2 BỘ TƯ PHÁP ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI MÔN HỌC LUẬT DÂN SỰ 3 ĐỀ TÀI Phân tích và bình luận quy định pháp luật Việt Nam về yếu tố mối quan hệ nhân quả với tư cách là một điều kiện làm phát sinh trách nhiệm b.
Trang 1ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
MÔN HỌC: LUẬT DÂN SỰ 3
ĐỀ TÀI: Phân tích và bình luận quy định pháp luật Việt Nam về yếu tố mối quan
hệ nhân quả với tư cách là một điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Mã sinh viên:
Lớp:
Hà Nội, Tháng 11/2022
Trang 2Đặt vấn đề
Trong thực tiễn cuộc sống, quan hệ dân sự diễn ra đa dạng, phức tạp, dễ xảy ra các xung đột dẫn đến thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự của con người Chính vì lẽ đó, chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đóng vai trò vô cùng quan trọng để bù đắp những tổn thất mà con người có thể gặp phải khi không có quan hệ hợp đồng điều chỉnh, và khuyến khích cách ứng xử đúng đắn, văn minh khi gây ra thiệt hại cho người khác
Bài viết sẽ tập trung phân tích, bình luận về yếu tố mối quan hệ nhân quả với tư cách là một điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Bài viết bao gồm 3 phần: Phần 1 nêu tổng quan lý thuyết về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và hậu quả thiệt hại, phần 2 phân tích, bình luận quy định pháp luật Việt Nam về điều kiện này, và phần 3 phân tích, bình luận các bản án có thật để làm rõ mối quan hệ nhân quả được lập luận, chứng minh như thế nào trên thực tế
1.Mối liên hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và hậu quả thiệt hại: Để phát
sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bắt buộc phải chứng minh được hành vi gây thiệt hại là căn cơ, cội nguồn, dẫn đến hậu quả thiệt hại là hiển nhiên và tất yếu 1 Nguyên tắc này tuy đơn giản nhưng không hề dễ áp dụng Chẳng hạn như sau một loạt hành
vi liên tiếp xảy ra thì mới dẫn đến một hậu quả thiệt hại, vậy hành vi nào là căn cơ dẫn đến thiệt hại đó? Hoặc có một hành vi gây thiệt hại, và có thiệt hại đã xảy ra, nhưng thiệt hại đó
có phải là hậu quả hiển nhiên và tất yếu của hành vi kia không? Sự phức tạp của tình huống khiến quan điểm của các học giả về cách xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và hậu quả trở nên khác biệt
Các học giả luật dân sự Pháp theo hai học thuyết có sự đối lập Học thuyết về sự tương đương giữa các điều kiện cho rằng, tất cả các tình huống dẫn đến thiệt hại đều coi là nguyên nhân trực tiếp của thiệt hại Trong khi học thuyết về mối liên hệ nhân quả thích ứng cho rằng, chỉ những tình huống nào trực tiếp tạo rủi ro dẫn đến thiệt hại mới được coi là nguyên nhân trực tiếp 2 Pháp luật Anh-Mỹ xây dựng khái niệm nguyên nhân trừ phi (butfor causation), đòi hỏi nghiêm ngặt về việc chứng minh mối liên hệ tất yếu giữa hành vi và thiệt hại Sự tất yếu thể hiện ở chỗ, nếu như hành
vi đó không xảy ra thì thiệt hại sẽ không tồn tại 2
1 Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình Luật Dân sự tập 2, Trang 248 2 Nguyễn
Ngọc Điện, Giáo trình Luật Dân sự tập 2, Trang 249
2 S Shavell, Causation and Tort Liability, Stanford Encyclopedia of Philosophy Trích xuất từ
https://plato.stanford.edu/entries/causation - law/
Trang 3Có thể nói rằng, các học thuyết trên ít nhiều chứa đựng những nhân tố hợp lý Điều thú vị
là mỗi hệ thống pháp luật khác nhau có cách nhìn nhận các học thuyết trên đây khác nhau, từ đó dẫn tới hệ quả mỗi một hệ thống pháp luật lại có những quy định riêng về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra
2.Quy định pháp luật Việt Nam về mối liên hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và hậu quả thiệt hại với tư cách là điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
2.1 Điểm mới của BLDS 2015 về mối liên hệ nhân quả so với BLDS 2005:
Theo TS Đinh Trung Tụng trong cuốn “Bình luận khoa học về Bộ luật Dân sự 2015”, sự thay đổi đáng chú ý nhất của BLDS 2015 là “không trực diện đề cập đến yếu tố lỗi” như là căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Thay vào đó, 3 căn cứ để phát sinh trách nhiệm này là: 1) hành vi gây thiệt hại, 2) thiệt hại thực tế xảy ra, và 3) mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại Trong đó, mối quan hệ nhân quả có thể coi là căn cứ mang tính quyết định, vì kể cả khi đã có hành vi gây thiệt hại và thiệt hại đã xảy ra, thì nghĩa vụ bồi thường vẫn sẽ không phát sinh nếu như nạn nhân không chứng minh được thiệt hại là hậu quả tất yếu của hành vi đó
Việc thay đổi quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường như trong BLDS 2015 tạo điều kiện thuận lợi cho nạn nhân tiến hành khởi kiện, phù hợp với xu hướng chung của pháp luật về BTTHNHĐ trên thế giới 3
2.2 Giới hạn hậu quả mà người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường chưa
rõ ràng:
Bên cạnh những điểm sáng, một trong những hạn chế lớn nhất trong pháp luật Việt Nam là, nguyên tắc “Mọi trách nhiệm đều có giới hạn” đã được thừa nhận nhưng không được quy định cụ thể Nếu như từ một lỗi mà có nhiều thiệt hại phát sinh cùng một lúc, hoặc liên tục xảy ra thì người có lỗi chỉ cần chịu trách nhiệm đến một giới hạn nào đó Tuy nhiên, “giới hạn” này là gì thì chưa có luật hay văn bản dưới luật nào hướng dẫn chi tiết 4
VD: A đánh B tàn bạo do ghen tuông, làm B bị thương nặng và toàn bộ gương mặt bị huỷ hoại B nhập viện điều trị, mẹ B vốn có bệnh cao huyết áp, do quá thương xót con gái nên bị tăng xông và đột quỵ, cũng phải nhập viện điều trị Vậy A có phải chịu trách nhiệm bồi thường cho việc mẹ B nhập viện vì đột quỵ không?
Trong trường hợp này, nếu như A muốn giới hạn trách nhiệm bồi thường, chỉ bồi thường cho thiệt hại của B, thì A phải chứng minh được mẹ B nhập viện vì đột quỵ không phải là hậu quả
3 Đinh Trung Tụng, Bình luận khoa học về Bộ luật dân sự 2015, Trang 284
4 Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình Luật Dân sự tập 2, Trang 251
Trang 4trực tiếp từ hành vi của A, căn cứ theo Điều 584 BLDS 2015 Tuy nhiên, có thể thấy việc giới hạn trách nhiệm không rõ ràng có thể dẫn đến hậu quả không đảm bảo được mục đích của chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, là khuyến khích cách ứng xử văn minh, thiện chí, chủ động khắc
phục hậu quả sau khi gây thiệt hại cho người khác 2.3 Nguyên tắc thiệt hại do nhiều nguyên
nhân:
So sánh với thuyết “tương đương điều kiện” của pháp luật Pháp, Điều 589 trong Bộ luật dân sự 2015 cũng đã có những quy định cho các trường hợp có “nhiều người cùng gây thiệt hại” Tại điều luật này, quan trọng cần xác định những hành vi của nhiều người đã liên kết với nhau từ trước đó tạo thành một tập hợp hành vi trực tiếp gây thiệt hại Tuy nhiên, trong thực tế vẫn có những trường hợp không phải chịu trách nhiệm mặc dù cùng trực tiếp gây ra thiệt hại
Hiện nay, pháp luật Việt Nam không làm rõ các tiêu chí xác định mối quan hệ nhân quả mà chỉ đang tồn tại hướng giải quyết rất chung chung tại Nghị quyết số 03/2006 yêu cầu: “Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái với pháp luật và ngược lại.” Chính vì không làm rõ khái niệm “tất yếu” này nên trong trường hợp có nhiều nguyên nhân cùng có khả năng gây ra một thiệt hại, thì căn cứ để xác định đâu là nguyên nhân chính cũng không được làm rõ 5
VD: Anh A nhờ anh B chở mình về nhà Đang đi trên đường bỗng anh B phải tránh xe anh
C phóng nhanh nên đã lao vào một người đi đường, gây tai nạn Trong trường hợp này rất nhiều các tác nhân trước đó đã hình thành nên trực tiếp vụ việc tai nạn nhưng không thể coi đó là đồng nguyên nhân để quy trách nhiệm bồi thường theo Điều 589 Do đó theo cách hợp lý thì anh C phải
là người chịu trách nhiệm nhưng anh B do là người trực tiếp đâm người đi đường nên anh B phải chứng minh được mình đã đi đúng luật
2.3 So sánh quy định về mối liên hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại xảy ra trong quy
định pháp luật Việt Nam và Bộ nguyên tắc Luật BTTHNHĐ của Châu Âu: Bộ nguyên tắc
Luật BTTHNHĐ của Châu Âu có nhiều “phép thử” để kiểm chứung mối liên hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại xảy ra Đầu tiên là “Điều kiện không thể thiếu” (conditio sine qua non) như sau: “Một hành vi là nguyên nhân gây thiệt hại, nếu hành vi đó không xảy ra thì thiệt hại không xảy ra” Chẳng hạn, nếu nhiều hành vi cùng có khả năng gây ra thiệt hại một cách riêng rẽ mà lại xảy ra đồng thời thì chúng đều được xem là nguyên nhân Nhiều hành vi cùng có khả năng tự mình gây thiệt hại mà không rõ hành vi nào đã thực sự gây thiệt hại trên thực tế, thì tất cả đều bị coi là nguyên nhân, với tỷ lệ tương ứng khả năng mà hành vi đó có thể gây thiệt hại
Bộ nguyên tắc còn tính đến trường hợp một hành vi A đã chắc chắn gây thiệt hại thì dù có hành vi B khác có thể gây thiệt hại xảy ra ngay sau cũng không bị coi là một nguyên nhân của
5 TS Đỗ Giang Nam, THS.NCS Đào Trọng Khôi, “Pháp luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trước thách thức của trí tuệ nhân tạo và công nghệ số mới nổi”, ngày 4/12/2022
Trang 5thiệt hại kể trên, trừ khi hành vi B có khả năng làm gia tăng thiệt hại Còn nếu nhiều hành vi có thể là nguyên nhân nhưng từng hành vi riêng rẽ không có khả năng tạo ra thiệt hại hoặc một phần thiệt hại, những hành vi nào có khả năng góp phần (dù là rất nhỏ) gây ra thiệt hại đều được coi đã gây ra thiệt hại một phần bằng nhau 7
Thực tế, BLDS 2015 hiện nay đang không có quy định cụ thể về việc xác định tính tất yếu của hậu quả gây ra bởi hành vi gây thiệt hại Bộ nguyên tắc Luật BTTHNHĐ có thể là một kinh nghiệm để áp dụng và sửa đổi luật
3 Mối quan hệ nhân quả thể hiện trong các bản án tiêu biểu về BTTHNHĐ: Bản án số: 32/2018/DS-ST, ngày 29/6/2018
Nguyên đơn: Phạm Tuấn M
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị C và anh Hoàng Xuân Th
Vấn đề pháp lý: Bồi thường thiệt hại về sức khỏe do điều khiển phương tiện có rủi ro cao (mô tô) mà không có giấy phép lái xe
Tóm tắt vụ việc: Anh M và anh Th đều điều khiển mô tô, bị va chạm do anh th chuyển hướng không nhường đường, vi phạm Luật GTĐB Anh M bị thương tích 10%, mô tô hư hỏng Anh M yêu cầu bồi thường tổn thất sức khỏe, tinh thần và chi phí sửa xe là 21tr Anh Th và chủ xe
là bà C không đồng ý bồi thường bất kỳ khoản nào
Toà ST quyết định: Anh M và bà C liên đới chịu trách nhiệm bồi thường 20tr (sau khi trừ
đi các khoản chi phí điều trị không có hoá đơn)
Bình luận về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và hậu quả thiệt hại: Có 2 hành vi dẫn đến thiệt hại của anh M: bà C chủ sở hữu xe đã không giám sát, bảo quản xe để anh
Th điều khiển khi không có bằng lái, và anh Th chuyển hướng không nhường đường và đâm vào anh M
Hành vi của anh Th là hành vi trực tiếp gây ra thiệt hại về cả sức khoẻ, tinh thần và vật chất cho anh M Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của anh Th và thiệt hại của anh M rất rõ ràng, không có điểm gây tranh cãi
Trong khi đó, hành vi của bà C là một vấn đề cần tranh cãi: Liệu việc bà C không bảo quản
xe có thực sự dẫn đến hậu quả là anh M bị tai nạn hay không?
Căn cứ pháp lý của Tòa: Khoản 1, Khoản 4 Điều 601 BLDS 2015: Bà C có lỗi khi để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nên phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Xét theo học thuyết về sự tương đương giữa các điều kiện: Tất cả các tình huống dẫn đến hậu quả thiệt hại đều được coi là nguyên nhân trực tiếp của thiệt hại, nên bà C có lỗi và phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường
Trang 6Xét theo học thuyết về mối liên hệ nhân quả thích ứng: Chỉ có tình huống trực tiếp tạo rủi
ro dẫn đến thiệt hại mới được coi là nguyên nhân trực tiếp Việc bà C không trông coi xe không phải điều kiện cơ bản và trực tiếp dẫn đến việc anh M bị đâm, do anh Th lấy xe khi bà C không có nhà, việc này nằm ngoài sự kiểm soát của bà C, vậy bà C không có lỗi
Xét theo nguyên tắc but-for causation (nếu như không có hành vi đó thì hậu quả không xảy ra): Kể cả anh Th có không đi xe của bà C mà đi xe của người khác, anh Th vẫn sẽ bất cẩn và gây
ra tai nạn Vậy bà C không có có lỗi
Sự xung đột giữa các học thuyết về mối quan hệ nhân quả của hành vi gây thiệt hại và hậu quả thiệt hại yêu cầu sự cân nhắc kỹ lưỡng vào đặc thù của từng tình huống mà thiệt hại xảy ra Quan điểm người viết cho rằng, quyết định của Tòa đang dựa vào nguyên tắc sự tương đương giữa các điều kiện, tuy nhiên, đây không phải nguyên tắc được áp dụng trong quy định pháp luật Việt Nam Điều 584 nhấn mạnh vào tính “trực tiếp” và “tất yếu” của hậu quả thiệt hại xảy ra, chứ không coi tất cả mọi nguyên nhân dẫn đến thiệt hại đều là nguyên nhân trực tiếp Vì vậy, trong vụ
án này, quyết định của Toà là chưa hoàn toàn thoả đáng và cần phải xem xét loại bỏ trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại của bà C
Quyết định thiếu thoả đáng này của Toà xảy ra trên thực tế là do quy định về “tính tất yếu” của hậu quả xảy ra sau hành vi gây thiệt hại chưa được cụ thể Toà có thẩm quyền vô cùng rộng lớn trong việc định nghĩa thế nào là tất yếu, và có thể xảy ra trường hợp quy kết trách nhiệm cho
người không trực tiếp gây ra hậu quả Kết luận
Mối liên hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và hậu quả thiệt hại trong pháp luật Việt Nam là một vấn đề cơ bản, tuy nhiên, vẫn cần bổ sung các quy định cụ thể hơn Thứ nhất là giới hạn trách nhiệm của người gây ra thiệt hại, thứ hai là xác định tính trực tiếp và tất yếu của hậu quả xảy ra sau hành vi gây thiệt hại Kinh nghiệm cho Việt Nam là các phép thử trong pháp luật của nước ngoài, như Bộ nguyên tắc Luật BTTHNHĐ của Châu Âu Chế định BTTHNHĐ sẽ còn cần phải hoàn thiện hơn, để bảo đảm mục tiêu tốt đẹp của nó, là đem lại sự bù đắp thoả đáng cho nạn nhân
và khuyến khích hành vi ứng xử thiện chí giữa người với người trong xã hội hiện đại Tài liệu tham khảo
1 Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình Luật Dân sự tập 2, Khoa Luật, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh
2 Đinh Trung Tụng, Bình luận khoa học về Bộ luật Dân sự 2015
3 TS Đỗ Giang Nam, THS.NCS Đào Trọng Khôi, “Pháp luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trước thách thức của trí tuệ nhân tạo và công nghệ số mới nổi”, ngày 4/12/2022 Trích xuất từ http://lapphap.vn/Pages/TinTuc/
4 Shavell, Causation and Tort Liability, Stanford Encyclopedia of Philosophy Trích xuất từ
https://plato.stanford.edu/entries/causation - law/
Trang 7Đặt vấn đề
Trong thực tiễn cuộc sống, quan hệ dân sự diễn ra đa dạng, phức tạp, dễ xảy ra các xung đột dẫn đến thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự của con người Chính vì lẽ đó, chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đóng vai trò vô cùng quan trọng để bù đắp những tổn thất mà con người có thể gặp phải khi không có quan hệ hợp đồng điều chỉnh, và khuyến khích cách ứng xử đúng đắn, văn minh khi gây ra thiệt hại cho người khác
Bài viết sẽ tập trung phân tích, bình luận về yếu tố mối quan hệ nhân quả với tư cách là một điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Bài viết bao gồm 3 phần: Phần
1 nêu tổng quan lý thuyết về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và hậu quả thiệt hại, phần 2 phân tích, bình luận quy định pháp luật Việt Nam về điều kiện này, và phần 3 phân tích, bình luận các bản án có thật để làm rõ mối quan hệ nhân quả được lập luận, chứng minh như thế nào trên thực tế
1 Mối liên hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và hậu quả thiệt hại: Để phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bắt buộc phải chứng minh được hành vi gây thiệt hại là căn cơ, cội nguồn, dẫn đến hậu quả thiệt hại là hiển nhiên và tất yếu Nguyên tắc này tuy đơn giản nhưng không hề dễ áp dụng Chẳng hạn như sau một loạt hành vi liên tiếp xảy ra thì mới dẫn đến một hậu quả thiệt hại, vậy hành vi nào là căn cơ dẫn đến thiệt hại đó? Hoặc có một hành vi gây thiệt hại, và có thiệt hại
đã xảy ra, nhưng thiệt hại đó có phải là hậu quả hiển nhiên và tất yếu của hành vi kia không? Sự phức tạp của tình huống khiến quan điểm của các học giả về cách xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và hậu quả trở nên khác biệt
Các học giả luật dân sự Pháp theo hai học thuyết có sự đối lập Học thuyết về sự tương đương giữa các điều kiện cho rằng, tất
cả các tình huống dẫn đến thiệt hại đều coi là nguyên nhân trực tiếp của thiệt hại Trong khi học thuyết về mối liên hệ nhân quả
Trang 8thích ứng cho rằng, chỉ những tình huống nào trực tiếp tạo rủi ro dẫn đến thiệt hại mới được coi là nguyên nhân trực tiếp2 Pháp luật Anh-Mỹ xây dựng khái niệm nguyên nhân trừ phi (butfor causation), đòi hỏi nghiêm ngặt về việc chứng minh mối liên hệ tất yếu giữa hành vi và thiệt hại Sự tất yếu thể hiện ở chỗ, nếu như hành vi đó không xảy ra thì thiệt hại sẽ không tồn tại
Có thể nói rằng, các học thuyết trên ít nhiều chứa đựng những nhân tố hợp lý Điều thú vị là mỗi hệ thống pháp luật khác nhau có cách nhìn nhận các học thuyết trên đây khác nhau,
từ đó dẫn tới hệ quả mỗi một hệ thống pháp luật lại có những quy định riêng về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra
2 Quy định pháp luật Việt Nam về mối liên hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và hậu quả thiệt hại với tư cách là điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: 2.1 Điểm mới của BLDS 2015 về mối liên hệ nhân quả so với BLDS 2005:
Theo TS Đinh Trung Tụng trong cuốn “Bình luận khoa học về Bộ luật Dân sự 2015”, sự thay đổi đáng chú ý nhất của BLDS 2015
là “không trực diện đề cập đến yếu tố lỗi” như là căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Thay vào
đó, 3 căn cứ để phát sinh trách nhiệm này là: 1) hành vi gây thiệt hại, 2) thiệt hại thực tế xảy ra, và 3) mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại Trong đó, mối quan hệ nhân quả có thể coi là căn cứ mang tính quyết định, vì kể cả khi
đã có hành vi gây thiệt hại và thiệt hại đã xảy ra, thì nghĩa vụ bồi thường vẫn sẽ không phát sinh nếu như nạn nhân không chứng minh được thiệt hại là hậu quả tất yếu của hành vi đó Việc thay đổi quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường như trong BLDS 2015 tạo điều kiện thuận lợi cho nạn nhân tiến hành khởi kiện, phù hợp với xu hướng chung của pháp luật về BTTHNHĐ trên thế giới
2.2 Giới hạn hậu quả mà người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường chưa rõ ràng:
Bên cạnh những điểm sáng, một trong những hạn chế lớn nhất trong pháp luật Việt Nam là, nguyên tắc “Mọi trách nhiệm đều
Trang 9có giới hạn” đã được thừa nhận nhưng không được quy định cụ thể Nếu như từ một lỗi mà có nhiều thiệt hại phát sinh cùng một lúc, hoặc liên tục xảy ra thì người có lỗi chỉ cần chịu trách nhiệm đến một giới hạn nào đó Tuy nhiên, “giới hạn” này là gì thì chưa có luật hay văn bản dưới luật nào hướng dẫn chi tiết VD: A đánh B tàn bạo do ghen tuông, làm B bị thương nặng và toàn bộ gương mặt bị huỷ hoại B nhập viện điều trị, mẹ B vốn
có bệnh cao huyết áp, do quá thương xót con gái nên bị tăng xông và đột quỵ, cũng phải nhập viện điều trị Vậy A có phải chịu trách nhiệm bồi thường cho việc mẹ B nhập viện vì đột quỵ không?
Trong trường hợp này, nếu như A muốn giới hạn trách nhiệm bồi thường, chỉ bồi thường cho thiệt hại của B, thì A phải chứng minh được mẹ B nhập viện vì đột quỵ không phải là hậu quả trực tiếp từ hành vi của A, căn cứ theo Điều 584 BLDS 2015 Tuy nhiên, có thể thấy việc giới hạn trách nhiệm không rõ ràng có thể dẫn đến hậu quả không đảm bảo được mục đích của chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, là khuyến khích cách ứng xử văn minh, thiện chí, chủ động khắc phục hậu quả sau khi gây thiệt hại cho người khác 2.3 Nguyên tắc thiệt hại do nhiều nguyên nhân:
So sánh với thuyết “tương đương điều kiện” của pháp luật Pháp, Điều 589 trong Bộ luật dân sự 2015 cũng đã có những quy định cho các trường hợp có “nhiều người cùng gây thiệt hại” Tại điều luật này, quan trọng cần xác định những hành vi của nhiều người đã liên kết với nhau từ trước đó tạo thành một tập hợp hành vi trực tiếp gây thiệt hại Tuy nhiên, trong thực tế vẫn có những trường hợp không phải chịu trách nhiệm mặc dù cùng trực tiếp gây ra thiệt hại
Hiện nay, pháp luật Việt Nam không làm rõ các tiêu chí xác định mối quan hệ nhân quả mà chỉ đang tồn tại hướng giải quyết rất chung chung tại Nghị quyết số 03/2006 yêu cầu: “Thiệt hại xảy
ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái với pháp luật và ngược lại.” Chính vì không làm rõ khái niệm “tất yếu” này nên trong trường hợp có nhiều nguyên nhân cùng có khả năng gây
ra một thiệt hại, thì căn cứ để xác định đâu là nguyên nhân chính cũng không được làm rõ
Trang 10VD: Anh A nhờ anh B chở mình về nhà Đang đi trên đường bỗng anh B phải tránh xe anh C phóng nhanh nên đã lao vào một người đi đường, gây tai nạn Trong trường hợp này rất nhiều các tác nhân trước đó đã hình thành nên trực tiếp vụ việc tai nạn nhưng không thể coi đó là đồng nguyên nhân để quy trách nhiệm bồi thường theo Điều 589 Do đó theo cách hợp lý thì anh
C phải là người chịu trách nhiệm nhưng anh B do là người trực tiếp đâm người đi đường nên anh B phải chứng minh được mình
đã đi đúng luật
2.3 So sánh quy định về mối liên hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại xảy ra trong quy định pháp luật Việt Nam và Bộ nguyên tắc Luật BTTHNHĐ của Châu Âu: Bộ nguyên tắc Luật BTTHNHĐ của Châu Âu có nhiều “phép thử” để kiểm chứung mối liên hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại xảy ra Đầu tiên là “Điều kiện không thể thiếu” (conditio sine qua non) như sau: “Một hành vi
là nguyên nhân gây thiệt hại, nếu hành vi đó không xảy ra thì thiệt hại không xảy ra” Chẳng hạn, nếu nhiều hành vi cùng có khả năng gây ra thiệt hại một cách riêng rẽ mà lại xảy ra đồng thời thì chúng đều được xem là nguyên nhân Nhiều hành vi cùng có khả năng tự mình gây thiệt hại mà không rõ hành vi nào
đã thực sự gây thiệt hại trên thực tế, thì tất cả đều bị coi là nguyên nhân, với tỷ lệ tương ứng khả năng mà hành vi đó có thể gây thiệt hại
Bộ nguyên tắc còn tính đến trường hợp một hành vi A đã chắc chắn gây thiệt hại thì dù có hành vi B khác có thể gây thiệt hại xảy ra ngay sau cũng không bị coi là một nguyên nhân của thiệt hại kể trên, trừ khi hành vi B có khả năng làm gia tăng thiệt hại Còn nếu nhiều hành vi có thể là nguyên nhân nhưng từng hành
vi riêng rẽ không có khả năng tạo ra thiệt hại hoặc một phần thiệt hại, những hành vi nào có khả năng góp phần (dù là rất nhỏ) gây ra thiệt hại đều được coi đã gây ra thiệt hại một phần bằng nhau7
Thực tế, BLDS 2015 hiện nay đang không có quy định cụ thể về việc xác định tính tất yếu của hậu quả gây ra bởi hành vi gây thiệt hại Bộ nguyên tắc Luật BTTHNHĐ có thể là một kinh nghiệm để áp dụng và sửa đổi luật