1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận văn hóa tộc người, tìm hiểu một số yếu tố tác động đến sự biến đổi văn hóa tộc người thiểu số việt nam, thực tại biến đổi hiện nay

23 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu một số yếu tố tác động đến sự biến đổi văn hóa tộc người thiểu số Việt Nam, thực tại biến đổi hiện nay
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 46,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÌM HIỂU MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ VIỆT NAM, THỰC TẠI BIẾN ĐỔI HIỆN NAY 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM Khái niệm tộc người Tộc người theo nghĩa rộng là một loại hình TÌM HIỂU MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ VIỆT NAM, THỰC TẠI BIẾN ĐỔI HIỆN NAY 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM Khái niệm tộc người. Tộc người theo nghĩa rộng là một loại hình cộng đồng người. Tộc người theo nghĩa hẹp là tổng hợp những con người được hình thành về mặt lịch sử trên một lãnh thổ nhất định, dưới một cái tên tự gọi (tộc danh), có những đặc điểm chung tương đối bền vững về văn hóa và tâm lí (trong đó nổi trội là ngôn ngữ); có ý thức về sự thống nhất của họ cũng như sự khác nhau giữa họ với các tộc người khác (ý thức tộc người). GS.TS. Phan Hữu Dật xác định: thuật ngữ dân tộc trong Dân tộc học cần được hiểu, đó là tộc người, tiếng Hy Lạp là ethnos, ethnie. Và đưa ra khái niệm: tộc người là cộng đồng người hình thành trong lịch sử, trên một lãnh thổ nhất định, cùng có chung những đặc điểm tương đối bền vững về ngôn ngữ, văn hóa, tâm lý, ý thức sự thống nhất của mình và làm cho mình khác với các tộc người khác, thông qua tên tự gọi. Vậy dân tộc học là gì? GS.TS. Phan Hữu Dật nêu định nghĩa ngắn gọn. Dân tộc học là một ngành khoa học, nghiên cứu sự giống nhau và khác nhau của tất cả các dân tộc trên thế giới, qua đó nói lên quá trình biến đổi của các dân tộc trong trường kỳ lịch sử của nhân loại, từ thời xa xưa cho đến tận hôm nay. Lê Sĩ Giáo giải thích: khái niệm dân tộc thực chất phải được hiểu là tộc người (ethnie). Tộc người là hình thái đặc biệt của một tập đoàn xã hội xuất hiện không phải do ý nguyện của con người mà là trong kết quả của quá trình tự nhiên lịch sử. GS. Đặng Nghiêm Vạn phân biệt nation (dân tộc) và ethnie (tộc người), ngoài sự đồng nhất hai thuật ngữ ethnos, ethnie chỉ định khái niệm chung tộc người, GS. Đặng Nghiêm Vạn đưa ra luận điểm dân tộc (nation) theo nghĩa được Liên hợp Quốc công nhận: thuật ngữ nation có nghĩa là một cộng đồng nhân dân (people) ổn định được phát triển trong lịch sử, với một lãnh thổ, một sinh hoạt kinh tế, một đặc trưng văn hóa, một tiếng nói chung, chỉ đạo bởi một nhà nước. Mở rộng thuật ngữ dân tộc (nation), GS. Phan Huy Lê dẫn giải: riêng từ dân tộc theo hiểu biết của tôi cho đến nay thì người Việt Nam đầu tiên sử dụng là nhà yêu nước Phan Bội Châu trong bài Lưu Cầu huyết lệ tân thư khoảng trước năm 1905. Từ dân tộc do các trí thức cấp tiến Nhật Bản sáng tạo trên cơ sở chữ Hán để dịch từ Nation trong tiếng Anh. Nhưng ở Việt Nam, trong quá trình sử dụng, từ dân tộc mang nhiều nghĩa khác nhau. Thứ nhất, là một đơn vị tộc người nói chung, không phân biệt cấp độ loại hình cộng đồng như trường hợp nói: dân tộc Việt, dân tộc Tày, dân tộc Thái, Việt Nam có 54 dân tộc... Thứ hai, là cộng đồng quốc gia bao gồm nhiều cộng đồng cư dân, tộc người sống trên một lãnh thổ do một nhà nước quản lí, như trường hợp nói dân tộc Việt Nam, dân tộc Lào, dân tộc Cămpuchia... Thứ ba, là một cộng đồng mang tiêu chí của Nation như phương Tây. PGS.TS. Bùi Xuân Đính nêu rõ: Tộc người (ethnos, ethnie) là hình thái đặc thù của một tập đoàn người, một tập đoàn xã hội, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi ba đặc trưng cơ bản, mang tính ổn định và tương đối bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử là: ngôn ngữ, văn hóa, ý thức tự giác về cộng đồng. Về dân tộc (nation), PGS.TS. Bùi Xuân Đính đưa ra hai nghĩa: Một hình thái phát triển cao của tộc người, thường xuất hiện vào giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản (dân tộc Pháp, Đức…). Một cộng đồng chính trị của nhiều tộc người có nguồn gốc lịch sử khác nhau, có trình độ phát triển kinh tế xã hội khác nhau cùng chung sống trong một quốc gia, được quản lý bởi một nhà nước chung, tạo lập nên một nền văn hóa chung. Những luận điểm trên đều thống nhất xác định thuật ngữ ethnos, ethnie là khái niệm chỉ tộc người, còn nation có ngữ nghĩa rộng theo cách hiểu toàn thể mọi tầng lớp nhân dân, các tộc người cùng chung sống. Dân tộc là điều kiện, cơ sở hình thành quốc gia độc lập, có chủ quyền dưới sự quản lý của một nhà nước. Tiêu chí dân tộc gắn liền với chủ quyền đất nước được chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Những thuật ngữ duy danh dân tộc, tộc người được nêu nhất quán bởi quá trình hình thành từ truyền thống lịch sử tạo chiều sâu văn hóa, dựng nên bản sắc độc đáo riêng từng tộc người, từ đó hòa nhập trong khối đại đoàn kết dân tộcnhân dân Việt Nam. Bên cạnh đó, thuật ngữ ethnographie đang sử dụng chính thống trong tiếng Việt hiện đại với nghĩa chung là ngành Dân tộc học như tên gọi từ trước đến nay. Qua các định nghĩa, dẫn giải của một số nhà nghiên cứu nêu trên, có thể đưa ra khái niệm tổng quát dân tộc, tộc người như sau: Dân tộc (nation) là cộng đồng người cùng chung sống trong một vùng lãnh thổ nhất định, có một nhà nước độc lập, có chủ quyền quốc gia, có ngôn ngữ (chữ viết, tiếng nói) chung, có bản sắc văn hóa và sinh hoạt kinh tế. Tộc người (ethnieethnos) là một tập đoàn người có tiếng nói chung, có nguồn gốc lịch sử, văn hóa và ý thức tự giác cộng đồng.

Trang 1

TÌM HIỂU MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ VIỆT NAM, THỰC TẠI BIẾN ĐỔI HIỆN

NAY

1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM

Khái niệm tộc người

Tộc người theo nghĩa rộng là một loại hình cộng đồng người

Tộc người theo nghĩa hẹp là tổng hợp những con người được hình thành

về mặt lịch sử trên một lãnh thổ nhất định, dưới một cái tên tự gọi (tộc danh), cónhững đặc điểm chung tương đối bền vững về văn hóa và tâm lí (trong đó nổitrội là ngôn ngữ); có ý thức về sự thống nhất của họ cũng như sự khác nhaugiữa họ với các tộc người khác (ý thức tộc người)

GS.TS Phan Hữu Dật xác định: thuật ngữ dân tộc trong Dân tộc học cần được hiểu, đó là tộc người, tiếng Hy Lạp là ethnos, ethnie Và đưa ra khái niệm: tộc người là cộng đồng người hình thành trong lịch sử, trên một lãnh thổ nhất định, cùng có chung những đặc điểm tương đối bền vững về ngôn ngữ, văn hóa, tâm lý, ý thức sự thống nhất của mình và làm cho mình khác với các tộc người khác, thông qua tên tự gọi.

Vậy dân tộc học là gì? GS.TS Phan Hữu Dật nêu định nghĩa ngắn gọn

Dân tộc học là một ngành khoa học, nghiên cứu sự giống nhau và khác nhau của tất cả các dân tộc trên thế giới, qua đó nói lên quá trình biến đổi của các dân tộc trong trường kỳ lịch sử của nhân loại, từ thời xa xưa cho đến tận hôm nay.

Lê Sĩ Giáo giải thích: khái niệm dân tộc thực chất phải được hiểu là tộc người (ethnie) Tộc người là hình thái đặc biệt của một tập đoàn xã hội xuất hiện không phải do ý nguyện của con người mà là trong kết quả của quá trình

tự nhiên- lịch sử.

GS Đặng Nghiêm Vạn phân biệt nation (dân tộc) và ethnie (tộc người), ngoài sự đồng nhất hai thuật ngữ ethnos, ethnie chỉ định khái niệm chung tộc

Trang 2

người, GS Đặng Nghiêm Vạn đưa ra luận điểm dân tộc (nation) theo nghĩa được Liên hợp Quốc công nhận: thuật ngữ nation có nghĩa là một cộng đồng nhân dân (people) ổn định được phát triển trong lịch sử, với một lãnh thổ, một sinh hoạt kinh tế, một đặc trưng văn hóa, một tiếng nói chung, chỉ đạo bởi một nhà nước.

Mở rộng thuật ngữ dân tộc (nation), GS Phan Huy Lê dẫn giải: riêng từ

"dân tộc" theo hiểu biết của tôi cho đến nay thì người Việt Nam đầu tiên sử dụng

là nhà yêu nước Phan Bội Châu trong bài "Lưu Cầu huyết lệ tân thư" khoảng trước năm 1905 Từ "dân tộc" do các trí thức cấp tiến Nhật Bản sáng tạo trên cơ

sở chữ Hán để dịch từ "Nation" trong tiếng Anh Nhưng ở Việt Nam, trong quá trình sử dụng, từ "dân tộc" mang nhiều nghĩa khác nhau.

Thứ nhất, là một đơn vị tộc người nói chung, không phân biệt cấp độ loại hình cộng đồng như trường hợp nói: dân tộc Việt, dân tộc Tày, dân tộc Thái, Việt Nam có 54 dân tộc

Thứ hai, là cộng đồng quốc gia bao gồm nhiều cộng đồng cư dân, tộc người sống trên một lãnh thổ do một nhà nước quản lí, như trường hợp nói dân tộc Việt Nam, dân tộc Lào, dân tộc Cămpuchia

Thứ ba, là một cộng đồng mang tiêu chí của "Nation" như phương Tây PGS.TS Bùi Xuân Đính nêu rõ: Tộc người (ethnos, ethnie) là hình thái đặc thù của một tập đoàn người, một tập đoàn xã hội, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi ba đặc trưng cơ bản, mang tính ổn định và tương đối bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử là: ngôn ngữ, văn hóa, ý thức tự giác về cộng đồng.

Về dân tộc (nation), PGS.TS Bùi Xuân Đính đưa ra hai nghĩa:

Một hình thái phát triển cao của tộc người, thường xuất hiện vào giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản (dân tộc Pháp, Đức…).

Một cộng đồng chính trị của nhiều tộc người có nguồn gốc lịch sử khác nhau, có trình độ phát triển kinh tế- xã hội khác nhau cùng chung sống trong

Trang 3

một quốc gia, được quản lý bởi một nhà nước chung, tạo lập nên một nền văn hóa chung.

Những luận điểm trên đều thống nhất xác định thuật ngữ ethnos, ethnie là khái niệm chỉ tộc người, còn nation có ngữ nghĩa rộng theo cách hiểu

toàn thể mọi tầng lớp nhân dân, các tộc người cùng chung sống Dân tộc là điềukiện, cơ sở hình thành quốc gia độc lập, có chủ quyền dưới sự quản lý của mộtnhà nước Tiêu chí dân tộc gắn liền với chủ quyền đất nước được chủ tịch Hồ

Chí Minh khẳng định: Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một Những

thuật ngữ duy danh dân tộc, tộc người được nêu nhất quán bởi quá trình hìnhthành từ truyền thống lịch sử tạo chiều sâu văn hóa, dựng nên bản sắc độc đáoriêng từng tộc người, từ đó hòa nhập trong khối đại đoàn kết dân tộc/nhân dân

Việt Nam Bên cạnh đó, thuật ngữ ethnographie đang sử dụng chính thống trong tiếng Việt hiện đại với nghĩa chung là ngành Dân tộc học như tên gọi từ

Tộc người (ethnie/ethnos) là một tập đoàn người có tiếng nói chung, có nguồn gốc lịch sử, văn hóa và ý thức tự giác cộng đồng.

Văn hóa tộc người

Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách sống động toàn bộ cuộc sốngcon người trong suốt quá trình lịch sử Văn hóa tạo nên một hệ thống các giá trịtruyền thống bao gồm thẩm mĩ và lối sống, từ đó từng dân tộc xây dựng nên bảnsắc riêng của mình Văn hóa là tất cả những gì con người đã bỏ công sức để tạora; nó khác với những gì tồn tại trong tự nhiên ngoài con người “Văn hoá là hệthống hữu cơ các giá trị tinh thần và vật chất do con người sáng tạo và tích luỹ

Trang 4

qua quá quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người vớimôi trường tự nhiên và xã hội”.

Văn hóa với tính cách là yếu tố cấu thành tộc người bao gồm tri thức,tín ngưỡng, đạo đức, nghệ thuật, luật pháp, tập quán, sinh hoạt … là sự thể hiệnbản chất năng lực con người với tính cách là thành viên của cộng đồng xã hội

“Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó

mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏicủa sự sinh tồn”

Nghiên cứu văn hóa với tính cách là yếu tố cấu thành tộc người cầnphải xem xét trên cả trục đồng đại và lịch đại Với sự liệt kê đầy đủ danh mụccác hiện tượng văn hóa của một tộc người cho phép chúng ta có những nhậnđịnh sơ bộ về văn hóa tộc người cũng như bản sắc văn hoá tộc người “Khi nóiđến văn hóa tộc người là nói đến những khía cạnh tiêu biểu của tộc người đó tạonên những nét khác biệt với văn hóa các tộc người khác”

Cũng cần thấy rằng văn hoá tộc người là một thực thể đa dạng vàthống nhất “Nếu coi thống nhất của văn hóa từ đa dạng, thì muốn củng cố sựthống nhất ấy, phải trên cơ sở bảo tồn và phát triển tính đa dạng của văn hóa,

mà ở đây thể hiện rõ nhất là đa dạng văn hóa tộc người và văn hóa địa phương(văn hóa vùng) Sẽ không có sự thống nhất văn hóa nào vững chắc và lànhmạnh lại dựa trên cơ sở thuần nhất hóa hay đơn nhất hóa văn hóa”

Đời sống vật chất và đời sống tinh thần là hiện tượng phổ quát củacác tộc người Mặt khác, sự vận động về mặt tinh thần và vật chất của chủ thểvăn hoá luôn gắn với không gian thời gian cụ thể Nhờ có quan hệ với tự nhiên

và xã hội mà chủ thể văn hoá sáng tạo ra những sản phẩm có giá trị, đồng thờinhờ đó mà chủ thể có thể thể hiện mình trước tự nhiên và xã hội Văn hoá là sựthể hiện mình theo một cách riêng, trong điều kiện lịch sử cụ thể của một chủthể văn hoá Văn hoá theo hướng này có nghĩa là nét đặc thù về phong cáchsống của tộc người Nét đặc thù về phong cách sống của mỗi tộc người như làphương thức tái hiện những tập hợp tình cảm và lí trí nhằm khẳng định các giá

Trang 5

trị chung của cộng đồng tộc người Nói chung, nét đặc thù về phong cách sống

là một biểu hiện của bản sắc văn hoá tộc người

Văn hóa tộc người là tổng thể sống động các giá trị văn hoá vật thể và phivật thể do các cộng đồng tộc người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử, thể hiệnbản sắc tộc người, là bộ phận hữu cơ của văn hóa quốc gia

Văn hóa tộc người là toàn bộ những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể

do các cộng đồng tộc người sáng tạo ra trong quá trình sinh tồn và phát triển, gắnvới môi trường tự nhiên và xã hội, nó phản ánh những đặc điểm trong tư duy vàlao động sáng tạo của các tộc người trong các giai đoạn phát triển với các thôngtin về nội hàm và ngoại diên phản ánh sự vận động nội tại và trong mối quan hệvăn hóa ở cấp độ tộc người và quốc gia

Dù cách thức diễn đạt khác nhau, nhưng nói đến văn hóa tộc người là nóiđến giá trị; các giá trị do cộng đồng tộc người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử;

là căn cứ quan trọng để phân biệt tộc người; là bộ phận cấu thành văn hóa quốcgia

*Các dạng thức của văn hóa tộc người

Cũng có thể phân chia các dạng thức văn hóa tộc người dựa trên căn cứ

về nhu cầu và hình thức tồn tại của các sản phẩm sáng tạo Văn hóa tộc người sẽđược phân chia dưới hai dạng thức: Văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể củatộc người Đây là những giá trị cơ bản của văn hóa tộc người, kết quả tư duy vàlao động sáng tạo của các cộng đồng tộc người trong quá trình lịch sử tồn tại vàphát triển

Về dạng thức văn hóa vật thể của tộc người, có thể đồng tình với quanniệm:

Văn hóa vật thể được là những giá trị văn hóa do các cộng đồng tộc người sáng tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu ăn, ở, mặc, đi lại, lao động, sinh hoạt gia đình và cộng đồng , có kết cấu vật chất không gian ba chiều mà chúng ta có thể cầm nắm, cân, đong, đo đếm được

Trang 6

Theo định nghĩa này, biểu hiện của dạng thức văn hóa vật thể trong đờisống của các cộng đồng tộc người rất đa dạng và phong phú, bao gồm các sángtạo nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của con người và cộng đồng Về cơ bản,các giá trị sáng tạo là tương đồng, song có sự phân biệt bản sắc cá tính tộcngười biểu hiện trong tư duy kỹ thuật canh tác, loại hình kinh tế-văn hóa, tư duythẩm mỹ

Dạng thức văn hóa phi vật thể được quan niệm:

Văn hóa phi vật thể là một dạng tồn tại (hay thể hiện) của văn hóa không phải dưới dạng vật thể có hình khối tồn tại trong không gian và thời gian, mà nó tiềm ẩn trong trí nhớ, tập tính, hành vi, ứng xử của con người và thông qua các hoạt động sống của con người trong sản xuất, giao tiếp xã hội trong hoạt động tư tưởng và văn hóa-nghệ thuật mà thể hiện ra khiến người ta nhận biết được sự tồn tại của nó Văn hóa phi vật thể của tộc người theo quan

niệm này, bao gồm các giá trị về cơ cấu, tổ chức xã hội (gia đình, dòng họ, cộngđồng ); những giá trị tín ngưỡng, tôn giáo đáp ứng nhu cầu tâm linh; những giátrị văn học, nghệ thuật; giá trị về tri thức dân gian

Sự phân chia các dạng thức văn hóa tộc người có ý nghĩa quan trọngtrong nghiên cứu giá trị, bản sắc văn hóa tộc người, đặc biệt nghiên cứu mốiquan hệ giữa văn hóa tộc người trong quá trình hình thành và phát triển nền vănhóa quốc gia dân tộc

Trang 7

2 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA TỘC NGƯỜI

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta phát triển trong bối cảnh củaphát triển thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế thị trường đã khơidậy mọi tiềm năng sáng tạo, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội,tạo thêm nhiều giá trị văn hóa mới, làm giàu thêm bản sắc văn hóa dân tộc,nhưng đồng thời cũng nảy sinh những mặt tiêu cực, có nguy cơ hủy hoại bảnsắc văn hóa dân tộc quốc gia cũng như bản sắc văn hóa tộc người Có nhiều yếu

tố tác động đến sự biến đổi của văn hóa tộc người

Tác động của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

Xu thế toàn cầu hóa là điều kiện thuận lợi cho các nước phát triển xuấtkhẩu (nhiều lý do) cũng như các nước kém phát triển, đang phát triển phải nhậpkhẩu, tiếp cận, sử dụng những thành tựu của khoa học công nghệ, thành quả trêncác lĩnh vực khác… để hiện đại hóa Trong quá trình này, cũng có những ảnhhưởng dẫn đến những nguy cơ bị áp đặt bởi các cường quốc với những điềukiện có thể gây tổn hại đến sự phát triển của các quốc gia nhỏ, yếu Việt Namkhông ngoại lệ

Xu thế và quá trình toàn cầu hóa là môi trường rộng mở, cơ hội để vănhóa giữa các quốc gia được giao lưu bằng nhiều hình thức, phương cách đadạng Giá trị và di sản của các quốc gia được giới thiệu, quảng bá rộng rãi đếnmọi người Các quốc gia, dân tộc xích lại gần nhau hơn, từ đó có thể chia sẻ,hợp tác, mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu tinh hoa văn hóa nghệ thuật làmphong phú kho tàng văn hóa dân tộc mình, thụ hưởng tốt hơn thành quả văn hóacủa nhân loại Thế nhưng, trong xu thế toàn cầu hóa, văn hóa là một lĩnh vực dễ

bị “tổn thương”, trong đó văn hóa truyền thống dễ bị tổn thương hơn cả, bản sắcvăn hóa dân tộc trở thành vấn đề trọng đại của mỗi quốc gia

Ba nguy cơ chính đối với các quốc gia đang phát triển, trong đó có ViệtNam được Đinh Ngọc Thạch nêu ra: Sự xáo trộn tự phát trong sáng tạo vàhưởng thụ văn hóa, chủ nghĩa lãng mạn ngây thơ dẫn đến hiện tượng tha hóa

Trang 8

bản sắc, nghịch lý giữa tính mở của không gian giao tiếp và sự biệt hóa ngàycàng sâu sắc giữa các cá nhân, các nhóm xã hội, các dân tộc và các khu vực.Toàn cầu hóa có thể tạo nên những biến thái mới, làm thay đổi các chuẩn mực,các giá trị…và nuốt chửng cả một nền văn hóa, nếu nền văn hóa ấy không đủsức vượt qua thách thức Trong đó, hệ quả nặng nề nhất là nền văn hóa của mộtdân tộc bị đồng hóa bởi các nền văn hóa khác lớn mạnh hơn.

Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang tạo ra mộtsân chơi chung, trong đó sự phát triển của các các quốc gia về kinh tế, xã hội vàvăn hóa có sự gắn kết với sự phát triển của khu vực và thế giới Dù muốn hayhay không, dù nhìn từ góc độ nào, thì văn hóa quốc gia cũng như văn hóa tộcngười đều bị ảnh hưởng, chi phối của quá trình đó

Có thể thấy một mặt, sự tác động của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tếđang mở ra cho mỗi quốc gia dân tôc cơ hội để khai thác những gì tốt nhất cho

sự phát triển Đây cũng là cơ hội để văn hóa mỗi dân tộc tự khẳng định mình.Không thể phủ nhận được sự làm giàu văn hóa nhân loại từ những bản sắc vănhóa của từng dân tộc và từng tộc người, khi những di sản văn hóa riêng đó đượcUNESCO công nhận di sản văn hóa thế giới Quá trình đó cũng đang tạo điềukiện cho mỗi quốc gia, dân tộc cơ hội tiếp nhận chuyển giao về khoa học côngnghệ phục vụ cho sáng tạo, bảo quản, quảng bá văn hóa, phát triển công nghiệpvăn hóa… Nhưng mặt khác cũng cho thấy, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tếquốc tế cũng đưa đến nguy cơ làm xói mòn, thậm chí triệt tiêu sự khác biệt vănhóa dân tộc Sự cảnh báo hãy coi “xâm lăng về văn hóa là sự xâm lăng cuốicùng và triệt để nhất” không là ngoại lệ đối với dân tộc quốc gia nào

Trong bối cảnh đó, văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng đangdiễn ra một quá trình hội nhập giữa văn hóa truyền thống và hiện đại, giữa vănhóa tộc người và văn hóa quốc gia, văn hóa quốc tế rất mạnh mẽ và rộng khắp

Dù chậm so với vùng xuôi, vùng đô thị, nhưng đời sống kinh tế của đồngbào dân tộc thiểu số đang ngày một được cải thiện Điều đó tạo cơ sở cho sựbiến đổi trong đời sống văn hóa Về mặt tích cực, đồng bào dân tộc đã có điều

Trang 9

kiện để tiếp nhận tinh hoa văn hóa nhân loại, loại bỏ những hủ tục, lạc hậu, thayvào đó các yếu tố văn hóa mới, hiện đại

Có thể thấy văn hóa các dân tộc thiểu số nước ta đang vận động, biếnđổi theo các xu hướng:

- Xu hướng giao lưu văn hóa giữa các tộc người Trước hết, đó là sựbiến đổi trong phân bố dân cư giữa các tộc người thiểu số Nhiều vùng đồng bàodân tộc trên cả nước ta hiện nay, rất ít có làng thuần nhất chỉ có một tộc người

cư trú, mà thường là cộng cư, xen kẽ Điều đó đã và đang tạo ra những biến đổi

về văn hóa tộc người sâu sắc

- Xu hướng chịu ảnh hưởng của hội nhập và văn hóa hiện đại Sự giaolưu văn hóa này diễn ra mạnh mẽ trên tất cả các mặt, từ văn hóa sản xuất, khoahọc công nghệ, kiến trúc nhà cửa, sinh hoạt, ẩm thực, trang phục… đến việc đónnhận các giá trị văn hóa hiện đại

- Xu hướng đồng hóa về văn hóa Thực ra, đồng hóa văn hóa cũng làvấn đề có tính quy luật trong tiến trình của các tộc người, có cả đồng hóa tựnhiên và đồng hóa cưỡng bức Trái với sự áp đặt của đồng hóa cưỡng bức, đồnghóa tự nhiên là quá trình tiếp nhận văn hóa một cách tự nguyện giữa các tộcngười có trình độ phát triển cao hơn, để hoàn thiện, nâng cao văn hóa của tộcngười mình

- Xu hướng mai một, đứt gãy văn hóa Đây là xu hướng biến đổi văn hóatruyền thống của các tộc người theo hướng suy thoái, nghèo nàn đi Nhiều giátrị văn hóa tộc người bị mai một, đứt gãy, tạo nên sự hẫng hụt mai một văn hóa

- Xu hướng phục hồi văn hóa truyền thống Xu hướng này cũng diễn ratất yếu, do nhu cầu của chủ thể sáng tạo, do tác động của các yếu tố khách quan

Quan điểm quốc tế về đa dạng văn hóa

Năm 2001, UNESCO - Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa thế giới

đã đã đưa ra những quan điểm quan trọng về Đa dạng văn hóa, Văn hóa và pháttriển, Văn hóa và bản sắc Bản chất của đa dạng văn hoá là khẳng định tôn trọngbản sắc văn hoá dân tộc thống nhất trong văn hoá chung của nhân loại Đa dạng

Trang 10

văn hoá là chấp nhận có các nền văn hoá khác nhau trên thế giới, tức là đề cậpđến vấn đề bản sắc từ cấp độ quốc gia, dân tộc, nhóm tộc người, nhóm xã hội

đến cấp độ cá thể (nhân cách) Quan điểm khẳng định: ‘‘Văn hóa tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau theo thời gian và không gian Sự đa dạng này tồn tại ở những nét riêng và điểm chung trong bản sắc của các nhóm người, các xã hội hình thành nên cộng đồng nhân loại Là khởi nguồn cho giao lưu, đổi mới, và sáng tạo, đa dạng văn hóa cũng cần thiết đối với nhân loại như đa dạng sinh học đối với tự nhiên Với ý nghĩa này, đa dạng văn hóa chính là tài sản chung của nhân loại và nó cần được công nhận, khẳng định vì quyền lợi của các thế

hệ hiện tại và tương lai”

Nguyên Tổng Giám đốc UNESCO, F.Mayor đã nhấn mạnh: “Kinhnghiệm của hai thập kỷ qua cho thấy rằng trong mọi xã hội ngày nay, bất luận ởtrình độ phát triển kinh tế nào hoặc theo xu hướng chính trị nào, văn hóa và pháttriển là hai mặt gắn liền với nhau Hễ nước nào tự đặt ra cho mình mục tiêu pháttriển kinh tế mà tách rời môi trường văn hóa thì nhất định sẽ xảy ra những mấtcân đối nghiêm trọng cả về mặt kinh tế lẫn văn hóa và tiềm năng sáng tạo củanước ấy sẽ bị suy yếu rất nhiều Một sự phát triển chân chính đòi hỏi phải sửdụng một cách tối ưu nhân lực và vật lực của mỗi cộng đồng Vì vậy phân tíchđến cùng, các trọng tâm, các động lực và các mục đích của phát triển phải đượctìm trong văn hóa Từ nay trở đi văn hóa cần coi mình là một nguồn bổ sungtrực tiếp cho phát triển và ngược lại phát triển cần thừa nhận văn hóa giữ một vịtrí trung tâm, một vai trò điều tiết xã hội ”

Đảm bảo đa dạng văn hóa là phát huy vai trò văn hóa có vai trò trongphát triển (chất lượng cuộc sống, tạo thu nhập); khuyến khích phát triển văn hóacông nghiệp (industrial culture) để giữ gìn các giá trị văn hóa và tạo thu nhập.Văn hóa là phải cho con người, vì con người

Quan điểm trên đây cho thấy văn hóa là đối thoại, là sự xâm nhập, đanxen, trao đổi, tác động qua lại và có chút pha trộn giữa các yếu tố nội sinh vàngoại sinh Không có nền văn hóa nào trên thế giới lại tuyệt đối đơn lẻ, thuần

Trang 11

khiết và không bị ảnh hưởng bởi bất cứ nền văn hóa nào khác Sự vận động,biến đổi của văn hóa tộc người là quy luật khách quan Không vận động, biếnđổi cũng là đồng nghĩa với sự suy thoái Phải nhận thức đúng để hạn chế nhữngmặt tiêu cực

Việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của các dântộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong xu thế hội nhập

là vấn đề lớn, phù hợp với định hướng bảo vệ di sản văn hóa của Đảng và Nhànước ta Làm thế nào để vừa bảo tồn nhưng vẫn phải duy trì được sự phát triểntheo xu hướng tiến bộ của xã hội, bảo vệ văn hóa truyền thống trong nền vănminh công nghiệp Bảo vệ, bảo tồn nhưng vẫn phải bảo đảm cho những chủ thể

ở đây được hòa nhập, được hưởng thụ những thành quả mà xã hội đem lại

Đa dạng văn hóa chính là bảo tồn những giá trị văn hóa mang bản sắcriêng của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, được xem như là một cách thức để pháttriển và bảo vệ các nền văn hóa, bảo vệ di sản văn hóa chung của nhân loại

Đa dạng văn hóa đã trở thành điều kiện tồn tại và phát triển không chỉcủa văn hóa mà còn của cả kinh tế, xã hội, của mỗi dân tộc, là động lực quantrọng của sự phát triển Đa dạng văn hóa là điều kiện tiên quyết để từng nhómngười, từng dân tộc bộc lộ và phát huy hết năng lực sáng tạo độc đáo của mìnhtrong quá trình sản xuất các giá trị mới về vật chất cũng như tinh thần Đối thoạigiữa các nền văn hóa, văn minh đang là yêu cầu quan trọng bậc nhất nhằmhướng tới sự phát triển bền vững Nhất thể hóa, đồng dạng hóa các giá trị vănhóa theo một khuôn mẫu cố định là triệt tiêu động lực phát triển, triệt tiêu nănglực sáng tạo, sự tương tác giữa các nền văn hóa là tiền đề cho sự phát triển Biếtgiữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc mình cũng có nghĩa là biết tôntrọng khoan dung với sự khác biệt văn hóa của các dân tộc khác Điều này có ýnghĩa ngày càng quan trọng trong một thế giới đang bị chia rẽ bởi những xungđột sắc tộc, xung đột tín ngưỡng, tôn giáo mang đậm màu sắc văn hóa

Đa dạng văn hóa cũng đồng thời củng cố tính thống nhất của mỗi nềnvăn hóa Đa dạng văn hóa trong toàn cầu hóa văn hóa một mặt duy trì, củng cố,

Ngày đăng: 06/12/2022, 11:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w