CSPL: điểm a khoản 1 Điều 9 BLHS 2015 “a Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy
Trang 1TRƯỜNG ĐH LUẬT TP HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH – NHÀ NƯỚC
LỚP HC45A1
BUỔI THẢO LUẬN HÌNH SỰ LẦN HAI
Trang 2MỤC LỤC NHẬN ĐỊNH
Câu 1: Căn cứ để phân loại tội phạm theo Điều 9 BLHS năm 2015 là mức hình phạt do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội 3 Câu 2: Những tội phạm mà người thực hiện bị Toà án tuyên phạt từ 3 năm tù trở xuống đều là tội phạm ít nghiêm trọng 3 Câu 4: Trong một tội danh luôn có cả ba loại cấu thành tội phạm: cấu thành cơ bản, cấu thành tăng nặng và cấu thành giảm nhẹ 4 Câu 5: Trong cấu thành tội phạm giảm nhẹ không có dấu hiệu định tội 4 Câu 6: Một tội phạm mà trên thực tế chưa gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội là tội phạm
có cấu thành hình thức 4
BÀI TẬP 1
Câu 1: Căn cứ vào Điều 9 BLHS thì loại tội phạm mà A thực hiện là loại tội gì? Tại sao? .5 Câu 2: Tội trộm cắp tài sản là tội phạm có cấu thành tội phạm (CTTP) vật chất hay CTTP hình thức? Tại sao? 5 Câu 3: Hành vi phạm tội của A thuộc trường hợp CTTP cơ bản, CTTP tăng nặng hay CTTP giảm nhẹ? Tại sao? 6
BÀI TẬP 6
Câu hỏi: Hãy xác định A có phải chịu TNHS về hành vi của mình hay không 7
BÀI TẬP 7
Câu 1: Đối tượng tác động của hành vi phạm tội của A là gì? 7
Trang 3Câu 2: Hành vi của A đã xâm phạm khách thể trực tiếp nào? 8 Câu 3: Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả trong vụ án này thuộc loại nào? Tại sao? 8 Câu 4: Lỗi của A là loại lỗi gì? Tại sao? 8 Câu 5: H có lỗi trong việc gây ra cái chết của bé Trung không? Nếu có là lỗi gì? Tại sao? .9
DANH MỤC THAM KHẢO 10
Trang 4NHẬN ĐỊNH Câu 1: Căn cứ để phân loại tội phạm theo Điều 9 BLHS năm 2015 là mức hình phạt do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội.
Nhận định sai
Vì: Căn cứ để phân loại tội phạm theo Điều 9 BLHS 2015 là dựa trên tính chất và
mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi để phân loại tội phạm Để xác định loại tội phạm thì dựa vào mức cao nhất của khung hình phạt, không dựa vào mức hình phạt do Tòa án tuyên
Câu 2: Những tội phạm mà người thực hiện bị Toà án tuyên phạt từ 3 năm tù trở xuống đều là tội phạm ít nghiêm trọng.
Nhận định sai
Vì: Tội phạm ít nghiêm trọng hay nghiêm trọng hay rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng là căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt với tội phạm đó chứ không căn cứ vào mức hình phạt do tòa án tuyên Một tội phạm bị tuyên phạt 3 năm tù có thể là tội ít nghiêm trọng hoặc có thể không
Ví dụ: khoản 1 Điều 171 BLHS 2015 quy định về Tội cướp giật tài sản có khung
hình phạt là 1 năm đến 5 năm Tòa án có thể tuyên mức hình phạt đối với người phạm tội
là 3 năm Tuy nhiên dựa vào mức cao nhất của khung hình phạt là 5 năm thì Tội cướp
giật tài sản là loại tội phạm nghiêm trọng theo điểm b khoản 1 Điều 9 BLHS 2015.
CSPL: điểm a khoản 1 Điều 9 BLHS 2015
“a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho
xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;”
Trang 5Câu 4: Trong một tội danh luôn có cả ba loại cấu thành tội phạm: cấu thành
cơ bản, cấu thành tăng nặng và cấu thành giảm nhẹ.
Nhận định sai
Vì: Bất cứ tội danh nào cũng có CTTP cơ bản vì nó có dấu hiệu định tội – dấu hiệu
mô tả tội phạm và cho phép phân biệt tội phạm này với tội phạm khác, đồng thời quy định tội danh và điều luật áp dụng Ngoài cấu thành tội phạm cơ bản thì các tội danh có thể có một hoặc nhiều cấu thành tăng nặng hoặc giảm nhẹ
Ví dụ: Điều 108 BLHS 2015 đối với tội phản bội Tổ quốc chỉ có CTTP cơ bản và
CTTP giảm nhẹ không có CTTP tăng nặng
Câu 5: Trong cấu thành tội phạm giảm nhẹ không có dấu hiệu định tội.
Nhận định sai
Vì: Bất cứ tội danh nào cũng có CTTP cơ bản vì nó có dấu hiệu định tội – dấu hiệu
mô tả tội phạm và cho phép phân biệt tội phạm này với tội phạm khác Cấu thành tội phạm giảm nhẹ là cấu thành tội phạm bao gồm dấu hiệu định tội và những dấu hiệu định khung giảm nhẹ phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm giảm đi đáng kể
Ví dụ: Khoản 2 Điều 108 BLHS 2015 quy định CTTP giảm nhẹ của tội phản bội
Tổ quốc mà dấu hiệu phạm tội “Có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS” là dấu hiệu định khung giảm nhẹ
Câu 6: Một tội phạm mà trên thực tế chưa gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội
là tội phạm có cấu thành hình thức.
Nhận định sai
Vì: Cấu thành tội phạm hình thức là cấu thành tội phạm mà mặt khách quan chỉ có hành vi là dấu hiệu bắt buộc Tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức được coi là hoàn thành khi người phạm tội thực hiện hết các hành vi khách quan được quy định trong cấu thành tội phạm Vậy dấu hiệu gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội không phải là dấu hiệu
Trang 6bắt buộc của tội phạm có cấu thành hình thức Tuy nhiên vẫn có những tội phạm là cấu thành tội phạm hình thức có gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội
BÀI TẬP 1
Đề bài: A trộm cắp tài sản của B trị giá 70 triệu đồng Hành vi của A cấu thành tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 BLHS và bị Tòa án tuyên phạt 2 năm tù giam Anh (chị) hãy xác định:
Câu 1: Căn cứ vào Điều 9 BLHS thì loại tội phạm mà A thực hiện là loại tội gì? Tại sao?
Căn cứ Điều 9 BLHS thì loại tội phạm mà A thực hiện là loại tội phạm nghiêm trọng
Vì: A đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với giá trị là 70 triệu đồng Căn cứ
điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS 2015 thì chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng
đến dưới 200.000.000 đồng sẽ bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm Mức cao nhất của khung
hình phạt là 7 năm Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 9 BLHS 2015 thì tội phạm mà A thực
hiện là loại tội phạm nghiêm trọng Để xác định loại tội phạm thì dựa vào mức cao nhất của khung hình phạt, không dựa vào mức hình phạt do Tòa án tuyên
CSPL: điểm b khoản 1 Điều 9 BLHS 2015.
"b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;"
Câu 2: Tội trộm cắp tài sản là tội phạm có cấu thành tội phạm (CTTP) vật chất hay CTTP hình thức? Tại sao?
Tội trộm cắp tài sản là tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất
Vì:
Trang 7- Cấu thành tội phạm vật chất là cấu thành tội phạm mà mặt khách quan có các dấu hiệu hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả là dấu hiệu bắt buộc
- Hành vi nguy hiểm cho xã hội của tội trộm cắp tài sản thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, hành vi gây thiệt hại cho quan hệ xã hội Luật Hình sự bảo vệ, cụ thể là quyền sở hữu tài sản của người khác Thứ hai, hành vi này là trái pháp luật được quy định trong BLHS, cụ
thể là khoản 2 Điều 173 BLHS 2015 Thứ ba, hành vi này là hoạt động có ý thức và ý chí
của chủ thể thực hiện hành vi phạm tội
- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội trộm cắp tài sản tuy không được nêu trong cấu thành tội phạm nhưng thực tế phải có thiệt hại xảy ra, cụ thể là thiệt hại về tài sản với mức độ thiệt hại là 70 triệu đồng, thì mới cấu thành tội trộm cắp tài sản được
- Mối quan hệ nhân quả của tội trộm cắp tài sản với xã hội là hành vi trái pháp luật trên của A sẽ gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội
Câu 3: Hành vi phạm tội của A thuộc trường hợp CTTP cơ bản, CTTP tăng nặng hay CTTP giảm nhẹ? Tại sao?
Hành vi phạm tội của A thuộc trường hợp CTTP tăng nặng
Vì: Khi xét về CTTP cơ bản là CTTP chỉ có dấu hiệu định tội - dấu hiệu mô tả tội phạm và cho phép phân biệt tội phạm này với tội khác cũng như cho phép phân biệt với
trường hợp chưa phải là tội phạm thì khoản 1 Điều 173 BLHS 2015 chính là CTTP cơ
bản Mà trong tình huống này, A trộm cắp tài sản trị giá 70 triệu đồng và hành vi của A bị
cấu thành tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 BLHS 2015 nên hành vi phạm tội
của A là CTTP tăng nặng vì ngoài dấu hiệu định tội còn có thêm dấu hiệu định khung tăng nặng – dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ nguy hiểm cho xã hội tăng lên một cách đáng kể
Trang 8BÀI TẬP 6
Đề bài: A 15 tuổi 6 tháng đã thực hiện hành vi được quy định tại khoản 3 Điều 260 BLHS Hãy xác định A có phải chịu TNHS về hành vi của mình hay không (Biết rằng tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260 BLHS) được thực hiện với lỗi vô ý).
Câu hỏi: Hãy xác định A có phải chịu TNHS về hành vi của mình hay không.
A không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình
Vì: Mặc dù A có hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 260 BLHS 2015 về tham gia giao thông đường bộ Nhưng xét theo quy định tại Điều 12 BLHS 2015 quy
định về độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự thì độ tuổi của A thuộc khoản 2 điều này
Theo khoản 2 Điều 12 BLHS 2015 thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu
trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171,
173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ
luật này Trong trường hợp này, A vi phạm với lỗi vô ý quy định tại Điều 260 BLHS
2015 nhưng không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS 2015 nên
A không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình
BÀI TẬP 7
Đề bài: A là bác sĩ đa khoa có mở phòng mạch riêng Trong lúc khám bệnh A
đã kê toa thuốc cho bé Hoài Trung (3 tuổi) theo toa của người lớn Do sơ suất, A không kiểm tra toa thuốc trước khi trao cho người nhà của bé Trung Người nhà của bé Trung đến tiệm thuốc do H đứng bán H bán thuốc theo toa của A mặc dù trên toa thuốc có ghi tuổi của bệnh nhân là 3 tuổi Bé Trung do uống thuốc quá liều nên bị tử vong Anh (chị) hãy xác định:
Câu 1: Đối tượng tác động của hành vi phạm tội của A là gì?
Đối tượng tác động của hành vi phạm tội của A là bé Trung
Trang 9Câu 2: Hành vi của A đã xâm phạm khách thể trực tiếp nào?
Hành vi của A đã xâm phạm khách thể trực tiếp là tính mạng bé Trung
Câu 3: Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả trong vụ án này thuộc loại nào? Tại sao?
Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả trong vụ án này thuộc loại quan hệ nhân quả kép trực tiếp
Vì: Mối quan hệ nhân quả kép trực tiếp là dạng mối quan hệ nhân quả trong đó có nhiều hành vi trái pháp luật đóng vai trò là nguyên nhân gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội Xét trong tình huống trên, có 2 hành vi trái pháp luật do 2 chủ thể phạm tội thực hiện gây hậu quả là cái chết của bé Trung Đó là hành vi kê toa thuốc sai do vô ý của A và hành vi bán thuốc sai do cố ý của H Phải kết hợp cả 2 hành vi trái pháp luật của A và H mới có khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả là cái chết của bé Trung Bởi lẽ, nếu chỉ xét từng hành vi trái pháp luật thì chưa thể dẫn đến cái chết của bé Trung: Nếu A do vô ý
kê toa thuốc sai cho bé Trung nhưng người bán thuốc là H biết toa thuốc sai và bán thuốc đúng thì bé Trung sẽ không tử vong
Câu 4: Lỗi của A là loại lỗi gì? Tại sao?
Lỗi của A được xác định là lỗi vô ý do cẩu thả
Vì: Xét các dấu hiệu pháp lý trong tình huống trên
- Người phạm tội không thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà hành vi của mình gây ra: A không thấy trước được hành vi kê toa thuốc sai của mình sẽ dẫn đến cái chết cho bé Trung do A không biết là mình đã kê toa sai
- Người phạm tội phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội sẽ xảy ra: A là bác sĩ có đầy đủ khả năng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ nên A đáng
lẽ phải kê toa thuốc đúng cho bệnh nhân và có thể thấy trước hành vi kê toa thuốc sai của mình sẽ dẫn đến cái chết cho bé Trung
Trang 10Qua các tiêu chí trên ta xác định được lỗi của A Trong tình huống trên A là một bác sĩ và phải tự mình biết được những hậu quả khôn lường từ việc không kiểm tra kĩ các toa thuốc Tuy nhiên A đã sơ suất, cẩu thả, không cẩn thận kiểm tra xem toa của mình kê cho bé Trung dẫn đến hậu quả là bé tử vong do quá liều
CSPL: khoản 2 Điều 11 BLHS 2015
“2 Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.”
Câu 5: H có lỗi trong việc gây ra cái chết của bé Trung không? Nếu có là lỗi gì? Tại sao?
H cũng có lỗi trong việc gây ra cái chết của bé Trung Cụ thể là lỗi cố ý gián tiếp Vì: Xét các dấu hiệu pháp lý trong tình huống trên
- Về mặt lí trí: Nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện, thấy trước hành vi đó có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội: H nhìn thấy trên toa thuốc độ tuổi của bé Trung và đối với một người bán thuốc có đầy đủ trình độ chuyên môn nghiệp vụ thì H phải nhận thức rõ được hành vi bán thuốc sai của mình là nguy hiểm sẽ dẫn đến hậu quả là cái chết của bé Trung
- Về mặt ý chí: Người phạm tội không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra: H không mong muốn cái chết của bé Trung nhưng vẫn bán thuốc theo toa kê sai để mặc cho hậu quả đó xảy ra Hậu quả cái chết của bé Trung
mà H thấy trước không phải là mục đích của H H thực hiện hành vi phạm tội là nhằm mục đích lợi nhuận trước mắt của mình
Qua các tiêu chí trên ta xác định được lỗi của H Trong tình huống trên H là một người bán thuốc và lẽ ra phải có sự hiểu biết về loại thuốc mình bán Tuy nhiên khi H kê thuốc dù biết loại trong đơn dành cho người lớn, thêm nữa lại thấy tuổi của bệnh nhân là
3 tuổi thì vẫn kê thuốc, dù không muốn gây ra hậu quả nguy hiểm nhưng đã gián tiếp tiếp tay cho hành vi nguy hiểm của người trước đó là A, để mặc cho hậu quả vẫn xảy ra là
Trang 11tiếp tục bán thuốc mà không có sự cảnh báo hay nhắc nhở cho người đưa bé Trung đi khám vì lợi nhuận trước mắt của mình Dẫn đến hậu quả bé Trung tử vong mà H vẫn có khả năng ngăn chặn tuy nhiên đã để mặc
CSPL: khoản 2 Điều 10 BLHS 2015
“2 Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức
để mặc cho hậu quả xảy ra.”
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
A VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT:
1 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 20181, được sửa đổi, bổ sung bởi:
Luật số 12/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018
B TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT:
1 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, Giáo trình luật hình sự Việt Nam - Phần Chung, Nxb Hồng Đức, 2018
2 Hướng dẫn học tập môn Luật hình sự - Phần Chung, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2018