Nguyễn Du là nhà văn bậc thầy của việc sử dụng ngôn ngữ Trong hai cuộc chia tay của Kiều với Kim Trọng và Thúc Sinh, ông đã dùng cảnh vật để nói lên tâm trạng dùng dằng, quyến luyến của Kiều Nhưng khi.
Trang 1Nguyễn Du là nhà văn bậc thầy của việc sử dụng ngôn ngữ Trong hai cuộc chia tay của Kiều với Kim Trọng và Thúc Sinh, ông đã dùng cảnh vật để nói lên tâm trạng dùng dằng, quyến luyến của Kiều Nhưng khi đến với cuộc chia tay giữa Kiều và Từ Hải thì ông lại đi sâu vào khắc họa lí tưởng nhân vật anh hùng Từ Hải,
đó là cuộc chia tay tràn đầy niềm tin lạc quan được thể hiện trong đoạn trích “Chí Khí anh hùng”
“TRÍCH THƠ”
Đoạn “Chí khí anh hùng” thuộc phần gia biến và lưu lạc của tác phẩm
“Truyện Kiều” Trên đoạn trường mười lăm năm, khi rơi vào lầu xanh lần thứ hai, Thuý Kiều được gặp Từ Hải, người anh hùng rồi đây sẽ cứu vớt nàng ra khỏi cuộc đời thanh lâu đau khổ Người mà đại diện cho lí tưởng, đạo lí công bằng mà Nguyễn Du gửi gắm khi xây dựng trong tác phẩm
Cuộc đời Kiều tưởng chừng bế tắc sau khi rơi vào lầu xanh lần thứ 2, nhưng Kiều đã gặp phải một người tri âm tri kỉ là TH, chính chàng là người cứu vớt cuộc đời Kiều, để rồi mối nhân duyên của họ trở nên mặn nồng:
Trai anh hùng gái thuyền quyên Phỉ nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng.
Trang 2Hơn bất cứ những hình tượng nào khác trong tác phẩm, Từ Hải phản ánh khát vọng tự do một khuynh hướng tự do không chỉ vượt khỏi lễ giáo, đạo đức chính thống mà còn là một người nổi loạn đối lập với trật tự chính trị phong kiến
Từ Hải dường như đã bẻ gãy xiềng xích mà xã hội phong kiến trói buộc con người
Nhan đề của đoạn trích cũng cho ta thấy rõ khí phách của người anh hùng này: Chí khí anh hùng là lí tưởng và mục đích cao cả của người anh hùng Từ Hải Trong
“Kim Vân Kiều” truyện thì Thanh Tâm tài nhân không hề nói đến cảnh chia tay của Kiều và Từ, vì thế đoạn trích này là hoàn toàn là sự sáng tạo của Nguyễn Du Mặc dù trở thành tri kỉ với nhau và có một tình cảm mặn nồng nhưng với chí khí của một người anh hùng thì Từ Hải đã từ biệt Kiều ra đi để gây dựng sự nghiệp, công danh to lớn:
Nửa năm hương lửa đương nồng
Trượng phu thoát đã động lòng bốn phương,
Chỉ với câu đầu tiên của đoạn trích nhưng người đọc đã thấy được một mối nhân duyên giữa K và TH Sau khi cứu K khỏi lầu xanh thì họ đã có “nửa năm” chung sống hạnh phúc, nồng nàn bên nhau Cuộc đời Kiều phải “thanh lâu hai lượt” nhưng đến đây K đã tạm có một mối tình đẹp “Hương lửa đương nồng” Chính hình ảnh ước lệ tượng trưng “Hương lửa đương nồng” đã gợi lên cho người đọc một cảm giác nhẹ nhõm hơn khi mà song gió trong cuộc đời nàng tạm thời
Trang 3lắng xuống Cuộc đời vốn bị biết bao thế lực đen tối trong xã hội PK thối nát vùi dập rồi lại được kéo ra khỏi vũng lầy nhờ sự bản lĩnh của một đấng “Trượng phu” – TH Xuyên suốt tác phẩm với rất nhiều nhân vật và Nguyễn Du chỉ dành riếng cách gọi tôn trọng ấy cho TH mà thôi Không khó hiểu khi tác giả gọi TH như vậy, bởi đây là một người đàn ông có ý chí, là một người anh hùng của trời đất Chí khí
mà người anh hùng mang là chí tung hoành thiên hạ Đó cũng là lí tưởng của người anh hùng thời trung đại Kẻ làm trai phải lập công danh, chí hướng để ở bốn phương, quyết mưu sự nghiệp phi thường chứ không khuôn cuộc đời mình trong khuôn khổ gia đình tù túng
Trong văn học trung đại, rất nhiều nhà thơ đã nói đến chí làm trai:
Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu
(Tỏ lòng- Phạm Ngũ Lão)
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao
(Chinh phụ ngâm- Đoàn Thị Điểm)
ND cũng không ngoại lệ, chí làm trai được ông thể hiện rõ nét ở nhân vật Từ Hải
Chàng “quả không phải là người của 1 họ, một nhà, 1 xóm hay 1 làng Con người
Trang 4này là của trời đất, của bốn phương Vì vậy, sự ra đi của Từ không hề tầm thường,
Chàng ra đi lúc hạnh phúc “đương nồng”, điều này cho thấy chí nguyện lập công
danh sự nghiệp lớn là tâm nguyện thường trực của Từ Hải Đang sống trong hạnh phúc nhưng người anh hùng vẫn không quên chí nguyện lập công danh, sự nghiệp lớn Sự nghiệp đó mang tầm vóc con người vũ trụ THcó khát vọng bá vương tạo
sự nghiệp phi phàm “động Lòng bốn phương Người anh hùng TH gặp TK là một
người đẹp tri kỉ, đang sống trong hạnh phúc lứa đôi, chợt nghĩ đến chí lớn chưa thành, dứt áo ra đi theo tiếng gọi của ý chí.
Điểm này ở Từ Hải đã cho thấy sự phù hợp trong tính cách của chàng đó là đội trời đạp đất ở đời Tư thế ra đi của Từ Hải dứt khoát, không có chút lưu luyến ở đoạn trích chí khí anh người Trượng phu mang trong mình tầm vóc lớn lao của thời đại giao cho, đối lập với một không gian bao la:
Trông vời trời bể mênh mang”
là tầm vóc của người anh hùng:
“Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong”
Trước không gian bao la rộng lớn như vậy, Nguyễn Du đã vẽ nên hình ảnh người anh hùng kì vĩ, mang tầm vóc vũ trụ, sánh ngang với trời đất “trời bể mênh mang”
Từ Hải ra đi không rợp trời vó ngựa, chàng ra đi chỉ một mình, một gươm và một ngựa “thanh gươm yên ngựa” Một tư thế oai phong nang hàng với trời đất chỉ có
Trang 5thể được miêu tả một cách tinh tế ở nhân vật TH qua ngòi bút của ND Từ Hải là con người của sự nghiệp lớn, khí phách người anh hùng đã thôi thúc chàng lên đường, chàng là người yêu tự do không chấp nhận sự gó bó trong khuôn khổ
Người xưa thường nói: Anh hùng không qua ải mỹ nhân Nhưng Từ Hải đã gác lại
hạnh phúc riêng tư đó để quyết chí lên đường.Từ Hải không phải là một con người
có những đam mê thông thường mà là con người của sự nghiệp anh hùng, một tráng sĩ có khát vọng và chí khí mạnh mẽ
Chỉ mới bốn câu thơ thôi Nguyễn Du đã khắc họa một nhân vật, người anh hùng bằng xương bằng thịt Bởi miêu tả là người anh hùng cho nên ngôn ngữ của Nguyễn Du là sự kính phục, trân trọng Cách miêu tả cũng khác, không gian, thời gian được mở rộng để phù hợp với khí phách của nhân vật
Người anh hùng ra đi không muốn vướng bận nữ nhi, không chút mềm yếu trước lời nói của thê tử
Nàng rằng: phận gái chữ tòng.
Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi.
Thuý Kiều là người sâu sắc đến mấy cũng không thoát khỏi chuyện phu – thê quyến luyến Trước sự ra đi của Từ HẢi nàng đã thuyết phục để được đi theo chàng bởi Theo quy định của lễ giáo phong kiến thì “phận gái chữ tòng” – phận gái thì phải theo chồng ĐÓ là quy định ăn sâu vào con người trong xã hội đen tối ấy
Trang 6“tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” – ( ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con) Vậy với tư cách là một người vợ, Kiều xin đi theo là lẽ đương nhiên
“Chàng đi thiếp cũng Một lòng xin đi”
Ta có thể thấy rằng trước đó Kiều là một kĩ nữ lầu xanh, được anh hùng TH cứu vớt cho nên bản thân Kiều rất khâm phục, kính trọng Từ Hải Hơn nữa, là một người vợ thì chuyện xin đi theo lại là một tâm lí hết sức bình thường của một người phụ Có thể nàng muốn ra đi để cùng chia sẻ, tiếp sức và cùng gánh vác khó khăn cùng Từ Hải đây là mong muốn chính đáng, hợp lí, thuận tình Thúy Kiều ý thức được bổn phận của người vợ, thể hiện tình yêu với chồng Nàng xứng đáng là tri kỉ của bậc anh hùng
Tuy nhiên, Kiều chỉ muốn theo Từ Hải đi để làm trọn bổn phận làm vợ của mình,
mà không nghĩ đến việc lớn của chàng Vì thế Từ Hải đã trách khéo nàng:
“Từ rằng tâm phúc tương tri “
Từ khẳng định tình cảm với Kiều, coi Kiều là người tri kỉ tức là hai người đã hiểu
rõ lòng dạ của nhau một cách sâu sắc như thế, cần gì phải quan tâm đến chuyện nghĩa theo chồng như đạo Nho bắt làm Từ trách Kiều
“sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình”
Trang 7Trong lời đáp của mình Từ Hải đã từ chối mong muốn của Kiều và khẳng định tình cảm chân thành đối với Kiều, coi nàng là người tri ân, tri kỉ vì trong cuộc hội ngộ ở lầu xanh chính Kiều đã nhìn ra Từ Hải bằng con mắt tinh đời của mình: “Khen cho con mắt tinh đời / Anh hùng đoán giữa trần ai mới già” Từ Hải khuyên Kiều nên vượt lên thói tầm thường nhi nữ Lời trách khéo của Từ với Kiều đồng thời cũng là lời khẳng định và nâng vị thế của nàng (một “kĩ nữ lầu xanh”) lên ngang tầm với mình (một vị anh hùng) Đằng sau lời trách ấy là ý chí dứt khoát, kiên quyết,
không bị níu kéo bởi thê nhi của Từ Hải Qua đây ta thấy Hình ảnh người anh hùng oai hùng, kì vĩ, bản lĩnh với lí tưởng cao cả, ý chí và hoài bão lớn lao tính chất lí tưởng hóa.nhân vật ở đây đã được tác giả thể hiện một cách tinh tế qua nhân vật TH
Sau đó chàng động viên Thuý Kiều ở nhà yên tâm đợi tin vui:
“Bao giờ mười vạn tinh binh Tiếng chuông dậy đất bóng tinh rợp đường
Làm cho rõ mặt phi thường Bây giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.”
Nguyễn Du đã sử dụng một loạt các từ ngữ, hình ảnh thuộc phạm trù không gian như “mười vạn tinh binh, tiếng chiêng, bóng tinh” với bóng cờ, tiếng chiêng gợi
Trang 8nên khát vọng lớn lao, tầm vóc vũ trụ của người anh hùng Từ Hải đó là ý muốn bá chủ thiên hạ, làm nên sự nghiệp xuất chúng, một khát vọng mang tầm vũ trụ -Khát vọng “làm cho rõ mặt phi thường” chính là khát vọng xây dựng một sự nghiệp, công danh lừng lẫy, xuất chúng, hơn người Thành công ấy sẽ là sính lễ để
Từ Hải rước người tri kỉ “ Nghi gia” là nghi thức đón người con gái về làm vợ, làm dâu, một nghi thức có nhiều bước chu đáo và trang trọng Thế là so với lần chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh trước đây thì lời hứa thực hiện những nghi thức trang trọng này chính là món quà và là hành động rửa sạch vết nhơ của đời kĩ nữ cho Kiều Người ta học nghề mất vài ba năm, phải mất hàng chục năm nghề nghiệp mới tinh thông vững vàng Sự nghiệp lớn muốn hoàn thành có khi phải hiến dâng trọn đời người Từ Hải quyết việc lớn ấy sẽ được thực hiện trong một năm Phải là một người quyết đoán, tự tin, đầy tài năng mới dám đặt ra một thời hạn như thế cho một sự nghiệp long trời lở đất Từ có một niềm tin vào sức mạnh và tài năng của bản thân, Từ là một người tự tin, tài giỏi
“bằng nay bốn bể không nhà Theo càng thêm bận biết là đi đâu”
Còn bây giờ giữa trời đất bao la “bốn bể không nhà”, tương lai vẫn chưa vững chắc nàng mà đi theo chỉ làm bận tâm thêm, huống chi chưa biết rõ là đi đâu Vì vậy nàng hãy dằn lòng chờ đợi chỉ “một năm sau” vội gì
Trang 9“Đành lòng chờ đó ít lâu Chày chăng là một năm sau vội gì”
Từ đưa ra một mốc thời gian cụ thể và khoảng thời gian ấy quả thực rất ngắn so với cuộc đời đoạn trường của Kiều Người ta học nghề mất vài ba năm, phải mất hàng chục năm nghề nghiệp mới tinh thông vững vàng Sự nghiệp lớn muốn hoàn thành có khi phải hiến dâng trọn đời người Từ Hải quyết việc lớn ấy sẽ được thực hiện trong một năm Phải là một người quyết đoán, tự tin, đầy tài năng mới dám đặt ra một thời hạn như thế cho một sự nghiệp long trời lở đất
Nếu Kim Trọng chia tay Thúy Kiều trong vấn vương, dùng dằng “Dùng dằng chưa nỡ rời tay”, nếu Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều trong quyến luyến, bịn rịn
“Người lên ngựa, kẻ chia bào” thì Từ Hải có cách chia tay mang đậm dấu ấn anh hùng của riêng mình Điều đó được thể hiện rất rõ qua hai câu thơ cuối cùng của đoạn trích:
“Quyết lời dứt áo ra đi, Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi”
“Quyết lời, dứt áo ra đi” là Hành động dứt khoát, kiên quyết, không chần chừ do
dự của TH, chàng không để tình cảm yếu đuối cản bước ND đã lấy hình ảnh
“Chim bằng” làm ẩn dụ cho tư thế ra đi của TH
Trang 10Hình con “chim bằng” được lấy từ điển tích từ truyện ngụ ngôn kể rằng chim bằng
là một giống chim rất lớn, đập cách làm động nước trong ba ngàn dặm, cho những người anh hùng có bản lĩnh phi thường, khao khát làm nên sự nghiệp lớn Nguyễn
Du đã ví Từ Hải như là con chim bằng đã đến lúc tung cánh bay lên cùng gió mây Đem hình ảnh chim bằng để ẩn dụ cho tư thế ra đi của Từ Hải, Nguyễn Du muốn khẳng định Từ Hải chính là bậc anh hùng cái thế có tầm vóc phi thường, sánh ngang đất trời, vũ trụ Thể hiện ước mơ công lí, tinh thần nhân đạo của Nguyễn Du
về ước mơ tự do, mơ ước giải phóng con người khỏi xã hội bất công Thể hiện ước
mơ công lí, tinh thần nhân đạo của Nguyễn Du về ước mơ tự do, mơ ước giải phóng con người khỏi xã hội bất công
Cuộc sống của một con người luôn khao khát không trung, tự do thoả chí vẫy vùng, không bao giờ chịu sống trong cảnh tù túng, gò bó một không gian nhỏ bé thường ngày của người bình thường Khi miêu tả người anh hùng Từ Hải, Nguyễn
Du đi vào miêu tả hành động và cử chỉ ngôn ngữ mang ý nghĩa mạnh mẽ, đứt khoát như: thoắt đã, thẳng giong, sao chưa thoát khỏi, dậy đất, phi thường, vội gì, quyết lời dứt áo ra đi, đã lìa… Ngoài ra thêm các từ chữ Hán để bộc lộ tư tưởng tình cảm của tác giả, rồi dung điển cố, điển tích… và cả xây dựng thời gian, không gian mở: nửa năm, bốn phương, trời bể mênh mang, bằng tiện…
Trang 11Tóm lại, chỉ một đoạn thơ ngắn, hình tượng nhân vật Từ Hải dường như xuất hiện
từ một giấc mơ, từ một giấc mơ hùng vĩ về chính phía mà hàng triệu người khốn khổ áp bức hằng ôm ấp Vì vậy, mà khi xây dựng, Nguyễn Du đã có những sáng tạo các phương thức nghệ thuật riêng, để biểu đạt khát vọng của mình và của thời đại Nguyễn Du sống – khát vọng về sự tự do, công bằng lẽ phải Từ một cuộc chia
li mà nói lên được toàn bộ chí khi anh hùng của Từ Hải