1. Trang chủ
  2. » Tất cả

THẢO LUẬN HÌNH sự lần 5 NHÓM 1

17 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 57,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐH LUẬT TP HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH – NHÀ NƯỚC BUỔI THẢO LUẬN HÌNH SỰ LẦN NĂM Giảng viên hướng dẫn Nguyễn Thị Thùy Dung MỤC LỤC NHẬN ĐỊNH 1 Câu 1 Hành vi khách quan của các tội phạm quy.

Trang 1

TRƯỜNG ĐH LUẬT TP HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH – NHÀ NƯỚC

BUỔI THẢO LUẬN HÌNH SỰ LẦN NĂM

Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Thùy Dung

Trang 2

MỤC LỤC

NHẬN ĐỊNH 1

Câu 1: Hành vi khách quan của các tội phạm quy định trong Chương các tội xâm phạm sở hữu chỉ là hành vi chiếm đoạt tài sản 1

Câu 2: Rừng chỉ là đối tượng tác động của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế 2

Câu 3: Không phải mọi loại tài sản bị chiếm đoạt đều là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu 2

Câu 5: Mọi hành vi đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản đều cấu thành Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) 3

Câu 9: Dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người là hành vi cấu thành cả hai tội: Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) và Tội giết người (Điều 123 BLHS) 4

BÀI TẬP 1 5

Đề bài: 5

Câu hỏi: Hãy xác định tội danh đối với hành vi của T 5

BÀI TẬP 3 7

Đề bài: 7

Câu hỏi: Anh (chị) hãy xác định hành vi của A và B có phạm tội không? Nếu có thì phạm tội gì? Tại sao? 7

BÀI TẬP 4 11

Đề bài: 11

Câu hỏi: Hãy xác định A và B phạm tội gì? 11

BÀI TẬP 6 13

Đề bài: 13

Câu hỏi: Hãy xác định tội danh đối với hành vi của A và B trong vụ án này và giải thích tại sao? 13

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 3

NHẬN ĐỊNH Câu 1: Hành vi khách quan của các tội phạm quy định trong Chương các tội xâm phạm sở hữu chỉ là hành vi chiếm đoạt tài sản.

Nhận định sai

Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu

Hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu rất đa dạng Tuy nhiên, dựa vào tính chất của hành vi phạm tội, có thể phân nhóm như sau: hành vi chiếm đoạt tài sản; hành vi chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS 2015); hành vi sử dụng trái phép tài sản (Điều 177 BLHS 2015); hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178 BLHS 2015); hành vi vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 179, Điều 180 BLHS 2015) Trong đó, chiếm đoạt tài sản là hành vi cố ý chuyển biến trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình; chiếm giữ trái phép tài sản là hành vi cố tình không giao trả tài sản do ngẫu nhiên mà chiếm hữu được sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp tài sản hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu; sử dụng trái pháp tài sản là hành vi khái thác công dụng từ tàu sản của người khác mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản đó; hủy hoại tài sản là hành vi cố ý làm cho tài sản mất giá trị

sử dụng ở mức độ không còn hoặc khó có khả năng khôi phục lại Cố ý làm hư hỏng tài sản là hành vi làm giảm giá trị sử dụng của tài sản ở mức độ còn khả năng khôi phục lại;

vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản là hành vi vi phạm các quy tắc an toàn gây thiệt hại nghiêm trọng cho tài sản của người khác, được thể hiện dưới dạng hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, hoặc vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản

Như vậy, hành vi khách quan của các tội phạm quy định trong Chương các tội xâm phạm sở hữu không chỉ là hành vi chiếm đoạt tài sản, còn có các hành vi khác là hành vi chiếm giữ trái phép tài sản; hành vi sử dụng trái phép tài sản; hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản; hành vi vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản

Cơ sở pháp lý: Điều 176 BLHS 2015; Điều 177 BLHS 2015; Điều 178 BLHS 2015; Điều 179 BLHS 2015; Điều 180 BLHS 2015

Trang 4

Câu 2: Rừng chỉ là đối tượng tác động của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.

Nhận định sai

Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên (khoản 3 Điều 2 Luật Lâm nghiệp năm 2017)

Các loại rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng là đối tượng tác động của Tội

vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo Điều 232 BLHS 2015 thuộc Chương các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế Rừng cũng là đối tượng tác động của Tội hủy hoại rừng theo Điều 243 BLHS 2015 thuộc Chương các tội phạm về môi trường

Như vậy, rừng không chỉ là đối tượng tác động của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà còn là đối tượng tác động của các tội phạm khác

Cơ sở pháp lý: Điều 232 BLHS 2015; Điều 243 BLHS 2015; khoản 3 Điều 2 Luật Lâm nghiệp năm 2017

Câu 3: Không phải mọi loại tài sản bị chiếm đoạt đều là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu.

Nhận định đúng

Đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu là tài sản Theo quy định tại Điều

105 BLDS năm 2015, tài sản bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Tuy nhiên, các tài sản trên chỉ trở thành đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu khi thỏa mãn một số điều kiện nhất định

Đối với vật: Vật - đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu, là một bộ phận của thế giới vật chất, có thể đáp ứng được nhu cầu nhất định (vật chất) của con người, nằm trong sự chiếm hữu của con người, là thước đo giá trị lao động của con người và là đối tượng của giao lưu dân sự; Vật là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu phải không có tính năng đặc biệt; Vật - với tư cách là đối tượng tác động của các tế phạm

Trang 5

sở hữu - phải có giá trị Đối với tiền: Tiền là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu bao gồm tiền Việt Nam, ngoại tệ Đối với giấy tờ có giá: Giấy tờ có giá là những loại giấy tờ mà trên đó thể hiện - thanh toán hoặc quy đổi được thành tiền như tín phiếu, hiếu, công trái, séc, thư bảo lãnh của ngân hàng Đối với quyền tài sản: Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác (Điều 115 BLDS năm 2015) Quyền tài sản không phải là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu

Nếu có hành vi xâm phạm đến quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt những vật có tính năng đặc biệt như công trình quan trọng về an ninh quốc gia, vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, chất ma túy, tiền chất ma túy, vật liệu nổ, chất độc, chất phóng xạ thì quan hệ sở hữu không phản ánh đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vị nên nó không phải là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu Ví dụ: hành vi cướp ma túy của người khác khi thành tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) mà phạm t chất ma túy (Điều 252 BLHS); lén lút chiếm đoạt và dụng không cấu thành tội trộm cắp tài sản mà cấu th chiếm đoạt vũ khí quân dụng (Điều 304 BLHS) Tiền giả không phải là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu mà là đối tượng của tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền (Điều 207 BLHS) Các loại tiền vàng mã (hay tiền âm phủ, dùng để đốt cho người chết theo tín ngưỡng dân gian) không được gọi là tiền giả mà đó là hàng hóa (vật) Những giấy tờ có giá mà trên đó ghi tên chủ sở hữu thì không phải là đối tương tác động của các tội xâm phạm sở hữu mà chỉ có thể là công cụ, phương tiện phạm tội (như séc có ghi tên người được nhận tiền )

Như vậy, không phải mọi loại tài sản bị chiếm đoạt đều là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu mà cần dựa vào tính chất của loại tài sản, giá trị của tài sản để phân biệt đối tượng tác động của các tội phạm sở hữu với đối tượng tác động của các tội phạm trong các chương khác của BLHS

Cơ sở pháp lý: Điều 105 BLDS năm 2015; Điều 115 BLDS năm 2015; Điều 168 BLHS 2015; Điều 207 BLHS 2015; Điều 252 BLHS 2015; Điều 304 BLHS 2015

Câu 5: Mọi hành vi đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản đều cấu thành Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS).

Nhận định sai

Trang 6

Cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành

vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản

Hành vi đe dọa dùng vũ lực của tội cướp tài sản phải là hành vi đe dọa dùng vũ lực

“ngay tức khắc” Đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc là hành vi dùng lời nói hoặc cử chỉ dọa sẽ dùng vũ lực tức thời, nhằm làm cho người bị đe dọa không dám chống cự Người

đe dọa dùng vũ lực tin rằng người bị đe dọa dùng vũ lực sẽ không dám chống trả lại khi

bị chiếm đoạt tài sản vì nạn nhân sợ tính mạng, sức khỏe của họ sẽ ngay lập tức bị xâm hại Hành vi de dọa dùng vũ lực ở tội cướp tài sản khác với một số tội phạm xâm phạm

sở hữu khác (Điều 169, Điều 170 BLHS 2015) ở chỗ nó phải đe dọa xảy ra ngay tức khắc

và làm cho người bị đe dọa lâm vào tình trạng không thể chống cự được Dấu hiệu này thể hiện sự nhanh chóng về mặt thời gian và sức mãnh liệt của hành vi đe dọa

Như vậy, tội phạm muốn cấu thành Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) thì hành vi

đe dọa dùng vũ lực phải ngay tức khắc Đồng thời, không phải tất cả mọi hành vi đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản đều cấu thành Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS)

Cơ sở pháp lý: Điều 168 BLHS 2015; Điều 169 BLHS 2015; Điều 170 BLHS 2015

Câu 9: Dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người là hành vi cấu thành cả hai tội: Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) và Tội giết người (Điều 123 BLHS).

Nhận định sai

Trước tiên, dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người có thể cấu thành một trong hai tội danh: Tội cướp tài sản với tình tiết định khung tăng nặng

là “làm chết người” được quy định tại điểm c khoản 4 Điều 168 BLHS 2015; Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với tình tiết định khung tăng nặng là “làm chết người” được quy định tại điểm b khoản 4 Điều 169 BLHS 2015

Tuy nhiên, tùy thuộc vào hình thức lỗi mà người dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người có thể cấu thành một tội danh hoặc hai tội danh Cụ thể: Trường hợp cấu thành một tội danh: Nếu lỗi của người dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản là lỗi hỗn hợp, tức là người phạm tội cố ý với hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản nhưng vô ý với hậu quả chết người thì chỉ cấu thành một tội danh là Tội cướp tài sản hoặc Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với tình tiết định khung tăng nặng là

Trang 7

“làm chết người” Trường hợp cấu thành hai tội danh: Nếu người dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản ngoài cố ý với hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản còn cố ý với hành vi giết người thì cấu thành cả hai tội danh là Tội cướp tài sản hoặc Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và Tội giết người

Như vậy, dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản không phải lúc nào cũng cấu thành hai tội danh và trong trường hợp cấu thành hai tội danh không chỉ có trường hợp Tội cướp tài sản và Tội giết người mà còn có trường hợp Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

và Tội giết người

Cơ sở pháp lý: điểm c khoản 4 Điều 168 BLHS 2015; điểm b khoản 4 Điều 169 BLHS 2015

BÀI TẬP 1

Đề bài:

Lúc 6 giờ sáng, T gặp cháu N (8 tuổi), đang đứng trong vườn mận Thấy N đeo sợi dây chuyền vàng nên y chợt nảy ý định chiếm đoạt Quan sát chung quanh không có ai, T bước qua mé mương lấy một khúc cây còng lớn bằng cổ tay Cầm khúc cây trên tay, T nhanh bước đến phía sau lưng cháu N và vung tay đập mạnh vào đầu cháu N làm cháu té xuống đất Cháu N la lên kêu cứu thì T tiếp tục đánh vào đầu cháu N cái thứ hai khiến N bất tỉnh T lấy sợi dây chuyền trên cổ của cháu

N Kế đó, T ôm cháu N dìm xuống mương, nhận xác cháu xuống bùn Sợi dây chuyền T bán được 775.000 đồng Vụ việc được phát hiện nhanh chóng T bị bắt giữ.

Câu hỏi: Hãy xác định tội danh đối với hành vi của T.

Hành vi của T cấu thành hai tội phạm: Tội giết người theo quy định tại Điều 123 BLHS 2015 và tội cướp tài sản theo quy định tại Điều 168 BLHS 2015 Cụ thể, từng tội phạm như sau:

Hành vi của T đã có đủ các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội giết người (Điều 123 BLHS 2015):

- Về khách thể:

+ Khách thể: Tính mạng của cháu N

Trang 8

+ Đối tượng tác động: Cháu N.

- Về mặt khách quan:

+ Hành vi khách quan: T ôm cháu N dìm xuống mương, nhấn xác cháu xuống bùn

+ Hậu quả nguy hiểm cho xã hội: Cháu N chết

+ Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả: Việc T ôm cháu N dìm xuống mương, nhấn xác cháu xuống bùn là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cháu N chết

- Về mặt chủ quan: T thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý trực tiếp T nhận thức rõ sự nguy hiểm trong hành viôm cháu N dìm xuống mương, nhấn xác cháu xuống bùn, thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra đối với cháu N nhưng T vẫn mong muốn hậu quả chết người xảy ra

- Về chủ thể: T đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đủ độ tuổi quy định

Hành vi của T đã có đủ các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội cướp tài sản (Điều

168 BLHS 2015):

- Về khách thể:

+ Khách thể: Quyền sở hữu tài sản của cháu N và tính mạng, sức khỏe của cháu N

+ Đối tượng tác động: Sợi dây chuyền vàng của cháu N và cháu N

- Về mặt khách quan:

+ Hành vi khách quan: T đã có hành động dùng vũ lực với cháu N nhằm chiếm đoạt tài sản của cháu N Cụ thể, T bước qua mé mương lấy một khúc cây còng lớn bằng cổ tay Cầm khúc cây trên tay, T nhanh bước đến phía sau lưng cháu N và vung tay đập mạnh vào đầu cháu N làm cháu té xuống đất Cháu N la lên kêu cứu thì T tiếp tục đánh vào đầu cháu N cái thứ hai khiến N bất tỉnh T lấy sợi dây chuyền trên cổ của cháu N

- Về mặt chủ quan: T thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý trực tiếp T nhận thức rõ sự nguy hiểm trong hành vi dùng khúc cây lớn đập mạnh vào vùng lưng và đầu cháu N rồi lấy sợi dây chuyền vàng của cháu N, thấy trước hậu quả có thể xảy ra đối với

Trang 9

cháu N nhưng T vẫn mong muốn hậu quả xảy ra Mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản là mục đích của T khi thực hiện hành vi dùng vũ lực với cháu N

- Về chủ thể: T đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đủ độ tuổi quy định

BÀI TẬP 3

Đề bài:

Ông X (45 tuổi) đã có vợ con nhưng vẫn lén lút quan hệ tình cảm với A (29 tuổi) Sau một thời gian, A nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của ông X và bàn bạc

kế hoạch với anh trai là B Theo kế hoạch, khi A và ông X đang quan hệ trong nhà nghỉ thì B xông vào, tự nhận là chồng của A và đánh ông X Ông X năn nỉ xin B tha,

B yêu cầu ông X phải đưa cho B 300 triệu đồng để “bồi thường danh dự” Ông X không đồng ý nên B tiếp tục đánh ông X và lấy đi toàn bộ tiền bạc, điện thoại, đồng

hồ của ông X, trị giá tài sản là 30 triệu đồng Sau đó, B chụp hình ông X và A, nói nếu không đưa 250 triệu đồng thì sẽ gửi những tấm hình đó cho vợ con ông X Ông

X đồng ý và hẹn mười ngày sau sẽ đưa tiền Vụ việc sau đó bị phát giác.

Câu hỏi: Anh (chị) hãy xác định hành vi của A và B có phạm tội không? Nếu

có thì phạm tội gì? Tại sao?

Hành vi của A và B cấu thành hai tội phạm: Tội cướp tài sản theo quy định tại Điều 168 BLHS 2015 và tội cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại Điều 170 BLHS 2015.

Cụ thể, từng tội phạm như sau:

Hành vi của A và B đã có đủ các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS 2015):

- Về khách thể:

+ Khách thể: Quyền sở hữu tài sản của ông X và sức khỏe của ông X + Đối tượng tác động: Tài sản của ông X và ông X

- Về mặt khách quan:

+ Hành vi khách quan: B đã có hành động dùng vũ lực với ông X nhằm chiếm đoạt tài sản của ông X và A là đồng phạm của B Cụ thể, A nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của ông X và bàn bạc kế hoạch với anh trai là B Theo kế hoạch, khi A và ông X đang quan hệ trong nhà nghỉ thì B xông vào, tự nhận là chồng của A và đánh ông

Trang 10

X B đánh ông X và lấy đi toàn bộ tiền bạc, điện thoại, đồng hồ của ông X, trị giá tài sản

là 30 triệu đồng

- Về mặt chủ quan: A và B thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý trực tiếp A

và B nhận thức rõ sự nguy hiểm trong hành vi dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản, thấy trước hậu quả có thể xảy ra đối với ông X nhưng A và B vẫn mong muốn hậu quả xảy ra Mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản là mục đích của cả A và B khi thực hiện hành vi dùng vũ lực với ông X

- Về chủ thể: A và B đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đủ độ tuổi quy định

Hành vi của A và B đã có đủ các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 BLHS 2015):

- Về khách thể:

+ Khách thể: Quyền sở hữu tài sản của ông X và danh dự, nhân phẩm của ông X

+ Đối tượng tác động: Tài sản của ông X và ông X

- Về mặt khách quan:

+ Hành vi khách quan: B đã có hành vi đe dọa uy hiếp tinh thần của ông

X nhằm gây thiệt hại về tài sản của ông X và A là đồng phạm Cụ thể, B chụp hình ông X

và A, nói nếu không đưa 250 triệu đồng thì sẽ gửi những tấm hình đó cho vợ con ông X Ông X đồng ý và hẹn mười ngày sau sẽ đưa tiền

- Về mặt chủ quan: A và B thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý trực tiếp A

và B nhận thức rõ sự nguy hiểm trong hành vi uy hiếp tinh thần gây thiệt hại về tài sản cho ông X, thấy trước hậu quả có thể xảy ra đối với ông X nhưng A và B vẫn mong muốn hậu quả xảy ra Mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản là mục đích của cả A và B khi thực hiện hành vi dùng vũ lực với ông X

- Về chủ thể: A và B đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đủ độ tuổi quy định

Phân tích yếu tố đồng phạm trong tình huống: A và B là đồng phạm.

Ngày đăng: 10/11/2022, 22:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w