MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 3 NỘI DUNG 4 I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 4 1 1 Quan niệm về văn hóa 4 1 2 Quan niệm về văn hóa tộc người 6 1 2 1 Quan niệm về tộc người 6 1 2 2 Quan niệm về văn hóa tộc người MỞ ĐẦU Các tộc người trong tiến trình lịch sử của mình đều sáng tạo một phức hợp văn hoá tạo nên nét riêng (bản sắc) của mình, góp phần làm phong phú văn hóa Việt Nam đa tộc người. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang tạo ra một sân chơi chung, trong đó sự phát triển của các các quốc gia về kinh tế, xã hội và văn hóa có sự gắn kết với sự phát triển của khu vực và thế giới. Dù muốn hay hay không, dù nhìn từ góc độ nào, thì văn hóa quốc gia cũng như văn hóa tộc người đều bị ảnh hưởng, chi phối của quá trình đó. Có thể thấy một mặt, sự tác động của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế đang mở ra cho mỗi quốc gia dân tôc cơ hội để khai thác những gì tốt nhất cho sự phát triển. Đây cũng là cơ hội để văn hóa mỗi dân tộc tự khẳng định mình. Không thể phủ nhận được sự làm giàu văn hóa nhân loại từ những bản sắc văn hóa của từng dân tộc và từng tộc người, khi những di sản văn hóa riêng đó được UNESCO công nhận di sản văn hóa thế giới. Quá trình đó cũng đang tạo điều kiện cho mỗi quốc gia, dân tộc cơ hội tiếp nhận chuyển giao về khoa học công nghệ phục vụ cho sáng tạo, bảo quản, quảng bá văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa… Nhưng mặt khác cũng cho thấy, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế cũng đưa đến nguy cơ làm xói mòn, thậm chí triệt tiêu sự khác biệt văn hóa dân tộc. Sự cảnh báo hãy coi “xâm lăng về văn hóa là sự xâm lăng cuối cùng và triệt để nhất” không là ngoại lệ đối với dân tộc quốc gia nào. Trong bối cảnh đó, văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng đang diễn ra một quá trình hội nhập giữa văn hóa truyền thống và hiện đại, giữa văn hóa tộc người và văn hóa quốc gia, văn hóa quốc tế rất mạnh mẽ, rộng khắp và tất yếu thì việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống các tộc người thiểu số ở Việt Nam là nhiệm vụ cần thiết và cấp bách. Với ý nghĩa đó, tôi lựa chọn vấn đề “Tìm hiểu các yếu tố tác động và xu hướng biến đổi văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam” làm đề tài tiểu luận của mình.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
II THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU
III CÁC XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC
THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
16
3.1 Xu hướng giữ gìn, kế thừa và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc
3.2 Xu hướng tiếp biến văn hóa thông qua giao lưu trong nước và hội
Trang 2MỞ ĐẦU
Các tộc người trong tiến trình lịch sử của mình đều sáng tạo một phứchợp văn hoá tạo nên nét riêng (bản sắc) của mình, góp phần làm phong phú vănhóa Việt Nam đa tộc người Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
đã và đang tạo ra một sân chơi chung, trong đó sự phát triển của các các quốcgia về kinh tế, xã hội và văn hóa có sự gắn kết với sự phát triển của khu vực vàthế giới Dù muốn hay hay không, dù nhìn từ góc độ nào, thì văn hóa quốc giacũng như văn hóa tộc người đều bị ảnh hưởng, chi phối của quá trình đó
Có thể thấy một mặt, sự tác động của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tếđang mở ra cho mỗi quốc gia dân tôc cơ hội để khai thác những gì tốt nhất cho
sự phát triển Đây cũng là cơ hội để văn hóa mỗi dân tộc tự khẳng định mình.Không thể phủ nhận được sự làm giàu văn hóa nhân loại từ những bản sắc vănhóa của từng dân tộc và từng tộc người, khi những di sản văn hóa riêng đó đượcUNESCO công nhận di sản văn hóa thế giới Quá trình đó cũng đang tạo điềukiện cho mỗi quốc gia, dân tộc cơ hội tiếp nhận chuyển giao về khoa học côngnghệ phục vụ cho sáng tạo, bảo quản, quảng bá văn hóa, phát triển công nghiệpvăn hóa… Nhưng mặt khác cũng cho thấy, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tếquốc tế cũng đưa đến nguy cơ làm xói mòn, thậm chí triệt tiêu sự khác biệt vănhóa dân tộc Sự cảnh báo hãy coi “xâm lăng về văn hóa là sự xâm lăng cuốicùng và triệt để nhất” không là ngoại lệ đối với dân tộc quốc gia nào
Trong bối cảnh đó, văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng đangdiễn ra một quá trình hội nhập giữa văn hóa truyền thống và hiện đại, giữa vănhóa tộc người và văn hóa quốc gia, văn hóa quốc tế rất mạnh mẽ, rộng khắp vàtất yếu thì việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống các tộcngười thiểu số ở Việt Nam là nhiệm vụ cần thiết và cấp bách Với ý nghĩa đó,
tôi lựa chọn vấn đề “Tìm hiểu các yếu tố tác động và xu hướng biến đổi văn
hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam” làm đề tài tiểu luận của mình.
Trang 3NỘI DUNG
I- MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1 Quan niệm về văn hóa
Chủ nghĩa Mác xít quan niệm: Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất vàtinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trongquá trình lịch sử của mình
Hồ Chí Minh thể hiện quan niệm về Văn hóa qua một số ghi chép ở trang
cuối cùng của tập thơ “Nhật ký trong tù” (1942-1943) như sau: “Ý nghĩa của
văn hóa: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sángtạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo,văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở vàcác phương thức sử dụng, toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là vănhóa” Từ nhận thức ấy, Hồ Chí Minh đưa ra khái niệm về văn hóa: “Văn hóa là
sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loàingười đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu của đời sống và đòi hỏicủa sự sinh tồn”.Có thể nói, đây là một cách tiếp cận văn hóa từ ý nghĩa kháiquát, đặc trưng nhất của nó, một định nghĩa cô đọng và chính xác về văn hóa.Quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa là xuất phát từ cách tiếp cận mác-xít vàrất gần gũi với nhận thức hiện đại, khi coi văn hóa không chỉ đơn thuần là đờisống tinh thần của con người - xã hội mà từ trong bản chất của mình, nó chính làlinh hồn, sức mạnh trường tồn của cả dân tộc, là sức sống vươn lên của thời đại.Văn hóa không phải là toàn bộ đời sống con người xã hội, mà là phần cốt tử, làtinh hoa được chưng cất, kết tụ nên cái bản chất, bản sắc, tính cách của dân tộc,của thời đại Nó được xuất phát từ cuộc sống, từ năng lực, trình độ và phươngthức sống của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng Và đến lượt mình, văn hóa hiện diệntrong mọi hoạt động từ suy tư đến hành động thực tế, từ hoạt động cá nhân đếnnhững vận động xã hội, từ hoạt động vật chất đến những sáng tạo tinh thần
Trang 4những phát minh, sáng chế, tạo ra những giá trị mới của sản xuất vật chất, khoahọc - kỹ thuật - công nghệ, văn học - nghệ thuật
Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa UNESCO đã thừa nhậnkhái niệm do Ph.Mây-ơ (F Mayor) nguyên Tổng Giám đốc của tổ chức nàyđưa ra là khái niệm chung, chính thức của cộng đồng quốc tế về văn hóa năm
1970: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân
tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động”
Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 5 (khóa VIII),Đảng ta khẳng định: Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinhthần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước
và giữ nước…, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minhthế giới để không ngừng hoàn thiện mình Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nêntâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc.Như vậy ta thấy, tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng suy chocùng, khái niệm văn hoá bao giờ cũng có thể qui về hai cách hiểu chính: theonghĩa hẹp và theo nghĩa rộng
Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng,
theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa đượchiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật…).Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnhvực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…) Giới hạn theo không gian, vănhoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hoá Tây Nguyên,văn hoá Nam Bộ…) Giới hạn theo thời gian, văn hoá được dùng để chỉ nhữnggiá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn…)
Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những gì do
con người sáng tạo ra
Chính với cách hiểu rộng này, văn hoá đã trở thành đối tượng của văn hoá
học (culturology, culture studies, science of culture) - khoa học nghiên cứu về văn
Trang 5hóa Trong lĩnh vực này, khởi đầu từ định nghĩa của E.B.Tylor trong cuốn Vănhoá nguyên thuỷ (Primitive culture) xuất bản ở London năm 1871, đến nay đã córất nhiều định nghĩa khác nhau Vào năm 1952, hai nhà nhân học người Mỹ là A.Kroeber và C Kluckhohn đã viết một cuốn sách chuyên bàn về các định nghĩavăn hóa nhan đề: Văn hóa - tổng luận phê phán các quan niệm và định nghĩa(Culture: a critical review of concepts and definitions), trong đó đã dẫn ra và phântích 164 định nghĩa về văn hoá Trong lần xuất bản thứ hai của cuốn sách này, sốđịnh nghĩa văn hoá đã tăng lên đến trên 200 Còn hiện nay thì số lượng định nghĩa
về văn hóa khó mà biết chính xác được, có người bảo là 400, có người nói là 500,lại có người quả quyết rằng chúng lên đến con số nghìn
1.2 Quan niệm về văn hóa tộc người
1.2.1 Quan niệm về tộc người
Tộc người và vấn đề tộc người là điểm xuất phát quan trọng trong nghiêncứu văn hóa tộc người Cùng với việc tiếp cận từ các khoa học liên ngành/đangành khác, khi nghiên cứu văn hóa tộc người không thể không gắn với quan
điểm của dân tộc học Hầu hết các nhà chuyên môn đều thừa nhận rằng, đối
tượng của Dân tộc học là tất cả các dân tộc, dù ở bậc thang phát triển thấp hay cao, thiểu số hay đa số, đã tồn tại trong quá khứ hay là đang tồn tại hiện nay,
nghiên cứu ngôn ngữ, văn hóa tộc người là một trong những nhiệm vụ cơ bảncủa Dân tộc học
Tiếp cận từ Dân tộc học là cơ sở quan trọng để nghiên cứu quá trình hìnhthành, đặc trưng, vai trò của văn hóa tộc người đối với tiến trình lịch sử nhânloại và quốc gia
Trong thực tế của nghiên cứu khoa học và đời sống, khái niệm dân tộcthường được dùng với hai nghĩa: dân tộc (quốc gia) và dân tộc (tộc người) Phânbiệt khái niệm dân tộc không những có ý nghĩa đối với nghiên cứu văn hóa tộcngười, mà còn có ý nghĩa trong quan niệm về chính sách dân tộc
Dân tộc (ethnie), dân tộc (tộc người) là khái niệm khoa học mới xuất hiện
từ cuối thế kỷ XIX (1896) được A.Fouillée (Alfred Jules Émile Fouillée) sử
Trang 6dụng lại Ban đầu thuật ngữ này được dùng để chỉ các nhóm tộc người hay đơn
vị tộc người, đến nửa đầu thế kỷ XX thuật ngữ này mới được sử dụng rộng rãitrong giới khoa học
Trong thực tiễn cũng như khoa học, dân tộc (nation) và dân tộc (ethnie) là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau Nếu dân tộc (nation) phải là một cộng đồng
chính trị, cư dân sống chung trên một lãnh thổ, có chung một nhà nước, một
chính phủ, thống nhất về luật pháp; thì dân tộc (ethnie) là cộng đồng mang tính
tộc người Các tộc người không nhất thiết phải cùng cư trú trên một lãnh thổ,không nhất thiết có chung nhà nước và sinh hoạt kinh tế, cũng như không nhấtthiết phải chung sự thống nhất về luật pháp
Tuy có nhiều góc độ tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu, nhưng về cơ bản
có sự thống nhất trong quan niệm về tộc người (dân tộc - ethnie): Tộc người là
khái niệm chỉ các cộng đồng mang tính tộc người bất kỳ, bao gồm cả các cộng đồng tộc người chủ thể của các quốc gia và các cộng đồng tộc người thiểu số trong các quốc gia, vùng miền, không phân biệt đó là cộng đồng tộc người tiến
bộ hay cộng đồng tộc người đang trong quá trình phát triển.
Thực tế trong thế giới hiện đại, đang có nhiều quốc gia là quốc gia đa dântộc Sự đang tồn tại của các loại hình cộng đồng dân tộc và cộng đồng tộc ngườinhư hiện nay, rất cần có nhận thức về dân tộc quốc gia và dân tộc tộc người nhưtrên đây
Các tiêu chí để xác định dân tộc (tộc người):
Trên thế giới đã tồn tại những quan điểm về các tiêu chí xác định dân tộc(tộc người) Có thể tham khảo các quan điểm sau đây:
- Quan điểm của các nhà Dân tộc học Xô viết (áp dụng xác định thành phầndân tộc ở Liên bang Cộng hòa XHCN Xô viết):
1 Cùng cư trú trên một phạm vi lãnh thổ nhất định;
2 Cùng nói một ngôn ngữ;
3 Có chung các đặc điểm văn hóa;
Trang 74 Có cùng ý thức dân tộc (ý thức tự giác tộc người).
- Quan điểm của các nhà nghiên cứu Trung Quốc, họ vẫn dựa theo quanniệm của J.V.Stalin (áp dụng xác định thành phần dân tộc ở Trung Quốc), cho
rằng: Dân tộc là một cộng đồng người ổn định được hình thành trong lịch sử có
chung ngôn ngữ, lãnh thổ, đời sống kinh tế, cùng chung một tố chất tâm lý biểu hiện trong cùng một văn hóa Trong đó có hai vấn đề tiên quyết: Dân tộc là một
phạm trù lịch sử của thời đại tư bản chủ nghĩa đang lên, trước đó không thể códân tộc; và thiếu một trong 4 yếu tố trên (lịch sử, ngôn ngữ, lãnh thổ, tâm lý),cũng không thể xác định đó là một dân tộc
- Quan điểm có tính phổ biến trên thế giới, cho rằng có 5 tiêu chí để xácđịnh dân tộc (tộc người):
1 Cùng tiếng mẹ đẻ (ngôn ngữ tộc người thống nhất);
1 Có chung ngôn ngữ mẹ đẻ;
2 Có chung đặc điểm sinh hoạt văn hóa;
3 Có cùng ý thức tự giác tộc người (thể hiện ở tộc danh)
1.2.2 Quan niệm về văn hóa tộc người
Quan điểm biện chứng khẳng định rằng, sự tồn tại của con người và xã hội
là cuộc đấu tranh nhằm đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần trong cuộcsống của mình Đời sống vật chất và đời sống tinh thần là hiện tượng phổ quátcủa xã hội loài người nói chung và các tộc người
Trang 8Sự vận động về mặt vật chất và tinh thần của chủ thể tộc người luôn luôngắn với thời gian và không gian cụ thể Quá trình quan hệ với tự nhiên và xã hội,các tộc người đã sáng tạo những sản phẩm có giá trị, đồng thời qua đó thể hiệnmình trước tự nhiên và xã hội Văn hóa chính là sự thể hiện mình theo một cáchriêng, trong điều kiện cụ thể của một chủ thể văn hóa Trong trường hợp này,một trong những định nghĩa văn hóa sau đây đáp ứng được các ý nghĩa khi tiếp
cận nghiên cứu văn hóa tộc người: “Văn hóa là tổng thể sống động của các hoạt
động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại Qua các thế kỷ, các hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” Trong mối liên hệ với
văn hóa tộc người, văn hóa trước hết là những sáng tạo giá trị mang tính nhânsinh, là yếu tố để phân biệt đặc tính riêng của các cộng đồng dân tộc
Trong quá trình vận động, trước cả khi nhà nước xuất hiện, các tộc ngườiluôn có ý thức xây dựng và bảo vệ tộc danh và ý thức tộc người cũng như kinh
tế và văn hóa của cộng đồng mình Văn hóa chính vì vậy không những là yếu tốcấu thành tộc người, bao gồm tri thức, tín ngưỡng, đạo đức, nghệ thuật, luậtpháp, tập quán, sinh hoạt , mà còn thể hiện bản sắc của nhiều cộng đồng cóchung tộc danh Những sáng tạo đó thể hiện năng lực con người với tính cách làthành viên của cộng đồng xã hội, nhằm đáp ứng những nhu cầu đời sống vànhững đòi hỏi của sự sinh tồn
Từ sự phân tích trên đây, khái niệm văn hóa tộc người được hiểu như sau:
Văn hóa tộc người là tổng thể sống động các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể do các cộng đồng tộc người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử, thể hiện bản sắc tộc người, là bộ phận hữu cơ của văn hóa quốc gia
Sự hình thành văn hóa tộc người là một giai đoạn lịch sử đặc biệt trong tiếntrình phát triển của nhân loại Văn hóa tộc người là cội nguồn, nền tảng hìnhthành và phát triển văn hóa quốc gia, văn hóa nhân loại Bởi nói đến văn hóa tộcngười là nói đến tổng thể các yếu tố về tiếng nói, chữ viết, sinh hoạt văn hóa vật
Trang 9chất và văn hóa tinh thần, các sắc thái tâm lý và tình cảm, phong tục và lễ nghi căn cứ để phân biệt tộc người này với tộc người khác
1.2.3 Các dạng thức của văn hóa tộc người
Một số dạng thức cơ bản của văn hóa tộc người:
- Nhà nghiên cứu văn hóa Ngô Đức Thịnh phân chia các dạng thức văn hóa
ở Việt Nam như sau: (1) Văn hóa cộng đồng (bao gồm văn hóa tộc người; vănhóa quốc gia; văn hóa làng; văn hóa gia đình, gia tộc và dòng họ; văn hóa tôngiáo tín ngưỡng; văn hóa nghề nghiệp); (2) Văn hóa cá nhân; (3) Văn hóa vùnglãnh thổ; (3)Văn hóa sinh thái
Theo quan điểm trên, văn tộc người là một trong sáu dạng thức quan trọngcủa văn hóa cộng đồng Quan điểm này cũng phân chia văn hóa tộc người ViệtNam thành các dạng thức dựa trên căn cứ chính là theo nhóm ngôn ngữ:
- Cũng có thể phân chia các dạng thức văn hóa tộc người dựa trên căn cứ
về nhu cầu và hình thức tồn tại của các sản phẩm sáng tạo Văn hóa tộc người sẽđược phân chia dưới hai dạng thức: Văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể củatộc người Đây là những giá trị cơ bản của văn hóa tộc người, kết quả tư duy vàlao động sáng tạo của các cộng đồng tộc người trong quá trình lịch sử tồn tại vàphát triển
Sự phân chia các dạng thức văn hóa tộc người có ý nghĩa quan trọng trongnghiên cứu giá trị, bản sắc văn hóa tộc người, đặc biệt nghiên cứu mối quan hệ
Trang 10giữa văn hóa tộc người trong quá trình hình thành và phát triển nền văn hóaquốc gia dân tộc.
II THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta phát triển trong bối cảnh củaphát triển thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế thị trường đã khơidậy mọi tiềm năng sáng tạo, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội,tạo thêm nhiều giá trị văn hóa mới, làm giàu thêm bản sắc văn hóa dân tộc,nhưng đồng thời cũng nảy sinh những mặt tiêu cực, có nguy cơ hủy hoại bản sắcvăn hóa dân tộc quốc gia cũng như bản sắc văn hóa tộc người Có nhiều yếu tốtác động đến sự biến đổi của văn hóa tộc người
Sự biến đổi văn hóa tộc người ở nước ta mới được xét ở ba phương diệnchủ yếu: ngôn ngữ tộc người, văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể
2.1 Sự biến đổi của ngôn ngữ tộc người
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế toàn diện hiện nay, sựbiến đổi văn hóa các dân tộc trước hết là biến đổi về ngôn ngữ tộc người Nhiềucông trình nghiên cứu cho rằng, có ba phương thức chủ yếu tác động đến sự thayđổi này, đó là: chính sách, truyền thông và thị trường
Tiếng Kinh được xác định là tiếng phổ thông và được sử dụng làm ngônngữ hành chính Sự biến đổi về ngôn ngữ tộc người như hiện nay sẽ ảnh hưởnglớn đến quá trình sáng tạo, trao truyền và hưởng thụ văn hóa của đồng bào
Học sinh không những học tiếng phổ thông, mà đội ngũ giáo viên
là người dân tộc cũng có số lượng rất ít Tuy Nhà nước ta đã có chủ trương bổsung đội ngũ trợ lý ngôn ngữ cho các trường tiểu học, nhưng kết quả vẫn hạnchế và thực tế chưa đáp ứng được yêu cầu Bộ Giáo dục - Đào tạo đã có chươngtrình xây dựng chữ viết cho các tộc người, chữ viết này được đưa vào giảng dạy
từ tiểu học Trên thực tế, chương trình này đã hạn chế phần nào hiện tượng phổthông hóa về ngôn ngữ, và cũng tạo điều kiện cho người dân sáng tạo văn hóanghệ thuật, bảo vệ, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình…Điều đáng nói đây chỉ mới là chương trình thử nghiệm, chưa phổ biến
Trang 11Cùng với chính sách ngôn ngữ của Nhà nước như đã nêu trên đây, truyềnthông cũng có tác động không nhỏ Trên các hệ thống thông tin đại chúng
ở nước ta, tiếng phổ thông được dùng để chuyển tải các thông tin vẫn là ngônngữ chủ yếu Tiếng các dân tộc thiểu số mới chỉ được sử dụng còn, rất hạn chếtrong các chương trình phát thanh, truyền hình của Trung ương và địa phương.Hơn nữa, chỉ có một số tiếng các dân tộc là được lựa chọn và sử dụng trong cácchương trình truyền thông Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhànước việc phủ sóng hầu khắp của phát thanh và truyền hình đã tăng cường tínhtiếp cận thông tin của người dân, nhưng vì ngôn ngữ truyền thông bằng tiếng cácdân tộc còn quá ít, nên cũng hạn chế đến bảo tồn giá trị văn hóa các dân tộc
Quá trình phát triển kinh tế thị trường của đất nước cũng tạo điều kiệncho người dân của các dân tộc thiểu số tiếp cận với những thông tin, dịch
vụ kinh tế và văn hóa, nhưng việc giao dịch chủ yếu trên thị trường vẫn bằngtiếng phổ thông Khi trao đổi hàng hóa, hầu hết người dân tộc thiểu số, đặc biệt
là bà con nông dân vẫn phải sử dụng tiếng Kinh
Mặt hạn chế của thực tế này cũng ảnh hưởng lớn đến việc bảo tồn, pháthuy giá trị văn hóa các dân tộc
2.2 Biến đổi về văn hóa vật thể
Cùng với biến đổi về ngôn ngữ, sự biến đổi văn hóa vật chất của các dântộc thiểu số dễ nhận thấy nhất là về kiến trúc nhà ở, trang phục và tập quán ănuống…
Về nhà ở: Trong vài chục năm trở lại đây, xuất hiện xu hướng trong đời
sống các dân tộc, đó là bỏ nhà sàn, làm nhà đất, nhà ngói, nhà tầng như nhàcủa người Kinh Hoặc vẫn làm nhà sàn, nhưng có cải tiến Hoặc trong một giađình, làm cả nhà đất và nhà sàn Nhiều nơi, ngói hoá nhà ở đã trên 50% Nhiềudân tộc thiểu số có tập quán làm nhà Rông, nhà Gươi (nơi sinh hoạt văn hoá vàdạy nghề truyền thống của cộng đồng), nhưng giờ đây, tập quán đó đang bị thayđổi
Về trang phục: Việc chối bỏ trang phục truyền thống của dân tộc mình từ
lâu đã trở thành hiện tượng phổ biến của các dân tộc thiểu số, nhất là các dân tộc