CHƯƠNG 2 XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT I CÂU HỎI TỰ LUẬN (4,9,15) 1) Có nhận định “Xung đột pháp luật là hiện tượng đặc thù của TPQT” Anh chị hãy chứng minh nhận định này là đúng Thứ nhất, đ.
Trang 1CHƯƠNG 2: XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
I CÂU HỎI TỰ LUẬN (4,9,15)
1) Có nhận định: “Xung đột pháp luật là hiện tượng đặc thù của TPQT” Anh chị hãy chứng minh nhận định này là đúng.
Thứ nhất, đối tượng điều chỉnh của TPQT là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Theo đó, khi QHDS có yếu tố nước ngoài xảy ra sẽ không thể áp dụng cùng lúc hai hệ thống pháp luật khác nhau để giải quyết mà chỉ có thể căn cứ vào quy phạm pháp luật trong nước để cơ quan
có thẩm quyền (Tòa án) chọn hệ thống luật này hoặc hệ thống pháp luật kia để áp dụng điều chỉnh QHDS này
Thứ hai, tùy vào điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội mà pháp luật các nước luôn luôn có sự khác nhau nhưng sự khác nhau này lại được áp dụng để giải quyết một quan hệ cụ thể nên thường sẽ gây ra hiện tượng xung đột
2) Xung đột pháp luật có xảy ra trong hệ thống pháp luật của một quốc gia hay không?
Ở VN - nhà nước đơn nhất, trong hệ thống pháp luật của một quốc gia không xảy ra xung đột pháp luật mà chỉ xảy ra xung đột giữa các quy phạm pháp luật trong nước của một quốc gia Đây là hiện tượng mâu thuẫn (chồng chéo) giữa các ngành luật, giữa các văn bản pháp luật quốc gia Những mâu thuẫn này không có tính chất đối kháng bởi các quy phạm pháp luật do
ý chí của chính quốc gia đó đề ra và có thể được giải quyết bởi các đạo luật có giá trị pháp lý cao hơn
Bên cạnh đó, đối với nhà nước liên bang sẽ có hiện tượng xung đột
3) Chứng minh phương pháp xung đột là phương pháp giải quyết xung đột pháp luật hiệu quả
Để giải quyết xung đột pháp ta có 2 phương pháp để giải quyết: Phương pháp thực chất và phương pháp xung đột
- Đối với phương pháp thực chất: quy phạm thực chất quy định cụ thể các quyền và
nghĩa vụ của các bên, việc áp dụng rất dễ dàng và nhanh chóng Hiện nay, các quy phạm thực chất chủ yếu được xây dựng trong lĩnh vực thương mại quốc tế, nhiều quan hệ về lao động, hôn nhân gia đình, vẫn chưa được xây dựng để điều chỉnh Điều này xuất phát từ việc các quốc gia có lợi ích khác nhau khi tham gia tư pháp quốc tế, có thể chế CT, trình độ phát triển KT-XH khác nhau, nên các quốc gia khó
có thể ngồi lại để xây dựng hết các quy phạm thực chất
- Đối với phương pháp xung đột: Khi không có quy phạm thực chất thì cơ quan có
thẩm quyền sẽ áp dụng quy phạm xung đột để giải quyết Quy phạm xung đột chỉ ra
hệ thống pháp luật quốc gia được áp dụng trong hầu hết các mối quan hệ của tư pháp quốc khắc phục tình trạng không có quy phạm thực chất để giải quyết Do đó phương pháp xung đột được dùng khá phổ biến và hiệu quả trong lúc quy phạm thực chất còn
Trang 2hạn chế.
4) Anh chị hãy trình bày chế tài của hiện tượng lẩn tránh pháp luật
Lẩn tránh pháp luật là thủ đoạn của đương sự để lẩn tránh khỏi sự chi phối của hệ thống pháp luật lẽ ra phải được áp dụng và lường sự dẫn chiếu của quy phạm pháp luật xung đột đến hệ thống pháp luật khác có lợi cho mình
Hầu hết các nước trên thế giới đều xem đây là hiện tượng không bình thường và đều hạn chế hoặc ngăn cấm Biện pháp để ngăn cấm, hạn chế ở các nước cũng khác nhau
- Ở Pháp: Tòa án không chấp nhận việc “lẩn tránh pháp luật”và ở Pháp đã hình thành nguyên tắc pháp luật là mọi hành vi, mọi hợp đồng ký kết mà “lẩn tránh pháp luật” đều bị coi là bất hợp pháp
- Ở Anh - Mỹ: nếu các hợp đồng giữa các bên ký kết mà “lẩn tránh pháp luật” của các nước này, sẽ bị Tòa án hủy bỏ
- Ở Nga: Điều 48 BLDS Cộng hòa liên bang Nga quy định: “Các hợp đồng ký kết nhằm lẩn tránh pháp luật bị coi là vô hiệu”
- Ở Bồ Đào Nha: Điều 21 BLDS Bồ Đào Nha quy định: “Trong quá trình áp dụng quy phạm xung đột pháp luật, coi như không có giá trị pháp lý những hoàn cảnh pháp lý được thiết lập với mục đích tránh áp dụng pháp luật thông thường được chỉ định để điều chỉnh”
- Ở Rumani: Điểm b Điều 8 Luật Rumani ngày 22/9/1992 về quan hệ có yếu tố nước ngoài, “áp dụng pháp luật nước ngoài bị gạt bỏ khi nó được chỉ dẫn do lẩn tránh pháp luật Khi pháp luật nước ngoài bị gạt bỏ, pháp luật Rumani được áp dụng”
- Ở Tuynidi: Điều 30 Bộ luật Tư pháp quốc tế Tuy-ni-di (1998), “lẩn tránh pháp luật được hình thành bởi thay đổi giả tạo bộ phận của quy phạm xung đột pháp luật liên quan đến hoàn cảnh pháp lý thực tiễn với mục đích tránh pháp luật Tuy-ni-di hoặc pháp luật nước ngoài được chỉ định điều chỉnh bởi quy phạm xung đột thông thường được áp dụng Khi điều kiện của lẩn tránh pháp luật được thỏa mãn, sự thay đổi thành phần của quy phạm xung đột không được sử dụng”
Ở nước ta, hiện tượng “lẩn tránh pháp luật” trong tư pháp quốc tế hầu như chưa có, nhưng trong các văn bản pháp luật đã ban hành từng có những quy định cấm các trường hợp lẩn tránh Ví dụ: Theo khoản 4 Điều 6 Pháp lệnh về Hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài năm 1993, thì “Việc kết hôn của công dân Việt Nam với người nước ngoài được tiến hành ở nước ngoài và tuân theo pháp luật nước đó về nghi thức kết hôn thì được công nhận tại Việt Nam, trừ trường hợp việc kết hôn đó có ý định rõ ràng là để lẩn tránh các quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn và cấm kết hôn” Phân tích quy định này chúng ta thấy, Nhà nước Việt Nam thừa nhận giá trị pháp lý của việc kết hôn tiến hành ở nước ngoài, nếu như việc kết hôn đó tiến hành đúng theo các quy định của pháp luật, không lẩn tránh pháp luật Việt Nam để hướng đến một hệ thống pháp luật khác có lợi hơn Như vậy, pháp luật Việt Nam cũng đã thể hiện rõ quan điểm không chấp nhận hiện
Trang 3tượng lẩn tránh pháp luật.
Tuy nhiên, quy định này chỉ giới hạn ở lĩnh vực kết hôn có yếu tố nước ngoài Thêm vào đó,
nó cũng chưa nói rõ hậu quả của việc “lẩn tránh” sẽ như thế nào và việc xử lý sẽ tiến hành theo pháp luật nước nào Đến nay, điều khoản cũng không còn hiệu lực (Pháp lệnh này đã bị thay thế bởi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, có hiệu lực từ ngày 01/01/2001) Vì vậy,
có thể kết luận đến thời điểm này, chúng ta chưa có một cơ sở pháp lý chung để xử lý hiện tượng “lẩn tránh pháp luật” trong quan hệ có yếu tố nước ngoài
5) Vì sao có hiện tượng xung đột pháp luật trong TPQT?
- Do mỗi một quốc gia trên thế giới có các điều kiện khác nhau về chính trị, kinh tế - xã hội phong tục tập quán, truyền thống lịch sử…, từ đó hình thành nên một hệ thống pháp luật riêng của mình và các hệ thống pháp luật đó khác nhau, thậm chí là trái ngược nhau
6) Chứng minh quy phạm xung đột là quy phạm đặc thù của TPQT.
- Trong các ngành luật khác, khi quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của chúng phát sinh, không có hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng tham gia vào việc điều chỉnh cùng một quan hệ xã hội ấy, và cũng không có sự lựa chọn luật để áp dụng vì các quy pháp pháp luật của các ngành luật này mang tính tuyệt đối
về mặt lãnh thổ
- Chỉ khi các quan hệ tư pháp quốc tế xảy ra thì mới có hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng tham gia điều chỉnh quan hệ đó và làm nảy sinh yêu cầu về chọn luật áp dụng nếu trong trường hợp không có quy phạm thực chất thống nhất
- Quy phạm xung đột là quy phạm xác định luật pháp nước nào sẽ được áp dụng để điều chỉnh một quan hệ pháp luật dân sự có yếu tố nước ngoài trong một tình huống thực tế Quy phạm xung đột là quy phạm đặc biệt không trực tiếp quy định quyền, nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia quan hệ xã hội cũng như các hình thức và biện pháp chế tài có thể được áp dụng đối với đương sự vi phạm pháp luật
- Do đó cho thấy được quy phạm xung đột là quy phạm đặc thù của TPQT
7) Vì sao cần phải áp dụng cả hai phương pháp xung đột và phương pháp thực chất
để giải quyết xung đột pháp luật?
Bởi 2 phương pháp cũng tồn tại những ưu nhược điểm mà với việc chỉ sử dụng 1 phương pháp thôi là không đủ để điều chỉnh quan hệ cần điều chỉnh Ví dụ nếu sử dụng phương pháp thực chất nhưng không có quy phạm thực chất tương ứng để điều chỉnh và ngược lại
8) Khi áp dụng điều ước quốc tế để giải quyết xung đột pháp luật thì có thể coi rằng hiện tượng xung đột pháp luật đã bị triệt tiêu không? Vì sao?
Sai Nói hiện tượng xung đột pháp luật đã bị triệt tiêu tức là xem rằng có thể tùy nghi chọn luật pháp của 1 quốc gia trong quan hệ cần điều chỉnh Do đó với việc áp dụng điều ước quốc
tế thì không thể nói hiện tượng trên đã bị triệt tiêu
Trang 4- Khi áp dụng ĐƯQT -> chủ yếu là áp dụng quy phạm thực chất -> ĐƯQT không giải quyết được tất cả các vấn đề
- Bản chất xung đột PL là sự khác nhau Sự khác nhau không thể bị mất đi được do mỗi
QG có hệ thống PL riêng
9) Khi pháp luật được dẫn chiếu có nhiều hơn một hệ thống pháp luật thì áp dụng pháp luật như thế nào?
Trong trường hợp này, việc xác định hệ thống pháp luật nào được áp dụng cần tuân theo nguyên tắc xác định pháp luật do chính quốc gia nước ngoài đó quy định Vấn đề này được
ghi nhận tại Điều 669 BLDS 2015 “Trường hợp pháp luật của nước có nhiều hệ thống pháp luật được dẫn chiếu đến thì pháp luật áp dụng được xác định theo nguyên tắc do pháp luật nước đó quy định.”
Một quốc gia có thể có nhiều hệ thống pluat bên trong, vd nhà nước liên bang nếu áp dụng luật của nước này thì lấy pluat nào:2 cách
- Cách đc rộng rãi: lấy các quy tắc để xđ luật trong chính nước mình đg áp dụng để tìm ra vd nam mỹ kết hôn nữ vn=> tuân theo luật kết hôn của mỹ ( mỹ k có luật hngđ mà phải lấy bang=> lấy chính qp xung đột của mỹ áp dụng=> cư trú ở đâu lấy pluat bang đó)
- Ở TQ: áp dụng luật nội bộ của nước đó, lấy luật nào là do mối liên hệ gắn bó nhất ( sự gắn
bó là do tòa gthich) vd như pluat của mỹ: họ gthich giống nhất với bang nào=> bang đó tăng khả năng tự chủ của tòa=> bản án khó đc công nhận bởi nước khác
10) Phân tích vai trò của Lex fori trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu
tố nước ngoài.
● Áp dụng triệt để về luật tố tụng hay luật hình thức
● Là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền sử dụng các quy phạm xung đột của nước mình nhằm chọn luật áp dụng
● Dẫn chiếu nhằm tìm ra hệ thống pháp luật được áp dụng về mặt nội dung.Ngoài ra, Lex fori còn được sử dụng như một hệ thuộc luật bổ trợ khi giải quyết các vụ việc dân
sự có yếu tố nước ngoài
11) Tại sao phải giải quyết xung đột pháp luật?
Phải giải quyết xung đột pháp luật vì một quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài tham gia, cần phải áp dụng hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau của quốc gia có liên quan để điều chỉnh cho quan hệ pháp luật đó và điều đó có thể dẫn đến những kết quả khác nhau Vì vậy, cần phải giải quyết xung đột pháp luật để chọn được hệ thống pháp luật nào trong các hệ thống pháp luật có liên quan để điều chỉnh quan hệ pháp luật đó Từ đó tìm
ra một nguyên tắc chung để “chọn luật” thích hợp nhằm điều chỉnh quan hệ tư pháp đó
12) Hệ thuộc luật là gì?
Hệ thuộc luật là một bộ phận cấu thành của quy phạm xung đột, quy định nguyên tắc áp dụng luật, tức là xác định hệ thống pháp luật quốc gia nào cần được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ được nêu trong phần phạm vi Hệ thuộc luật chính là phần đặc biệt nhất tạo nên sự
Trang 5độc đáo của quy phạm xung đột so với các loại quy phạm pháp luật khác.
Trong phần hệ thuộc, theo nguyên tắc là căn cứ vào dấu hiệu - là hệ thống pháp luật mà phận
hệ thuộc của quy phạm xung đột chỉ ra - để từ đó tìm ra nguyên tắc chung và trên cơ sở nguyên tắc chung này để cơ quan có thẩm quyền chọn luật áp dụng giải quyết cho các quan
hệ tư pháp quốc tế đó Một số kiểu hệ thuộc giải quyết xung đột cơ bản:
- Hệ thuộc luật nhân thân
- Hệ thuộc luật quốc tịch của pháp nhân
- Hệ thuộc luật Tòa án
- Hệ thuộc luật nơi có vật hoặc luật nơi có tài sản
- Hệ thuộc luật nơi ký kết hợp đồng
- Hệ thuộc luật nơi thực hiện nghĩa vụ
- Hệ thuộc luật nơi xảy ra hành vi vi phạm pháp luật
- Hệ thuộc luật của nước người bán
- Hệ thuộc luật của người ký kết hợp đồng tự chọn
- Hệ thuộc luật quốc tịch của phương tiện
13) Hãy cho biết trong những trường hợp nào Tòa án VN cần phải áp dụng pháp luật nước ngoài khi giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.
Căn cứ theo khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Trong đó Tòa
án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong những trường hợp sau đây:
- Bị đơn là cá nhân cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam;
- Bị đơn là cơ quan, tổ chức có trụ sở tại Việt Nam hoặc bị đơn là cơ quan, tổ chức có chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam đối với các vụ việc liên quan đến hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan, tổ chức đó tại Việt Nam;
- Bị đơn có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam;
- Vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam hoặc các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam;
- Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở Việt Nam, đối tượng của quan hệ đó là tài sản trên lãnh thổ Việt Nam hoặc công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam;
- Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc có trụ sở, nơi cư trú tại Việt Nam
14) Hãy trình bày điều kiện để pháp luật nước ngoài được áp dụng tại VN và hãy đánh giá về những quy định này.
Pháp luật nước ngoài được áp dụng khi đáp ứng các điều kiện sau đây:
Trang 6- Các bên phải có thỏa thuận hoặc có quy phạm pháp luật xung đột dẫn chiếu đến trong Điều ước quốc tế/pháp luật quốc gia
- Thỏa thuận về áp dụng pháp luật nước ngoài phải đáp ứng đủ các điều kiện do pháp luật đặt ra
- Nội dung của pháp luật nước ngoài phải được xác định
- Hậu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam
Nội dung trên được quy định trong các văn bản pháp luật Việt Nam: Ví dụ
“Điều 670 (BLDS 2015) Trường hợp không áp dụng pháp luật nước ngoài
1 Pháp luật nước ngoài được dẫn chiếu đến không được áp dụng trong trường hợp sau đây: a) Hậu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam;
b) Nội dung của pháp luật nước ngoài không xác định được mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng
2 Trường hợp pháp luật nước ngoài không được áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều này thì pháp luật Việt Nam được áp dụng.”
Từ những điều kiện trên nhóm có đánh giá nhau sau: Xét về gốc độ hội nhập với thế giới thì Việt Nam đã mở cửa hội nhập kinh tế với các nước trên thế giới bằng việc thừa nhận áp dụng pháp luật nước ngoài Việc không áp dụng pháp luật nước ngoài khi hậu quả của việc áp dụng trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam cũng là phù hợp với quy định của các nước trên thế giới
Tham khảo: https://luathoanganh.vn/hoi-dap-luat-doanh-nghiep/dieu-kien-ap-dung-phap-luat-nuoc-ngoai-la-gi-lha3613.html
https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1919
15) Khi áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, TA cần phải tuân thủ theo những nguyên tắc nào? Vì sao?
Thứ nhất, phải thuộc trường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài
Nhóm 1: Pháp luật nước ngoài được áp dụng theo quy định của ĐƯQT mà VN là thành viên
và theo pháp luật VN
Nhóm 2: Theo sự lựa chọn pháp luật nước ngoài của các bên => phải tuân thủ các điều kiện
do pháp luật đặt ra
Thứ hai, nếu thuộc trường hợp tại Điều 670 BLDS 2015 thì không được áp dụng pháp luật
nước ngoài
Thứ ba, khi áp dụng pháp luật nước ngoài là áp dụng toàn bộ hệ thống pháp luật được dẫn
chiếu đến Áp dụng đầy đủ các nguồn luật có liên quan, những vấn đề có liên quan (từ giải thích đến đưa ra các biện pháp) phải áp dụng pháp luật nước đã chọn hết
Trang 7Ở VN, (ví dụ khoản 1 Điều 673 và khoản 1 Điều 668 BLDS 2015) Tuy nhiên ngoại lệ ở đây
là trường hợp áp dụng theo khoản 4 Điều 668
16) Theo pháp luật VN, ai là chủ thể có nghĩa vụ phải xác định nội dung pháp luật nước
ngoài? Theo anh chị quy định này phù hợp hay không?
17) Khi TA VN áp dụng pháp luật nước ngoài, những vấn đề pháp lý nào có thể phát sinh? 18) Anh chị hiểu thế nào là “trật tự công cộng”? Mục đích của việc bảo lưu trật tự công cộng là gì?
“Trật tự công” được hiểu là những nguyên tắc cơ bản của một hệ thống pháp luật quốc gia nào đó
Mục đích của việc bảo lưu trật tự công cộng: Chủ quyền quốc gia là thiêng liêng và bất khả xâm phạm, việc áp dụng pháp luật nước ngoài xâm phạm đến trật tự công là điều không thể chấp nhận được Do đó mục đích của việc bảo lưu trật tự công cộng nhằm thể hiện chủ quyền quốc gia là tuyệt đối và bất khả xâm phạm
19) Pháp luật VN quy định như thế nào về hiện tượng dẫn chiếu ngược trở lại và dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba
Điều 668 BLDS 2015
“Điều 668 Phạm vi pháp luật được dẫn chiếu đến
1 Pháp luật được dẫn chiếu đến bao gồm quy định về xác định pháp luật áp dụng và quy định về quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ dân sự, trừ trường hợp quy định tại
khoản 4 Điều này
2 Trường hợp dẫn chiếu đến pháp luật Việt Nam thì quy định của pháp luật Việt Nam về quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ dân sự được áp dụng.
3 Trường hợp dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba thì quy định của pháp luật nước thứ
ba về quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ dân sự được áp dụng.
4 Trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 664 của Bộ luật này thì pháp luật mà các bên lựa
chọn là quy định về quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ dân sự, không bao gồm
quy định về xác định pháp luật áp dụng.”
20) Theo anh chị, có nên thừa nhận hiện tượng dẫn chiếu ngược trở lại và dẫn chiếu đến
pháp luật của nước thứ ba hay không? Vì sao?
Trang 8II NHẬN ĐỊNH
1 Xung đột pháp luật là hiện tượng xảy ra ở tất cả các lĩnh vực trong TPQT.
Nhận định Sai
Xung đột pháp luật không xảy ra ở tất cả lĩnh vực trong TPQT mà chỉ xảy ra ở lĩnh vực dân
sự, không tồn tài trong quan hệ TTDS vì trong quan hệ TTDS chỉ chọn ra Tòa án có thẩm quyền giải quyết còn vấn đề cụ thể hơn sẽ áp dụng pháp luật quốc gia có tòa án đã được lựa chọn
2 Luật lựa chọn chỉ được áp dụng để giải quyết các quan hệ về quyền và nghĩa vụ trong
hợp đồng
3 Chỉ khi nào quy phạm xung đột được áp dụng thì mới có xung đột pháp luật phát sinh
4 Quy phạm xung đột có thể không có hệ thuộc.
Nhận định: Sai
Giải thích: Quy phạm pháp luật xung đột trong Tư pháp quốc tế được cấu thành bởi hai thành phần là phần phạm vi và phần hệ thuộc
- Phần phạm vi chỉ ra bối cảnh, điều kiện, những quan hệ mà quy phạm pháp luật xung đột điều chỉnh
- Phần hệ thuộc quy định nguyên tắc áp dụng pháp luật, tức là xác định hệ thống pháp luật của quốc gia nào cần được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ được nêu trong phần phạm vi
Như vậy, có thể thấy rằng hệ thuộc là phần thực hiện chức năng dẫn chiếu đến hệ thống pháp luật của quy phạm pháp luật xung đột Phần hệ thuộc là một trong hai bộ phận nền tảng cốt lõi không thể thiếu để cấu thành của quy phạm xung đột
5 Quy phạm xung đột một bên là quy phạm xung đột mệnh lệnh
Nhận định: Đúng
Giải thích:
Quy phạm pháp luật xung đột mệnh lệnh: là loại quy phạm xung đột có tính chất bắt buộc các bên có liên quan phải tuân thủ theo nội dung mà quy phạm quy định, không được quyền lựa chọn khác
Quy phạm xung đột một chiều (một bên): quy phạm chỉ ra trong trường hợp cụ thể đó pháp luật của nước nào cần được áp dụng
Từ đây, chúng ta có thể thấy rằng: Quy phạm pháp luật xung đột mệnh lệnh cũng quy định về việc xác định áp dụng pháp luật nước nào để giải quyết
6 Sự tồn tại của quy phạm thực chất trong điều ước quốc tế làm mất đi hiện tượng xung đột pháp luật
Nhận định: Sai
Trang 9Giải thích: Hiện tượng xung đột chỉ mất đi khi không còn điều kiện làm phát sinh xung đột Việc tồn tại của quy phạm thực chất trong điều ước quốc tế không làm mất đi hiện tượng xung đột pháp luật
7 Chỉ cần áp dụng một hệ thuộc trong việc giải quyết xung đột pháp luật
Nhận định Sai
Giải thích: Vì mỗi hệ thuộc luật đa số có một phạm vi áp dụng nhất định mà xung đột pháp luật có thể bao gồm nhiều phạm vi khác nhau vì vậy cần áp dụng một hoặc nhiều hệ thuộc để giải quyết xung đột pháp luật
8 Khi các bên trong hợp đồng thỏa thuận chọn pháp luật áp dụng để điều chỉnh quan hệ hợp đồng của họ thì pháp luật đó đương nhiên được áp dụng
Nhận định Sai
Giải thích: Luật do các bên lựa chọn để điều chỉnh quan hệ hợp đồng phải đáp ứng:
- Luật do các bên lựa chọn thỏa thuận không được trái với các nguyên tắc cơ bản của điều ước quốc tế mà các bên là thành viên, không trái với pháp luật quốc gia mà các bên mang quốc tịch
- Luật được lựa chọn phải là những quy phạm trực tiếp giải quyết vấn đề
(Nói 5 điều kiện chọn luật ra)
9 Khi pháp luật các nước quy định khác nhau về một vấn đề cụ thể sẽ làm phát sinh hiện tượng xung đột pháp luật.
Nhận định Sai
Giải thích: Xung đột pháp luật phát sinh khi đủ 2 điều kiện:
- Phải có quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh trên thực tế cần điều chỉnh
- Phải có sự khác biệt về nội dung cụ thể giữa các hệ thống pháp luật có liên quan
Vì vậy, khi các nước quy định khác nhau về một vấn đề cụ thể giữa các hệ thống pháp luật có liên quan về các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài mới phát sinh xung đột pháp luật Trường hợp pháp luật các nước quy định khác nhau về một vấn đề cụ thể về quan hệ hành chính, hình sự thì không làm phát sinh xung đột pháp luật
10 Phương pháp xung đột là phương pháp giải quyết xung đột pháp luật một cách trực tiếp
Sai Phương pháp xung đột không trực tiếp giải quyết xung đột pháp luật mà chỉ ra hệ thống pháp luật được áp dụng để điều chỉnh cho quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài bằng cách sử dụng các quy phạm xung đột
PP xung đột là pp gián tiếp xây dựng nên quy phạm xung đột để giải quyết hiện tượng xung đột pháp luật (pp giải quyết hiện tượng xung đột pháp luật) => trực tiếp cũng đúng Nếu là PP điều chỉnh thì sẽ là Sai
11 Chỉ khi nào quy phạm xung đột được áp dụng thì mới có xung đột pháp luật phát
Trang 10Sai Xung đột pháp luật phát sinh khi có hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Quy phạm xung đột được xây dựng để giải quyết xung đột pháp luật Vậy nên, Hiện tượng xung đột pháp luật phát sinh trước mới đặt ra yêu cầu áp dụng quy phạm xung đột
12 Tòa án VN chỉ áp dụng pháp luật nước ngoài khi có ít nhất một trong các đương
sự là người nước ngoài
Sai Pháp luật nước ngoài có thể được áp dụng trong trường hợp quan hệ dân sự có yếu
tố nước ngoài Trường hợp các bên không là người nước ngoài nhưng việc xác lập, thay đổi,
chấm dứt QHDS xảy ra ở nước ngoài hoặc đối tượng QHDS ở nước ngoài thì vẫn xác định là QHDS có yếu tố nước ngoài
CSPL: khoản 2 Điều 663 BLDS 2015
13 Tòa án luôn luôn có nghĩa vụ xác định nội dung pháp luật nước ngoài cần áp dụng
CSPL: Khoản 1 Điều 481 BLTTDS 2015
Căn cứ theo quy định này , trường hợp đương sự được quyền sự lựa chọn pháp luật điều chỉnh thì cũng có nghĩa vụ xác định nội dung pháp luật nước ngoài để tòa án giải quyết
14 Pháp luật nước ngoài đương nhiên được áp dụng trong trường hợp các bên trong quan hệ thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài đó.
CSPL: Điều 481 BLTTDS 2015
Chỉ trong trường hợp Tòa án Việt Nam áp dụng pháp luật nước ngoài Bởi việc có được áp dụng hay không phải tuân theo quy định của luật Việt Nam và các văn bản luật quốc tế mà Việt Nam là thành viên
15 Nguyên tắc cơ bản của pháp luật được hiểu là các quy pháp thực chất trong pháp luật VN.
(câu này em ko nhớ nên em hỏi mạng, em đọc em ko hỉu, mn chỉ em nha)
Nhận định sai
Trong thực tiễn Tư pháp quốc tế, do các quy phạm thực chất có số lượng ít, không đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh các quan hệ Tư pháp quốc tế phát sinh ngày càng đa dạng; Trong khi các quy phạm xung đột xây dựng 1 cách đơn giản, nhanh hơn nên có số lượng lớn Do đó quy phạm xung đột đã điểu chỉnh hầu hết các quan hệ Tư pháp quốc tế Vì vậy phương pháp xung đột được coi là phương pháp cơ bản trong giai đoạn hiện nay
16 Mục đích của việc bảo lưu trật tự công cộng là nhằm giúp các Tòa án tránh việc áp dụng pháp luật nước ngoài
Nhận định Sai