1. Trang chủ
  2. » Tất cả

THẢO LUẬN HÌNH sự lần 11 NHÓM 1

11 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 49,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐH LUẬT TP HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH – NHÀ NƯỚC BUỔI THẢO LUẬN HÌNH SỰ LẦN MƯỜI MỘT Giảng viên hướng dẫn Nguyễn Thị Thùy Dung Thành viên NHẬN ĐỊNH Câu 28 Mọi hành vi phạm tội do người có.

Trang 1

TRƯỜNG ĐH LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH – NHÀ NƯỚC

BUỔI THẢO LUẬN HÌNH SỰ LẦN MƯỜI MỘT

Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Thùy Dung

Thành viên:

Trang 2

NHẬN ĐỊNH Câu 28: Mọi hành vi phạm tội do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện đều cấu thành các tội phạm về chức vụ (Chương XXIII BLHS).

Nhận định sai

Không phải mọi hành vi phạm tội do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện đều cầu thành các tội phạm về chức vụ (Chương XXIII BLHS) Hành vi phạm tội do người

có chức vụ, quyền hạn thực hiện chỉ cấu thành các tội phạm về chức vụ khi người đó lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để thực hiện hành vi phạm tội Trong trường hợp người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn nhưng người đã không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi phạm tội thì không cầu thành các tội phạm vẽ chức vụ mà cấu thành các tội phạm khác

Câu 29: Lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản của Nhà nước mà mình có trách nhiệm quản lý có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên là hành vi chỉ cấu thành Tội tham ô tài sản (Điều 353 BLHS).

Nhận định sai

Lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản của Nhà nước mà mình có trách nhiệm quản lí có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên là hành vi không chỉ cấu thành Tội tham ô tài sản (Điều 353 BLHS) mà với hành vi đó còn cấu thành các Tội phạm khác Trường hợp người phạm tội lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt của Nhà nước mà mình có trách nhiệm quản lí có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà tài sản đó là vũ khí quân dụng thì không cấu thành Tội tham ô tài sản (Điều 353 BLHS) mà sẽ cấu thành Tội chiếm đoạt vũ khí quân dụng (Điều 304 BLHS) Trường hợp người phạm tội lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt của Nhà nước mà mình có trách nhiệm quản lí có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà tài sản đó là ma túy, chất gây nghiện thì sẽ không Tội tham ô tài sản (Điều 353 BLHS) mà sẽ cấu thành Tội chiếm đoạt ma túy (Điều 252 BLHS)

Câu 30: Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian nhận tiền, tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên chỉ cấu thành Tội nhận hối lộ (Điều 354 BLHS).

Nhận định sai

Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian nhận tiền, tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên không chỉ phạm vào Tội nhận hối lộ lại Điều 354 BLHS Trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian dõi, nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên để dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm

Trang 3

hoặc liên quan trực tiếp đến công việc của họ hoặc làm một việc không được phép làm thì phạm vào Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gãy ảnh hưởng dối với người khác để trục lợi quy định tại Điều 358 BLHS

Câu 34: Hành vi nhận tiền từ 2 triệu đồng trở lên để dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn làm một việc không được phép làm thì chỉ cấu thành Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi (Điều 366 BLHS).

Nhận định sai

Hành vi nhận tiền từ hai triệu trở lên để dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy người

có chức vụ, quyền hạn làm một việc không được phép làm không chỉ cấu thành Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi (Điều 366, BLHS) Ngoài ra, nếu chủ thể của tội phạm này là người có chức vụ quyền hạn nhận tiền từ 2 triệu trở lên và người này lợi dụng chính chức vụ quyền hạn của mình để gây ảnh hưởng thúc, đẩy người có chức vụ quyền hạn khác làm một việc không được phép làm thì còn

có thể cấu thành Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (Điều 358 BLHS)

Câu 37: Đưa hối lộ mà của hối lộ có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên nếu chủ thể

đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì được coi là không có tội.

Nhận định sai

Theo khoản 7 Điều 365 BLHS thì đối với hành vi đưa hối lộ có giá trị từ 2 triệu trở lên, chủ thể đưa hối lộ chỉ coi là không có tội khi người này bị ép buộc đưa hối lộ và chủ động khai báo trước khi bị phát giác Còn nếu người này không bị ép buộc mà đã chủ động đưa hối lộ thì dù có chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì người này vẫn bị coi là có tội và có thể bị truy cứu hoặc được miễn trách nhiệm hình sự

BÀI TẬP 24

Đề bài:

A là cán bộ Ngân hàng nông nghiệp huyện X được phân công phụ trách địa bàn xã Y A có nhiệm vụ nắm bắt nhu cầu phát triển sản xuất ở địa phương để đề xuất với lãnh đạo Ngân hàng đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn của nông dân, thực hiện việc thẩm định, chịu trách nhiệm về nội dung thẩm định và mức vốn cho vay trên địa bàn xã và thu hồi lại số tiền đã cho nông dân vay khi đến thời hạn thanh toán Để thực hiện nhiệm vụ trên, A được cơ quan giao tiền dưới hình thức tạm ứng

để A chi cho người vay.

Lợi dụng nhiệm vụ được giao, A đã thực hiện những hành vi sau đây:

2

Trang 4

- Lập 7 hồ sơ giả để lấy 61 triệu đồng chi xài cá nhân.

- Đến thời hạn thu hồi vốn, A thu hồi của những người đã vay tín dụng được 40.605.000đ nhưng không nộp lại cho Ngân hàng mà đem chi xài.

Câu hỏi: Hãy xác định A phạm tội gì? Cần áp dụng điều khoản nào BLHS đối với A?

Đối với hành vi “Lập 7 hồ sơ giả để lấy 61 triệu đồng chi xài cá nhân”: A phạm Tội tham ô tài sản theo Điều 353 BLHS 2015.

- Khách thể:

+ Khách thể: Xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức

+ Đối tượng tác động: Số tiền với giá trị là 61 triệu đồng

- Mặt khách quan:

+ Hành vi: A đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để chiếm đoạt tài sản

mà mình có trách nhiệm quản lý Cụ thể A đã lập 7 hồ sơ giả để lấy 61 triệu đồng chi xài

cá nhân (Những tài sản đó đều thuộc phạm vi trách nhiệm quản lý của A)

+ Hậu quả: gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản cho ngân hàng, làm giảm uy tín và hiệu quả hoạt động của ngân hàng cụ thể là 61 triệu đồng tiền chi xài cá nhân

+ Mối quan hệ nhận quả giữa hành vi và hậu quả: là nguyên nhân trực tiếp

- Chủ thể:

+ Chủ thể đặc biệt: A có đầy đủ NLTNHS và có chức vụ quyền hạn, có trách nhiệm quản lý tài sản của cơ quan (A là cán bộ Ngân hàng nông nghiệp)

- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp

Đối với hành vi “Đến thời hạn thu hồi vốn, A thu hồi của những người đã vay tín dụng được 40.605.000đ nhưng không nộp lại cho Ngân hàng mà đem chi xài”: A phạm Tội tham ô tài sản theo Điều 353 BLHS 2015.

- Khách thể:

+ Khách thể: Xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức

+ Đối tượng tác động: Số tiền với giá trị là 40.605.000 đồng

- Mặt khách quan:

Trang 5

+ Hành vi: A đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để chiếm đoạt tài sản

mà mình có trách nhiệm quản lý Cụ thể A đã không nộp lại 40.605.000đ tiền vốn đã thu

hộ cho Ngân hàng (Những tài sản đó đều thuộc phạm vi trách nhiệm quản lý của A)

+ Hậu quả: gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản cho ngân hàng, làm giảm uy tín và hiệu quả hoạt động của ngân hàng cụ thể là 40.605.000đ tiền vốn đã thu hộ cho Ngân hàng mà không nộp lại

+ Mối quan hệ nhận quả giữa hành vi và hậu quả: là nguyên nhân trực tiếp

- Chủ thể:

+ Chủ thể đặc biệt: A có đầy đủ NLTNHS và có chức vụ quyền hạn, có trách nhiệm quản lý tài sản của cơ quan (A là cán bộ Ngân hàng nông nghiệp)

- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp

BÀI TẬP 27

Đề bài:

A phạm tội mua bán trái phép chất ma túy và bị tòa án tỉnh H tuyên án tử hình A được giam tại trại tạm giam công an tỉnh H Biết được thông tin nhiều người thoát được án tử hình do mang thai nên A quyết tâm phải mang thai A đã từng xin tinh trùng của một phạm nhân khác nhưng không thụ thai được.

Trong quá trình giam giữ, A quen với B cũng là phạm nhân của trại (B bị kết

án 5 năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, do mức án nhẹ lại cải tạo tốt nên B được Trại tạm giam cho phép mang cơm cho các phạm nhân và làm vệ sinh buồng giam) Trong thời gian đưa cơm cho phạm nhân, B đã nảy sinh tình cảm và quan hệ với A ngay trong buồng biệt giam.

Biết được A và B có tình cảm với nhau và thương cảm với số phận của 2 phạm nhân nên thượng úy T (cán bộ quản giáo tại trại tạm giam) và G (chiến sỹ công an nghĩa vụ) đã nhiều lần mở cửa buồng giam cho A và B quan hệ với nhau Một thời gian sau A mang thai (A sinh được một bé trai và viện KHHS Bộ Công an đã tiến hành giám định gen và xác định B là cha của đứa bé).

4

Trang 6

Câu hỏi: Hãy xác định hành vi của T và G có phạm tội không Nếu có phạm tội

gì Tại sao?

Hành vi trên của T và G phạm tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ tại Điều 356 BLHS 2015.

- Khách thể: Hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức đồng thời gây thiệt hại cho lợi ích của nhà nước của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

- Chủ thể: Đây là chủ thể đặc biệt, là người mà ngoài năng lực trách nhiệm hình sự

và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì hai đối tượng đề cập đến ở đây là T và G còn là người giữ chức vụ quyền hạn

- Mặt khách quan:

+ Hành vi: thượng úy T (cán bộ quản giáo tại trại tạm giam) và G (chiến sỹ công an nghĩa vụ) đã nhiều lần mở cửa buồng giam cho A và B quan hệ với nhau Một thời gian sau A mang thai (A sinh được một bé trai và viện KHHS Bộ Công an đã tiến hành giám định gen và xác định B là cha của đứa bé)

- Mặt chủ quan: Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, T và G dưới vai trò

là Cán bộ quản giáo trại giam và Chiến sỹ công an nghĩa vụ hoàn toàn nhận thức rõ hành

vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra

Kết luận T và G phạm tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ tại điều 356 BLHS 2015

Trang 7

BÀI TẬP 32

Đề bài:

A là cán bộ thuộc Công an thành phố X vì muốn chiếm đoạt tài sản đã giả làm một đại gia nhiều tiền, đi xe hơi đắt tiền, làm ăn theo mô hình lớn, sở hữu rất nhiều mảnh đất trên địa bàn thành phố X Sau khi lấy được niềm tin của bạn bè, người thân, A đã dùng 1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để bán cho nhiều người Bằng cách này A đã chiếm đoạt được 22 tỷ đồng của nhiều người.

Câu hỏi: Theo anh (chị) A có phạm tội không? Nếu có thì phạm tội gì? Tại sao?

A có phạm tội và phạm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) vì hành vi của A đã có đủ các dấu hiệu pháp lý cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) - Khách thể: Hành vi của A xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu đối với tài sản của họ

Đối tượng tác động: Tài sản (số tiền 22 tỷ đồng)

- Mặt khách quan: A đã có hành vi giả làm một đại gia nhiều tiền, đi xe hơi đắt tiền, làm ăn theo mô hình lớn, sở hữu rất nhiều mảnh đất trên địa bàn thành phố X, dùng một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để bán cho nhiều người Đây là hành vi lừa dối, đưa

ra thông tin sai sự thật làm cho người khác tin và tự nguyện giao tài sản của mình

- Chủ thể: Chủ thể phạm tội trong Tội danh này là chủ thể thường, có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, mặc dù A là cán bộ nhưng A không lợi dụng chức vụ này để thực hiện tội phạm Và nếu A lợi dụng chức vụ của mình

để thực hiện tội phạm thì sẽ cấu thành một Tội danh khác là Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đạt tài sản (Điều 355 BLHS)

- Mặt chủ quan: A có lỗi cố ý trực tiếp khi thực hiện hành vi phạm tội

BÀI TẬP 33

Đề bài:

Đ là Phó Chánh án Tòa án nhân dân huyện X phụ trách hình sự Biết Đ là lãnh đạo Tòa án huyện, K đã đến nhà tìm gặp và nhờ Đ giúp đỡ đòi lại ngôi nhà cho người khác ở nhờ đã nhiều năm nay và vụ kiện đang được thụ lý ở Tòa án nhân dân huyện và hứa sẽ không quên ơn Sau đó Đ đã trực tiếp nhờ thẩm phán giải quyết vụ kiện đó chú ý hộ, bảo K là người nhà của Đ Kết quả là K được trả nhà, K đưa cho

Đ một lượng vàng SJC.

Trang 8

Câu hỏi: Hãy xác định K và Đ có phạm tội không? Nếu có thì phạm tội gì? Tại sao?

K và Đ không có tội Cụ thể:

- Đ không phạm Tội nhận hối lộ theo quy định tại Điều 354 BLHS 2015.

+ Thứ nhất, về chủ thể: Đ phải có chức vụ quyền hạn tức có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của K Tuy nhiên, Đ dù là Phó Chánh Án Tòa án nhân dân huyện X nhưng không được phân công là thẩm phán giải quyết vụ việc mà K nhờ giúp đỡ Cụ thể là việc

Đ đã trực tiếp nhờ thẩm phán giải quyết vụ kiện chú ý hộ rằng K là người nhà của Đ Qua

đó, cho thấy Đ không có thẩm quyền giải quyết đối với yêu cầu mà K đưa ra

+ Thứ hai, tại thời điểm K nhờ Đ giúp đỡ thì K chỉ hứa với Đ là sẽ không quên

ơn Lời hứa này không chỉ rõ là Đ được nhận lợi ích cụ thể là gì Vì vậy, không thể căn

cứ vào lời hứa của K để xác định Đ nhận bất kỳ lợi ích nào từ K

Vì vậy, do không thỏa mãn dấu hiệu định tội nên không cấu thành Tội nhận hối lộ đối với Đ

- Đ không phạm Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi theo quy định tại Điều 366 BLHS 2015.

+ Đ thỏa mãn là chủ thể thường do không có chức vụ, quyền hạn đối với yêu cầu của K

+ Tuy nhiên, hành vi của Đ không được xem là dùng ảnh hưởng của mình để thúc đẩy người có chức vụ quyền hạn làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm quyền hạn của họ Cụ thể trong tình huống, Đ chỉ nhờ Thẩm phán chú ý hộ đối với vụ việc của K

Vì vậy, do không thỏa mãn dấu hiệu định tội nên không cấu thành Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi đối với Đ

- K không phạm Tội đưa hối lộ theo quy định tại Điều 364 BLHS 2015.

+ Hành vi của K không thỏa mãn dấu hiệu cấu thành Tội đưa hối lộ

+ K có hành vi sẽ đưa lợi ích cho Đ (Phó Chánh Án Tòa án nhân dân huyện X)

để Đ giúp đỡ Nên sau đó, Đ nhờ người có chức vụ, quyền hạn là Thẩm phán giải quyết

vụ kiện làm theo yêu cầu của K là đòi lại được căn nhà cho người khác ở nhờ Tuy nhiên, lợi ích mà K sẽ đưa cho Đ tại thời điểm nhờ giúp đỡ không đủ cấu thành tội này Cụ thể,

đó chỉ là một lời hứa hẹn sẽ không quên ơn ngay tại thời điểm thực hiện hành vi chứ không là lợi ích cụ thể nào

Vì vậy, do không thỏa mãn dấu hiệu định tội nên không cấu thành Tội đưa hối lộ đối với K

Trang 9

BÀI TẬP 34

Đề bài:

A là điều tra viên của Phòng cảnh sát hình sự thuộc công an tỉnh B là người đang bị truy tố về tội buôn lậu Biết A là điều tra viên nên B nhờ A giúp cho hồ sơ của B nhẹ tội A nhận lời và đến gặp trưởng phòng điều tra để nhờ vả nhưng bị từ chối A vẫn gặp B và nói dối rằng đã lo xong và yêu cầu đưa 6 triệu đồng để A đi

“chạy” giùm B đưa cho A đủ số tiền như đã được yêu cầu Sau một thời gian, không thấy yêu cầu của mình được thực hiện, B đòi trả tiền lại, nhưng A không trả Vụ việc bị phát giác.

Câu hỏi: Hãy xác định tội danh trong vụ án này.

A phạm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174).

- Khách thể: Xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ

- Mặt khách quan:

+ Hành vi:

Hành vi dùng thủ đoạn gian dối: A dù bị trưởng phòng điều tra từ chối giúp đỡ nhưng vẫn nói dối B là đã lo xong và yêu cầu B đưa 6 triệu dồng để A đi “chạy” giùm

Hành vi chiếm đoạt tài sản: Vì tin A nên B đã đưa cho A đủ số tiền A yêu cầu,

A có hành vi nhận 6 triệu đồng của B trái pháp luật

- Hậu quả: 6 triệu đồng của B bị A chiếm đoạt bất hợp pháp

- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp A nhận thức rõ hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt 6 triệu đồng của B là hành vi trái pháp luật A thấy được trước hậu quả của hành vi

là 6 triệu đồng của B bị chiếm đoạt trái pháp luật và mong muốn hậu quả đó xảy ra

- Chủ thể: A là chủ thể thường, có đầy đủ NLTNHS

B phạm Tội đưa hối lộ theo Điều 364 BLHS 2015.

- Khách thể: Hành vi phạm tội xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế nhà nước

- Mặt khách quan:

+ Hành vi: B là người đang bị truy tố về tội buôn lậu Biết A là điều tra viên nên B nhờ A giúp cho hồ sơ của B nhẹ tội Sau khi nghe A nói là lo xong việc thì B đưa

đủ đó tiền cho A như A yêu cầu

Trang 10

- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp Mục đính của việc đưa hối lộ là để A (ngưòi có chức vụ, quyền hạn) chấp nhận giúp cho hồ sơ của B nhẹ tội

- Chủ thể: B là chủ thể thường, có đầy đủ NLTNHS

Ngày đăng: 10/11/2022, 22:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w