Từ đó em đã lựa chọn đề tài: “Thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo cho người dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay” để là đề tài tiểu luận môn Chính sách xã hội với mong muốn em sẽ hiể
Trang 1về mọi mặt cũng như được hưởng những thành quả từ sự phát triển của đất nước.
Trong những năm qua, Việt Nam được thế giới chú ý bởi những thành tựutrong công tác xóa đói, giảm nghèo và nâng cao mức sống của người dân Chươngtrình quốc gia về xóa đói giảm nghèo và việc làm là hoàn thành việc phát triển kếtcấu hạ tầng cho các xã nghèo vào năm 2010; nâng cao mức thu nhập và mức sốngcủa người nghèo, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 10%-11% vào năm 2010, gópphần đạt được mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ
Hiện nay đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta có hơn 14 triệu người, cư trútrên 52 tỉnh, thành của cả nước Tỷ lệ hộ nghèo ở các xã, thôn, bản miền núi, vùngcao, vùng sâu nếu áp dụng theo chuẩn nghèo năm 2011, là gần 50% Những nămqua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm tạo điều kiệnphát triển, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số,đưa vùng này thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển, hòa nhậpvào sự phát triển chung của cả nước
Thông qua việc học tập môn chính sách xã hội, em đã rất quan tâm đến cácchính sách xã hội mà đặc biệt là chính sách xóa đói giảm nghèo cho người dân
đồng bào dân tộc thiểu số Từ đó em đã lựa chọn đề tài: “Thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo cho người dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay” để là đề tài
tiểu luận môn Chính sách xã hội với mong muốn em sẽ hiểu rõ hơn về những vấn
đề đói nghèo hiện nay của người dân tộc thiểu số
Trang 2NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI
GIẢM NGHÈO 1.1 Một số vấn đề cơ bản về đói nghèo
1.1.1 Khái niệm chính sách xoá đói giảm nghèo
Đói nghèo là một hiện tượng kinh tế xã hội mang tính chất toàn cầu Nókhông chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển, mà nó còn tồn tạingay tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển Tuy nhiên tuỳ thuộc vào điều kiện
tự nhiên, thể chế chính trị xã hội và điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia mà tínhchất, mức độ nghèo đói của từng quốc gia có khác nhau Nhìn chung mỗi quốc giađều sử dụng một khái niệm để xác định mức độ nghèo khổ và đưa ra các chỉ sốnghèo khổ để xác định giới hạn nghèo khổ Giới hạn nghèo khổ của các quốc giađược xác định bằng mức thu nhập tối thiểu để người dân có thể tồn tại được, đó làmức thu nhập mà một hộ gia đình có thể mua sắm được những vật dụng cơ bảnphục vụ cho việc ăn, mặc, ở và các nhu cầu thiết yếu khác theo mức giá hiện hành.Tại hội nghị bàn về xoá đói giảm nghèo do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc TháiLan tháng 9.1993 đã đưa ra khái niệm về nghèo đói như sau: Đói nghèo là tìnhtrạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bảncủa con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội
và phong tục tập quán của các địa phương Theo định nghĩa này thì mức độ nghèođói ở các nước khác nhau là khác nhau Theo số liêu của ngân hàng thế giới thìhiện nay trên thế giới có khoảng 1,3 tỷ người sống dưới mức nghèo khổ, trong đóphần lớn là phụ nữ và trẻ em
Khái niệm Chính sách xoá đói giảm nghèo là tổng thể các quan điểm, tư tưởng,
các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế
Trang 3xã hội nhằm giải quyết vấn đề nghèo đói, thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo,
từ đó xây dựng một xã hội giầu đẹp
*Khái niệm về đói nghèo ở Việt Nam
Ở nước ta căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội và mức thu nhập của nhân dântrong những năm qua thì khái niệm đói nghèo được xác định như sau:
Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thoả mãnnhững nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơnmức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện
Một cách hiểu khác: Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡngquy định của sự nghèo Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thểcủa từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xãhội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia
Ở Việt Nam thì nghèo được chia thành các mức khác nhau: nghèo tuyệt đối,nghèo tương đối, nghèo có nhu cầu tối thiểu
Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo không cókhả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, mặc, ở, đi lại
Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có mứcsống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét
Nghèo có nhu cầu tối thiểu: Đây là tình trạng một bộ phận dân cư có nhữngđảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc, đủ ở và một số sinh hoạthàng ngày nhưng ở mức tối thiểu
Khái niệm về hộ đói: Hộ đói là một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối
thiểu không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống hay nói cách khác
đó là một bộ phận dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa, thường xuyên phải vay nợ vàthiếu khả năng trả nợ
Trang 4Khái niệm về hộ nghèo: Hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ thoả
mãn một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sốngtrung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện
Ngoài ra còn có khái niệm xã nghèo và vùng nghèo
* Xã nghèo là xã có những đặc trưng như sau:
Tỷ lệ hộ nghèo cao hơn 40% số hộ của xã
Không có hoặc thiếu rất nhiều những công trình cơ sở hạ tầng như: Điện sinhhoạt, đường giao thông, trường học, trạm ytế và nước sinh hoạt
Trình độ dân trí thấp, tỷ lệ người mù chữ cao
* Khái niệm về vùng nghèo:
Vùng nghèo là chỉ địa bàn tương đối rộng có thể là một số xã liền kề nhau hoặcmột vùng dân cư nằm ở vị trí rất khó khăn hiểm trở, giao thông không thuận tiện,
cơ sở hạ tầng thiếu thốn, không có điều kiện phát triển sản xuất đảm bảo cuộc sống
và là vùng có số hộ nghèo và xã nghèo cao
1.1.2 Mục tiêu, đối tượng của xóa đói giảm nghèo
Mục tiêu của chính sách xoá đói giảm nghèo cho các đối tượng thuộc diện
nghèo đói ở nước ta, giảm bớt khoảng cách giầu nghèo trong xã hội, nhằm mục tiêutổng quát xây dựng một đất nước dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủvăn minh
Mục tiêu chung: Cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của ngườinghèo, ưu tiên người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo thuộc huyệnnghèo, xã biên giới, xã an toàn khu, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, vùng bãingang ven biển và hải đảo; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện về công tácgiảm nghèo ở các vùng nghèo; góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mứcsống giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư
Trang 5Mục tiêu cụ thể:
Thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo cả nước tăng lên 1,6 lần so vớicuối năm 2011 (riêng các hộ nghèo ở các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặcbiệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi tăng gấp 2,5 lần); tỷ lệ hộ nghèo cảnước giảm bình quân 2%/năm (riêng các huyện, xã nghèo giảm 4%/năm) theochuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2011 - 2015
Thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chính sách giảm nghèo để cải thiện điềukiện sống của người nghèo, trước hết là về y tế, giáo dục, văn hoá, nước sinh hoạt,nhà ở; người nghèo tiếp cận ngày càng thuận lợi hơn với các dịch vụ xã hội cơ bản
Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở các huyện, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khókhăn được tập trung đầu tư đồng bộ theo tiêu chí nông thôn mới, trước hết là hạtầng thiết yếu như: giao thông, điện, nước sinh hoạt…
Đối tượng là đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta, những vùng sâu vùng xa
nơi mà cuộc sống còn nhiều khó khăn và có cuộc sống cách biệt với đời sống kinh
tế xã hội của cả nước
1.2 Chuẩn mực đói nghèo ở Việt Nam
Về việc xác định như thế nào là người nghèo, hiện có nhiều phương phápkhác nhau Một phương pháp quốc tế để xây dựng các chỉ số nhất quán giữa cácnăm là so sánh mức chi tiêu hộ gia đình trên đầu người với ngưỡng nghèo Ngưỡngnghèo được định nghĩa là chi phí cho một rổ hàng tiêu dùng thực phẩm và phi thựcphẩm cần thiết cho một cuộc sống khỏe mạnh
Trong trường hợp Việt Nam, ngưỡng nghèo thông dụng là chi phí cho một rổhàng hóa cung cấp 2.100 đơn vị calo cho một người trong một ngày Các chỉ sốkhác thường được sử dụng là nghèo lương thực và chỉ số khoảng cách nghèo Một
hộ gia đình được coi là nghèo lương thực khi chi tiêu của hộ đó thấp đến nỗi dù họ
Trang 6có chi tất cả tiền cho việc mua lương thực thì cũng không đủ để có 2.100 đơn vịcalo mỗi ngày
Bên cạnh đó, là ngay cả các hộ gia đình nghèo nhất thì họ vẫn phải có nhucầu đối với các khoản chi phi lương thực khác Chỉ số khoảng cách nghèo là “mứcchênh lệch” trung bình giữa chi tiêu của những người nghèo và mức chi tiêu tạingưỡng nghèo Thước đo này được sử dụng để mô tả mức độ nghèo là nông haysâu Ở Việt Nam, từ năm 1993 đến 2005, chuẩn nghèo được điều chỉnh 4 lần vàđược áp dụng cho mọi thành phần trong xã hội
Năm 1993 theo Tổng cục thống kê lấy mức tiêu dùng là 2100 calo nếu quyđổi tương đương với lượng tiêu dùng lương thực, thực phẩm theo giá phù hợp vớitừng thời điểm, từng địa phương thì người dân Việt nam phải có mức thu nhập bìnhquân tối thiểu là 50000đồng/người/tháng ở vùng nông thôn và 70000 đồng đối vớikhu vực thành thị, để làm gianh giới xác định giữa người giàu và người nghèo
Theo cách tình này thì mức thu nhập bình quân đầu người ở các hộ khu vựcnông thôn nước ta được quy ra tiền để xác định gianh giới giữa những hộ giàu và
hộ nghèo như sau:
Loại hộ nghèo: có mức thu nhập bình quân dưới 50000/người/tháng Hộ đóidưới 30000/người/tháng
Loại hộ dưới trung bình: có thu nhập bình quân từ 50000-70000/người/tháng.Loại hộ trung bình: có mức thu nhập bình quân đầu người từ70000-12500/người/tháng
Loại hộ trên trung bình: có mức thu nhập bình quân từ125000-250000/người/tháng
Loại hộ giàu:có thu nhập từ 250000/người/tháng trở lên
Trang 7Sau 1 thời gian căn cứ vào trình độ phát triển của nền kinh tế thì tại thôngbáo số1751/LĐ-TB&XH của bộ LĐ-TB&XH ngày20.5.1997 thì chuẩn mực về đóinghèo được quy định lại như sau:
Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân theo đầu người dưới 13 kggạo/tháng tương đương 45000/tháng đối với tất cả các vùng
Hộ nghèo: là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người 15kg gạo/người/thángtương đương 55000 ở khu vực nông thôn, miền núi
20kg gạo/người/tháng dối với khu vực nông thôn đồng bằng và trung du.25kg gạo/người/tháng đối với khu vực thành thị
Tại quyết định số 1143/2000 QĐLĐTBXH ngày 1.11.2000 của bộ trưởng bộLĐ-TBXH đã phê duyệt chuẩn mức đói nghèo mới giai đoạn 2001-2005 theo mứcthu nhập bình quân đâu người cho từng vùng cụ thể như sau:
Vùng nông thôn miền núi hải đảo: 80000 đồng/người/tháng tương đương
960000 đồng/năm
Vùng nông thôn đồng bằng: 100000 đồng/người/tháng tương đương
1200000 đồng/năm
Vùng thành thị: 150000 đồng/người/tháng tương đương 1800000/năm
Theo tiêu chuẩn này thì tính đến năm 2000, cả nước có khoảng 4 triệu hộnghèo, chiếm tỷ lệ từ 24-25% tổng số hộ trong cả nước Trong đó 4 vùng có tỷ lệđói nghèo trên 30% Ước tính tỷ lệ hộ đói nghèo ở các vùng như sau:
Vùng Số hộ nghèo (1000hộ) Tỷ lệ hộ nghèo (%)
Trang 8Duyên hải miền trung 555.7 31.9
Chuẩn mực đói nghèo là một khái niệm động, phụ thuộc vào phương pháptiếp cận điều kiện kinh tế và thời gian quy định
1.3 Năm vấn đề thách thức trong việc xóa đói giảm nghèo của Việt Nam
Gần 2 thập kỷ nỗ lực đã giúp Việt Nam cơ bản giải quyết được tình trạngtrầm trọng của nghèo đói trên diện rộng, tuy nhiên nó cũng dẫn đến những thay đổicăn bản trên bản đồ nghèo đói Động thái nghèo của Việt Nam đang diễn biến vớihai đặc điểm nổi bật: Về đối tượng, tình trạng nghèo sâu, nghèo kinh niên tập trungvào đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực đặc biệt khó khăn Đây lànhóm dân cư có tốc độ giảm nghèo chậm, luôn đứng trước nguy cơ tái nghèo Bêncạnh đó, người nghèo đô thị đang ngày càng trở thành vấn đề cần được quan tâmtrên bản đồ nghèo đói của Việt Nam; Về phân bố: Tình trạng nghèo và chậm pháttriển của Việt Nam tập trung chủ yếu ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùngbãi ngang ven biển; trong đó “lõi nghèo” tập trung nhiều ở khu vực các tỉnh miềnnúi phía Bắc, Tây Nguyên và Bắc Trung Bộ
Với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, nâng cao đời sống vật chất vàtinh thần của nhân dân, Nghị quyết Đại hội đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác địnhmột trong những nhiệm vụ chủ yếu của phát triển đất nước trong giai đoạn 2011 –
Trang 92015 là “Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ansinh xã hội, giảm tỷ lệ hộ nghèo” Sự nghiệp giảm nghèo được đặt trước giai đoạnphát triển mới mà ở đó mục tiêu giảm nghèo bền vững là một thành tố liên hệ mậtthiết với định hướng chiến lược đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nướccông nghiệp theo hướng hiện đại Từ đó, không ít thách thức mới đã và đang đặt rađối với mục tiêu giảm nghèo bền vững của Việt Nam, đó là:
Vấn đề tái nghèo, cận nghèo: Hiện nay tỷ lệ tái nghèo vẫn chiếm 7-10%trong tổng số thoát nghèo hằng năm Với việc áp dụng chuẩn nghèo mới và tìnhhình giá cả hàng hóa liên tục tăng cao, tình trạng tái nghèo sẽ diễn ra đối với không
ít các hộ mới thoát nghèo hoặc ở mức cận nghèo dễ dàng rơi vào tình trạng nghèokhi gặp những biến động, rủi ro trong cuộc sống như thiên tai, dịch bệnh, ốm đau…Đây là thách thức lớn nhất để bảo vệ thành quả giảm nghèo, và cũng là thách thứcđối với việc đạt được chỉ tiêu giảm hộ nghèo 2%/năm theo mục tiêu mà Nghị quyết
ĐH Đảng XI đề ra;
Với xu hướng nghèo tập trung vào đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số vàkhu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, công tác giảm nghèo trong thời gian tới sẽcàng khó khăn hơn vì đây là khu vực dân cư chịu tác động mạnh mẽ của phong tụctập quán bản địa Mặt khác, việc thiết kế các chính sách xóa đói giảm nghèo chonhóm đối tượng này thời gian qua còn nặng tính bao cấp tạo nên tâm lý ỷ lại, trôngchờ vào nhà nước; một bộ phận dân cư còn mặc cảm, tự ty, cam chịu đói nghèo,thiếu ý chí vươn lên thoát nghèo bằng năng lực của chính mình
Vấn đề giảm nghèo và thực hiện công bằng xã hội: Khoảng cách về thu nhậpgiữa các nhóm dân cư, các vùng địa lý ngày càng doãng rộng trong bối cảnh chỉ sốgiá tiêu dùng (CPI) ngày càng tăng cao đương nhiên đưa tới hệ lụy là làm giảm cơhội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người nghèo Đây là thách thức đặt ra
Trang 10đối với chất lượng và hiệu quả của việc thực hiện chính sách giảm nghèo trong thờigian tới;
Khả năng phát sinh hình thức nghèo mới: Quá trình hội nhập sâu vào nềnkinh tế thế giới cùng tốc độ đô thị hóa tăng nhanh tạo ra luồng dịch chuyển mạnh
mẽ lao động – dân cư từ nông thôn ra thành thị Bên cạnh đó, vấn đề nông dânkhông có đất sản xuất do chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất công nghiệp, đấtdịch vụ và khu đô thị sẽ dẫn tới sự gia tăng người nghèo đô thị Lạm phát và sự giatăng chóng mặt của giá cả khiến rổ hàng hóa thiết yếu của người nghèo đô thị teotóp rất nhanh và đặt ra nhiều vấn đề nan giải để giảm nghèo với đối tượng đặc thùnày từ góc nhìn nghèo đa chiều;
Trong thời gian qua, việc thực hiện các chương trình, dự án giảm nghèo còndàn trải, trùng lắp, thiếu tính đồng bộ Đây là bài toán chi phí– hiệu quả cần được
xử lý cả trên phương diện chính sách vĩ mô và quá trình tổ chức thực hiện, nhằmtập hợp và sử dụng một cách hiệu quả nhất nguồn lực giảm nghèo
Hiệu quả giảm nghèo và vấn đề tiếp cận với chuẩn quốc tế: Để giảm nghèohiệu quả theo mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệptheo hướng hiện đại đòi hỏi việc thiết kế chính sách giảm nghèo phải tiếp cận dầnvới chuẩn quốc tế, trong đó quan trọng nhất là tiêu chí đo nghèo để xác định đúngđối tượng người nghèo Đây là thách thức đòi hỏi việc xây dựng và sử dụng chuẩnnghèo phải khoa học, khách quan, linh hoạt theo hướng tính toán, cập nhật đầy đủnhu cầu chi tiêu tối thiểu của con người, đồng thời cần xem xét một cách thỏa đángcác vấn đề về y tế, môi trường, bình đẳng về cơ hội, và các yếu tố phi thu nhập nhưnhân lực, tài sản, khả năng tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ… để phản ánh được bản chấtnghèo trong giai đoạn mới
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM
NGHÈO CHO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM
Trang 112.1 Những chủ trương, chính sách xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay
Chương trình phát triển nông thôn, thuỷ lợi, giao thông: Đây là chương trìnhđầu tiên và kéo dài thời gian nhất cho đến nay nó vẫn được tiếp tục Đa số ngườingười nghèo tập trung nhiều nhất ở những vùng sâu vùng xa mà chính những nơinày giao thông thuỷ lợi lại rất yếu kếm do đó Nhà nước ta đã có chủ trương hỗ trợcho những khu vực này với khẩu hiệu nhà nước và nhân dân cùng làm Việc pháttriển giao thông và thuỷ lợi sẽ tạo đà cho sự hoà nhập giữa miền ngược và miềnxuôi, thúc đẩy kinh tế miền núi phát triển, tăng năng suất lao động góp phần bình
ổn lương thực trong vùng
Chương trình định canh định cư: Từ những năm đầu của thập kỷ 60 của thế
kỷ XX, đảng và Nhà nước ta đã nhìn nhận vấn đề định canh định cư có tầm vóc cực
kỳ quan trọng nhằm làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội miền núi, vùng dân tộc thực
tế đây là cách sống ổn định văn minh, tiến bộ Nó tác động sâu sắc tới tâm tư tìnhcảm của nhân dân các dân tộc thiểu số, từng bước xoá bỏ những phong tục tập quánlạc hậu, bất lợi cho sự phát triển để hoà nhập vào sự phát triển chung Chương trìnhnày bắt đầu từ 1968, và nó đã trở thành một chương trình rất đắc lực trong việcgiảm nghèo đói Mục tiêu của nó nhằm biến người du canh du cư thành định cư,tức là giúp những người nghèo nhất những người dễ bị rủi ro nhất trở thành nhữngngười sống ổn định, nó có đối tượng phục vụ cụ thể và rất thiết thực đói với ngườinghèổ miền núi
Chương trình tư vấn, dịch vụ, chuyển giao khoa học công nghệ: Đây là mộtchương trình đặc biệt có ý nghĩa trong việc phát triển kinh tế miền núi theo hướngchuyển dịch cơ cầu giống cây trồng mới và sản xuất hàng hoá tập trung Nó đượchiểu là một chương trình bao gồm nhiều công việc, dự án triển khai trên diện rộng,
Trang 12chủ yếu tập trung vào các khâu khuyến nông, khuyến lâm, khoa học kỹ thuật, vật tưsản xuất, tín dụng nông thôn.
Chương trình giải quyết việc làm: Trên cơ sở nghị quyết số 120/HĐBT ngày11-4-1992 một chương trình có tầm quan trọng tác động tới việc xoá đói giảmnghèo đó là chương trình xúc tiến việc làm, chương trình ra đời nhằm giải quyếtgánh nặng nhân lực trong qúa trình tổ chức, xắp xếp lại doanh nghiệp nhà nướctheo yêu cầu đổi mới, cung cấp tín dụng, bồi thường, trợ cấp cho người ra khỏi biênchế nhà nước để tự tạo việc làm, buôn bán nhỏ và các hoạt động kinh tế phù hợpvới kinh tế thị trường
Chương trình tín dụng: Nhà nước ta đã có chủ trương thực hiện các khoản tíndụng cho vay mở rộng tới hộ nông dân, và theo quyết định số 525/TTg ngày 31-8-
1995 của thủ tướng chính phủ cho phép thành lập ngân hàng phục vụ người nghèo
để giúp người nghèo vay vốn phát triển sản xuất, giải quyết đời sống, góp phầnthực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo Ngân hàng phục vụ người nghèo có chứcnăng khai thác các nguồn vồn của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước, tiếpnhận các nguồn vốn của Nhà nước đối với người nghèo và các nguồn vốn khác nhànước cho phép được lập quỹ cho người nghèo vay thực hiện chương trình của chínhphủ đối với người nghèo
Hoạt động của ngân hàng người nghèo vì mục tiêu xoá đói giảm nghèo,không vì mục đích lợi nhuận, thực hiện bảo tồn vốn ban đầu, phát triển vốn, bù đắpchi phí Ngân hàng phục vụ người nghèo thực hiện việc cho vay trực tiếp đến hộnghèo có sức lao động nhưng thiếu vốn, được cho vay để phát triển sản xuất, khôngphải thế chấp tài sản, có hoàn trả vốn, và theo lãi suất quy định Ngân hàng phục vụngười nghèo được xét miễn thuế doanh thu và thuế lợi tức để giảm lãi suất cho vayđối với người nghèo Các rủi ro trong quá trình hoạt động phục vụ người nghèođược bù đắp bằng quỹ bù đắp rủi ro theo quy chế tài chính của bộ tài chính
Trang 13Sau bẩy năm họat động ngay 4-10-2002 chính phủ đã ban hành nghị định 78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với người nghèo và đối tượng chính sách khác trong đó ghi
rõ thành lập ngân hàng chính sách xã hội để thực hiện tín dụng ưu đãi đối với ngườinghèo và các đối tượng chính sách khác trên cơ sở tổ chức lại ngân hàng ngườinghèo đưa ngân hàng người nghèo trở thành một ngân hàng hoàn chỉnh giúp choviệc thực hiện các chức năng của mình hiệu quả hơn
Chương trình giáo dục y tế với mục tiêu xoá đói giảm nghèo
Chương trình giáo dục: Có thể gói gọn chương trình giáo dục trong khuônkhổ đóng góp huặc tác động vào vào việc xoá đói giảm nghèo gồm: Chương trìnhnâng cao chất lượng phổ thông các cấp Chương trình củng cố và mở rộng cơ sở vậtchất kỹ thuật cho giáo dục tiểu học Chương trình tăng cường đẩy mạnh giáo dụcphi chính thức Chương trình cải tiến hệ thống dậy nghề đáp ứng nhu cầu thịtrường Chương trình 7 của Bộ giáo dục và đào tạo về hệ thống trường phổ thôngdân tộc nội trú
Chương trình y tế: Chương trình y tế chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dânnói chung vốn có thâm niên từ trước rất lâu so với chương trình xoá đói giảmnghèo Trong chương trình chung lại có chương trình bảo vệ bà mệ trẻ em, đó làhai đối tượng dễ bị tổn thương và rủi ro trong cuộc sống xã hội và gia đình Nhữngchương trình hoạt động chính trong khuôn khổ xoá đói giảm nghèo bao gồmchương trình phòng chống bệnh bướu cổ, phòng chống bệnh sốt rét, nước sạch chosinh hoạt nông thôn, tiêm chủng mở rộng, xoá xã trắng về y tế Những chương trìnhnày nhằm cải thiện và nâng cao khả năng đề kháng đối với bệnh tật, chữa trị vàphòng ngừa bệnh dịch hay xẩy ra ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Chương trình quốc gia số 06/CP: Chương trình quốc gia số 06/cp là chươngtrình về phòng chống và kiểm soát ma tuý theo nghị quyết số 60/CP của chính phủ
ra ngày 29-01-1993 Chương trình này này được triển khai nhằm mục tiêu phòng
Trang 14và kiểm soát ma tuý mang ý nghĩa chính trị xã hội và quốc tế rộng lớn Song quátrình thực hiện nó lại có ý nghĩa rất lớn đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vận độngđồng bào dân tộc từ bỏ trồng cây thuốc phiện và thay thế cây trồng vật nuôi để bùđắp sự hẫng hụt từ việc mất nguồn thu từ cây thuốc phiện.
Chương trình hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn: Chương trình này bắt đầu từnăm 1992, mục tiêu nhằm vào các dân tộc thiểu số khó khăn và có dân số ít ( trêndưới một vạn người ) Đa số những dân tộc này nằm ở vùng sâu vùng xa khó khăn
về mọi mặt: kinh tế, giáo dục, y tế, giao thông, văn hoá thông tin… Những dân tộcquá cách biệt với các khu vực kinh tế đang năng động và hầu như chưa được cơ chếthị trường ảnh hưởng và tác động tới Tính đặc biệt của chương trình này là đầu tưkhông hoàn lại tức là cho không
Chương trình bảo vệ môi trường: Có thể nói những năm qua, chính phủ đã cónhiều cố gắng trong việc bảo vệ môi trường, chi phí cho việc bảo vệ môi trườngnăm sau lớn hơn năm trước mà nổi bật là chương trình 327 phủ xanh đất chống đồitrọc Chương trình bảo vệ môi trường mà nước ta triển khai nhằm mục tiêu nângcao kiến thức, tập huấn kỹ thuật cho đồng bào miền núi Những yêu cầu, biện phápbảo vệ môi trường dễ hiểu, thiêt thực đối với họ Đồng thời có các chương trìnhchyển giao khoa học kỹ thuật để họ có thể thâm canh tăng năng suất lao động trênđất nông nghiệp hiện có và quan trọng hơn là không mở rộng diện tích canh tác khidân số tăng huặc do thiếu đất bằng cách chuyển đất rừng làm nương rẫy Tuy trọngtâm của những chương trình được triển là tập trung vào việc xoá đói giảm nghèogiải quyết những bức xúc của người nghèo nhưng không cho phép xâm hại phá vỡtính ổn định của tự nhiên nói cách khác xoá đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường
là hai mặt của một quá trình cải thiện tính bên vững của môi trường sống, có giá trịlâu bền với đồng bào các dân tộ thiểu số
2.2 Kết quả thực hiện: Thành tựu và những hạn chế