1. Trang chủ
  2. » Biểu Mẫu - Văn Bản

THẢO-LUẬN-HÌNH-SỰ-LẦN-3-NHÓM.docx

14 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 51,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là hành vi bắt, giữ hoặc giam người khác trái với quy định của pháp luật hiện hành về việc bắt, giữ hoặc giam người.. Các tội bắt, giữ hoặ

Trang 1

TRƯỜNG ĐH LUẬT TP HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH – NHÀ NƯỚC

LỚP HC45A1

BUỔI THẢO LUẬN HÌNH SỰ LẦN BA

Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Thùy Dung

Thành viên:

1 Bùi Khánh An 2053801014002

2 Huỳnh Hoàng Ân 2053801014003

3 Đỗ Lê Trúc Anh 2053801014005

4 Lê Phạm Kiều Anh 2053801014006

5 Ngô Minh Anh 2053801014007

6 Phạm Phương Anh (Nhóm trưởng) 2053801014010

7 Trần Đức Anh 2053801014013

8 Huỳnh Trương Ngọc Ánh 2053801014017

9 Phạm Ngọc Bảo 2053801014019

Trang 2

MỤC LỤC

NHẬN ĐỊNH 1

Câu 30: Hậu quả nạn nhân chết là dấu hiệu định tội của Tội vứt bỏ con mới đẻ (Điều 124 BLHS) 1

Câu 31: Hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể của người khác chỉ được quy định là tình tiết định khung của Tội giết người tại điểm h khoản 1 Điều 123 BLHS 1

Câu 33: Chủ thể của Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157 BLHS) chỉ là người không có thẩm quyền mà thực hiện việc bắt, giữ hoặc giam người 2

Câu 36: Đối tượng tác động của Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật (Điều 162 BLHS) chỉ là công chức, viên chức hoặc người lao động của các cơ quan Nhà nước 2

Câu 40: Mọi trường hợp đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác đều cấu thành Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 182 BLHS) 3

Câu 42: Giao cấu thuận tình với người có cùng dòng máu về trực hệ là hành vi chỉ quy định trong cấu thành Tội loạn luân được quy định tại Điều 184 BLHS 4

BÀI TẬP 15 4

Đề bài: 4

Câu hỏi: Hãy xác định A phạm tội gì nếu: 4

a Nạn nhân chết; 4

b Nạn nhân bị thương nặng; 5

b Nạn nhân bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể 21% 7

BÀI TẬP 16 7

Đề bài: 7

Câu hỏi: Hãy xác định ông M có tội không? Nếu có là tội gì? 8

BÀI TẬP 19 9

Đề bài: 9

Câu hỏi: Trong tình huống trên, ai phạm tội? Nếu có phạm tội gì? Tại sao? 9

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 4

NHẬN ĐỊNH Câu 30: Hậu quả nạn nhân chết là dấu hiệu định tội của Tội vứt bỏ con mới đẻ (Điều 124 BLHS).

Nhận định đúng

Tội vứt con mới đẻ được hiểu là hành vi của người mẹ do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà vứt bỏ con do mình đẻ ra trong 07 ngày tuổi dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết

Tội vứt con mới đẻ có cấu thành vật chất Hành vi khách quan của tội vứt con mới

đẻ là hành vi vứt bỏ trẻ ở lại bất cứ nơi nào, thường ở những nơi hoang vắng, ở nhà vệ sinh… Hậu quả của tội phạm này là nạn nhân (trẻ mới đẻ) bị tử vong Tuy nhiên, đối với tội vứt con mới đẻ thì hậu quả đứa trẻ chết là xác định tội phạm đã cấu thành Nếu nạn nhân không chết thì không cấu thành tội phạm Hậu quả đứa trẻ chết phải có nguyên nhân

từ hành vi của người mẹ do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà vứt bỏ con

Như vậy, hậu quả nạn nhân chết là dấu hiệu định tội của Tội vứt bỏ con mới đẻ, nếu đứa trẻ không chết thì không cấu thành tội phạm này

Cơ sở pháp lý: Điều 124 BLHS 2015

Câu 31: Hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể của người khác chỉ được quy định

là tình tiết định khung của Tội giết người tại điểm h khoản 1 Điều 123 BLHS.

Nhận định sai

Hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể của người khác được quy định là tình tiết định khung của Tội giết người tại điểm h khoản 1 Điều 123 BLHS 2015, Tội mua bán người tại điểm b khoản 1 và điểm b khoản 3 Điều 150 BLHS 2015, Tội mua bán người dưới 16 tuổi tại điểm b khoản 1 và điểm d khoản 3 Điều 151 BLHS 2015 Ngoài ra, hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể người khác còn cấu thành một tội phạm riêng biệt đó là Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người tại Điều 154 BLHS 2015

Cơ sở pháp lý: điểm h khoản 1 Điều 123 BLHS 2015; điểm b khoản 1 và điểm b khoản 3 Điều 150 BLHS 2015; điểm b khoản 1 và điểm d khoản 3 Điều 151 BLHS 2015; Điều 154 BLHS 2015

Trang 5

Câu 33: Chủ thể của Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157 BLHS) chỉ là người không có thẩm quyền mà thực hiện việc bắt, giữ hoặc giam người.

Nhận định sai

Các tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là hành vi bắt, giữ hoặc giam người khác trái với quy định của pháp luật hiện hành về việc bắt, giữ hoặc giam người

Các tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là tội phạm có cấu thành hình thức với hành vi khách quan bao gồm các hành vi là hành vi bắt người trái pháp luật; hành vi giữ người trái pháp luật và hành vi giam người trái pháp luật Các trường hợp sau đây được coi là bắt, giữ, giam người trái pháp luật và bị xử lý theo tội này bao gồm: Hành vi bắt, giữ, giam người, trừ trường hợp đối với người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy

nã thì ai cũng có quyền bắt theo quy định tại Điều 111, 112 BLTTHS 2015; Hành vi của người có chức vụ quyền hạn đã tạm giữ người không tuân thủ quy định của tạm giữ người theo thủ tục hành chính theo quy định của Điều 122 Luật xử lý vi phạm hành chính

2012 (được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 102 Luật hải quan năm 2014)

Như vậy, chủ thể của Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157 BLHS 2015) không chỉ là người không có thẩm quyền thực hiện việc bắt, giữ hoặc giam người

mà chủ thể của tội này là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định

Cơ sở pháp lý: Điều 111, 112 BLTTHS 2015; Điều 122 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012; khoản 1 Điều 102 Luật hải quan năm 2014; Điều 157 BLHS 2015

Câu 36: Đối tượng tác động của Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc

sa thải người lao động trái pháp luật (Điều 162 BLHS) chỉ là công chức, viên chức hoặc người lao động của các cơ quan Nhà nước.

Nhận định sai

Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật

là hành vi vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng

Tội phạm này xâm phạm đến quyền được lao động của công dân Quyền được lao động là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp Quy định này đã được cụ thể hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật cũng như trong

2

Trang 6

các chính sách của Nhà nước, nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của công chức, viên chức, người lao động Đối tượng tác động của tội phạm này là công chức, viên chức, người lao động làm việc trong cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau

Như vậy, đối tượng tác động của Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật (Điều 162 BLHS) không chỉ là công chức, viên chức hoặc người lao động của các cơ quan Nhà nước mà còn có các tổ chức xã hội, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau

Cơ sở pháp lý: Điều 162 BLHS 2015

Câu 40: Mọi trường hợp đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác đều cấu thành Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 182 BLHS).

Nhận định sai

Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng là hành vi của người đang có vợ, có chồng

mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa

có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang

có chồng, có vợ làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn hoặc đã

bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm

Hành vi khách quan của tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng được thể hiện bằng các trường hợp cụ thể sau đây: Hành vi của người mặc dù đang có vợ, đang có chồng mà vẫn kết hôn với người khác; Hành vi của người chưa có vợ, chưa có chồng kết hôn với người khác mặc dù biết rõ người mà mình kết hôn đang có chồng, có vợ; Hành vi của người mặc dù đang có vợ, đang có chồng chung sống như vợ chồng với người khác mặc

dù biết rõ người này đang có chồng, đang có vợ Các hành vi nêu trên chỉ cấu thành tội phạm vi phạm chế độ một vợ một chồng khi phải dẫn tới hệ quả là làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này

mà vẫn tiếp tục vi phạm

Như vậy, không phải mọi trường hợp đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác đều cấu thành Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 182 BLHS)

Cơ sở pháp lý: Điều 182 BLHS 2015

Trang 7

Câu 42: Giao cấu thuận tình với người có cùng dòng máu về trực hệ là hành vi chỉ quy định trong cấu thành Tội loạn luân được quy định tại Điều 184 BLHS.

Nhận định sai

Tội loạn luân là hành vi giao cấu với người mà mình biết rõ là có cùng dòng máu về trực hệ, với anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha

Hành vi khách quan của tội loạn luân cụ thể gồm các trường hợp: Hành vi thuận tình giao cấu giữa những người cùng dòng máu trực hệ như giữa cha và con gái, giữa mẹ

và con trai, giữa - nội với cháu gái nội, giữa bà nội với cháu trai nội, giữa ông ngoại với cháu gái ngoại, giữa bà ngoại với cháu trai ngoại; Hành vi thuận tình giao cấu giữa anh chị em cùng cha me, giữa anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha Mặc dù

có sự giao cấu thuận tình nhưng nếu giao cấu với trẻ em chưa đủ 16 tuổi cùng dòng máu trực hệ hoặc giữa anh chị em cùng cha mẹ, giữa anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng

mẹ khác cha, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm c khoản 2 Điều 145 BLHS

2015 về tội giao cấu đối với người dưới 16 tuổi (đối với trẻ em từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi) hoặc khoản 4 Điều 142 BLHS 2015 về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (nếu trẻ em chưa

đủ 13 tuổi)

Cơ sở pháp lý: Điều 184 BLHS 2015; điểm c khoản 2 Điều 145 BLHS 2015; khoản

4 Điều 142 BLHS 2015

BÀI TẬP 15

Đề bài:

A và B cùng đi săn A nhìn thấy một con gà rừng liền giơ súng lên ngắm bắn B thấy gần đó có một người đang bẻ măng nên ngăn đừng bắn và nói rằng: “Thôi đừng bắn nữa, nhỡ trúng người ta thì chết” A tiếp tục rê súng theo con gà rừng và đáp lại: “Mày chưa biết tài bắn của tao à! Chưa bao giờ tao bắn trượt cả” Nói xong, A bóp cò, không ngờ đạn trúng vào người bẻ măng.

Câu hỏi: Hãy xác định A phạm tội gì nếu:

a Nạn nhân chết;

Hành vi của A cấu thành tội vô ý làm chết người theo quy định tại Điều 128 BLHS 2015

4

Trang 8

Hành vi A đã có đủ các dấu hiệu pháp lý cấu thành Tội vô ý làm chết người (Điều

128 BLHS 2015):

- Về khách thể:

+ Khách thể: Tính mạng của người bẻ măng

+ Đối tượng tác động: Người bẻ măng

- Về mặt khách quan:

+ Hành vi khách quan: A nhìn thấy một con gà rừng liền giơ súng lên ngắm bắn, không ngờ đạn trúng người bẻ măng ở gần đó

+ Hậu quả nguy hiểm cho xã hội: Người bẻ măng chết

+ Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả: Việc A nhìn thấy một con gà rừng liền giơ súng lên ngắm bắn, không ngờ đạn trúng người bẻ măng ở gần đó là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết của người bẻ măng

- Về mặt chủ quan: A thực hiện hành vi của mình với lỗi vô ý vì quá tự tin A nhận thức được hành vi giơ súng ngắm bắn con gà rừng sát gần chỗ người đang bẻ măng

là hành vi nguy hiểm, có thể dẫn tới cái chết của người bẻ măng nhưng A cho rằng hậu quả không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được vì A tự tin vào tài bắn súng của mình

- Về chủ thể: A đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đủ độ tuổi quy định

b Nạn nhân bị thương nặng;

Cần phải xem xét tổn thương cơ thể của nạn nhân là bao nhiêu để định tội danh

* Trường hợp 1: Nạn nhân bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 31%

Trong trường hợp này, A không phạm bất cứ tội nào theo quy định của BLHS 2015

* Trường hợp 2: Nạn nhân bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% Trong trường hợp này, A phạm Tội vô ý gây thương tích cho người khác tại khoản

1 Điều 138 BLHS 2015 vì hành vi của A đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội này Cụ thể:

- Về khách thể:

+ Khách thể: Sức khỏe của người bẻ măng

Trang 9

+ Đối tượng tác động: Người bẻ măng.

- Về mặt khách quan:

+ Hành vi khách quan: A có hành vi vô ý gây thương tích, cụ thể A rê súng theo con gà rừng rồi bóp cò, nhưng không ngờ đạn trúng vào người bẻ măng

+ Hậu quả nguy hiểm cho xã hội: Người bẻ măng bị thương nặng (với tỷ

lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%);

+ Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả: Việc A rê súng theo con gà rừng rồi bóp cò khiến đạn trúng vào người bẻ măng là nguyên nhân trực tiếp khiến người bẻ măng bị thương nặng

- Về mặt chủ quan: A thực hiện hành vi của mình với lỗi vô ý vì quá tự tin A nhận thức được hành vi giơ súng ngắm bắn con gà rừng sát gần chỗ người đang bẻ măng

là hành vi nguy hiểm, có thể dẫn tới tổn thương sức khỏe của người bẻ măng nhưng A cho rằng hậu quả không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được vì A tự tin vào tài bắn súng của mình

- Về chủ thể: A đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đủ độ tuổi quy định

* Trường hợp 3: Nạn nhân bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên Trong trường hợp này, A phạm Tội vô ý gây thương tích cho người khác tại điểm b khoản 2 Điều 138 BLHS 2015 vì hành vi của A đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội này Cụ thể:

- Về khách thể:

+ Khách thể: Sức khỏe của người bẻ măng

+ Đối tượng tác động: Người bẻ măng

- Về mặt khách quan:

+ Hành vi khách quan: A có hành vi vô ý gây thương tích, cụ thể A rê súng theo con

gà rừng rồi bóp cò, nhưng không ngờ đạn trúng vào người bẻ măng

+ Hậu quả nguy hiểm cho xã hội: Người bẻ măng bị thương nặng (với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên);

6

Trang 10

+ Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả: Việc A rê súng theo con gà rừng rồi bóp cò khiến đạn trúng vào người bẻ măng là nguyên nhân trực tiếp khiến người bẻ măng bị thương nặng

- Về mặt chủ quan: A thực hiện hành vi của mình với lỗi vô ý vì quá tự tin A nhận thức được hành vi giơ súng ngắm bắn con gà rừng sát gần chỗ người đang bẻ măng là hành vi nguy hiểm, có thể dẫn tới tổn thương sức khỏe của người bẻ măng nhưng A cho rằng hậu quả không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được vì A tự tin vào tài bắn súng của mình

- Về chủ thể: A đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đủ độ tuổi quy định

b Nạn nhân bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể 21%.

Trong trường hợp này, A không phạm Tội vô ý gây thương tích cho người khác (Điều 138 BLHS 2015) bởi lẽ dấu hiệu hậu quả của tội này yêu cầu nạn nhân phải bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên, trong khi nạn nhân chỉ bị thương với tỷ

lệ tổn thương cơ thể là 21%

BÀI TẬP 16

Đề bài:

Ông M và bà H lấy nhau đã được 30 năm nhưng hai người không có con chung Ông M thường xuyên vắng nhà, có khi nhiều ngày không hề về nhà Quan hệ của M và H cứ như thế đã nhiều năm Cuộc sống tẻ nhạt của bà H thật sự trở thành địa ngục khi bà biết ông M lừa dối bà: ông M đang có vợ bé và đang có một con chung với người vợ này.

Đúng vào ngày sinh nhật thứ 53 của bà H, ông M trở về nhà chìa vào mặt bà H

tờ đơn xin ly hôn Bà H buồn rầu nói qua hai hàng nước mắt: “Ông thật tàn ác, hôm nay là sinh nhật tôi cơ mà! Tôi hận ông đã lừa dối tôi suốt bấy nhiêu năm Không cần đơn chi hết Tôi sẽ chết cho ông rảnh nợ mà đi lấy người ta Ông đừng có cản tôi, tôi đã quyết vậy rồi”.

Ông M buông lời lạnh lùng: “Bà làm gì mặc xác bà Tôi cần một chữ ký của bà

vô tờ đơn gửi tòa thôi”.

Trang 11

Nghe vậy bà H leo lên thành cửa sổ (đang mở sẵn), ông M vẫn ngồi yên ở ghế salon mà không nói gì thêm Khoảng cách giữa chỗ ông M ngồi và thành cửa sổ là 5m Bà H nhảy xuống, đầu đập xuống nền xi măng, vỡ hộp sọ và chết (Nhà ông M

và bà H ở tầng 5 chung cư T) Theo tin báo của nhân dân, công an đã tạm giữ ông

M để làm rõ cái chết của bà H.

Câu hỏi: Hãy xác định ông M có tội không? Nếu có là tội gì?

Hành vi của M cấu thành Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo quy định tại Điều 182 BLHS 2015

Hành vi của A đã có đủ các dấu hiệu pháp lý cấu thành Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 182 BLHS 2015):

- Về khách thể:

+ Khách thể: Chế độ một vợ, một chồng, một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam

- Về mặt khách quan:

+ Hành vi khách quan: Ông M chung sống như vợ chồng với người khác dẫn đến việc có con chung với người này mặc dù ông M và bà H đang là vợ chồng hợp pháp của nhau

+ Hậu quả: Ông M muốn ly hôn bà H

+ Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả: Việc ông M chung sống như vợ chồng với người khác dẫn đến việc có con chung với người này mặc dù ông

M và bà H đang là vợ chồng hợp pháp của nhau là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến quyết định muốn ly hôn bà H của ông M

- Về mặt chủ quan: A thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý trực tiếp Ông M nhận thức rõ hành vi đang có quan hệ hôn nhân với bà H mà lại sống chung và có con chung với người khác là trái pháp luật, thấy trước hậu quả có thể dẫn tới ly hôn với bà H nhưng ông M vẫn mong muốn hậu quả ly hôn xảy ra

- Về chủ thể: A đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đủ độ tuổi quy định Giữa A và mẹ con chị B là quan hệ gia đình, có sự lệ thuộc vào nhau

8

Ngày đăng: 10/11/2022, 22:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w