1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIEU LUAN MON VH TOC NGUOI, tìm hiểu một số định hướng nhằm bảo tồn và phát huy văn hóa các tộc người thiểu số ở nước ta

19 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu một số định hướng nhằm bảo tồn và phát huy văn hóa các tộc người thiểu số ở nước ta
Chuyên ngành Văn hóa tộc người
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 278,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC Trang A MỞ ĐẦU 2 B NỘI DUNG 3 I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 3 1 1 Quan niệm về văn hóa 3 1 2 Quan niệm về văn hóa tộc người 5 1 2 1 Quan niệm về tộc người 5 1 2 2 Quan niệm về văn hóa tộc ngườ. A MỞ ĐẦU Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII nhấn mạnh: “Di sản văn hoá là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc cốt lõi của bản sắc văn hoá dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hoá. Cần phải hết sức coi trọng bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống”. Các tộc người trong tiến trình lịch sử của mình đều sáng tạo một phức hợp văn hoá tạo nên nét riêng của mình (bản sắc), góp phần làm phong phú văn hóa Việt Nam đa tộc người. Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay như là một xu thế tất yếu thì việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống các tộc người thiểu số ở Việt Nam là nhiệm vụ cần thiết và cấp bách, trong đó vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước về bảo tồn và phát huy văn hóa hết sức quan trọng. Với ý nghĩa đó, em lựa chọn vấn đề “Tìm hiểu một số định hướng nhằm bảo tồn và phát huy văn hóa các tộc người thiểu số ở nước ta” làm đề tài tiểu luận của mình.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

II- MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG NHẰM BẢO TỒN, PHÁT HUY VĂN

2.1 Sự biến đổi văn hóa các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay 10

2.1.1 Xu hướng giữ gìn, kế thừa và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc

2.1.2 Xu hướng tiếp biến văn hóa thông qua giao lưu trong nước và hội

2.1.3 Xu hướng suy giảm bản sắc văn hóa các DTTS, đặc biệt là văn

2.2 Một số định hướng nhằm bảo tồn, phát huy văn hóa các dân tộc

2.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo tồn và phát

2.2.2. Một số định hướng nhằm bảo tồn, phát huy văn hóa các dân tộc

Trang 2

A- MỞ ĐẦU

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII nhấn mạnh: “Di sản văn hoá là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc cốt lõi của bản sắc văn hoá dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hoá Cần phải hết sức coi trọng bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống” Các tộc người trong tiến trình lịch sử của mình đều sáng tạo một phức hợp văn hoá tạo nên nét riêng của mình (bản sắc), góp phần làm phong phú văn hóa Việt Nam

đa tộc người Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay như là một xu thế tất yếu thì việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống các tộc người thiểu số ở Việt Nam là nhiệm vụ cần thiết và cấp bách, trong đó vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước về bảo tồn và phát huy văn hóa hết sức

quan trọng Với ý nghĩa đó, em lựa chọn vấn đề “Tìm hiểu một số định hướng nhằm bảo tồn và phát huy văn hóa các tộc người thiểu số ở nước ta” làm đề

tài tiểu luận của mình

B- NỘI DUNG

Trang 3

I- MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

1- Quan niệm về văn hóa

Theo chủ nghĩa Mác-Lênin: Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình

Trong một số ghi chép ở trang cuối cùng của tập thơ “Nhật ký trong tù”

(1942-1943) lãnh tụ Hồ Chí Minh viết “Ý nghĩa của văn hóa: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng, toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” Từ nhận thức ấy, Hồ Chí Minh đưa ra khái niệm về văn hóa: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” Có thể nói, đây là một cách tiếp cận văn hóa từ ý nghĩa khái quát, đặc trưng nhất của nó, một định nghĩa cô đọng và chính xác về văn hóa Quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa là xuất phát từ cách tiếp cận mác-xít và rất gần gũi với nhận thức hiện đại, khi coi văn hóa không chỉ đơn thuần là đời sống tinh thần của con người - xã hội mà từ trong bản chất của mình, nó chính là linh hồn, sức mạnh trường tồn của cả dân tộc, là sức sống vươn lên của thời đại Văn hóa không phải là toàn bộ đời sống con người xã hội, mà là phần cốt tử, là tinh hoa được chưng cất, kết tụ nên cái bản chất, bản sắc, tính cách của dân tộc, của thời đại

Nó được xuất phát từ cuộc sống, từ năng lực, trình độ và phương thức sống của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng Và đến lượt mình, văn hóa hiện diện trong mọi hoạt động từ suy tư đến hành động thực tế, từ hoạt động cá nhân đến những vận động xã hội, từ hoạt động vật chất đến những sáng tạo tinh thần những phát minh, sáng chế, tạo ra những giá trị mới của sản xuất vật chất, khoa học - kỹ thuật - công nghệ, văn học - nghệ thuật

Trang 4

Năm 1970, Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa UNESCO

đã thừa nhận khái niệm do Ph.Mây-ơ (F Mayor) nguyên Tổng Giám đốc của tổ chức này đưa ra là khái niệm chung, chính thức của cộng đồng quốc tế về văn

hóa: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động”

Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 5 (khóa VIII), Đảng ta khẳng định: Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước

và giữ nước…, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng suy cho cùng, khái niệm văn hoá bao giờ cũng có thể qui về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng

Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng,

theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật…) Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…) Giới hạn theo không gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ…) Giới hạn theo thời gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn…)

Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những gì do

con người sáng tạo ra

Chính với cách hiểu rộng này, văn hoá đã trở thành đối tượng của văn hoá

học (culturology, culture studies, science of culture) - khoa học nghiên cứu về văn

hóa Trong lĩnh vực này, khởi đầu từ định nghĩa của E.B.Tylor trong cuốn Văn hoá nguyên thuỷ (Primitive culture) xuất bản ở London năm 1871, đến nay đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau Vào năm 1952, hai nhà nhân học người Mỹ là A

Trang 5

Kroeber và C Kluckhohn đã viết một cuốn sách chuyên bàn về các định nghĩa văn hóa nhan đề: Văn hóa - tổng luận phê phán các quan niệm và định nghĩa (Culture: a critical review of concepts and definitions), trong đó đã dẫn ra và phân tích 164 định nghĩa về văn hoá Trong lần xuất bản thứ hai của cuốn sách này, số định nghĩa văn hoá đã tăng lên đến trên 200 Còn hiện nay thì số lượng định nghĩa

về văn hóa khó mà biết chính xác được, có người bảo là 400, có người nói là 500, lại có người quả quyết rằng chúng lên đến con số nghìn

2 Quan niệm về văn hóa tộc người

2.1 Quan niệm về tộc người

Tộc người và vấn đề tộc người là điểm xuất phát quan trọng trong nghiên cứu văn hóa tộc người Cùng với việc tiếp cận từ các khoa học liên ngành/đa ngành khác, khi nghiên cứu văn hóa tộc người không thể không gắn với quan

điểm của dân tộc học Hầu hết các nhà chuyên môn đều thừa nhận rằng, đối

tượng của Dân tộc học là tất cả các dân tộc, dù ở bậc thang phát triển thấp hay cao, thiểu số hay đa số, đã tồn tại trong quá khứ hay là đang tồn tại hiện nay,

nghiên cứu ngôn ngữ, văn hóa tộc người là một trong những nhiệm vụ cơ bản của Dân tộc học

Tiếp cận từ Dân tộc học là cơ sở quan trọng để nghiên cứu quá trình hình thành, đặc trưng, vai trò của văn hóa tộc người đối với tiến trình lịch sử nhân loại và quốc gia

Trong thực tế của nghiên cứu khoa học và đời sống, khái niệm dân tộc thường được dùng với hai nghĩa: dân tộc (quốc gia) và dân tộc (tộc người) Phân biệt khái niệm dân tộc không những có ý nghĩa đối với nghiên cứu văn hóa tộc người, mà còn có ý nghĩa trong quan niệm về chính sách dân tộc

Dân tộc (ethnie), dân tộc (tộc người) là khái niệm khoa học mới xuất hiện

từ cuối thế kỷ XIX (1896) được A.Fouillée (Alfred Jules Émile Fouillée) sử dụng lại Ban đầu thuật ngữ này được dùng để chỉ các nhóm tộc người hay đơn

vị tộc người, đến nửa đầu thế kỷ XX thuật ngữ này mới được sử dụng rộng rãi trong giới khoa học

Trang 6

Trong thực tiễn cũng như khoa học, dân tộc (nation) và dân tộc (ethnie) là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau Nếu dân tộc (nation) phải là một cộng đồng

chính trị, cư dân sống chung trên một lãnh thổ, có chung một nhà nước, một

chính phủ, thống nhất về luật pháp; thì dân tộc (ethnie) là cộng đồng mang tính

tộc người Các tộc người không nhất thiết phải cùng cư trú trên một lãnh thổ, không nhất thiết có chung nhà nước và sinh hoạt kinh tế, cũng như không nhất thiết phải chung sự thống nhất về luật pháp

Tuy có nhiều góc độ tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu, nhưng về cơ bản

có sự thống nhất trong quan niệm về tộc người (dân tộc - ethnie): Tộc người là

khái niệm chỉ các cộng đồng mang tính tộc người bất kỳ, bao gồm cả các cộng đồng tộc người chủ thể của các quốc gia và các cộng đồng tộc người thiểu số trong các quốc gia, vùng miền, không phân biệt đó là cộng đồng tộc người tiến

bộ hay cộng đồng tộc người đang trong quá trình phát triển.

Thực tế trong thế giới hiện đại, đang có nhiều quốc gia là quốc gia đa dân tộc Sự đang tồn tại của các loại hình cộng đồng dân tộc và cộng đồng tộc người như hiện nay, rất cần có nhận thức về dân tộc quốc gia và dân tộc tộc người như trên đây

Các tiêu chí để xác định dân tộc (tộc người):

Trên thế giới đã tồn tại những quan điểm về các tiêu chí xác định dân tộc (tộc người) Có thể tham khảo các quan điểm sau đây:

- Quan điểm của các nhà Dân tộc học Xô viết (áp dụng xác định thành phần dân tộc ở Liên bang Cộng hòa XHCN Xô viết):

1 Cùng cư trú trên một phạm vi lãnh thổ nhất định;

2 Cùng nói một ngôn ngữ;

3 Có chung các đặc điểm văn hóa;

4 Có cùng ý thức dân tộc (ý thức tự giác tộc người)

- Quan điểm của các nhà nghiên cứu Trung Quốc, họ vẫn dựa theo quan niệm của J.V.Stalin (áp dụng xác định thành phần dân tộc ở Trung Quốc), cho

Trang 7

rằng: Dân tộc là một cộng đồng người ổn định được hình thành trong lịch sử có

chung ngôn ngữ, lãnh thổ, đời sống kinh tế, cùng chung một tố chất tâm lý biểu hiện trong cùng một văn hóa Trong đó có hai vấn đề tiên quyết: Dân tộc là một

phạm trù lịch sử của thời đại tư bản chủ nghĩa đang lên, trước đó không thể có dân tộc; và thiếu một trong 4 yếu tố trên (lịch sử, ngôn ngữ, lãnh thổ, tâm lý), cũng không thể xác định đó là một dân tộc

- Quan điểm có tính phổ biến trên thế giới, cho rằng có 5 tiêu chí để xác định dân tộc (tộc người):

1 Cùng tiếng mẹ đẻ (ngôn ngữ tộc người thống nhất);

2 Cùng một khu vực lãnh thổ (lãnh thổ tộc người thống nhất);

3 Có nền kinh tế tộc người thống nhất;

4 Có các đặc trưng văn hóa tộc người thống nhất;

5 Có ý thức tự giác tộc người thống nhất

Việt Nam là quốc gia đa sắc tộc, vấn đề tiêu chí xác định tộc người được đặt ra từ nhiều thập kỷ trước Các nhà khoa học Việt Nam thống nhất với quan điểm cho rằng, có ba tiêu chí để xác định tộc người:

1 Có chung ngôn ngữ mẹ đẻ;

2 Có chung đặc điểm sinh hoạt văn hóa;

3 Có cùng ý thức tự giác tộc người (thể hiện ở tộc danh)

2.2. Quan niệm về văn hóa tộc người

Quan điểm biện chứng khẳng định rằng, sự tồn tại của con người và xã hội

là cuộc đấu tranh nhằm đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần trong cuộc sống của mình Đời sống vật chất và đời sống tinh thần là hiện tượng phổ quát của xã hội loài người nói chung và các tộc người

Sự vận động về mặt vật chất và tinh thần của chủ thể tộc người luôn luôn gắn với thời gian và không gian cụ thể Quá trình quan hệ với tự nhiên và xã hội, các tộc người đã sáng tạo những sản phẩm có giá trị, đồng thời qua đó thể hiện

Trang 8

mình trước tự nhiên và xã hội Văn hóa chính là sự thể hiện mình theo một cách riêng, trong điều kiện cụ thể của một chủ thể văn hóa Trong trường hợp này, một trong những định nghĩa văn hóa sau đây đáp ứng được các ý nghĩa khi tiếp

cận nghiên cứu văn hóa tộc người: “Văn hóa là tổng thể sống động của các hoạt

động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại Qua các thế kỷ, các hoạt động sáng tạo

ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu -những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” Trong mối liên hệ với

văn hóa tộc người, văn hóa trước hết là những sáng tạo giá trị mang tính nhân sinh, là yếu tố để phân biệt đặc tính riêng của các cộng đồng dân tộc

Trong quá trình vận động, trước cả khi nhà nước xuất hiện, các tộc người luôn có ý thức xây dựng và bảo vệ tộc danh và ý thức tộc người cũng như kinh

tế và văn hóa của cộng đồng mình Văn hóa chính vì vậy không những là yếu tố cấu thành tộc người, bao gồm tri thức, tín ngưỡng, đạo đức, nghệ thuật, luật pháp, tập quán, sinh hoạt , mà còn thể hiện bản sắc của nhiều cộng đồng có chung tộc danh Những sáng tạo đó thể hiện năng lực con người với tính cách là thành viên của cộng đồng xã hội, nhằm đáp ứng những nhu cầu đời sống và những đòi hỏi của sự sinh tồn

Từ sự phân tích trên đây, khái niệm văn hóa tộc người được hiểu như sau:

Văn hóa tộc người là tổng thể sống động các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể do các cộng đồng tộc người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử, thể hiện bản sắc tộc người, là bộ phận hữu cơ của văn hóa quốc gia

Sự hình thành văn hóa tộc người là một giai đoạn lịch sử đặc biệt trong tiến trình phát triển của nhân loại Văn hóa tộc người là cội nguồn, nền tảng hình thành và phát triển văn hóa quốc gia, văn hóa nhân loại Bởi nói đến văn hóa tộc người là nói đến tổng thể các yếu tố về tiếng nói, chữ viết, sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, các sắc thái tâm lý và tình cảm, phong tục và lễ nghi căn cứ để phân biệt tộc người này với tộc người khác

2.3 Các dạng thức của văn hóa tộc người

Một số dạng thức cơ bản của văn hóa tộc người:

Trang 9

- Nhà nghiên cứu văn hóa Ngô Đức Thịnh phân chia các dạng thức văn hóa

ở Việt Nam như sau: (1) Văn hóa cộng đồng (bao gồm văn hóa tộc người; văn hóa quốc gia; văn hóa làng; văn hóa gia đình, gia tộc và dòng họ; văn hóa tôn giáo tín ngưỡng; văn hóa nghề nghiệp); (2) Văn hóa cá nhân; (3) Văn hóa vùng lãnh thổ; (3)Văn hóa sinh thái

Theo quan điểm trên, văn tộc người là một trong sáu dạng thức quan trọng của văn hóa cộng đồng Quan điểm này cũng phân chia văn hóa tộc người Việt Nam thành các dạng thức dựa trên căn cứ chính là theo nhóm ngôn ngữ:

+ Nhóm Việt - Mường

+ Nhóm Môn-Khơme

+ Nhóm Tày-Thái

+ Nhóm Nam Đảo (Austronésien)

+ Nhóm Hmông-Dao

+ Nhóm Tạng-Miến

- Cũng có thể phân chia các dạng thức văn hóa tộc người dựa trên căn cứ

về nhu cầu và hình thức tồn tại của các sản phẩm sáng tạo Văn hóa tộc người sẽ được phân chia dưới hai dạng thức: Văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể của tộc người Đây là những giá trị cơ bản của văn hóa tộc người, kết quả tư duy và lao động sáng tạo của các cộng đồng tộc người trong quá trình lịch sử tồn tại và phát triển

Sự phân chia các dạng thức văn hóa tộc người có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu giá trị, bản sắc văn hóa tộc người, đặc biệt nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hóa tộc người trong quá trình hình thành và phát triển nền văn hóa quốc gia dân tộc

II- MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG NHẰM BẢO TỒN, PHÁT HUY VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

2.1 Sự biến đổi văn hóa các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay

Trang 10

2.1.1 Xu hướng giữ gìn, kế thừa và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc phù hợp với điều kiện phát triển mới

Trong dòng chảy toàn cầu hóa, bảo tồn văn hóa truyền thống các DTTS là nhằm lưu giữ tính đa dạng của văn hóa Việt Nam, làm phong phú kho tàng văn hóa thế giới, tăng cường khai thác nguồn tài nguyên văn hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước, nâng cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc, chống lại những âm mưu phá hoại, chia rẽ của các lực lượng thù địch Việt Nam đã có nhiều cố gắng, và đã đạt được những kết quả lớn trong việc bảo tồn, kế thừa và phát huy nền văn hóa truyền thống của các DTTS: kiểm kê, sưu tầm di sản văn hóa phi vật thể; bảo tồn tiếng nói và chữ viết; xây dựng thí điểm làng văn hóa các dân tộc gắn với phát triển du lịch sinh thái; tổ chức các lễ hội truyền thống đặc sắc (ngày hội văn hóa

và thể thao các dân tộc, liên hoan cồng chiêng, liên hoan ca múa nhạc dân gian, triển lãm trang phục các dân tộc) Việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các DTTS, phục dựng các lễ hội các nghề thủ công truyền thống

và ẩm thực dân tộc lồng với các hoạt động du lịch đã góp phần phát triển kinh tế tại các địa phương, đem lại thu nhập cho chính các chủ thể văn hóa và góp phần quảng bá rộng rãi văn hóa các DTTS trong nước và ngoài nước

2.1.2 Xu hướng tiếp biến văn hóa thông qua giao lưu trong nước và hội nhập quốc tế

Sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học- công nghệ, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, sự phát triển kinh tế của đất nước đã tạo điều kiện để văn hóa các DTTS tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại để phát triển văn hóa theo hướng tích cực, hiện đại và phù hợp hơn với tâm lý, tập quán đồng bào DTTS Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các DTTS được cải thiện và từng bước được nâng lên đã góp phần tạo môi trường lành mạnh cho văn hóa phát triển Nhiều bản (buôn, ấp, làng) đã xây dựng được quy ước, hương ước, phục hồi nhiều giá trị văn hóa truyền thống; nhiều phong tục, luật tục được nghiên cứu, vận dụng vào việc điều hành, quản lý xã hội, góp phần tích cực trong việc xây dựng nếp sống văn minh và xây dựng đời sống văn hóa lành

Ngày đăng: 06/12/2022, 11:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Bình, Một số vấn đề về tộc người và dân tộc ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu văn hóa, Số 2 (Trường Đại học văn hóa Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về tộc người và dân tộc ở Việt Nam
Tác giả: Trần Bình
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu văn hóa
2. Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Nxb Văn hóa - Thông tin, H.1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người
Tác giả: Từ Chi
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 1996
3. GS,TS. Phan Hữu Dật (2001), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay, Nxb CTQG, H.2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay
Tác giả: Phan Hữu Dật
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
4. Lê Sĩ Giáo (chủ biên), Hoàng Lương, Lê Ngọc Thắng (2010), Dân tộc học đại cương, Tập II, Nxb GDVN. 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc học đại cương, Tập II
Tác giả: Hoàng Lương, Lê Ngọc Thắng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
5. Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp, Nguyễn Văn Diệu (1998): Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb GD.1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp, Nguyễn Văn Diệu
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Giáo dục
Năm: 1998
6. Hoàng Lương (2005), Văn hóa các dân tộc Tây Bắc, Việt Nam, Trường Đại học VHHN.2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc Tây Bắc
Tác giả: Hoàng Lương
Nhà XB: Trường Đại học VHHN
Năm: 2005
7. Ngô Đức Thịnh (2006), Văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam, Nxb KHXH.2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2006
8. Lê Ngọc Thắng (2009), Văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Nam Bộ, Việt Nam, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia, H, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Nam Bộ
Tác giả: Lê Ngọc Thắng
Nhà XB: Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Năm: 2009
9. Ngô Đức Thịnh (2006), Văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam, Nxb KHXH. 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w