TRƯỜNG ĐH LUẬT TP HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH – NHÀ NƯỚC BUỔI THẢO LUẬN HÌNH SỰ LẦN SÁU Giảng viên hướng dẫn Nguyễn Thị Thùy Dung MỤC LỤC NHẬN ĐỊNH 1 Câu 13 Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản tro.
Trang 1TRƯỜNG ĐH LUẬT TP HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH – NHÀ NƯỚC
BUỔI THẢO LUẬN HÌNH SỰ LẦN SÁU
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Thùy Dung
Trang 2MỤC LỤC
NHẬN ĐỊNH 1
Câu 13: Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trong Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS) đòi hỏi người phạm tội phải lén lút với tất cả mọi người 1
Câu 14: Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối là hành vi chỉ cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) 1
Câu 15: Mọi hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng mà tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS) 2
Câu 17: Cố tình không trả lại cho chủ sở hữu tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên bị giao nhầm là hành vi cấu thành Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS) 3
BÀI TẬP 7 4
Đề bài: 4
Câu hỏi: Hãy xác định tội danh đối với hành vi của A 4
BÀI TẬP 9 5
Đề bài: 5
1 A vứt lại sợi dây chuyền, dùng tay đánh mạnh bà C rồi bỏ chạy 5
2 A nhanh tay bỏ sợi dây chuyền vào túi quần và rút dao mang sẵn trong người đâm vào ngực bà C làm bà C chết 6
BÀI TẬP 12 7
Đề bài: 7
a A yêu cầu B phải nộp cho y một số tiền 5 triệu đồng thì sẽ không tố giác việc làm của B với công an B đành chấp nhận và giao đủ số tiền mà A đặt ra 7
b A mặc trang phục công an, đến nơi B buôn bán, ập vào bắt quả tang Thấy A mặc trang phục công an nên B xin được tha A giả bộ làm căng, yêu cầu B về trụ sở để lập biên bản B năn nỉ, A nói đưa cho A 5 triệu đồng thì A sẽ tha B chấp nhận và giao tiền cho A 8
BÀI TẬP 13 8
Đề bài: 8
Câu hỏi: Hãy xác định tội danh đối với hành vi của A? 9
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 4NHẬN ĐỊNH Câu 13: Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trong Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS) đòi hỏi người phạm tội phải lén lút với tất cả mọi người.
Nhận định sai
Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang trong sự quản lý của người khác có trị giá từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chinh về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm, hoặc đã bị kết án
về tội phạm này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168 -172, 174, 175 và
290 BLHS 2015 và chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, hoặc gây ảnh hưởng xấu đến
an ninh, trật tự an toàn xã hội, hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống cùa chính người bị hại và gia đình họ, hoặc tài sản là di vật, cổ vật
Dấu hiệu đặc trưng của tội trộm cắp tài sản thể hiện ở hành vi chiếm đoạt tài sản được thể hiện một cách lén lút, bí mật đối với người quản lý tài sản Trong ý thức chủ quan của người phạm tội, họ mong muốn che giấu hành vi phạm tội của mình, họ sợ người quản lý tài sản phát hiện ra hành vi chiếm đoạt tài sản của mình Thông thường, người phạm tội có tâm lý muốn che giấu hành vi phạm tội của mình đối với cả người không có trách nhiệm quản lý tài sản Tuy nhiên, trong một số trường hợp, có thể người phạm tội công khai hành vi dịch chuyển tài sản của mình trước người không có trách nhiệm quán lý tài sản, nếu họ thấy việc công khai này không ảnh hưởng đến việc chiếm đoạt tài sản của họ
Như vậy, hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trong Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS) không đòi hỏi người phạm tội phải lén lút với tất cả mọi người mà có thể chỉ lén lút đối với người quản lý tài sản, hoặc cả với người không có trách nhiệm quản lý tài sản
Cơ sở pháp lý: Điều 173 BLHS 2015
Câu 14: Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối là hành vi chỉ cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS).
Nhận định sai
Trang 5Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối là hành
vi không chỉ cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 BLHS 2015 mà còn
có thể cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 BLHS 2015 Trong mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người phạm tội phải thực hiện hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác Trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trước hết người phạm tội có ý định chiếm đoạt tài sản nên mới đưa ra thông tin gian dối để người quản lý tài sản tin đó là sự thật, sau đó mới có hành vi nhận tài sản do người quản lý tài sản tự nguyện trao Trong khi đó, trong mặt khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, người phạm tội đã nhận tài sản của người khác một cách hợp pháp, ngay thẳng, sau đó dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả hoặc dùng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến tình trạng không
có khả năng trả lại tài sản Dấu hiệu giúp phân biệt với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, trong đó người phạm tội đưa ra thông tin gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản sau khi
đã nhận tài sản một cách ngay thẳng, hợp pháp trên cơ sở hợp đồng
Như vậy, chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối là hành vi không chỉ cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS 2015)
mà còn có thể cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 BLHS 2015
Cơ sở pháp lý: Điều 174 BLHS 2015, Điều 175 BLHS 2015
Câu 15: Mọi hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng mà tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS).
Nhận định sai
Căn cứ vào dấu hiệu định tội tại khoản 1 Điều 175 BLHS 2015 thì hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng mà tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên chỉ cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản khi đi cùng với hành vi khách quan
là dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại
2
Trang 6tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả hoặc đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản
Trong trường hợp có hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng mà tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên và không dùng thủ đoạn gian dối, không bỏ trốn
để chiếm đoạt tài sản hoặc đến hạn mà không có điều kiện, không có khả năng trả lại thì khi đó sẽ không cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mà chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự
Như vậy, hông phải mọi hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng
mà tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS 2015)
Cơ sở pháp lý: Điều 175 BLHS 2015
Câu 17: Cố tình không trả lại cho chủ sở hữu tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên bị giao nhầm là hành vi cấu thành Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS).
Nhận định sai
Chiếm giữ trái phép tài sản là hành vi cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 10.000.000 đồng nhưng tài sản là di vật, cổ vật bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, ngưởi quản lý hợp pháp hoặc
cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản là hành vi cố tình không giao trả tài sản cho các chủ thể có quyền sau khi họ đã yêu cầu được nhận lại tài sản Người thực hiện hành vi trên chỉ bị coi là phạm tội nếu họ cố tình không giao nộp tài sản do ngẫu nhiên có được sau khi có yêu cầu trả lại hoặc giao nộp lại tài sản do ngẫu nhiên có được sai khi có yêu cầu trả lại hoặc giao nộp lại tài sản của người có quyền Cùng với việc không giao nộp tài sản, người phạm tội có thể thực hiện hành vi chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt tài sản
đó Nuế một người ngẫu nhiên có được tài sản của người khác, họ không nhận được yêu cầu nhận lại tài sản từ chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm
và họ không trả lại tài sản, thì họ không phạm tội
Trang 7Như vậy, cố tình không trả lại cho chủ sở hữu tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên bị giao nhầm khi chủ sở hữu yêu cầu nhận lại tài sản thì mới cấu thành Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS 2015)
Cơ sở pháp lý: Điều 176 BLHS 2015
BÀI TẬP 7
Đề bài:
A là một thanh niên không có nghề nghiệp Hết tiền tiêu xài, A nghĩ cách kiếm tiền A đến một ngã tư đường phố và đứng tại bên lề đường chờ cơ hội chiếm đoạt tài sản của người khác Khi đèn xanh trên hệ thống đèn báo giao thông bật sáng, A nhanh chóng giật chiếc dây chuyền trên cổ của một phụ nữ và bỏ chạy B là người chứng kiến được sự việc, liền bỏ xe đạp của mình trên lề đường và chạy đuổi theo để bắt A Chạy vào con hẻm cụt, A hết đường nên quay mặt đối diện với B, một tay bỏ dây chuyền vào miệng, tay kia rút dao đâm vào bụng của B và bỏ chạy B bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể qua giám định là 27%.
Câu hỏi: Hãy xác định tội danh đối với hành vi của A
Hành vi của A cấu thành tội cướp tài sản theo quy định tại Điều 168 BLHS 2015 Hành vi của A đã có đủ các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS 2015):
- Về khách thể:
+ Khách thể: Quyền sở hữu tài sản của người phụ nữ và sức khỏe của B + Đối tượng tác động: Sợi dây chuyền của người phụ nữ và B
- Về mặt khách quan:
+ Hành vi khách quan: A đã có hành động dùng vũ lực với B nhằm chiếm đoạt tài sản của người phụ nữ Cụ thể, lúc đầu A nhanh chóng giật dây chuyền của người phụ nữ và bỏ chạy B là người chứng kiến sự việc nên đã chạy theo để bắt A Nhưng khi chạy đến con hẻm, hết đường đi nên A quay lại đối diện với B, một tay bỏ sợi dây chuyền vào miệng, tay kia rút dao đâm vào bụng B và bỏ chạy khiến B bị thương kết quả giám định 27% Ban đầu hành vi của A chỉ là hành vi cướp giật nhưng thời điểm
4
Trang 8hành vi cướp giật kết thúc kể từ lúc A đứng quay mặt đối diện với B, bỏ dây chuyền vào miệng nhằm mục đích lấy được sợi dây chuyền và lúc A dùng dao đâm vào bụng B rồi bỏ chạy, lúc đó đã chuyển hóa thành hành vi của Tội cướp tài sản Điều này được chứng minh theo quy định của mục 6.2 TTLT 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP: "Nếu người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng đã bị người bị hại hoặc người khác giành lại, mà người phạm tội tiếp tục dùng
vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công người bị hại hoặc người khác nhằm chiếm đoạt cho được tài sản, thì trường hợp này không phải là "hành hung để tẩu thoát"
mà đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản."
- Về mặt chủ quan: A thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý trực tiếp A nhận thức rõ sự nguy hiểm trong hành vi của mình, thấy trước hậu quả có thể xảy ra đối với người phụ nữ và B nhưng A vẫn mong muốn hậu quả xảy ra Mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản là mục đích của A khi thực hiện hành vi dùng vũ lực với B
- Về chủ thể: A đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo Điều 21 BLHS 2015 và đạt đủ độ tuổi quy định theo Điều 12 BLHS 2015
BÀI TẬP 9
Đề bài:
A là người sống lang thang, không nghề nghiệp, thấy bà C hay đeo sợi dây chuyền có giá trị, A nảy sinh ý định chiếm đoạt Vào một buổi tối, khi thấy nhà bà C tắt đèn đi ngủ, A cạy cửa nhà rồi vào phòng ngủ A đến cạnh giường rạch màn, A thấy bà C còn thức nên đưa tay vào kéo đứt sợi dây chuyền 3 chỉ vàng (trị giá 11 triệu đồng) của bà rồi bỏ chạy Bà C hô gọi hàng xóm, đuổi theo và tóm được A Hãy xác định tội danh của A trong các trường hợp sau:
1 A vứt lại sợi dây chuyền, dùng tay đánh mạnh bà C rồi bỏ chạy.
Hành vi của A cấu thành tội cướp giật tài sản theo quy định tại Điều 171 BLHS 2015
Hành vi của A đã có đủ các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội cướp giật tài sản (Điều
171 BLHS 2015):
- Về khách thể:
Trang 9+ Khách thể: Quyền sở hữu tài sản của bà C.
+ Đối tượng tác động: Sợi dây chuyền của bà C
- Về mặt khách quan:
+ Hành vi khách quan: A đã có hành động dùng vũ lực với bà C nhằm chiếm đoạt tài sản của bà C Cụ thể, A đã đến cạnh giường của bà C và đưa tay kéo đứt sợi dây chuyền của bà C rồi bỏ chạy Trong tình huống này, vì bà C còn thức và biết A lấy tài sản của mình nên không thể cấu thành Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS 2015) Bên cạnh đó, A đã dùng tay đánh mạnh bà C và đã vứt lại sợi dây chuyền nên đây được coi là tình tiết định khung tăng nặng
- Về mặt chủ quan: A thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý trực tiếp A nhận thức rõ sự nguy hiểm trong hành vi của mình, thấy trước hậu quả có thể xảy ra đối với bà
C nhưng A vẫn mong muốn hậu quả xảy ra
- Về chủ thể: A đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo Điều 21 BLHS 2015 và đạt đủ độ tuổi quy định theo Điều 12 BLHS 2015
2 A nhanh tay bỏ sợi dây chuyền vào túi quần và rút dao mang sẵn trong người đâm vào ngực bà C làm bà C chết.
Hành vi của A cấu thành tội cướp tài sản theo quy định tại Điều 168 BLHS 2015 Hành vi của A đã có đủ các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS 2015):
- Về khách thể:
+ Khách thể: Quyền sở hữu tài sản của bà C và tính mạng của bà C + Đối tượng tác động: Sợi dây chuyền của bà C và bà C
- Về mặt khách quan:
+ Hành vi khách quan: A đã có hành động dùng vũ lực với bà C nhằm chiếm đoạt tài sản của bà C Cụ thể, lúc đầu A nhanh chóng giật dây chuyền của bà C và
bỏ chạy Sau đó bị bà C tóm được nên rút dao ra đâm vào ngực bà C Ban đầu hành vi của A chỉ là hành vi cướp giật nhưng thời điểm hành vi cướp giật kết thúc kể từ lúc A đứng quay mặt đối diện với C, bỏ dây chuyền vào túi nhằm mục đích lấy được sợi dây
6
Trang 10chuyền và lúc A dùng dao đâm vào ngực bà C, lúc đó đã chuyển hóa thành hành vi của Tội cướp tài sản Điều này được chứng minh theo quy định của mục 6.2 TTLT 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP: "Nếu người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng đã bị người bị hại hoặc người khác giành lại, mà người phạm tội tiếp tục dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công người bị hại hoặc người khác nhằm chiếm đoạt cho được tài sản, thì trường hợp này không phải là "hành hung để tẩu thoát" mà đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản."
- Về mặt chủ quan: A thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý trực tiếp A nhận thức rõ sự nguy hiểm trong hành vi của mình, thấy trước hậu quả có thể xảy ra đối với bà
C nhưng A vẫn mong muốn hậu quả xảy ra Mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản là mục đích của A khi thực hiện hành vi dùng vũ lực với bà C
- Về chủ thể: A đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo Điều 21 BLHS 2015 và đạt đủ độ tuổi quy định theo Điều 12 BLHS 2015
BÀI TẬP 12
Đề bài:
A biết B là người buôn bán hàng cấm nên đã có hành vi sau Hãy xác định tội danh cho hành vi của A trong các trường hợp dưới đây.
a A yêu cầu B phải nộp cho y một số tiền 5 triệu đồng thì sẽ không tố giác việc làm của B với công an B đành chấp nhận và giao đủ số tiền mà A đặt ra.
Hành vi của A cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại Điều 170 BLHS 2015
Hành vi của A đã có đủ các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản (Điều
170 BLHS 2015):
- Về khách thể:
+ Khách thể: Quyền sở hữu tài sản của B và danh dự, nhân phẩm của B
- Về mặt khách quan: