CHƯƠNG 4 CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI, PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM I CÂU HỎI TỰ LUẬN 1 Anh (chị) hãy phân tích ý nghĩa của việc công n.
Trang 1CHƯƠNG 4: CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI, PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI
NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
I CÂU HỎI TỰ LUẬN
1 Anh (chị) hãy phân tích ý nghĩa của việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam
- Đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam và
cả trên lãnh thổ của nước ngoài theo nguyên tắc có đi có lại
- Tạo cơ hội phát triển mở rộng được hợp tác đầu tư, tăng cường được sự hợp tác về mọi mặt đối với các nước, từ đó phát triển kinh tế đất nước
- Góp phần tăng cường sự phối hợp giữa Việt Nam với các quốc gia trong việc thực thi các bản án, quyết định dân sự của tòa án, phán quyết của trọng tài vừa thể hiện rõ thiện chí hợp tác quốc tế cùng với các quốc gia khác trong việc bảo vệ quyền con người của Việt Nam
- Thể hiện sự phù hợp giữa pháp luật Việt Nam với tập quán quốc tế, góp phần củng cố địa vị của Việt Nam trên trường quốc tế
- Riêng với trường hợp không công nhận bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, phán quyết của trọng tài nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam thì việc không công nhận đó là biện pháp pháp lý để Việt Nam bảo vệ chủ quyền quốc gia trong lĩnh vực tư pháp nói chung, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam và nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam nói riêng
2 Anh (chị) hãy cho biết: việc công nhận các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài trên lãnh thổ của một quốc gia khác
có mang tính đương nhiên không? Vì sao?
- Tòa án, trọng tài hay cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài thường xuyên đưa ra những phán quyết, nhất là những bản án liên quan đến quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Các bản án, phán quyết này thường có hiệu lực trên lãnh thổ của nước mà nó được ban hành
và không đương nhiên được công nhận, cho thi hành trên lãnh thổ của quốc gia khác vì xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của quốc gia Và về nguyên tắc, Tòa án của các quốc gia thường chỉ công nhận và cho thi hành các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của trọng tài nước ngoài trên lãnh thổ mình khi:
+ Bản án, phán quyết của nước ngoài phù hợp với quy định của điều ước quốc tế mà quốc gia
đã ký kết hoặc gia nhập
+ Trên cơ sở có đi có lại;
+ Theo quy định của pháp luật quốc gia
3 Anh (chị) hãy phân tích các nguyên tắc trong việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam
Trang 2Nguyên tắc thứ 1: Không xét xử lại nội dung tranh chấp
- Đối với bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam: khoản 4 Điều
438 BLTTDS 2015
- Đối với phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam: khoản 4 Điều 458
BLTTDS 2015
Nguyên tắc thứ 2: Trên cơ sở ĐƯQT và nguyên tắc có đi có lại
- Đối với bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam: Điều 423 BLTTDS
- Đối với phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam: Điều 424 BLTTDS
4 Anh (chị) hãy trình bày những điểm mới trong quy định về khái niệm “bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài” theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 so với Bộ luật Tố tụng dân 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011
Thay vì định nghĩa bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài trong BLTTDS 2004, BLTTDS 2015 quy định cụ thể bản án, quyết định của Tòa án được xem xét công nhận và cho thi hành ở Việt Nam tại Điều 423, bao gồm: Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài được quy định tại điều ước quốc tế mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân
và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại; bản án, quyết định dân sự khác của Tòa án nước ngoài được pháp luật Việt Nam quy định công nhận và cho thi hành
Bên cạnh đó, BLTTDS 2015 cũng bổ sung thêm Quyết định về nhân thân, hôn nhân và gia đình của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài (không phải là Tòa án) cũng được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam như bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài Quy định bổ sung này là phù hợp với thực tiễn vì hiện nay ở một số quốc gia trên thế giới, một số quan hệ nhân thân, hôn nhân và gia đình không do Tòa án giải quyết
Đồng thời, nhằm bảo đảm sự tương thích, thống nhất của hệ thống pháp luật và phù hợp với các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, BLTTDS 2015 cũng quy định bổ sung một cách cụ thể những bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài đương nhiên được công nhận tại Việt Nam được quy định tại Điều 431 Bao gồm: Bản án, quyết định dân sự của Tòa
án nước ngoài, quyết định của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam được quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; Bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài, quyết định về hôn nhân và gia đình của
cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam
Trang 35 Anh (chị) hãy phân tích những trường hợp không công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
CSPL: Điều 439 BLTTDS 2015
1 Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không đáp ứng được một trong các điều kiện để được công nhận quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
=> ĐƯQT là một trong những điều kiện để bản án, quyết định của TA nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại VN Nếu có ĐƯQT mà VN là thành viên quy định nhưng không đáp ứng được điều kiện trong ĐƯQT thì đương nhiên sẽ không công nhận và cho thi hành
2 Bản án, quyết định dân sự chưa có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật của nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định đó
=> Công nhận và cho thi hành chỉ áp dụng đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Bởi công nhận và cho thi hành không xét xử lại nội dung tranh chấp
3 Người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của người đó đã vắng mặt tại phiên tòa của Tòa án nước ngoài do không được triệu tập hợp lệ hoặc văn bản của Tòa án nước ngoài không được tống đạt cho họ trong một thời hạn hợp lý theo quy định của pháp luật của nước có Tòa án nước ngoài đó để họ thực hiện quyền tự bảo vệ
=> Không đảm bảo tính dân chủ và bình đẳng tại phiên tòa, có vi phạm trong quá trình tố tụng
4 Tòa án nước đã ra bản án, quyết định không có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự
đó theo quy định tại Điều 440 của Bộ luật này
=> Có vi phạm trong quá trình tố tụng
5 Vụ việc dân sự này đã có bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa
án Việt Nam hoặc trước khi cơ quan xét xử của nước ngoài thụ lý vụ việc, Tòa án Việt Nam
đã thụ lý và đang giải quyết vụ việc hoặc đã có bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước thứ ba đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành
=> Đã được giải quyết bằng bản án quyết định có hiệu lực pháp luật
6 Đã hết thời hiệu thi hành án theo pháp luật của nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định dân sự đó hoặc theo pháp luật thi hành án dân sự của Việt Nam
7 Việc thi hành bản án, quyết định đã bị hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành tại nước có Tòa
án đã ra bản án, quyết định đó
8 Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
6 Anh (chị) hãy phân tích những trường hợp không công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài
BLTTDS đưa ra 2 trường hợp
- Trường hợp bên phải thi hành có trách nhiệm chứng minh
Trang 4Căn cứ theo khoản 1 Điều 459 BLTTDS 2015: “ Tòa án không công nhận phán quyết của Trọng tài nước ngoài khi xét thấy chứng cứ do bên phải thi hành cung cấp cho Tòa án để phản đối yêu cầu công nhận là có căn cứ, hợp pháp
- Trường hợp Tòa án có thể tự chủ động xác định
Căn cứ theo khoản 2 Điều 459 BLTTDS 2015 thì người yêu cầu không công nhận và cho thi hành không có trách nhiệm cung cấp chứng cứ nhưng vẫn có quyền cung cấp chứng cứ và Tòa án có thể tự tìm kiếm căn cứ để quyết định không công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài
7 Anh (chị) hãy so sánh trình tự, thủ tục công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài với trình tự, thủ tục công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài
Giống: Quy trình và nội dung tại các quy định về : thời hiệu; đơn yêu cầu và tài liệu kèm theo; chuyển và thụ lý hồ sơ và chuẩn bị xét đơn yêu cầu; trình tự xét đơn yêu cầu; phiên họp xét đơn
Khác:
Nội dung so sánh Công nhận và cho thi hành
bản án, quyết định dân sự (Đ432 – Đ451 BLTTDS 2015
Công nhận và cho thi hành Phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam (Đ451-463 BLTTDS 2015) Thời hạn gửi đơn - Đối với đơn yêu cầu công
nhận và cho thi hành bản án quyết định dân sự của Toà án nước ngoài tại VN và đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài tại VN: Trong thời hạn 3 năm
kể từ ngày bản án, quyết định dân sự của TA nước ngoài có hiệu lực - Đối với đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân
sự của Toà án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam: Trong thời hạn
6 tháng kể từ ngày nhận được bản án, quyết định dân
sự đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam
- Trong thời hạn 3 năm kể từ ngày phán quyết của Trọng tài nước ngoài có hiệu lực
Trang 5Chuyển hồ sơ sau thụ lý Chỉ có thụ lý hoặc không thụ
lý Sau khi thụ lý mà Toà án xét thấy việc giải quyết yêu cầu
thuộc thẩm quyền của Toà
án khác thì chuyển hồ sơ cho toà án có thẩm quyền
Chuẩn bị xét đơn yêu cầu
công nhận và cho thi hành - Thời hạn chuẩn bị xét
đơn yêu cầu là 4 tháng, kể
từ ngày thụ lý
- Toà án phải mở phiên họp trong thời hạn 1 tháng
kể từ ngày ra quyết định
mở phiên họp
- Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Toà án cấp sơ thẩm có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định
- Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 2 tháng kể
từ ngày thụ lý
- Toà án phải mở phiên họp trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp
- Trách nhiệm của thẩm phán được quy định trong thời gian tạm đình chỉ
Quyền ra quyết định của
HĐXX tại phiên họp xét
xử
- Đối với đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dấn sự của Toà án nước ngoài tại Việt Nam; đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của TANN tại Việt Nam:
HĐXX có quyền ra quyết định công nhận và cho thi hành hoặc quyết định không công nhận bản án, quyết định dân sự của
HĐXX có quyền ra quyết định công nhận và cho thi hành Phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam hoặc quyết định không công nhận phán quyết đó
Trang 6- Đối với đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của Toà
án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam: HĐXX có quyền ra quyết định không công nhận bản án, quyết định dân sự của TANN hoặc bác đơn yêu cầu không công nhận
8 Anh (chị) hãy so sánh điều kiện công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài theo pháp luật tố tụng Việt Nam và Công ước New York 1958
v Tính mở của Công ước New York
Điều III Công ước nhấn mạnh: "Các quốc gia thành viên sẽ công nhận các phán quyết
trọng tài (nước ngoài) là có hiệu lực ràng buộc và cho thi hành các phán quyết này theo những nguyên tắc tố tụng của nơi mà phán quyết được xem xét công nhận và cho thi hành, theo các điều kiện nằm trong những điềukhoản tiếp theo của Công ước New York Pháp luật quốc gia không được áp đặt những điều kiện phức tạp hơn, hoặc phí/chi phí liên quan đến việc công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN chịu sự điều chỉnh của Công ước New York cao hơn việc công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài trong nước"
Như vậy, Công ước nhường lại việc quy định cụ thể quy trình, phương cách cho pháp luật của quốc gia nơi xem xét công nhận và cho thi hành Tuy nhiên, các điều kiện cơ bản, tối thiểu mà Công ước đã liệt kê thì pháp luật quốc gia không được xâm phạm
v Thời hiệu yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài
Công ước để ngỏ về vấn đề thời hiệu mà bên yêu cầu có thể vận dụng để thực hiện quyền yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN Vấn đề này được Công ước chuyển lại cho pháp luật quốc gia tùy nghi hoạch định
Bộ luật TTDS năm 2015 đã quy định thời hiệu là 3 năm (Điều 451) Điều này có ý nghĩa lớn đối với bên yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN tại Việt Nam vì họ sẽ
có thêm thời gian để nghiên cứu các tình huống, chuẩn bị các tài liệu cần thiết, cũng như xem xét lựa chọn tòa án nào mình có thể cậy nhờ để thi hành phán quyết của trọng tài trên thực tế
Trang 7v Việc gửi tài liệu của bên yêu cầu
Công ước không quy định bên yêu cầu phải tiến hành gửi tài liệu cho cơ quan nào, với các bước cụ thể ra sao, bởi lẽ tại Điều III Công ước đã nêu rõ quy trình công nhận và cho thi hành hoàn toàn chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật Việt Nam, theo khoản 1 Điều 451 Bộ luật TTDS năm 2015, bên yêu cầu có hai quyền, hoặc là gửi cho Bộ Tư pháp hoặc là gửi trực tiếp cho tòa án mà mình cậy nhờ xem xét yêu cầu công nhận và cho thi hành Quy định giúp cho bên yêu cầu thực hiện được quyền của mình dễ hơn, hạn chế được thời gian phải gửi đơn qua Bộ Tư pháp Hơn nữa, quy định này cũng phù hợp với Điều VII Công ước khi không khước từ các quy định khác với Công ước nằm trong ĐƯQT mà các nước thành viên tham gia
v Các tài liệu cần gửi khi yêu cầu công nhận và cho thi hành
Theo Điều IV của Công ước, bên yêu cầu muốn tòa án một nước công nhận và cho thi
hành phán quyết của TTNN thì phải nộp đơn yêu cầu, kèm theo đó là bản gốc có xác thực hợp lệ hoặc bản sao có chứng thực hợp lệ của phán quyết trọng tài và bản gốc thỏa thuận trọng tài hoặc bản sao có chứng thực hợp lệ của thỏa thuận trọng tài Nếu phán quyết trọng tài được tuyên bằng ngôn ngữ không phải là ngôn ngữ chính thức của nước nơi có tòa án xem xét việc công nhận và cho thi hành thì tòa án có thể yêu cầu bên yêu cầu phải nộp thêm bản dịch hợp lệ được xác nhận bởi một thông dịch viên chính thức hay đã tuyên thệ hoặc bởi một
cơ quan ngoại giao hoặc lãnh sự.
Bộ luật TTDS năm 2015 tại Điều 453 đã quy định rằng bên được thi hành phải nộp
kèm theo đơn yêu cầu bản chính hoặc bản sao có chứng thực phán quyết của TTNN và bản chính hoặc bản sao có chứng thực thỏa thuận trọng tài giữa các bên Quy định này một mặt thể hiện sự tuân thủ của pháp luật Việt Nam đối với Công ước, mặt khác tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi hơn để bên yêu cầu có thể đáp ứng các tiêu chí của quy trình công nhận và cho thi hành
v Nghĩa vụ chứng minh của các bên
Khi bên được thi hành trong phán quyết trọng tài tiến hành yêu cầu công nhận và cho thi hành, bên này phải thực hiện nghĩa vụ chứng minh Nghĩa vụ chứng minh này bao gồm hai loại tài liệu: thỏa thuận trọng tài và phán quyết trọng tài, toà án công nhận không được quyền đòi thêm các văn bản nào khác ngoài các văn bản nêu tại Điều IV, ngoại trừ các văn bản chứng minh tư cách tố tụng của bên yêu cầu Bên còn lại, nếu muốn phản đối yêu cầu của bên được thi hành thì, theo khoản 1 Điều V Công ước, sẽ phải chứng minh với tòa án rằng phán quyết trọng tài đã vi phạm điểm từ a đến e
Tại khoản 1 Điều 459 Bộ luật TTDS năm 2015 khi quy định: "Tòa án không công nhận phán quyết của TTNN khi xét thấy chứng cứ do bên phải thi hành cung cấp cho Tòa án
để phản đối yêu cầu công nhận là có căn cứ, hợp pháp và phán quyết trọng tài thuộc một trong các trường hợp sau đây…" Theo quy định này, nghĩa vụ chứng minh đặt lên vai của bên phải thi hành, điều này trùng khớp với quy định tại Điều V của Công ước
Trang 89 Từ nội dung Điều 423 và Điều 424 - Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, hãy nêu:
a Nguyên tắc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; nguyên tắc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các phán quyết của Trọng tài nước ngoài
Dựa vào nội dung Điều 423, nguyên tắc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài
- Nguyên tắc tôn trọng và tuân thủ các cam kết quốc tế: Cơ chế công nhận và cho thi hành là chiếc cầu nói để đảm bảo phán quyết của cơ quan tài phán nước ngoài có thể được công nhận và cho thi hành tại quốc gia khác Để thực hiện điều đó các quốc gia tương tác với nhau xây dựng những cơ chế cụ thể thông qua các ĐƯQT để thực hiện chế định trên Để thực hiện những cam kết trong ĐƯQT mà VN đã ký kết thì các BA,
QĐ về dân sự … được quy định trong ĐƯQT sẽ được công nhận và cho thi hành
- Nguyên tắc có đi có lại: Nguyên tắc này được áp dụng khi giữa VN và quốc gia không
bị ràng buộc bởi các ĐƯQT, nhưng vẫn có thể công nhận và cho thi hành phán quyết của cơ quan tài phán của nhau trên cơ sở có đi có lại
- Những BA, QĐ dân sự khác của TA nước ngoài được pháp luật VN quy định công nhận và cho thi hành (Nguyên tắc tự nguyện công nhận và cho thi hành)
Dựa vào nội dung Điều 424, Nguyên tắc công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam
- Nguyên tắc tôn trọng và thực hiện các cam kết quốc tế
- Nguyên tắc có đi có lại
- Phán quyết trọng tài nước ngoài là phán quyết cuối cùng, giải quyết toàn bộ nội dung, chấm dứt tố tụng trọng tài và có hiệu lực thi hành
b Các đối tượng của hoạt động xem xét công nhận và cho thi hành tại bản án, quyết định
dân sự của Tòa án nước ngoài; phán quyết của Trọng tài nước ngoài
- Các đối tượng của hoạt động xem xét công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài gồm:
+ Các BA, QĐ của các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, QĐ về tài sản trong
BA, QĐ hình sự, hành chính Được quy quy định trong ĐƯQT mà VN là thành viên/ Ko bị ràng buộc bởi các ĐƯQT nhưng có đi có lại/ Pháp luật VN quy định công nhận và cho thi hành
- Các đối tượng cuả hoạt động xem xét công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài:
+ Phán quyết của Trọng tài nước ngoài liên quan đến lĩnh vực thương mại mà giữa VN vs nước đó cùng là thành viên ĐƯQT
+ Phán quyết Trọng tài nước ngoài mà giữa VN vs nước đó ko bị ràng buộc bởi các điều ước quốc tế nhưng được thực hiện dựa trên nguyên tắc có đi có lại
Trang 910 Các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của cơ quan khác
có thẩm quyền của nước ngoài đều đương nhiên được công nhận tại Việt Nam
- Nhận định sai
- CSP: khoản 1 Điều 427 BLTTDS 2015
- Giải thích: Trừ các trường hợp bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của cơ quan khác có thẩm quyền tại nước ngoài được đương nhiên công nhận theo Điều 431 Của BLTTDS 2015 thì các bản án quyết định dân sự khác của Tòa án nước ngoài hay của các
cơ quan khác có thẩm quyền ở nước ngoài sẽ không được đương nhiên công nhận tại Việt Nam Muốn các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài này được công nhận tại Việt Nam thì chủ thể có quyền phải làm đơn yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành các bản án, quyết định này
và phải được Tòa án Việt Nam công nhận
11 Bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài, quyết định về hôn nhân và gia đình của các cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài chỉ được công nhận đương nhiên tại Việt Nam khi có điều ước quốc tế giữa Việt Nam và nước đó.
Sai
Bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài, quyết định về hôn nhân
và gia đình của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài khi nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của ĐƯQT Thêm vào đó, quyết định của nước ngoài phải thỏa 2 điều kiện (i) không có yêu cầu thi hành và (ii) không có đơn yêu cầu không công nhận tại VN
CSPL: khoản 2 Điều 431 BLTTDS 2015
12 Từ nội dung của khoản 4 Điều 438 và khoản 4 Điều 458 Bộ luật Tố tụng dân sự
2015, hãy nêu bản chất của hoạt động công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các bản
án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; phán quyết của Trọng tài nước ngoài
Công nhận và cho thi hành quyết định của cơ quan nước ngoài tại Việt Nam là việc Việt Nam thừa nhận hiệu lực pháp luật của quyết định này và cho phép chúng được thi hành trên lãnh thổ Việt Nam Công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa
án nước ngoài thể hiện ý chí của quốc gia công nhận và thi hành; được thực hiện thông qua cơ quan trong bộ máy nhà nước; là một quá trình của tố tụng dân sự quốc tế, thể hiện sự hợp tác giữa các quốc gia trong hoạt động tương trợ tư pháp; là thủ tục xem xét
và quyết định trao hiệu lực tại nước sở tại cho bản án, quyết định được yêu cầu Đồng thời, việc công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án, phán quyết Trọng tài nước ngoài còn có ý nghĩa quan trọng trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, pháp lý Đây còn là một căn cứ pháp luật quan trọng để xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với các yêu cầu giải quyết khi vụ việc có yếu tố nước ngoài Vậy bản chất của hoạt động công nhận là cho thi hành là quốc gia sở tại thừa nhận giá trị hiệu lực pháp lý của các bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài và cho phép thi hành tại quốc gia mình
Trang 10II CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM ĐÚNG, SAI VÀ GIẢI THÍCH TẠI SAO
1 Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài có thể được thi hành tại một quốc gia nếu nó chưa được Tòa án quốc gia đó công nhận
Nhận định Sai
Về khái niệm, công nhận được hiểu là việc một quốc gia thừa nhận hiệu lực pháp lý của Bản
án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài trên lãnh thổ nước mình Trên cơ sở sự công nhận, các bản án, quyết định này mới được cho thi hành
và thi hành nếu một bản án, quyết định không được công nhận tại Tòa án một nước, thì không có căn cứ pháp lý để thi hành
2 Về nguyên tắc, tất cả các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài khi được công nhận tại một quốc gia thì đương nhiên được thi hành tại quốc gia đó
3 Để công nhận và cho thi hành các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài, Tòa án nhận đơn yêu cầu phải giải quyết lại nội dung của vụ việc
- Nhận định sai
- CSPL: khoản 4 Điều 438 và khoản 4 Điều 458 BLTTDS 2015
- Giải thích: Bản chất của công nhận và cho thi hành là việc Tòa án nước được yêu cầu chỉ làm nhiệm vụ xem xét quyết định, bản án nước người được tuyên có tuân theo các điều kiện
về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa án nước ngoài, phán quyết của trọng tài nước ngoài có phù hợp với pháp luật hay không chứ không xem xét lại vụ án đã được xét
xử Cụ thể, Tòa án chỉ kiểm tra, đối chiếu bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, phán quyết của trọng tài nước ngoài, xem xét giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu với các quy định của pháp luật quốc gia và điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên để làm cơ sở cho việc ra quyết định công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận bản án, quyết định
đó Theo đó, Tòa án nhận đơn yêu cầu không giải quyết lại nội dung của vụ việc
4 Tất cả các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài khi có nhu cầu thi hành tại Việt Nam thì chỉ cần thực hiện thủ tục yêu cầu cơ quan thi hành án cho thi hành phán quyết đó
SAI
Không phải tất cả các bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, phán quyết của trọng tài nước ngoài điều được công nhân và cho thi hành tại Việt nam mà chỉ có các bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, phán quyết của trọng tài nước ngoài quy định tại Điều 423,424 BLTTDS 20152015 mới được công nhận và cho thi hành
Thẩm quyền công nhận và trình tự thủ tục đối với BA, QĐ dân sự của Tòa án nước ngoài được quy quy định tại Chương XXXVI BLTTDS 2015
Thẩm quyền công nhận và trình tự thủ tục đối với phán quyết của Trọng tài nước ngoài được quy định tại Chương XXXVII BLTTDS 2015