệt là phụ cấptheo nghề và hệ số tiền lương tăng thêm đã phát sinh nhiều bất hợp lý Tiền lương theochế độ thấp nhưng nhiều trường hợp có các khoản ngoài lương như bồi dưỡng họp,xây dựng đề án, đề tài chiếm tỷ lệ lớn trong thu nhập của cán bộ, công chức, làm mấtvai trò đòn bẩy của tiền lương Chưa có giải pháp gắn cải cách tiền lương với sắp xếp

tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế Việc đổi mới tổ chức và quản lý, cơ chế tài chínhđối với khu vực sự nghiệp công lập chưa đáp ứng yêu cầu Nguồn kinh phí thực hiệncải cách tiền lương cơ bản vẫn do ngân sách Nhà nước (NSNN) bảo đảm (khoảng

Trang 6

98%) và chủ yếu từ ngân sách Trung ương (khoảng 68%) Việc điều chỉnh giá, phídịch vụ công nhiều lĩnh vực còn chậm Một số địa phương còn dư nguồn cải cách tiềnlương nhưng không được chi lương cao hơn Chưa có cơ chế tiền thưởng gắn với kếtquả thực hiện nhiệm vụ Công tác thông tin, báo cáo, thống kê và cơ sở dữ liệu quốcgia về đối tượng và tiền lương trong khu vực công còn hạn chế.

Đối với khu vực doanh nghiệp, quy định về tiền lương tối thiểu chưa cụ thể, tiêu chíxác định còn nhấn mạnh vào nhu cầu sống tối thiểu; chưa quy định mức lương tốithiểu theo giờ; chức năng bảo vệ người lao động yếu thế còn hạn chế Việc quy địnhmột số nguyên tắc xây dựng thang, bảng lương còn ảnh hưởng đến quyền tự chủ tiềnlương của doanh nghiệp Chưa thực sự phát huy được vai trò, tác dụng của cơ chếthương lượng Vi phạm quy định pháp luật về tiền lương còn nhiều; công tác hướngdẫn, tuyên truyền, kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm còn hạn chế Cơ chế quản lý tiềnlương đối với doanh ngiệp Nhà nước còn nhiều bất cập Tiền lương của người laođộng chưa thực sự gắn với năng suất lao động; chưa tách bạch giữa tiền lương của hộiđồng quản trị, hội đồng thành viên với ban giám đốc

Những hạn chế, bất cập của chính sách tiền lương có nguyên nhân khách quan nhưngnguyên nhân chủ quan là chủ yếu, cụ thể như sau: Tiền lương là vấn đề phức tạp, ảnhhưởng lớn đến nhiều mặt của đời sống xã hội; còn tư tưởng bình quân, cào bằng; chưa

có nghiên cứu toàn diện về tiền lương trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc; đốitượng hưởng lương, phụ cấp từ NSNN quá lớn và ngày càng tăng, nhất là biên chếviên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập và người hoạt động không chuyên trách

ở cấp xã, ở thôn và tổ dân phố dẫn đến tổng quỹ lương và phụ cấp từ NSNN ngày cànglớn (khoảng 20% chi NSNN) Việc xác định vị trí việc làm còn chậm, chưa thực sựlàm cơ sở để xác định biên chế và trả lương Nguồn kinh phí được giao tự chủ trongtổng chi NSNN cấp cho cơ quan, tổ chức, đơn vị chưa hợp lý, dẫn đến việc sử dụngcác khoản chi hoạt động hành chính để bổ sung thu nhập cho cán bộ, công chức, viênchức khá lớn và trở thành phổ biến Việc gắn điều chỉnh tiền lương với điều chỉnhlương hưu và trợ cấp ưu đãi người có công, dẫn đến thay đổi lộ trình của từng chínhsách Chưa phân định rõ mối quan hệ giữa quản lý Nhà nước và quản trị doanh nghiệp,giữa đại diện chủ sở hữu với ban điều hành doanh nghiệp Công tác thanh tra, kiểm tra,giám sát và việc phát huy vai trò của tổ chức công đoàn còn nhiều hạn chế Công táchướng dẫn, tuyên truyền về chính sách tiền lương chưa tốt, chưa tạo được đồng thuậncao

Việc cải cách chính sách tiền lương thời gian tới có những cơ hội, thuận lợi và khókhăn, thách thức đan xen Thế và lực của nền kinh tế đã lớn mạnh hơn; thị trường laođộng ngày càng phát triển; năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranhngày càng tăng, tạo nền tảng và điều kiện thuận lợi cho cải cách chính sách tiền lương

1.4 Đề xuất, khuyến nghị đối với quan điểm Tăng lương để tăng năng suất

Trang 7

Lương tối thiểu là một công cụ để hỗ trợ người lao động, nhưng bản chất vấn đề nằm ởnăng suất lao động (NSLĐ) Nếu không có sự cải thiện vững chắc của năng suất, nỗlực tăng lương tối thiểu sẽ dần thủ tiêu sức cạnh tranh của nền kinh tế, dẫn tới thấtnghiệp nhiều hơn Điều chỉnh mức lương tối thiểu phải phù hợp với tăng trưởngNSLĐ.

một vấn đề được nhấn mạnh là động lực tăng trưởng kinh tế vẫn chưa đến từ việc tăngNSLĐ Theo tính toán từ Tổng cục Thống kê, NSLĐ của Việt Nam còn ở mức thấp sovới các nước trong khu vực, chỉ bằng khoảng 1/14 so với Singapore, 1/6 so vớiMalaysia và 1/3 so với Thái Lan Theo TS Nguyễn Đức Thành, nếu không có nhữngbiện pháp tổng thể giúp nâng cao NSLĐ trong tương lai gần, trong bối cảnh cơ cấu dân

số vàng sắp đi qua, Việt Nam sẽ khó có thể duy trì được đà tăng trưởng như hiện nay.Bên cạnh đó, lợi thế về lao động giá rẻ sẽ ngày càng mất đi do tác động của cuộc cáchmạng công nghiệp 4.0

Đồng thời, Việt Nam cần tạo điều kiện thuận lợi cho sự dịch chuyển lao động diễn ratheo hướng tăng cường thu hút lao động vào ngành có NSLĐ cao và đang tăng trưởng.Bên cạnh đó, NSLĐ trong các nhóm ngành công nghiệp và dịch vụ cần được chú trọngnâng cao, tạo động lực lâu dài cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam

2 Tiêu chuẩn lao động quốc tế

2.1 Giới thiệu chung (về ILO)

Tổ chức Lao động Quốc tế, viết tắt ILO (tiếng Anh: International Labour Organization) là một cơ quan đặc biệt của Liên Hợp Quốc liên quan đến các vấn đề về

lao động ILO là tổ chức duy nhất của Liên Hợp Quốc hoạt động theo cơ chế ba bên.ILO ra đời năm 1919 sau Hiệp ước Versailles và là thành viên của Hội Quốc Liên SauChiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc và Hội Quốc Liên giải tán, Tổ chức Lao độngQuốc tế trở thành một thành viên của Liên Hợp Quốc

Mục đích: cải thiện điều kiện lao động và nâng cao mức sống trên toàn thế giới Hiếnchương của ILO là “một nền hoà bình lâu dài và toàn diện chỉ có thể có được với một

xã hội công bằng” trên nguyên tắc hoạt động là quan hệ 3 bên trong lao động: chínhphủ – chủ – thợ, bảo đảm ổn định xã hội, hoà bình, tăng trưởng kinh tế và quyền conngười

Những mục tiêu chính: cam kết tuân thủ các quyền tự do của con người, như quyền tự

do phát triển và liên kết để phát triển tinh thần và vật chất cho mình trong một môitrường tự do, tôn trọng lẫn nhau, an toàn và bình đẳng; xúc tiến việc làm, giúp cácnước thành viên tạo được môi trường lao động có năng suất cao và tự do lựa chọn việclàm; quy định số giờ làm việc và bảo vệ công nhân khỏi mắc những bệnh nghề nghiệp,cải thiện môi trường và điều kiện lao động, bảo đảm công bằng xã hội

Trang 8

ILO xây dựng các tiêu chuẩn lao động quốc tế thông qua hình thức các Công ước vàNghị quyết trong đó quy định các tiêu chuẩn tối thiểu về quyền của người lao động (ví

dụ quyền tự do lập hội, quyền được tổ chức và thương lượng tập thể, quyền xóa bỏ laođộng cưỡng bức, không bị phân biệt đối xử tại nơi làm việc và trong việc làm…)

Để thực hiện các mục tiêu và nguyên tắc trên, ILO đã xây dựng một bộ luật lao động

và thông qua một loạt các quy ước quy định các tiêu chuẩn lao động quốc tế như Côngước 1 (1919) quy định số giờ làm việc một tuần không quá 44 giờ; Công ước 255(1981) quy định các tiêu chuẩn về an toàn lao động và sức khỏe tại nơi làm việc; Côngước 161 (1985) quy định các dịch vụ nhằm bảo đảm duy trì sức khỏe cho người laođộng trong những điều kiện cụ thể; Công ước 182 (1999) về những hình thức tồi tệ đốivới lao động trẻ em, v.v

Trong những năm gần đây, nhằm thúc đẩy quá trình dân chủ, chống sự nghèo đói, bảo

vệ người lao động, ILO tập trung các hoạt động vào 5 lĩnh vực chính: tuyên truyền và

áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về lao động và quyền con người; bình đẳng cho phụnữ; xúc tiến việc làm và điều chỉnh cơ cấu việc làm; bảo vệ và xây dựng môi trườnglao động; nghiên cứu lao động tại công trường và khu vực không chính thức

Hình thức hỗ trợ của ILO: Các quốc gia thành viên được ILO hỗ trợ dưới hình thứccác chương trình, dự án do ILO điều hành Các hoạt động trợ giúp khác là: tư vấn;nghiên cứu kỹ thuật; tăng cường năng lực, thể chế; đào tạo, thăm quan khảo sát, hộinghị/hội thảo về các chuyên đề liên quan đến quan tới chiến lược và chính sách laođộng, việc làm

Mọi hoạt động trợ giúp của ILO đều phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản trong Điều lệILO, đó là tôn trọng quyền cơ bản tại nơi làm việc; tạo thêm nhiều cơ hội cho phụ nữcũng như nam giới có được việc làm đàng hoàng với thu nhập phù hợp và được bảo vệ

về nhân phẩm

2.2 Tình hình phê chuẩn và thực hiện các công ước cốt lõi tại VN

Việt Nam gia nhập trở lại ILO năm 1992, từ đó đến nay quan hệ hợp tác giữa ViệtNam-ILO ngày càng phát triển tốt đẹp Văn phòng ILO được mở tại Hà Nội năm 2003.Mục đích chính của ILO tại Việt Nam là thúc đẩy các quyền tại nơi làm việc, khuyếnkhích các cơ hội việc làm bền vững, tăng cường bảo trợ xã hội và tăng cường đối thoại

về các vấn đề liên quan đến việc làm Các đối tác chính của ILO bao gồm: Bộ Laođộng-Thương binh và Xã hội (MOLISA) đại diện cho Chính phủ Việt Nam; TổngLiên đoàn Lao động Việt Nam (VGCL) đại diện cho người lao động; Phòng Thươngmại & Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (VCA) đạidiện cho người sử dụng lao động tại Việt Nam

Chính phủ Việt Nam đã thể hiện cam kết của mình trong việc tiếp tục gia nhập và thựchiện các tiêu chuẩn lao động của ILO thông qua nhiều văn kiện, kế hoạch, chươngtrình hành động như: Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 05/11/2016 của Ban Chấp hành

Trang 9

Trung ương về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổnđịnh chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự dothế hệ mới (Nghị quyết số 06-NQ/TW); Nghị quyết số 38/NQ-CP ngày 25/4/2017 củaChính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số06-NQ/TW; Nghị quyết số 121/QĐ-TTg ngày 24/ 01/2019 của Thủ tướng Chính phủphê duyệt kế hoạch Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương(CPTPP); Quyết định số 2528/QĐ-TTg ngày 31/12/2015 của Thủ tướng Chính phủphê duyệt Kế hoạch thực hiện và đề xuất gia nhập các công ước của Liên hợp quốc vàcủa Tổ chức Lao động quốc tế trong lĩnh vực lao động - xã hội giai đoạn 2016 - 2020;Quyết định số 145/QĐ-TTg ngày 20/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệtchiến lược hội nhập quốc tế về lao động - xã hội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm2030; Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương vềcải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũtrang và người lao động trong doanh nghiệp và Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.

Để tiếp tục nội luật hóa các tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO, ngày 20/11/2019,Quốc hội Việt Nam đã thông qua Bộ luật Lao động (sửa đổi) (sau đây gọi là Bộ luậtLao động năm 2019) Những chính sách lao động của Nhà nước ta được cụ thể hóatrong nội dung của Bộ luật Lao động năm 2019 được các chuyên gia của ILO đánh giácao Theo Tiến sĩ Chang - Hee Lee, Giám đốc ILO tại Việt Nam, việc ban hành Bộluật Lao động năm 2019 đã đưa khuôn khổ pháp luật Việt Nam tiệm cận hơn các tiêuchuẩn lao động quốc tế; tạo khung pháp luật hoàn thiện hơn cho quan hệ việc làm,điều kiện lao động và chức năng đại diện của người sử dụng lao động và người laođộng Bộ luật Lao động sửa đổi lần này chú trọng hơn tới việc thực hiện thương lượngtập thể tự nguyện, một công cụ cần thiết đối với một nền kinh tế thị trường hiện đạitheo định hướng xã hội chủ nghĩa trong tiến trình hội nhập toàn cầu sâu rộng Cùngvới quyền tự do hiệp hội, xóa bỏ phân biệt đối xử, lao động trẻ em và lao động cưỡngbức là bốn nguyên tắc được đặt ra trong 08 Công ước cơ bản của ILO trong khuôn khổTuyên bố 1998 Giám đốc ILO tại Việt Nam nhận định, Bộ luật Lao động năm 2019đóng vai trò quan trọng, mở đường cho việc thực hiện một cách đầy đủ Tuyên bố 1998của ILO, bởi Bộ luật tạo khung pháp luật tốt hơn về việc làm và quan hệ lao động, gópphần đáng kể để đạt được tiến bộ về việc làm thỏa đáng cho mọi người lao động, cảnam và nữ, giúp tăng trưởng công bằng và bền vững Cụ thể:

Một là, về quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể: Tiến bộ lớn nhất đạt đượctrong việc tiệm cận hơn với các Tiêu chuẩn Lao động Quốc tế của Bộ luật Lao độngnăm 2019 là khả năng người lao động tại doanh nghiệp được quyền thành lập haytham gia một tổ chức đại diện do họ lựa chọn, không nhất thiết phải là thành viên củaTổng liên đoàn Lao động Việt Nam

Giám đốc ILO tại Việt Nam giải thích: “Tự do hiệp hội là một quyền cơ bản được nêutrong Tuyên bố về các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động năm 1998 của ILO

Trang 10

Tự do hiệp hội giúp cải thiện quá trình thương lượng tập thể, cho phép người lao độngđược hưởng lợi ích công bằng hơn và cho phép doanh nghiệp thỏa thuận những cảithiện năng suất cần thiết”.

Quy định thành lập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp không thuộc tổ chứcCông đoàn Việt Nam nhằm thúc đẩy và nâng cao hiệu quả đại diện, bảo vệ quyền, lợiích của người lao động trong quan hệ lao động, phù hợp với các công ước của ILO,các cam kết quốc tế khác và tạo thuận lợi trong quá trình hội nhập quốc tế

Hai là, về xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử trong lao động: Điểm tiến bộ của Bộluật Lao động năm 2019 cũng được thể hiện ở những định nghĩa mới về phân biệt đối

xử trong lao động và quấy rối tình dục tại nơi làm việc Theo đó, phân biệt đối xửtrong lao động là hành vi phân biệt, loại trừ hoặc ưu tiên dựa trên chủng tộc, màu da,nguồn gốc quốc gia hoặc nguồn gốc xã hội, dân tộc, giới tính, độ tuổi, tình trạng thaisản, tình trạng hôn nhân, tôn giáo, tín ngưỡng, chính kiến, khuyết tật, trách nhiệm giađình hoặc trên cơ sở tình trạng nhiễm HIV hoặc vì lý do thành lập, gia nhập và hoạtđộng công đoàn, tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp có tác động làm ảnhhưởng đến bình đẳng về cơ hội việc làm hoặc nghề nghiệp Việc phân biệt, loại trừhoặc ưu tiên xuất phát từ yêu cầu đặc thù của công việc và các hành vi duy trì, bảo vệviệc làm cho người lao động dễ bị tổn thương thì không bị xem là phân biệt đối xử(khoản 8 Điều 3) Quấy rối tình dục tại nơi làm việc là hành vi có tính chất tình dụccủa bất kỳ người nào đối với người khác tại nơi làm việc mà không được người đómong muốn hoặc chấp nhận Nơi làm việc là bất kỳ nơi nào mà người lao động thực tếlàm việc theo thỏa thuận hoặc phân công của người sử dụng lao động (khoản 9 Điều3)

Bộ luật Lao động năm 2019 cho phép người lao động được đơn phương nghỉ việc vớiđiều kiện có thông báo trước một cách phù hợp Cụ thể Điều 35 Bộ luật Lao động năm

2019 quy định người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng không cần

lý do mà chỉ cần báo trước 30 ngày với hợp đồng xác định thời hạn và 45 ngày với hợpđồng không xác định thời hạn

Thậm chí, trong một số trường hợp, người lao động còn được đơn phương chấm dứthợp đồng mà không cần báo trước, như: Không được bố trí theo đúng công việc, địađiểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận; khôngđược trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn; bị người sử dụng lao độngngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sứckhỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động; bị quấy rối tình dục tại nơi làmviệc; lao động nữ mang thai phải nghỉ việc; đủ tuổi nghỉ hưu, trừ trường hợp các bên

có thỏa thuận khác; người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực làmảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động Đồng thời, người lao động cũngđược quyền yêu cầu người sử dụng lao động cung cấp bản sao các tài liệu liên quan

Ngày đăng: 31/12/2022, 09:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w