1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phân tích 13 câu đầu phú sông bạch đằng

9 16 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích 13 câu đầu phú sông Bạch Đằng
Tác giả Trương Hán Siêu
Trường học Đại học Văn Miếu
Chuyên ngành Văn học Trung đại Việt Nam
Thể loại Bài phân tích
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 23,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích “Bạch Đằng giang phú” khổ 1 Bài làm “Mồ thù như núi, cỏ cây tươi, Sóng biển gầm vang, đá ngất trời Sự nghiệp Trùng Hưng ai dễ biết, Nửa do sông núi, nửa do người “ Bạch Đằng giang nghìn năm.

Trang 1

Phân tích “Bạch Đằng giang phú” khổ 1

Bài làm

“Mồ thù như núi, cỏ cây tươi,

Sóng biển gầm vang, đá ngất trời

Sự nghiệp Trùng Hưng ai dễ biết,

Nửa do sông núi, nửa do người “

Bạch Đằng giang nghìn năm vẫn còn cuộn chảy như lời nhắc của thiên nhiên về chiến tích kỳ vĩ, tịch lăng và bi tráng năm nào, khiến “Trăm con sông đều muốn hóa Bạch Đằng” (Chế Lan Viên) Chính vì vậy mà nó trở vào văn chương không ít lần như sở hữu một nguồn cảm hứng khôn cùng cho thi nhân Tất cả tuyệt phẩm gợi nhắc về xong Bạch đằng ấy đều là viên ngọc quý mà kho tàng văn học nâng niu giữ gìn, nhưng xét

về thành công hơn cả thì phải nhắc đến “Phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu từ lâu đã được đánh giá là bài phú nổi tiếng nhất đời Trần và cũng là một trong số ít bài phú sắc của văn học trung đại Đoạn đầu của tác phẩm gây ấn tượng, ẩn chứa nội dung đầy ý nghĩa

Trang 2

Bàn về tác giả của áng văn thiên cổ này, ông tên tự là Thăng Phủ, một danh nhân thời Trần với học vấn uyên bác, tính tình cương trực và

có đóng góp không nhỏ trong cuộc kháng chiến chống quân mông

Nguyên Vì thế, vào năm ông mất, tức năm 1354, vua Trần duy tặng Thái bảo, thờ ở Văn Miếu:

“ Hữu hoài Trương Thiếu Bảo

Bi khắc tiển hoa ban.”

(Dục thủy Sơn-Nguyễn Trãi)

Ra đi và để lại cho đời ba bài văn, bốn bài thơ, trong đó “Phú sông Bạch Đằng” là tác phẩm xuất sắc nhất của ông mang đặc trưng cơ bản của thể phú-một thể văn có vần hoặc xen lẫn văn vần với văn tự sự, dùng

để tả cảnh, diễn tình, bàn thế sự Cụ thể hơn, bài thơ thuộc phú cổ thể,

có vần nhưng không nhất thiết có đối và thường kết bằng thơ Tác

phẩm được dự đoán ra đời vào năm 1314 khi nhà Trần trượt dài so với đỉnh vinh quang, có dấu hiệu của sự suy thoái, chiến tích vinh hiển thuở nào đã lặng thinh dưới lớp bụi mờ Thân là một nhà hoạt động xã hội, không thể giả ngơ, bàng quan trước điều này Vì vậy, ở đoạn thơ thứ nhất, từ đầu cho đến “Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”, tác giả đã

mượn hình tượng nhân vật khách để bày tỏ tráng trí của bản thân cùng nỗi cảm hoài thương tiếc trước cảnh hiu hắt, ảm đạm trên bờ sông huyền thoại năm nào

Ở những dòng đầu đoạn văn, hình ảnh của “khách” hiện lên, đầy phóng khoáng, tỏ ra là một con người với tâm hồn tiêu dao, hùng tâm tráng chí lớn lao:

“Khách có kẻ:

Giương buồm giong gió chơi vơi,

Lướt bể chơi trăng mải miết.”

Trang 3

Không gian xuất hiện có “buồm”, “gió”, “trăng” đều là những hình ảnh thiên nhiên bao la, long lanh, mát mẻ, đẹp đẽ của đất trời, thể hiện sự khoảng đạt, tự do mà chốn quan trường tù túng không sao khuây khỏa được Từ “chơi vơi”-trơ trọi giữa khoảng không mênh mông, rộng lớn,

tứ phía đều là thiên thiên, tưởng như thiên nhiên đang ôm trọn lấy con thuyền thơ của Trương Hán Siêu cùng từ “ mải miết”, theo đuổi một giấc mộng đến say mê, gợi lên âm điệu lả lướt, phóng túng, lại tự do, đem đến liên tưởng thú vị: những cơn gió vi vu thổi cánh buồm giữa bao la biển cả đưa người vi hành đến mọi miền, thưởng ngoạn muôn nơi, lãng tử trên đó vui thú du ngoạn sơn thủy, thỏa sức tung hoành trên con thuyền êm ả rẽ nước, lại càng đắm say hơn mỗi độ “trăng” xuống, thêm mê muội trong mộng hải hồ Tại sao lại là “chơi” mà không phải “ngắm” trăng như trong văn học trung đại đã từng có kẻ ngẩn ngơ trông trăng đến xuất thần? Có lẽ là vì kẻ ngắm trăng ôm mối u uất, mang tâm sự ngổn ngang, “khách” lại là kẻ phóng khoáng, sôi nổi nên bỗng hóa thành vị tiên khách vui thú cùng thiên nhiên, ôm bầu rượu túi thơ bầu bạn cùng trăng gió Dường như tại lúc này đây, ta bắt gặp một hồn thơ khoáng đạt, phong lưu, lại lãng mạn cùng tự do Mà vị “khách” kia có lẽ cũng chẳng phải ai xa lạ ngoài Trương Hán Siêu, ông đã tự nhị phân theo lối “chủ-khách đối đáp” để chuyện thêm hấp dẫn Đó cũng vốn là một đặc trưng của Phú cổ thể mà Mạc Đĩnh Chi cũng từng sử dụng trong bài phú của mình:

“ Khách có kẻ: nơi nhà cao ghế tựa,

Trưa mùa hạ nắng nồng

Ao trong ngắm làn nước biếc ,

Nhạc phủ vịnh khúc phù dung “

(Ngọc tỉnh liên phú)

Trang 4

Có điều, nếu “khách” bên đấy là kẻ toàn tài thanh cao thì “khách” bên này lại mang tâm hồn tự do, mở lòng, sống hết mình với thiên nhiên

Từ những hình ảnh, tư thế xuất hiện của “khách” ban đầu,

ta sẽ không kìm lòng được mà dõi theo hành trình du ngoạn của vị lữ khách:

“ Sớm gõ thuyền chừ Nguyên, Tương,

Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt

Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt,

Nơi có người đi, đâu mà chẳng biết,

Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều,

Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết.”

Cặp từ thời gian “sớm-chiều”, nối hai khoảng giới hạn trong một ngày lại là những địa danh cách nhau vạn dặm, đó là “Nguyên, Tương, Vũ Huyệt”, tức sông Nguyên, sông Tương ở tỉnh Hồ Nam và Vũ Huyệt ở núi Cối Kê, tỉnh chiết Giang, đều là phong cảnh đẹp Trung Quốc mà “ai cũng biết đến” cũng từng nghe qua Còn có “Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt,” được tác giả sử dụng phép liệt kê để kể lên cũng thuộc nơi

ấy Tuy nhiên, ông “khách” cũng chỉ chu du bằng trí tưởng tượng, qua

sự mày mò sách vở, văn liệu mà ông đọc qua, bởi lẽ chúng cách xa khôn cùng, thực tế chẳng thể sớm chiều thưởng ngoại Chẳng qua là “Ý ngôn tại ngoại”, địa danh thiên nhiên nổi tiếng ấy là một nét vẽ khơi gợi liên tưởng trong mỗi người tiếp nhận để rồi nhận ra cái tráng chí bốn

phương lớn lao của “khách” cùng một trí tưởng tượng và sự hiểu biết của bậc nho sĩ lắm tài Trong khi cổ nhân có câu:” Nuốt tám chín cái đầm Vân Mộng vào bụng để đo chí làm trai”, thì khách đây đã có hơn gấp chục lần “vài trăm trong dạ”, vậy mà vẫn còn hăm hở, thiết tha cái tráng chí tứ bề, chưa thỏa cái dạ của kẻ mơ mộng, phóng túng, khát

Trang 5

vọng hoài bão lớn lao cứ như thế mà thêm bay bổng Quả là cốt cách của kẻ sĩ, chan hòa với thiên nhiên, mang tráng chí rộng lớn, trí tưởng tượng cùng tầm hiểu biết cao rộng, chúng càng tôn thêm vẻ đẹp hình tượng nhân vật “khách”

Tuy nhiên không phải chỉ vì muốn đắm mình trong men say của thứ lạc thú đến từ cảnh sắc thiên nhiên muôn hình vạn trạng,

nghêu ngao hát cùng rượu thơ, mải đắm hoa vọng nguyệt, mà “khách”

đi nhiều, chủ yếu để:

“Bèn giữa dòng chừ buông chèo,

Học Tử Trường chừ thú tiêu dao.”

Khách ngưng điều khiển chiếc thuyền “ buông chèo” để mặc con thuyền tiêu dao từ từ tự dịch chuyển xuôi theo dòng sông, dường như là sắp đến nơi ông muốn đến, đích đến của cả chuyến đi Ở đây đã xuất hiện điển cố về “Tử Trường”, tên chữ của Tư Mã Thiên-vị sử gia nổi tiếng của Trung Quốc thời Hán Là kẻ từng thưởng ngoạn nhiều thắng cảnh và di tích lịch sử Rõ ràng là đi nhiều, biết nhiều nhưng thú tiêu dao, “khách” lại chọn Tử Trường, phải chăng là muốn bày tỏ tâm hồn đồng điệu, chung một điệu hồn với cổ nhân xưa kia? Đi xa không phải chỉ để rong chơi, biết nhiều cảnh đẹp, để khoe mẽ trải nghiệm mà là muốn học thêm kiến thức, thưởng ngoạn, trân quý non nước hữu tình và cũng để nghiên cứu non sông, hiểu biết và thêm yêu đất nước Có thể

nói :”muốn học cái văn của Tử Trường, trước tiên phải học cái chơi của

Tử Trường đã”, đó cũng chính là mục đích “khách” hướng tới, mục đích cao đẹp của kẻ chí sĩ với non sông, qua đó, ta mới thấy được tấm lòng ông

Tuy nhiên, bức tranh thiên nhiên khoáng đạt của đất nước

Trung Hoa trong những câu văn trên chỉ là bức phong nền sắc nét, hành trình của con thuyền thơ tiếp diễn trong những câu tiếp theo khiến

Trang 6

người đọc như được chứng kiến một bức tranh thủy mạc hiện lên, cả thời không như đều dịch chuyển:

“ Qua cửa Đại Than, ngược bến Đông Triều,

Đến sông Bạch Đằng, thuyền bơi một chiều

Bát ngát sóng kình muôn dặm, thướt tha đuôi trĩ một màu,

Nước trời: một sắc, phong cảnh: ba thu

Bờ lau san sát, bến lách đìu hiu.”

Tác giả đã nhắc đến những địa danh trực tiếp trên đất Việt, nơi mà ông

có thể du ngoạn thực tế:”cửa Đại Than”,” bến Đông Triều” đều là tên cửa biển và huyện vùng sông Bạch Đằng, nơi ghi dấu son lịch sử hào hùng của chiến tích vinh diệu năm nào “Bạch Đằng nhất trận hỏa công, Tặc binh đại phá, huyết hồng mãn giang.” năm nào Tại đây, bút pháp tả thực miêu tả những con sóng lớn “ sóng kình” xô vào nhau “muôn

dặm” trên con sông chứng kiến trận đánh kinh hồng năm nào Một khung cảnh thiên nhiên tịch lăng, “bát ngát” rộng lớn mà mắt thường không sao bao quát hết được, lại hùng dũng, thướt tha, quả là non sông như họa! Vì thế mà thuyền bỗng “bơi một chiều” như muốn đứng lặng, lướt thật nhẹ nhàng trên dòng sông thương yêu Cách đảo ngữ đưa từ

“Bát ngát” lên đầu kết hợp với “sóng kình muôn dặm” đã càng nhấn mạnh địa thế hiểm trở, sự rộng lớn, khoáng đạt của cảnh sắc dòng sông, đồng thời, Trương Hán Siêu cũng dùng những từ ngữ giàu sức gợi gợi lên một bức tranh trùng trùng điệp điệp, mà cũng lại mang vẻ

“thứot tha’’ những chiếc thuyền “có dáng cao rủ dài xuống và chuyển động một cách mềm mại, nhẹ nhàng” tựa như đuôi loài chim trĩ, nghe mới dịu dàng, mơ mộng làm sao! Bấy giờ, là cảnh mùa thu “ba thu” nên màu nước cùng gam màu của bầu trời như chung “một sắc” xanh,

quyện với nhau hài hòa, trong veo, thơ mộng, đẹp như bức tranh sơn

Trang 7

thủy được họa ra bởi thần tiên Câu văn tả thực, mượn hình ảnh của Vương Bột:

“ Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc “

(Sông thu cùng với trời xa một màu)

Thế nhưng đối lập với cảnh sắc hùng vĩ trời phú lại là một Bạch đằng mang trong mình vết thương đau của chiến trường xưa “Cây lau”, “cây lách” mọc thành bụi hoang, lác đác liền nhau “san sát” khắp dọc bờ sông như đã lâu chẳng có chẳng có người thăm viếng, “đìu hiu” vắng vẻ

và đượm buồn Chẳng còn ai đoái hoài đến chiến tích xưa kia, dường như chúng đã chìm xuống đáy sông Bạch Đằng theo những vật, những người tử thương mất rồi! Cảnh sông vừa hùng vĩ thướt tha lại cũng vừa

ảm đạm, hiu hắt, vắng vẻ, cô tịch Trong tác giả phải chẳng dường như

sẽ vừa là niềm vui, niềm tự hào nhưng cũng là nỗi buồn trước quang cảnh vắng lặng? Chỉ biết rằng, phải có tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, ông mới sử dụng bút pháp tả thực để vẽ nên một bức tranh thiên nhiên động lòng đến vậy

Cổ nhân có câu:”Lòng người động, là do vật do cảnh” Trước Bạch Đằng gợi tình nhường ấy, Trương Hán Siêu sao có thể bàng quan,

vô cảm, hờ hững, những cảm xúc nóng hổi từ trái tim ông trước hiện cảnh chiến trường rừng rợn một thời:

“Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô,

Buồn vì cảnh thảm, đứng lặng giờ lâu

Thương thay nỗi anh hùng đâu vắng tả,

Tiếc thay dấu vết luống còn lưu!”

Giọng văn đầy hoài cổ, cảm khái, ở hai câu đầu, tưởng như Trương Hán Siêu đang hồi tưởng quang cảnh ngày ấy bằng trí tưởng tượng, bằng cả trí nhớ qua văn liệu ghi lại sự khốc liệt của cuộc chiến năm đó: khói lửa

Trang 8

chiến tranh, sát khí chọc trời, binh khí va chạm vào nhau, những tiếng

hô rợn người Có máu chảy xuống, huyết lệ rơi Kết thúc cuộc chiến là những chiếc gião bị bẻ đôi la liệt dưới đáy sông “ Sông chìm giáo gãy”, trên những gò đất là muôn vạn xương máu tráng sĩ, cũng là xác của quân thù, thắng thua đã định, chiến thắng thuận theo ý trời nhưng thương vong chẳng thể tránh khỏi, từ “đầy” đã gợi nên nỗi hy sinh to lớn của năm nào, lại chính những giọt máu đổ xuống ấy đã làm nên một trận Bạch đằng huyền thoại Tác giả tự hào nhưng cũng không tránh khỏi nỗi “thương thay”, xót xa, cảm hoài cho cảnh thảm năm nào, ngậm ngùi cho một chiến thắng oai hùng năm xưa có thời gian đã bị phủ bụi Dường như đó cũng là bi cảnh mà Nguyễn Trãi đã viết trong “Cửa khẩu Bạch Đằng”:

“ Ngạc chặt kình băm non lởm chởm,

Gươm chìm giáo gãy bãi tầng tầng

…Dòng sông tìm bóng dạ bâng khuâng”

Không chỉ thương cảm, hoài niệm sâu sắc, còn vừa là sự nghi vấn cùng cảm thán của tác giả về nỗi anh hùng “đâu vắng tá”, “dấu vết” khốc liệt năm ấy” luống còn lưu” đậm chất hoài cổ Trương Hán Siêu với tư thế

“đứng lặng giờ lâu”, trầm ngâm sững lại, chìm vào thế giới nội tâm buồn tiếc, ngậm ngùi trước cảnh thảm năm nào, lại là cảnh bi tráng nhưng qua thời gian đã dần bị phủ bụi, cùng lòng biết ơn vô hạn đối với anh hùng liệt sĩ đã đem xương máu bảo vệ dòng sông và sự tồn vong của dân tộc Đó chính là một tình nghĩa thủy chung uống nước nhớ nguồn Qua hành trình của nhân vật khách cũng như tâm trạng của khách trước cảnh sắc sông Bạch Đằng, người đọc cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách lớn lao của Trương Hán Siêu: có hùng tâm tráng chí lớn lao, tâm hồn phóng khoáng, ham hiểu biết, yêu thiên

nhiên, yêu đất nước

Trang 9

Có thể nói “Phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu là một bài phú có bố cục chặt chẽ, nhịp điệu thay đổi, linh hoạt, phóng khoáng, lời văn cô đọng, dồi dào cảm xúc Tác giả tự phân thân để kể, sáng tạo

ra hình tượng nhân vật “khách” và qua đó bộc lộ tâm hồn khoáng đạt yêu thiên nhiên, cùng tráng chí lớn lao, ngoài ra còn là tâm hồn của một

kẻ sĩ yêu nước có tấm lòng ưu ái với dân tộc, với lịch sử, phong cảnh đất nước Thêm vào đó, tác phẩm cũng sử dụng hình ảnh điển tích có chọn lọc kết hợp trữ tình hoài cổ với tự sự tráng ca, thủ pháp liên ngâm

và hình thức đối đáp tạo nên những nét đặc sắc nghệ thuật khiến cho thi phẩm là đỉnh cao nghệ thuật của thể phú trong nền văn học Việt Nam trung đại, đúng là “khôi kỳ, hùng vĩ, lưu loát, đẹp đẽ” như Lê Quý Đôn đã từng nhận xét

Yêu cầu đề

Hemingway từng có câu:”Tất cả các tác phẩm nghệ thuật đều có

sự bất tử của riêng nó” bởi nó là sản phẩm gửi gắm ý nghĩa, giá trị cao

cả, thể hiện, phản ánh cả một thời đại và ẩn chứa cái nhìn chủ quan, tư tưởng cao cả, tâm hồn đẹp đẽ, nhân văn của người nghệ sĩ Rồi mai này, đền đài có thể sụp đổ, tranh tượng có thể tiêu tan, riêng nó không tuân theo quy luật băng hại của thời gian mà hóa thành chiếc lá chảy miên viễn theo dòng lịch sử “Bạch Đằng giang phú” chính là một tác phẩm mang tầm vóc như vậy, mãi sáng ngời như một hòn ngọc quý của văn chương

Ngày đăng: 08/02/2023, 19:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w