1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thảo luận công pháp quốc tế CHƯƠNG 4 LÃNH THỔ VÀ BIÊN GIỚI QUỐC GIA

38 18 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lãnh Thổ Và Biên Giới Quốc Gia
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 127,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Phân tích tính chất chủ quyền quốc gia trên từng vùng lãnh thổ. 2. Bộ phận nào của lãnh thổ quốc gia, quốc gia có chỉ có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ? Cơ sở pháp lý? 3. Phân tích phương thức xác lập và thay đổi chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ? 4. Trình bày nội dung quyền tối cao đối với lãnh thổ? 5. Trình bày Nguyên tắc xác lập chủ quyền lãnh thổ? 6. Nêu và phân tích các chức năng của biên giới quốc gia. 7. Nêu và phân tích qui trình hoạch định biên giới quốc gia trên đất liền và trên biển đồng thời chỉ rõ những khác biệt trong việc hoạch định hai loại đường biên giới này. 8. Phân tích chế độ pháp lý các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia. 9. Phân tích chế độ pháp lý các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia. 10. Phân tích nguyên tắc chiếm hữu thật sự và vận dụng vào tình hình vụ tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. 11. Phân tích thực trạng về việc phân định biên giới quốc gia trên bộ của Việt Nam với các quốc gia láng giềng? 12. Phân tích thực trạng về việc phân định biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam với các quốc gia láng giềng? 13. Tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ đối với Hoàng Sa? 14. Tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ đối với Trường Sa? 15. Đầu năm 2014, CHLB Nga đưa quân vào Crimea, sau đó sáp nhập Crimea (sau khi Crimea trưng cầu dân ý) vào lãnh thổ của Nga. Bằng kiến thức về Luật biên giới và lãnh thổ quốc gia đã được học, anhchị hãy cho biết: Việc làm của CHLB Nga có phù hợp với các nguyên tắc về xác lập chủ quyền lãnh thổ? Cơ sở pháp lý? 16. Vào tháng 42014, Tổng thống Nga Vladimir Putin trả lời câu hỏi thắc mắc của Faina Ivanovna công dân Nga đề nghị ông Putin lấy lại bang Alaska, giống như đã sáp nhập Crimea. Tổng thống Putin đã từ chối chỉ vì vùng đất này quá lạnh. Bằng kiến thức về Luật biên giới và lãnh thổ quốc gia đã được học, anhchị hãy cho biết: CHLB Nga có cơ sở pháp lý để làm việc này không? 17. Vào tháng 112015, hai máy bay F16 của Thổ Nhĩ Kỳ đã bắn rơi máy bay Su24 của CHLB Nga vì Su24 vi phạm vùng trời của Thổ Nhĩ Kỳ. Bằng kiến thức về Luật biên giới và lãnh thổ quốc gia đã được học, anhchị hãy cho biết: Thổ Nhĩ Kỳ có quyền nói trên không? Cơ sở pháp lý? 18. Từ ngày 3092015, máy bay quân sự của CHLB Nga tham gia chiến dịch không kích tiêu diệt lực lượng IS ở trên lãnh thổ Syria. Bằng kiến thức về Luật biên giới và lãnh thổ quốc gia đã được học, anhchị hãy cho biết: a. CHLB Nga có vi phạm nguyên tắc bất khả xâm phạm và toàn vẹn lãnh thổ của Syria không? b. CHLB Nga có quyền nêu trên không? Cơ sở pháp lý?

Trang 1

THẢO LUẬN MÔN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ - CHƯƠNG 4

LÃNH THỔ VÀ BIÊN GIỚI QUỐC GIA

1 Phân tích tính chất chủ quyền quốc gia trên từng vùng lãnh thổ.

Về phương diện pháp lý quốc tế, lãnh thổ quốc gia là một phần của trái đất bao gồm vùng đất,vùng nước, vùng trời trên chúng và lòng đất dưới chúng thuộc chủ quyền của quốc gia

Ví dụ: Xuất phát từ hoạt động tìm kiếm khám phá lãnh thổ hoặc kết quả của quá trình xâm lượcthuộc địa trước đây, bên cạnh các vùng lãnh thổ đã xác định ở châu Âu, chây Mỹ, các quốc gia nhưPháp, Anh, Hà Lan, Mỹ,… còn có lãnh thổ vùng đất ở các đảo, các quần đảo trên Thái Bình Dương,Đại Tây Dương

b Lãnh thổ vùng nước:

Vùng nước của quốc gia là toàn bộ các bộ phận nước nằm bên trong đường biên giới của quốc gia

Do vị trí địa lý và các yếu tố tự nhiên của từng quốc gia khác nhau nên lãnh thổ vùng nước của quốcgia cũng có sự khác biệt Dựa vào vị trí địa lý và tính chất chủ quyền quốc gia đối với từng bộ phậnlãnh thổ vùng nước mà lãnh thổ vùng nước của quốc gia được chia thành bốn bộ phận:

* Vùng nước nội địa:

Vùng nước nội địa của quốc gia bao gồm các bộ phận nước ở các sông, suối, kênh, rạch,… kể cả

tự nhiên và nhân tạp nằm trên đất liền hay biển nội địa Vùng nước nội địa thuộc chủ quyền hoàntoàn và tuyệt đối của quốc gia Có nghĩa là, quốc gia chủ nhà là chủ thể duy nhất có quyền chiếmhữu, sử dụng và định đoạt các vấn đề pháp lý liên quan đến vùng nước nội địa trên cơ sở phù hợp vớilợi ích và nguyện vọng của cộng đồng dân cư sống trên lãnh thổ quốc gia

Đối với các kênh đào quốc tế và eo biển quốc tế, xuất phát từ vị trí địa lý đặc biệt của chung nằmtrên đường hàng hải, hàng không quốc tế nên phương tiện bay, phương tiện bơi của tất cả các quốcgia đều có quyền “đi qua không gây hại” theo nguyên tắc tự do hàng hải, tự do hàng không

* Vùng nước biên giới:

Vùng nước biên giới của một quốc gia bao gồm nước ở biển nội địa, sông, suối, đầm ao, kênhrạch,… nằm trong khu vực biên giới giữa các quốc gia Chính vì vậy, việc chiếm hữu, sử dụng, địnhđoạt và các vấn đề pháp lý khác liên quan đến vùng nước biên giới phải có sự đồng thuận của các

Trang 2

quốc gia trong khu vực biên giới Trong thực tiễn, các quốc gia có chung vùng nước biên giới sẽ kýkết các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương để điều chỉnh các hoạt động liên quan đến việcquản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ vùng nước biên giới để quy định về các vấn đề như: cách thứcxây dựng, khai thác các công trình thuỷ điện, tưới tiêu, đánh bắt cá, bảo vệ môi trường, việc đi lại củangười và phương tiện giao thông,… Do đó, vùng nước biên giới thuộc chủ quyền hoàn toàn, đầy đủnhưng không tuyệt đối như ở vùng nước nội địa.

* Vùng nước nội thuỷ:

Vùng nước nội thuỷ là một bộ phận lãnh thổ trên biển của quốc gia Nội thuỷ có chiều rộng đượcxác định bởi một bên là bờ biển còn bên kia là đường cơ sở của quốc gia ven biển Vùng nước nộithuỷ của quốc gia quần đảo là toàn bộ phần nước biển nằm trong đường cơ sở của quốc gia quần đảo

và được gọi là vùng nước quyền đảo

Về vị trí địa lý và pháp lý, nội thuỷ gắn liền với đất liền và là một bộ phận không thể tách rời củalãnh thổ quốc gia, thuộc chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối của quốc gia Chính vì vậy, mọi luật lệ,quy chế được ban hành trên đất liền đều được áp dụng ở vùng nước nội thuỷ mà không có bất kỳngoại lệ nào Chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối của quốc gia đối với vùng nước nội thuỷ được ápdụng cho cả lớp nước biển, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển và vùng trời trên nội thuỷ Theo đó, quốcgia ven biển có quyền tối cao trong việc chiếm hữu, sử dụng, khai thác và định đoạt các vấn đề pháp

lý đối với vùng nước nội thuỷ

* Vùng nước lãnh hải:

Vùng nước lãnh hải là một bộ phận cấu thành lãnh thổ trên biển của quốc gia Lãnh hải có chiềurộng được xác định bởi một bên là đường cơ sở và bên kia là ranh giới phía ngoài của lãnh hải Trongtrường hợp quốc gia không đối diện hoặc không tiếp giáp với bất kỳ quốc gia nào trên biển thì ranhgiới phía ngoài của lãnh hải chính là đường biên giới quốc gia trên biển

Về phương diện chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ, lãnh hải là bộ phận lãnh thổ thuộc chủ quyềnhoàn toàn và đầy đủ của quốc gia Trong vùng lãnh hải, tàu thuyền của quốc gia có biển hay không cóbiển đều được quyền “đi qua không gây hại”

c Lãnh thổ vùng trời:

Vùng trời của quốc gia là khoảng không gian bao trùm lên vùng đất và vùng nước của quốc gia,thuộc chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt của quốc gia Có nghĩa là, toàn bộ khoảng không gian baotrùm trên đất liền, trên các đảo, quần đảo, trên vùng nước biên giới, vùng nước nội địa, vùng nước nộithuỷ và vùng nước lãnh hải là lãnh hải vùng trời của quốc gia

Hiện tại, chưa có văn bản pháp lý nào quy định độ cao của vùng trời thuộc chủ quyền của quốcgia Bên cạnh đó, hầu hết các quốc gia không quy định cụ thể độ cao này mà chỉ tuyên bố xác lập chủquyền của quốc gia đối với vùng trời Với vùng trời quốc gia, quốc gia có chủ quyền tối cao và trọnvẹn trong việc thiết lập và thực hiện các quyền năng về chiếm hữu, sử dụng và định đoạt cũng nhưgiải quyết các vấn đề pháp lý liên quan đến vùng trời quốc gia Theo đó, các quốc gia có toàn quyềnđiều chỉnh, cho phép và kiểm soát mọi hoạt động hàng không, vũ trụ, kể cả hàng không dân dụng,quân sự, phi thương mại, giải trí, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn,… Đồng thời, mọi phương tiện bay nước

Trang 3

ngoài được phép hoạt động trên vùng trời quốc gia đều phải tuân thủ tuyệt đối pháp luật quốc gia sởtại.

d Lãnh thổ vùng lòng đất:

Vùng lòng đất của quốc gia là toàn bộ phần đất dưới vùng đất và vùng nước của quốc gia, thuộcchủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối của quốc gia Tức là, toàn bộ phần đất nằm dưới đất liền, dưới cácđảo, quần đảo, dưới vùng nước biên giới, vùng nước nội địa, vùng nước nội thuỷ, vùng nước lãnh hải

là lãnh thổ vùng lòng đất của quốc gia

Cũng như lãnh thổ vùng trời, lãnh thổ vùng lòng đất của quốc gia được mặc nhiên thừa nhận trongthực tiễn pháp lý quốc tế thông qua việc xác định lãnh thổ vùng đất và vùng nước Theo đó, lãnh thổvùng lòng đất của quốc gia được xác định từ bề mặt trái đất đến tâm trái đất

Quốc gia chủ nhà là chủ thể duy nhất có quyền tối cao thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng vàđịnh đoạt cũng như giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan đến lãnh thổ vùng lòng đất của quốc gia

2 Bộ phận nào của lãnh thổ quốc gia, quốc gia có chỉ có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ?

Tại Điều 17, Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 có quy định về Quyền đi quakhông gây hại:

“Với điều kiện phải chấp hành Công ước, tàu thuyền của tất cả các quốc gia, có biển hay không

có biển, đều được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải”.

Quyền này được cộng đồng quốc tế thừa nhận vì lợi ích phát triển, hợp tác trên tất cả các lĩnh vựcchính trị, kinh tế, thương mại, hàng hải và an ninh, quốc phòng của các quốc gia trong quan hệ quốc

tế từ trước đến nay

Công ước về Luật Biển năm 1982 cũng có quy định cụ thể thuật ngữ “đi qua không gây hại” tạiĐiều 18 và Điều 19 Ngoài ra, Công ước còn quyền đi qua không gây hại được áp dụng rộng tãi chocác loại tàu thuyền dân sự, quân sự, tài ngầm cũng như tàu chạy bằng năng lượng nguyên tử, tài chở

Trang 4

những chất phóng xạ hay những chất độc hại; quyền và nghĩa vụ của quốc gia ven biển (quy định từĐiều 17 đến Điều 26 của Công ước năm 1982).

Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam cũng có ghi nhận về chế độ pháp lý của lãnh hải tại Điều 12,Luật Biển Việt Nam năm 2012:

“1 Nhà nước thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải và vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982.

2 Tàu thuyền của tất cả các quốc gia được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam Đối với tàu quân sự nước ngoài khi thực hiện quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam, thông báo trước cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.

3 Việc đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài phải được thực hiện trên cơ sở tôn trọng hòa bình, độc lập, chủ quyền, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

4 Các phương tiện bay nước ngoài không được vào vùng trời ở trên lãnh hải Việt Nam, trừ trường hợp được sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam hoặc thực hiện theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

5 Nhà nước có chủ quyền đối với mọi loại hiện vật khảo cổ, lịch sử trong lãnh hải Việt Nam”.

- Vùng nước biên giới:

Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt và các vấn đề pháp lý khác liên quan đến vùng nước biên giớiphải có sự đồng thuận của các quốc gia trong khu vực biên giới Trong thực tiễn, các quốc gia cóchung vùng nước biên giới sẽ ký kết các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương để điều chỉnhcác hoạt động liên quan đến việc quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ vùng nước biên giới để quyđịnh về các vấn đề như: cách thức xây dựng, khai thác các công trình thuỷ điện, tưới tiêu, đánh bắt

cá, bảo vệ môi trường, việc đi lại của người và phương tiện giao thông,… Do đó, vùng nước biên giớithuộc chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ nhưng không tuyệt đối như ở vùng nước nội địa

3 Phân tích phương thức xác lập và thay đổi chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ?

a Xác lập chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ:

Trong việc xác lập chủ quyền lãnh thổ, học thuyết và thực tiễn quốc tế thường chia ra 5 phươngthức xác lập chủ quyền lãnh thổ chính sau đây:

* Xác lập chủ quyền bằng chiếm hữu:

Xác lập chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ theo phương thức chiếm hữu là hành động của mộtquốc gia tuyên bố xác lập chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ vô chủ, không thuộc chủ quyền củabất kỳ quốc gia nào vào thời điểm xác lập

Xác lập chủ quyền bằng chiếm hữu được chia làm 02 dạng:

- Chiếm hữu tượng trưng:

Trang 5

Cơ sở để xác lập chủ quyền quốc gia theo phương thức này được thực hiện thông qua sự côngnhận một số hành vi mang tính chất tượng trưng như hành vi của viên thuyền trưởng hay nhà thámhiểm nào đó đã đặt chân lên đảo hay bờ biển của vùng lãnh thổ vô chủ và để lại bằng chứng như cột

gỗ, bia đá, cắm cờ,… hay bất kỳ dấu tích nào đó để chứng minh sự có mặt của họ trên lãnh thổ đó.Tiếp đó, nhà nước mà nhà thám hiểm là công dân phải đưa ra tuyên bố chính thức về việc xác lập chủquyền quốc gia đối với vùng lãnh thổ mới phát hiện

Tuy nhiên, phương pháp này có những thiếu sót và hạn chế:

+ Việc chiếm hữu theo cách này rất dễ dàng đối với vùng đất, đảo nhỏ nhưng ngược lại, đối vớinhững vùng đất đai rộng lớn nếu chỉ lưu lại bằng chứng tại một điểm nào đó nhưng thực chất nhàthám hiểu chưa khám phá hết vùng đất mới mà quốc gia đã xác lập chủ quyền hoàn toàn đối với vùngđất này là chưa hợp lý

+ Do điều kiện thông tin lúc đó chưa phát triển nên đã dẫn tới tình trạng một vùng lãnh thổ đãđược một quốc gia khác phát hiện Do vậy, dẫn đến hệ quả là nhiều quốc gia tuyên bố chủ quyền trênvùng đất mới, có thể dẫn đến tranh chấp chủ quyền giữa các quốc gia

+ Những dấu tích, chứng cứ như cờ, cột gỗ, bia đá được lưu lại trên các vùng lãnh thổ mới pháthiện không phải bao giờ cũng nguyên vẹn qua thời gian Điều này dẫn đến tình trạng tái phát hiện,sáp nhập đi sáp nhập lại vùng đất mới

- Chiếm hữu thực sự:

Luật quốc tế hiện đại thừa nhận việc thiết lập và khẳng định chủ quyền quốc gia đối với vùng lãnhthổ mới phải xuất phát từ sự chiếm hữu thực sự, đồng thời quốc gia phải quản trị và duy trì liên tục,hoà bình quyền lực của nhà nước trên vùng lãnh thổ đó Nguyên tắc này là cơ sở lý luận để quốc giachứng minh một vùng lãnh thổ tranh chấp thuộc chủ quyền của mình nếu đáp ứng được các điều kiệnsau:

+ Những vùng đất, đảo được quốc gia chiếm hữu phải là lãnh thổ vô chủ, không nằm hoặc khôngcòn nằm trong hệ thống địa lý hành chính của một quốc gia nào

Vùng đất, đảo có thể có hoặc không có người nhưng khái niệm vô chủ có nghĩa là vùng đất, đảo

đó không nằm trong hệ thống hành chính của bất kỳ quốc gia nào, hoặc tuy đã từng thuộc về mộtquốc gia nhưng quốc gia này đã từ bỏ và không có ý định tiếp tục thực hiện chủ quyền của mình ởnơi đó Những vùng đất, đảo vô chủ có thể trở thành đối tượng chiếm hữu của bất kỳ quốc gia nào.+ Việc chiếm hữu đó phải là hành động của nhà nước

Tức là được thực hiện bởi những viên chức đại diện cho nhà nước hoặc những người được nhànước uỷ quyền thì mới có giá trị pháp lý Hành động của cá nhân, tổ chức tư nhân đều không có giátrị pháp lý để xác định chủ quyền lãnh thổ Tuy nhiên, trong một số trường hợp, hành động của tưnhân với danh nghĩa là công dân của một quốc gia, dù chưa được nhà nước đó chứng nhận, cũng cóthể có một ý nghĩa nhất định Khi giải quyết tranh chấp lãnh thổ, những hành động này sẽ là chứng cứ

có lợi cho một quốc gia nếu phía bên kia không có hành động có ý nghĩa pháp lý nào được thực hiện.+ Việc chiếm hữu phải thực sự

Trang 6

Việc chiếm hữu mang tính thực sự khi có sự hiện diện của chính quyền nhà nước trong việc thiếtlập, kiểm soát, quản lý, bảo vệ và thực hiện chủ quyền quốc gia trên vùng lãnh thổ mà quốc gia đãchiếm hữu và xác lập chủ quyền.

+ Việc chiếm hữu phải hoà bình được dư luận đương thời chấp nhận

Có nghĩa là việc chiếm hữu và xác lập chủ quyền quốc gia đối với vùng lãnh thổ không phải là kếtquả của hành vi tước đoạt chủ quyền của một quốc gia khác bằng hành vi sử dụng hoặc đe doạ sửdụng vũ lực Đồng thời, việc chiếm hữu và xác lập chủ quyền đối với vùng lãnh thổ mới phải đượcthực hiện công khai và được dư luận đương thời chấp nhận

* Xác lập chủ quyền lãnh thổ do tác động của tự nhiên:

Theo phương thức này, một quốc gia có quyền mở rộng ranh giới địa lý của lãnh thổ thông quaviệc bồi đắp tự nhiên vào lãnh thổ chính hoặc do sự xuất hiện của các hòn đảo mới trong phạm viđường biên giới quốc gia

Ví dụ như việc một hòn đảo xuất hiện ở Thái Bình Dương do một núi lửa dưới biển phun lên vàotháng 01/1986 Chính phủ Anh đã cho rằng: “Chúng tôi biết hòn đảo xuất hiện trong lãnh hải của đảoIWO TIMA của Nhật Bản Do đó chúng tôi coi nó thuộc lãnh thổ Nhật Bản”

Những vùng đất hoặc các hòn đảo mới xuất hiện trong phạm vi lãnh hải của một quốc gia bao gồm

cả lãnh hải của lục địa và lãnh hải của các đảo nằm riêng biệt, không những chỉ trở thành một bộphận lãnh thổ của quốc gia đó mà theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 còn chophép quốc gia đó mở rộng thêm đường biên giới quốc gia trên biển và các vùng biển thuộc quyền tàiphán quốc gia

* Xác lập chủ quyền lãnh thổ bằng xâm chiếm:

Là phương thức xác lập chủ quyền lãnh thổ được tiến hành thông qua hành động sử dụng vũ lựccủa một quốc gia để sáp nhập lãnh thổ của nước khác vào lãnh thổ nước mình

Sự phát triển của luật pháp quốc tế trong giai đoạn từ Hiệp ước Briand- Kellogg (Hiệp ước chung

về việc không thừa nhận chiến tranh ngày 27/8/1928) tới chiến tranh thế giới thứ II đã tác động đếnphương thức xác lập chủ quyền lãnh thổ bằng xâm chiếm Với sự xuất hiện nguyên tắc cấm đe doạbằng vũ lực và sử dụng vũ lực trong quan hệ giữa các nước, việc xâm chiếm lãnh thổ nước khác bằnghành động vũ trang đã bị đặt ra ngoài vòng pháp luật Do sự xuất hiện nguyên tắc bất khả xâm phạm

và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, việc thay đổi chủ quyền lãnh thổ quốc gia bằng vũ lực hay bằng cáchành động như xâm chiếm, chinh phục khác đều trở nên bất hợp pháp Chính vì vậy phương thức xáclập chủ quyền lãnh thổ bằng xâm chiếm hiện nay đã hoàn toàn bị bác bỏ

* Xác lập chủ quyền bằng sự chuyển nhượng tự nguyện:

Chuyển nhượng lãnh thổ là sự chuyển giao một cách hoà bình chủ quyền quốc gia trên một lãnhthổ từ quốc gia này sang quốc gia khác bằng việc ký kết điều ước quốc tế

Ví dụ: Pháp đã bán vùng đất Lousiane cho Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thông qua Hiệp ước được kýngày 30/04/1803 giữa Robert Livingston, Jamess Monroe và Barbé Marbois tại Paris với giá 80 triệuFranc (khoảnt 15 triệu USD)

Trang 7

* Xác lập chủ quyền theo thời hiệu:

Một quốc gia sẽ xác lập chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ nếu họ đã chiếm hữu trong một thờigian dài mà không có sự tranh chấp với quốc gia khác, mặc dù về mặt phương diện pháp lý, chủquyền đối với vùng lãnh thổ này còn đang là đối tượng gây tranh cãi

Theo nguyên tắc này, muốn xác lập chủ quyền lãnh thổ theo thời hiệu phải đáp ứng đồng thời haiđiều kiện sau đây:

- Quốc gia có danh nghĩa chủ quyền những đã từ bỏ, dẫn đến lãnh thổ bị từ bỏ

- Quốc gia mới xác lập chủ quyền thực sự đối với vùng lãnh thổ bị từ bỏ đó một cách công khai,liên tục và hoà bình

Luật quốc tế hiện đại không thừa nhận nguyên tắc này, trừ trường hợp quốc gia xác lập chủ quyềnlãnh thổ đối với những vùng lãnh thổ mà họ chiếm hữu không thông qua hành vi xâm lược

* Các cách phân loại phương thức thụ đắc lãnh thổ khác:

Thực tế người ta còn có thể chia các phương thức để xác lập chủ quyền lãnh thổ theo 3 hình thức:pháp lý, lịch sử - chính trị và địa lý

Trong đó đáng chú ý là hình thức pháp lý bao gồm: Phương thức chiếm hữu, chuyển nhượng, thờihiệu và phương thức xác lập chủ quyền lãnh thổ theo các quyết định của các cơ quan tài phán quốc tế.Trong thời đại ngày nay, do đòi hỏi của Luật pháp quốc tế về giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc

tế, càng ngày càng có nhiều nước đồng ý sử dụng các cơ quan tài phán quốc tế để phân xử cho cáctranh chấp lãnh thổ của mình Vì vậy phương thức xác lập chủ quyền lãnh thổ theo sự phán quyết củacác cơ quan tài phán quốc tế càng được coi là một trong những phương thức xác lập chủ quyền lãnhthổ

Trong khi có những phương thức xác lập chủ quyền lãnh thổ ngày càng được sử dụng thì ngược lại

có rất nhiều phương thức xác lập chủ quyền lãnh thổ khác ngày nay không còn được áp dụng nữa Có

sự chuyển dịch lãnh thổ do dâng tặng, làm lễ vật, của hồi môn đó là dưới chế độ phong kiến, kháiniệm “Chủ quyền” chưa được phân biệt với “quyền sở hữu”, lãnh thổ được coi như “tài sản vật chất”thuộc quyền sở hữu của Vua chúa, do Vua chúa toàn quyền định đoạt

Ví dụ như thụ đắc lãnh thổ do hôn nhân, tặng… Trong lịch sử đã từng có nhiều trường hợp lãnhthổ được dùng làm lễ vật đám cưới như năm 1307 Vua Trần Nhân Tông gả Công chúa Huyền Trâncho Vua Chiêm Thành Chế Mân, Vua Chiêm đã dâng 2 Châu Ô và Lý (vùng Quảng Trị - Thừa Thiênngày nay) làm vật nạp trưng Anna de Bretagne đã mang vùng Bretagne cho nước Pháp sau 2 cuộchôn nhân của bà với Vua Charles VIII ngày 6/12/1491 và với Vua Louis XII ngày 7/01/1499

b Thay đổi chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ:

Mặc dù lãnh thổ quốc gia là ổn định, toàn vẹn bất khả xâm phạm, lãnh thổ quốc gia vẫn có thểthay đổi trong một số trường hợp nhất định trên cơ sở pháp luật quốc tế Trước đây, khi luật quốc tếcòn thừa nhận quyền chiến tranh trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế thì hiện tại luật quốchiện đại ra đời ghi nhận nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe doạ sử dụng vũ lực trong quan hệ quôc

tế nên việc thay đổi lãnh thổ quốc gia bằng chiến tranh xâm chiếm lãnh thổ đã bị loại trừ Theo đó,

Trang 8

bất kỳ quốc gia nào khi tiến hành bất cứ hình thức thay đổi lãnh thổ nào cũng phải dựa trên nguyêntắc quyền dân tộc tự quyết Thông qua hình thức trưng cầu dân ý, nhà nước đại diện cho cộng đồngdân cư của mình sẽ ký kết các điều ước quốc tế về lãnh thổ với các quốc gia khác nhằm mục đíchthay đổi lãnh thổ quốc gia.

Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, lãnh thổ quốc gia có thể được thay đổi bằng một trong các hìnhthức sau đây:

- Thay đổi lãnh thổ quốc gia do phân chia một quốc gia thành hai hay nhiều quốc gia mới

Ví dụ: Tiệp Khắc đã phân chia thành hai quốc gia độc lập là Cộng hoà Czech và Slovakia nă,1993; Liên Bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết (Liên Xô) đã phân chia thành 15 quốc gia độclập vào năm 1991

- Thay đổi lãnh thổ quốc gia do hợp nhất hai hay nhiều quốc gia thành một quốc gia mới

Ví dụ: Tháng 08/1990, hai nước Cộng hoà dân chủ Đức và Cộng hoà Liên bang Đức đã hợp nhấtthành Cộng hoà Liên bang Đức

- Thay đổi lãnh thổ quốc gia do sáp nhập một bộ phận lãnh thổ quốc gia này vào lãnh thổ quốc giakhác

Ví dụ: Ngày 18/08/1945, ba ngày sau khi Nhật Bản tuyên bố đầu hàng, chấm dứt chiến tranh thếgiới thứ hai, Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết đã sáp nhập quần đảo Kuril thuộc lãnh thổcủa Nhật Bản vào lãnh thổ của mình

- Thay đổi lãnh thổ quốc gia do trao đổi một bộ phận lãnh thổ giữa hai quốc gia với nhau

Ví dụ: Ngày 01/07/1997, Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland đã trao trả lại Hồng Kông choTrung Quốc sau hơn 100 năm chiến đóng; ngày 31/12/1999, Bồ Đào Nha trả lại Ma Cao cho TrungQuốc sau 442 năm chiếm đóng

- Thay đổi lãnh thổ quốc gia do chuyển nhượng một bộ phận lãnh thổ của quốc gia này cho mộtquốc gia khác

Ví dụ: Sa Hoàng đã bán vùng lãnh thổ bang Alaska hiện nay cho Hoa Kỳ vào ngày 09/04/1867 vớigiá 7,200,000 USD

- Thay đổi lãnh thổ quốc gia bằng một điều ước quốc tế đặc biệt

Ví dụ: Việc thay đổi lãnh thổ Triều Tiên sau cuộc chiến tranh liên Triều bắt đầu từ ngày25/06/1950 và kết thúc ngày 27/07/1953 bằng hiệp định tạm đình chiến Bàn Môn Điếm; thay đổi lãnhthổ của Việt Nam sau Hiệp định Geneva năm 1954

4 Trình bày nội dung quyền tối cao đối với lãnh thổ?

Luật quốc tế hiện đại thừa nhận chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ là một thuộc tính không thểtách rời và vốn có của mỗi quốc gia Quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ là biểu hiện thiêngliêng và bất khả xâm phạm của quốc gia trên hai phương diện có quan hệ biện chứng, đó là phươngdiện vật chất và phương diện quyền lực

* Phương diện vật chất:

Trang 9

Lãnh thổ quốc gia là cơ sở, nền tảng vật chất không thể thiếu để một quốc gia hình thành, tồn tại

và phát triển Lãnh thổ quốc gia thuộc quyền sở hữu quốc gia chủ nhà và chỉ có quốc gia chủ quyền làchủ thể duy nhất có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt, giải quyết các vấn đề pháp lý đốivới lãnh thổ quốc gia trên cơ sở tôn trọng lợi ích và sự lựa chọn của cộng đồng dân cư sống trên lãnhthổ Quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ xét về phương diện vật chất có thể coi như quyền sởhữu của quốc gia đối với tài sản là lãnh thổ của quốc gia

Ngày nay, theo quan niệm đúng đắn được chấp nhận rộng rãi thì môi trường tự nhiên của quốc gia– đất đai, nước, không gian, rừng, khoáng sản, tài nguyên vùng lòng đất… là nội dung vật chất củalãnh thổ quốc gia và thuộc về quốc gia trong phạm vi được giới hạn bởi đường biên giới quốc gia.Quốc gia có quyền sở hữu một cách đầy đủ, trọn vẹn trên cơ sở phù hợp với lợi ích của cộng đồngdân cư sống trên vùng lãnh thổ đó và phù hợp với các quyền dân tộc cơ bản Mọi sự thay đổi hoặcđịnh đoạt liên quan đến số phận của một vùng đất nào đó của lãnh thổ quốc gia phải dựa trên quyềndân tộc tự quyết mới được coi là hợp pháp

Trong trường hợp thuê lãnh thổ quốc gia thì vùng lãnh thổ cho thuê vẫn là một bộ phận lãnh thổquốc gia của nước cho thuê Nước thuê lãnh thổ có quyền áp dụng quyền tài phán của mình (khôngphải chủ quyền, phù hợp với thoả thuận được ghi nhận giữa hai bên)

Điểm tiến bộ cơ bản của luật quốc tế hiện đại là đã xây dựng các nguyên tắc và quy định bảo đảmcho quốc gia được thực hiện các quyền tối cao của mình đối với lãnh thổ một cách hữu hiệu, duy trìliên tục và hoà bình quyền lực nhà nước trong phạm vi lãnh thổ thống nhất, toàn vẹn và bất khả xâmphạm

* Phương diện quyền lực:

Quyền lực của quốc gia được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ quốc gia Đây là quyền tối cao củaquốc gia đối với mọi cá nhân, tổ chức, kể cả cá nhân, tổ chức, pháp nhân nước ngoài và các tổ chứcquốc tế

Quyền lực này được thực hiện thông qua hoạt động của hệ thống cơ quan lập pháp, hành pháp và

tư pháp của nhà nước Hoạt động của các cơ quan này bao trùm trên tất cả các lĩnh vực của đời sống

xã hội của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình, quốc gia chủ nhà có quyền thực hiện mọi hoạtđộng không bị pháp luật quốc tế cấm Quyền lực này mang tính hoàn toàn, riêng biệt, không chia xẻvới bất cứ quốc gia nào khác và là chủ quyền thiêng liêng của từng quốc gia Tất cả dân cư và hoạtđộng diễn ra trên lãnh thổ quốc gia đều thuộc về quyền lực này Quốc gia thực hiện quyền tài pháncủa mình đối với người và tài sản trong phạm vi lãnh thổ một cách không hạn chế (trừ trường hợp vìlợi ích của toàn thể Cộng đồng hay vì lợi ích của một số quốc gia nhất định và ý chí chủ quyền củanhân dân) Trên phạm vi lãnh thổ, quốc gia được quyền tiến hành mọi hoạt động với điều kiện cáchành vi đó không bị luật quốc tế cấm Tuy nhiên, trong quá trình tiến hành các hoạt động hợp pháp,quốc gia cũng phải lưu ý đến một nguyên tắc có tính tập quán là không sử dụng chủ quyền lãnh thổcủa mình làm thiệt hại đến chủ quyền lãnh thổ của quốc gia khác

Quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ không loại trừ các ngoại lệ đã xuất hiện trong thựctiễn quan hệ quốc tế như không áp dụng luật nước mình đối với các Công dân nước ngoài trên lãnhthổ nước mình (viên chức ngoại giao – lãnh sự) hoặc không loại bỏ hiệu lực của luật nước ngoài trên

Trang 10

phạm vi lãnh thổ của mình nếu điều này được quy định trong luật quốc gia cũng như trong điều ướcquốc tế Ngược lại, hiệu lực pháp luật của các cơ quan quyền lực tư pháp có thể được mở rộng rangoài phạm vi lãnh thổ quốc gia nếu luật nước sở tại và điều ước quốc tế hữu quan cho phép.

Đi đôi với việc thực hiện chủ quyền lãnh thổ, quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng và bảo đảm quyền bấtkhả xâm phạm lãnh thổ của quốc gia khác Đây là nghĩa vụ xuất phát từ nguyên tắc quan trọng củaluật quốc tế, Nguyên tắc bất khả xâm phạm và toàn vẹn lãnh thổ, với một số nội dung sau:

– Cấm đe dọa dùng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực để chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ;

– Biên giới quốc gia là ổn định và bất khả xâm phạm;

– Không sử dụng lãnh thổ quốc gia khi không có sự đồng ý của quốc gia đó;

– Không cho quốc gia khác sử dụng lãnh thổ của mình để chống lại nước thứ ba

Các quốc gia khác, các tổ chức quốc tế có nghĩa vụ tôn trọng quyền lực của quốc gia chủ nhà vàkhông có chia sẻ hay áp đặt quyền lực của mình trên lãnh thổ của quốc gia khác

Kết hợp đúng đắn và hài hoà hai phương diện quyền lực và vật chất của quyền tối cao của quốc giađối với lãnh thổ sẽ đảm bảo được chủ quyền của quốc gia với lãnh thổ, đúng với bản chất của nó.Luật quốc tế thừa nhận quyền dân tộc tự quyết là cơ sở pháp lý để thực hiện chủ quyền quốc giađối với lãnh thổ Chính vì vậy, mọi vấn đề pháp lý liên quan đến việc định đoạt lãnh thổ quốc gia đềuphải dựa trên ý chí và quyền tự quyết của người dân sống trên lãnh thổ quốc gia thông qua hình thứctrưng cầu dân ý

5 Trình bày Nguyên tắc xác lập chủ quyền lãnh thổ?

Có 03 nguyên tắc xác lập chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ phổ biến và chủ yếu sau đây:

* Nguyên tắc xác lập chủ quyền bằng chiếm hữu:

Xác lập chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ theo nguyên tắc chiếm hữu là hành động của mộtquốc gia tuyên bố xác lập chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ vô chủ, không thuộc chủ quyền củabất kỳ quốc gia nào vào thời điểm xác lập

Nguyên tắc xác lập chủ quyền bằng chiếm hữu được chia làm 02 dạng:

- Nguyên tắc chiếm hữu tượng trưng:

Cơ sở để xác lập chủ quyền quốc gia theo nguyên tắc này được thực hiện thông qua sự công nhậnmột số hành vi mang tính chất tượng trưng như hành vi của viên thuyền trưởng hay nhà thám hiểmnào đó đã đặt chân lên đảo hay bờ biển của vùng lãnh thổ vô chủ và để lại bằng chứng như cột gỗ, bia

đá, cắm cờ,… hay bất kỳ dấu tích nào đó để chứng minh sự có mặt của họ trên lãnh thổ đó Tiếp đó,nhà nước mà nhà thám hiểm là công dân phải đưa ra tuyên bố chính thức về việc xác lập chủ quyềnquốc gia đối với vùng lãnh thổ mới phát hiện

Tuy nhiên, nguyên tắc này có những thiếu sót và hạn chế:

+ Việc chiếm hữu theo cách này rất dễ dàng đối với vùng đất, đảo nhỏ nhưng ngược lại, đối vớinhững vùng đất đai rộng lớn nếu chỉ lưu lại bằng chứng tại một điểm nào đó nhưng thực chất nhà

Trang 11

thám hiểu chưa khám phá hết vùng đất mới mà quốc gia đã xác lập chủ quyền hoàn toàn đối với vùngđất này là chưa hợp lý.

+ Do điều kiện thông tin lúc đó chưa phát triển nên đã dẫn tới tình trạng một vùng lãnh thổ đãđược một quốc gia khác phát hiện Do vậy, dẫn đến hệ quả là nhiều quốc gia tuyên bố chủ quyền trênvùng đất mới, có thể dẫn đến tranh chấp chủ quyền giữa các quốc gia

+ Những dấu tích, chứng cứ như cờ, cột gỗ, bia đá được lưu lại trên các vùng lãnh thổ mới pháthiện không phải bao giờ cũng nguyên vẹn qua thời gian Điều này dẫn đến tình trạng tái phát hiện,sáp nhập đi sáp nhập lại vùng đất mới

- Nguyên tắc chiếm hữu thực sự:

Theo nguyên tắc này, luật quốc tế hiện đại thừa nhận việc thiết lập và khẳng định chủ quyền quốcgia đối với vùng lãnh thổ mới phải xuất phát từ sự chiếm hữu thực sự, đồng thời quốc gia phải quảntrị và duy trì liên tục, hoà bình quyền lực của nhà nước trên vùng lãnh thổ đó Nguyên tắc này là cơ

sở lý luận để quốc gia chứng minh một vùng lãnh thổ tranh chấp thuộc chủ quyền của mình nếu đápứng được các điều kiện sau:

+ Những vùng đất, đảo được quốc gia chiếm hữu phải là lãnh thổ vô chủ, không nằm hoặc khôngcòn nằm trong hệ thống địa lý hành chính của một quốc gia nào

Vùng đất, đảo có thể có hoặc không có người nhưng khái niệm vô chủ có nghĩa là vùng đất, đảo

đó không nằm trong hệ thống hành chính của bất kỳ quốc gia nào, hoặc tuy đã từng thuộc về mộtquốc gia nhưng quốc gia này đã từ bỏ và không có ý định tiếp tục thực hiện chủ quyền của mình ởnơi đó Nhũng vùng đất, đảo vô chủ có thể trở thành đối tượng chiếm hữu của bất kỳ quốc gia nào.+ Việc chiếm hữu đó phải là hành động của nhà nước

Tức là được thực hiện bởi những viên chức đại diện cho nhà nước hoặc những người được nhànước uỷ quyền thì mới có giá trị pháp lý Hành động của cá nhân, tổ chức tư nhân đều không có giátrị pháp lý để xác định chủ quyền lãnh thổ Tuy nhiên, trong một số trường hợp, hành động của tưnhân với danh nghĩa là công dân của một quốc gia, dù chưa được nhà nước đó chứng nhận, cũng cóthể có một ý nghĩa nhất định Khi giải quyết tranh chấp lãnh thổ, những hành động này sẽ là chứng cứ

có lợi cho một quốc gia nếu phía bên kia không có hành động có ý nghĩa pháp lý nào được thực hiện.+ Việc chiếm hữu phải thực sự

Việc chiếm hữu mang tính thực sự khi có sự hiện diện của chính quyền nhà nước trong việc thiếtlập, kiểm soát, quản lý, bảo vệ và thực hiện chủ quyền quốc gia trên vùng lãnh thổ mà quốc gia đãchiếm hữu và xác lập chủ quyền

+ Việc chiếm hữu phải hoà bình được dư luận đương thời chấp nhận

Có nghĩa là việc chiếm hữu và xác lập chủ quyền quốc gia đối với vùng lãnh thổ không phải là kếtquả của hành vi tước đoạt chủ quyền của một quốc gia khác bằng hành vi sử dụng hoặc đe doạ sửdụng vũ lực Đồng thời, việc chiếm hữu và xác lập chủ quyền đối với vùng lãnh thổ mới phải đượcthực hiện công khai và được dư luận đương thời chấp nhận

* Nguyên tắc xác lập chủ quyền bằng sự chuyển nhượng tự nguyện:

Trang 12

Chuyển nhượng lãnh thổ là sự chuyển giao một cách hoà bình chủ quyền quốc gia trên một lãnhthổ từ quốc gia này sang quốc gia khác bằng việc ký kết điều ước quốc tế.

Ví dụ: Pháp đã bán vùng đất Lousiane cho Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thông qua Hiệp ước được kýngày 30/04/1803 giữa Robert Livingston, Jamess Monroe và Barbé Marbois tại Paris với giá 80 triệuFranc (khoảnt 15 triệu USD)

* Nguyên tắc xác lập chủ quyền theo thời hiệu:

Một quốc gia sẽ xác lập chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ nếu họ đã chiếm hữu trong một thờigian dài mà không có sự tranh chấp với quốc gia khác, mặc dù về mặt phương diện pháp lý, chủquyền đối với vùng lãnh thổ này còn đang là đối tượng gây tranh cãi

Theo nguyên tắc này, muốn xác lập chủ quyền lãnh thổ theo thời hiệu phải đáp ứng đồng thời haiđiều kiện sau đây:

- Quốc gia có danh nghĩa chủ quyền những đã từ bỏ, dẫn đến lãnh thổ bị từ bỏ

- Quốc gia mới xác lập chủ quyền thực sự đối với vùng lãnh thổ bị từ bỏ đó một cách công khai,liên tục và hoà bình

Luật quốc tế hiện đại không thừa nhận nguyên tắc này, trừ trường hợp quốc gia xác lập chủ quyềnlãnh thổ đối với những vùng lãnh thổ mà họ chiếm hữu không thông qua hành vi xâm lược

6 Nêu và phân tích các chức năng của biên giới quốc gia.

- Biên giới quốc gia có chức năng phân định giới hạn các vùng lãnh thổ của quốc gia

Việc xác lập đường biên giới quốc gia là nhằm phân định rõ giới hạn vùng đất, vùng nước, vùngtrời thuộc chủ quyền toàn vẹn, đầy đủ và riêng biệt của quốc gia, gắn liền với những lợi ích về chínhtrị, kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng, do đó biên giới quốc gia mang tính pháp lý - chính trị và làsản phẩm do con người tạo ra trên cơ sở tôn trọng những yếu tố lịch sử, chính trị, xã hội, địa lý, kinh

tế và dân tộc Biên giới quốc gia đóng vai trò rất quan trọng với lãnh thổ và chủ quyền đất nước Nógiúp mỗi quốc gia phân định rõ ràng giới hạn về không gian địa lý, bảo vệ và giữ gìn chủ quyền lãnhthổ quốc gia Đồng thời mang đến lợi ích về kinh tế chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng Theo nghĩa

đó, biên giới quốc gia cũng là cơ sở và nền tảng vật chất cho quốc gia tồn tại và phát triển

Biên giới quốc gia cơ sở xác định phạm vi, lãnh thổ quốc gia đó (cho dù địa hình có thay đổi, biêngiới sẽ không thay đổi theo nếu đã được phân giới rõ ràng theo đúng luật pháp quốc tế) Biên giới ổnđịnh sẽ tạo điều kiện phát triển quan hệ hữu nghị với quốc gia láng giềng nói chung và giữa các địaphương biên giới nói riêng

- Biên giới quốc gia có chức năng thúc đẩy phát triển kinh tế

Biên giới ổn định là cơ sở phát triển kinh tế của đất nước nói chung và các địa phương giáp biênnói riêng; nhiều công trình kinh tế có liên quan mật thiết với việc giải quyết các vấn đề biên giới; việcquản lý biên giới như thế nào có tác động lớn tới giao lưu kinh tế giữa Việt Nam với các nước lánggiềng Một đường biên giới được xác định rõ ràng trên bản đồ và trên thực địa, được quản lý chặt chẽnhưng vẫn thông thoáng cho người và hàng hoá qua lại là điều kiện tốt nhất cho việc phát triển kinh

tế của đất nước và quan hệ kinh tế với các nước láng giềng

Trang 13

- Biên giới quốc gia có chức năng quản lý, ổn định đời sống nhân dân khu vực biên giới.

Xác định đường biên giới rõ ràng sẽ giúp việc quản lý, ổn định đời sống nhân dân khu vực biêngiới được thuận lợi hơn; ngăn chặn tình trạng di cư tự do, nhập cư trái phép, kết hôn không giá thú,xâm canh xâm cư Nhân dân sẽ tự do cư trú, không xâm phạm, tranh chấp, xâm lấn chủ quyền lãnhthổ của nhau Ngoài ra cũng không tranh giành và xảy ra mâu thuẫn giữa các nước với nhau

7 Nêu và phân tích qui trình hoạch định biên giới quốc gia trên đất liền và trên biển đồng thời chỉ rõ những khác biệt trong việc hoạch định hai loại đường biên giới này

a Quy trình hoạch định biên giới quốc gia trên đất liền:

Hoạch định biên giới quốc gia trên đất liền thực chất là quá trình phân định lãnh thổ vùng đất,vùng nước (vùng nước nội địa, vùng nước biên giới), để từ đó làm cơ sở pháp lý cho việc xác địnhvùng lãnh thổ vùng trời và lãnh thổ vùng đất giữa các quốc gia Xác định biên giới trên bộ phải đượctiến hành bằng sự phối hợp của các quốc gia có chung biên giới và phải trải qua các giai đoạn sauđây:

- Giai đoạn 1: Hoạch định biên giới

Các quốc gia thường lựa chọn các hình thức sau đây để hoạch định biên giới:

+ Hoạch định biên giới mới;

+ Hoạch định biên giới trên cơ sở các đường ranh giới đã có nhưng có sửa đổi, bổ sung;

Giai đoạn này, các quốc gia hữu quan sẽ tiến hành đàng phán để ký kết điều ước quốc tế về biêngiới Điều ước quốc tế phân định lãnh thổ biên giới trên bộ thường chứa đựng các nội dung cơ bảnsau đây:

+ Xác định nguyên tắc hoạch định biên giới;

+ Xác định chiều hướng chung của đường biên giới;

+ Xác định vị trí, các điểm toạ độ đường biên giới;

+ Cách thức phân định biên giới qua sông suối, đồi núi, sa mạc, eo biển, biển hồ,…;

+ Thành lập uỷ ban liên hiệp về phân giới thực địa và cắm mốc;

+ Hiệu lực, sửa đổi, bổ sung điều ước quốc tế về hoạch định biên giới và giải quyết tranh chấpliên quan đến biên giới

Trong điều ước này phải miêu tả tỉ mỉ, chi tiết các đặc điểm trên bản đồ đính kèm với điều ướcquốc tế về biên giới Tất cả các tài liệu đính kèm với điều ước quốc tế về biên giới là những bộ phậnkhông thể tách rời của điều ước quốc tế này

- Giai đoạn 2: Phân giới thực địa

Phân giới thực địa là quá tình thực địa hoá đường biên giới trong điều ước quốc tế Để phân giớithực địa, các quốc gia liên quan sẽ thành lập một uỷ ban liên hiệp về phân giới thực địa và cắm mốc

để thực hiện các công việc như đánh dấu thực địa, điều chỉnh đường biên giới do yêu cầu đặc biể củađịa hình thực tế Các hoạt động phân giới thực địa phải được ghi chép đầy đủ, chi tiết trong các hồ sơ,

Trang 14

biên bản, sơ đồ kèm theo điều ước quốc tế về biên giới Tất cả những sửa đổi, bổ sung dù ở bất kỳhình thức nào cũng phải được các bên liên quan đồng thuận.

- Giai đoạn 3: Cắm mốc

Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình phân giới thực địa Giai đoạn này cũng sẽ do uỷ ban liênhiệp về phân giới cắm mốc tiến hành Uỷ ban này cắm mốc các cột mốc cụ thể tại các điểm đã đượchai bên đánh dấu trên thực địa

Các cột mốc biên giới thường đặt tại các điểm ở các cửa khẩu; các điểm chuyển hướng quan trọngcủa đường biên giới như chân núi, đỉnh núi, hoặc các điểm nằm trên đường quốc lộ, đường sắt hoặccác điểm giao cắt giữa đường bộ với đường sắt, sông suối, địa hình phức tạp,…

Số lượng, hình dáng và cách thức thiết kế cột mốc cũng như trách nhiệm cắm mốc biên giới củamỗi bên sẽ do các bên liên quan thoả thuận quyết định Kết thúc quá trình cắm mốc trên thực địa, uỷban liên hiệp về phân giới cắm mốc sẽ lập bản đồ chính thức về đường biên giới đúng với thực trạng

đã được phân định và cắm mốc Bản đồ về đường biên giới là một bộ phận đính kèm hiệp định biêngiới để các quốc gia phê chuẩn

b Quy trình hoạch định biên giới quốc gia trên biển:

Biên giới quốc gia trên biển được xác định trong hai trường hợp sau:

- Trường hợp thứ nhất: Khi hai quốc gia có toàn bộ hoặc một phần bờ biển đối diện hoặc kề nhau.Các quốc gia liên quan sẽ thoả thuận xác định biên giới thông qua việc ký kết hiệp định phân địnhbiên giới trên biển Thông thường, đường biên giới khi hai quốc gia đối diện hoặc liền kề nhau đượcxác định là đường trung tuyến hoặc đường cách đều để phân định ranh giới vùng nội thuỷ, lãnh hảigiữa hai quốc gia nếu các quốc gia không có thoả thuận khác

Điều này được ghi nhận tại Điều 15, Công ước của Liên hợp quốc về luật biển quốc tế năm 1982

- Trường hợp thứ hai: Quốc gia ven biển đơn phương hoạch địch biên giới trên biển trong trườnghợp toàn bộ hoặc một phần bờ biển của quốc gia này không đối diện hoặc tiếp giáp với bất kỳ quốcgia nào

Xác định biên giới quốc gia trên biển là nhằm phân định nội thuỷ, lãnh hải thuộc chủ quyền quốcgia với các vùng quốc gia có quyền chủ quyền trên biển (tiếp giáp lãnh hải, đặc biể kinh tế và thềmlục địa) Quốc gia ven biển sẽ đơn phương hoạch định trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc chung củaluật biển quốc tế bằng cách tuyên bố đường cơ sở và chiều rộng của lãnh hải Sau khi đã xác địnhđược đường cơ sở và chiều rộng của lãnh hải, đường biên giới quốc gia trên biển chính là ranh giớiphía ngoài của lãnh hải

8 Phân tích chế độ pháp lý các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia.

Vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia gồm có vùng nội thuỷ và vùng lãnh hải

a Nội thuỷ:

Nội thuỷ là vùng nước biển có chiều rộng được xác định bởi một bên là đường bờ biển còn bên kia

là đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải và các vùng biển khác của quốc gia ven biển

Trang 15

(Theo Khoản 1, Điều 8, Công ước của Liên hợp quốc về luật biển quốc tế năm 1982) Các bộ phậnnằm trong vùng nội thuỷ gồm: cảng biển, vịnh, vũng đậu tàu, vịnh lịch sử và vùng nước lịch sử,Đối với các quốc gia quần đảo, vùng nước này là toàn bộ phần nước biển nằm trong đường cơ sởcủa quốc gia quần đảo và gọi là vùng nước quần đảo Vùng nước quần đảo chính là nội thuỷ của quốcgia quần đảo Quốc gia quần đảo có chủ quyền đối với vùng nước, vùng trời, đáy biển và lòng đấttương ứng cũng như tài nguyên ở đó.

- Đặc điểm chế độ pháp lý của nội thuỷ:

Nội thủy là một bộ phận cấu thành lãnh thổ của quốc gia, nội thủy của đa số các quốc gia đều tiếpliền với lục địa nên hầu như các luật lệ ở lãnh thổ lục địa cũng được áp dụng cho nội thủy Quốc giaven bờ thực thi chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối đối với vùng nước nội thủy, không phận phía trên

và đáy biển, lòng đất dưới đáy biển phía dưới lớp nước của nội thủy Vì vậy, chế độ pháp lý của nộithủy được xác lập chủ yếu trong luật quốc gia Mọi luật lệ do quốc gia ban hành đều được áp dụngcho vùng nội thuỷ mà không có bất kỳ ngoại lệ nào Công ước của Liên hợp quốc về luật biển quốc tếnăm 1982 không quy định chi tiết về vấn đề này

- Hoạt động của tàu thuyền nước ngoài trong nội thủy:

+ Đối với tàu quân sự và tàu nhà nước sử dụng vào mục đích phi thương mại:

Tàu quân sự và tàu nhà nước sử dụng vào mục đích phi thương mại muốn vào nội thuỷ thì phải xinphép trước, trừ những trường hợp bất khả kháng như tàu gặp các sự cố nghiệm trọng về kỹ thuậtkhông thể tiếp tục được hành trình, lý do nhân đạo (cứu người bị bệnh hoặc tai nạn,…) hoặc các lý dothiên tai (động đất, sóng thần, bão,…) thì tàu thuyền nước ngoài phải khẩn trương thông báo cho cơquan có thẩm quyền của quốc gia ven bờ về sự hiện diện của mình và tuân thủ các quy định, hướngdẫn của cơ quan hữu quan;

Khi ở trong nội thủy, tàu thuyền nước ngoài phải tuân thủ luật và các quy định của quốc gia venbiển như thời gian và thủ tục xin phép, tuyến đường hàng hải, kiểm dịch, hải quan, thăm dò, đo đạc,phương tiện thông tin liên lạc,… và các quy định khác của cảng biển chặt chẽ và nghiêm ngặt hơn sovới tàu quân sự vì liên quan đến các vấn đề như an ninh, quốc phòng, chủ quyền quốc gia ven biển.Đối với tàu quân sự (tàu chiến được quy định tại khoản 2 Điều 8 Công ước của Liên hợp quốc về luậtbiển quốc tế năm 1982) và Theo Điều 29 Công ước của Liên hợp quốc về luật biển quốc tế năm 1982,tàu quân sự là mọi tàu thuyền thuộc lực lượng vũ trang cùa một quốc gia và mang dấu hiệu bên ngoàiđặc trưng cho các tàu quân, sự thuộc quốc tịch của quốc gia đó; do một sĩ quan hải quân phục vụquốc gia đó chi huy, người chi huy này có tên trong danh sách các sĩ quan hay dong một tài liệutương đương và đoàn thủy thù phải tuân theo các điều lệnh kì luật quân sự, quốc gia ven biển thườngquy định khá chặt chẽ về thời gian neo đậu, số lượng tàu quân sự được phép vào, tư thế vũ khí, khí tàiquân sự,…

+ Đối với tài dân sự:

Về nguyên tắc, tất cả những quy định về thủ tục, điều kiện ra vào, hoạt động vùng nội thuỷ quốcgai ven biển đối với tàu quân sự cũng được áp dụng đối với tàu dân sự Tuy nhiên, để đáp ứng nhucầu và lợi ích kinh tế, thương mại cũng như tự do hàng hải, pháp luật của tất cả các quốc gia đều quy

Trang 16

định và tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho tàu thuyền dân sự nước ngoài ra vào một số cảng củaquốc gia ven biển Chính vì vậy, pháp luật của quốc gia thường cho phép các tàu dân sự nước ngoài

ra vào các cảng biển quốc tế trên cơ sở tự do thông thương và có đi có lại Mặt khác, trình tự, thủ tục

ra vào và hoạt động của tàu dân sự nước ngoài trong vùng nội thuỷ quốc gia ven biển sẽ được quyđịnh đơn giản và linh hoạt hơn so với các quy định dành cho tàu quân sự

Thực tiễn cho thấy hầu hết cảng biển nằm trong vùng nội thủy và vì vậy quốc gia ven biển có chủquyền hoàn toàn tuyệt đối tại khu vực cảng biển, có toàn quyền quyết định về tính chất cảng biển củamình và cho phép hay không cho phép sử dụng cho hàng hải quốc tể Công ước của Liên hợp quốc vềluật biển quốc tế năm 1982 cho phép quốc gia có cảng “đặt ra các điều kiện đặc biệt cho các tàuthuyền nước ngoài đỉ vào các cảng hay nội thủy của mình hoặc công trình cảng cuối cùng ở ngoàikhơi” trong vấn đề “ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiêm môi trường biển”

- Quyền tài phản của quốc gia ven biển trong nội thủy:

Về nguyên tắc, quyền tài phán của quốc gia ven biển ở nội thủy cũng tương tự như ở trên đất liền.Công ước của Liên hợp quốc về luật biển quốc tế năm 1982 không có một quy định cụ thể nào vềquyền tài phán hình sự hay dân sự của quốc gia ven biển đối với tàu thuyền nước ngoài ở nội thủy.Với vị trí tiếp liền với lục địa, các vi phạm trên tàu thuyền hay do tàu thuyền gây ra trong nội thủy cóthể ảnh hưởng và tác động trực tiếp tới quốc gia ven biển Vì vậy, quốc gia ven biển có quyền quyếtđịnh mức độ và giới hạn của quyền tài phán trong các lĩnh vực hình sự và dân sự Trên cơ sở chủquyền lãnh thổ, thực tiễn cũng như pháp luật các quốc gia trên thế giới đều khẳng định quyền tài phánquốc gia được xác lập và thực thi trong phạm vi lãnh thổ, bao gồm trên tàu thuyền nước ngoài đangneo đậu hay đi qua nội thủy Tuy nhiên, việc thực thi thẩm quyền tài phán trên các con tàu này phụthuộc vào mức độ ảnh hưởng cùa vụ vi phạm tới lợi ích, an ninh trật tự của quốc gia ven biển

+ Đối với tàu quân sự (bao gồm cả tàu nước nhà nước sử dụng vào mục đích phi thương mại)Khi hoạt động ở bất cứ vùng biển nào kể cả các vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia khác, tàuquân sự nước ngoài sẽ được hưởng quyền miễn trừ tuyệt đối, và bất khả xâm phạm

Quyền miễn trừ dành cho tàu thuyền quân sự nước ngoài chỉ được các quốc gia tôn trọng và đảmbảo với điều kiện phải tuân thủ, tôn trọng pháp luật và không có hành vi phương hại đến độc lập, chủquyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia cũng như không có các hành vi xâm phạm đến an ninh, trật tựcủa quốc gia ven biển Trong trường hợp ngược lại, quốc gia ven biển có quyền sử dụng tất cả cácbiện pháp cần thiết để tự bảo vệ trước hành vi xâm phạm của tàu thuyền quân sự nước ngoài, đặc biệt

là trong trường hợp tàu thuyền quân sự nước ngoài có hành vi sử dụng vũ lực, phá hoại an ninh, trật

tự của quốc gia Nếu thuỷ thủ tàu quân sự vi phạm pháp luật hình sự bên ngoài tàu thì quốc gia venbiển có quyền bắt giữ, truy tố và xét xử hành vi phạm tội theo luật hình sự của quốc gia đó

+ Đối với tàu dân sự:

 Quyền tài phán hình sự:

Tàu dân sự nước ngoài khi hoạt động trong nội thuỷ của quốc gia ven biển sẽ không được hưởngquyền miễn trừ như tàu quân sự Bởi lẽ, tàu dân sự là tàu do tư nhân, pháp nhân làm chủ hoặc là tàunhà nước sử dụng vào mục đích thương mại (vận tải, buôn bán kiếm lãi) Do đó, quốc gia ven biển có

Trang 17

thẩm quyền xét xử đối với các vụ vi phạm pháp luật hình sự xảy ra trong tàu dân sự nước ngoài đanghoạt động trong vùng nội thuỷ Theo đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền của quốc gia ven biển cóquyền khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử các cá nhân có hành vi phạm tội trên tàu Tuy nhiên, thôngthường, các quốc gia ven biển không quan tâm đến các vi phạm pháp luật chung nếu an ninh, trật tựtrong cảng không bị tổn hại Cơ quan có thẩm quyền của quốc gia ven biển có thể can thiệp trong bakhả năng sau đây:

 Nếu hành vi phạm tội do một người ngoài thuỷ thủ đoàn thực hiện;

 Nếu thuyền trưởng hoặc cơ quan lãnh sự của quốc gia mà tàu mang cờ yêu cầu chính quyền

sở tại can thiệp;

 Nếu hậu quả của hành vi phạm tội ảnh hưởng tới an ninh, trật tự cảng biển

Quyền tài phán hình sự của quốc gia ven biển đối với tàu dân sự được ghi nhận tại Khoản 2, Điều

25 và Điều 218 của Công ước của Liên hợp quốc về luật biển quốc tế năm 1982

Đối với các quốc gia quần đảo, các quốc gia này có thể tạm thời đình chỉ việc đi qua không gâyhại của tàu thuyền nước ngoài trong các khu vực nhất định thuộc vùng nước quần đảo của mình, nếubiện pháp này là cần thiết để đảm bảo an ninh của nước mình Quy chế pháp lý của các quốc gia quầnđảo được quy định tại Khoản 2, Điều 52 về Quyền đi qua không gây hại và Điều 53 về Quyền đi quavùng nước quần đảo của Công ước của Liên hợp quốc về luật biển quốc tế năm 1982

 Quyền tài phán dân sự

Đối với tàu dân sự, luật điều chỉnh là luật của quốc gia mà tàu mang cờ Do đó, đối với các tranhchấp phát sinh giữa các thành viên của thủy thủ đoàn với các công dân nước ngoài không thuộc thuỷthủ nhưng đi cùng trên tàu, quyền tài phán thường được thực hiện bởi quốc gia mà tàu mang cờ chứkhông thuộc thẩm quyền giải quyết của quốc gia ven biển Thực tiễn cho thấy, các vụ kiện giữa tàunước ngoài với nhau cùng đậu ở nội thuỷ của quốc gia ven biển, khi có yêu cầu hoặc những vụ kiệngiữa thuỷ thủ đoàn hoặc nhân viên của tàu nước ngoài với công dân của nước sở tại không phải làthành viên thuỷ thủ đoàn thì cơ quan có thẩm quyền của nước ven biển có thể giải quyết

Tuy nhiên, nếu tàu dân sự nước ngoài không có khả năng thực hiện một nghĩa vụ dân sự liên quanđến bồi thường thiệt hại do đâm va, do hành vi gây ô nhiễm môi trường cố ý và nghiêm trọng, do viphạm hợp đồng,… thì quốc gia ven biển có thể thực hiện quyền bắt giữ và bán đấu giá tàu để đảmbảo cho quá trình giải quyết vụ án dân sự

 Quyền tài phán hành chính

Quyền tài phán hành chính sẽ được quốc gia ven biển tiến hành nhằm điều tra, xem xét các vụ viphạm hành chính và các quy định khác của quốc gia ven biển liên quan đến việc ra vào, hoạt độngtrong nội thuỷ quốc gia ven biển Thuyền trưởng và các nhân viên của tàu thuyền nước ngoài phảichịu trách nhiệm hành chính về những vi phạm hành chính của mình như các vi phạm liên quan đếnhải quan, phòng cháy chữa cháy và các quy định khác của cảng

b Lãnh hải:

Trang 18

Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng nhất định nằm ở phía ngoài đường cơ sở, thuộc chủ quyềnhoàn toàn và đày đủ của quốc gia ven biển (Theo Điều 2, Công ước của Liên hợp quốc về luật biểnquốc tế năm 1982) Chủ quyền của quốc gia ven biển bao trùm cả lớp nước biển, đáy biển, lòng đấtdưới đáy biển và vùng trời trên lãnh hải Ranh giới phía ngoài của lãnh hải chính là đường biên giớiquốc gia trên biển Chủ quyền quốc gia đối với lãnh hải không phải là chủ quyền tuyệt đối như vùngnước nội thuỷ Bởi lẽ, trong lãnh hải, tàu thuyền nước ngoài sẽ được hưởng quyền “đi qua không gâyhại” Chính vì vậy, đối với lãnh hải, quốc gia ven biển chỉ có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ Tuynhiên, cần lưu ý rằng, lãnh hải bao gồm lớp nước biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển và vùngtrời bao trùm lên lãnh hải Trong đó, quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối đối vớiđáy biển, lòng đất dưới đáy biển và vùng trời bao trùm lên lãnh hải Đối với các bộ phận này của lãnhhải sẽ không tồn tại quyền “đi qua không gây hại”, mà quyền này chỉ áp dụng cho lớp nước biển ởvùng nước lãnh hải của quốc gia ven biển.

Quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải là một quy tắc tập quánquốc tế đã được thừa nhận trong lĩnh vực hàng hải và được ghi nhận tại Điều 17, Công ước của Liênhợp quốc về luật biển quốc tế năm 1982 Thuật ngữ “đi qua không gây hại” được quy định cụ thể tạiĐiều 18 và Điều 19, Công ước của Liên hợp quốc về luật biển quốc tế năm 1982 Theo các điềukhoản của Công ước của Liên hợp quốc về luật biển quốc tế năm 1982 (Điều 17 đến Điều 24), quyền

đi qua không gây hại được áp dụng rộng rãi cho các loại tàu thuyền dân sự, quân sự, tàu ngầm, tàuchạy bằng năng lượng nguyên tử, tàu chở chất phóng xạ hay những chất độc hại Tuy nhiên, khi qualại lãnh thổ của quốc gia ven biển, tàu ngầm và các phương tiện đi ngầm khác buộc phải đi nổi vàtreo cờ quốc tịch (Điều 20, Công ước của Liên hợp quốc về luật biển quốc tế năm 1982)

Để bảo vệ an toàn cho tàu thuyền qua lại và các quyền của mình, quốc gia ven biển có thể định racác luật và các quy định liên quan đến việc đi qua không gây hại ở trong lãnh hải của mình và phùhợp với quy định của Công ước của Liên hợp quốc về luật biển quốc tế năm 1982 và các quy tắc kháccủa pháp luật quốc tế về các vấn đề được quy định tại Điều 21, Công ước của Liên hợp quốc về luậtbiển quốc tế năm 1982 Bên cạnh đó, quốc gia ven biển còn có các nghĩa vụ nhất định theo điều 24,Công ước của Liên hợp quốc về luật biển quốc tế năm 1982 Mặt khác, quốc gia ven biển phải thôngbáo thích đáng mọi nguy hiểm hàng hải mà mình biết trong lãnh hải của mình

Quyền tài phán của quốc gia ven biển trong lãnh hải:

- Đối với tàu dân sự:

Trang 19

Quốc gia ven biển không được thực hiện một biện pháp nào ở trên một con tàu nước ngoài khi nó

đi qua lãnh hải nhằm tiến hành bắt giữ hay tiến hành việc dự thẩm sau một vụ vị phạm hình sự xảy ratrước khi con tàu đi vào lãnh hải mà không đi vào nội thủy (Khoản 5, Điều 27, Công ước của Liênhợp quốc về luật biển quốc tế năm 1982), trừ trường hợp các vấn đề liên quan đến bảo vệ và giữ gìnmôi trường biển (Phần XII, Công ước 1982) hay có sự vi phạm các luật và quy định được định ra tạivùng đặc quyền kinh tế (Phần V, Công ước 1982)

+ Quyền tài phán dân sự:

Quốc gia ven biển có quyền tài phán dân sự đối với tàu thuyền nước ngoài đang đậu trong lãnhhảu hay đang đi qua lãnh hải, sau khi đã rời nội thuỷ ven biển đối với các nghĩa vụ dân sự của củacon tàu mà tàu này đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng theo thoả thuận với cơ quan cóthẩm quyền của quốc gia ven biển: từ chối không trả, hoặc trả không đủ tiền thuê hoa tiêu, kéo tàuhoặc mua xăng đầu, vật tư, sửa chữa,… theo hợp đồng Ngược lại, quốc gia ven biển không có quyềnbắt tàu dừng lại hoặc thay đổi hành trình hoặc áp dụng biện pháp bảo đảm để thực hiện quyền tàiphán dân sự đối với một người trên tàu đó

Quyền tài phán dân sự đối với tàu thuyền nước ngoài được quy định Điều 28, Công ước của Liênhợp quốc về luật biển quốc tế năm 1982

- Đối với tàu quân sự:

Tàu quân sự và tàu nhà nước phi thương mại được hưởng quyền miễn trừ khi qua lại trong lãnh hảiquốc gia ven biển Tuy nhiên, các loại tàu này cũng phải tuân thủ các luật và các quy định của quốcgia ven biển đến việc qua lại do quốc gia ven biển ấn định phù hợp với Công ước 1982 Đồng thời,nếu có vi phạm các luật và các quy định của quốc gia ven biển, quốc gia ven biển có quyền yêu cầutài đó rời khỏi lãnh hải ngay lập tức và yêu cầu quốc gia mà tàu đó mang quốc tịch phải chịu mọitrách nhiệm quốc tế đối với mọi tổn thất mà tàu đó đã gây ra cho quốc gia ven biển

Quyền tài phán dân sự đối với quân sự và tàu nhà nước phi thương mại được quy định Tiểu mục

C, Công ước của Liên hợp quốc về luật biển quốc tế năm 1982

9 Phân tích chế độ pháp lý các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia.

Vùng biển thuộc quyền chủ quyền của quốc gia gồm có vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyềnkinh tế và thềm lục địa

a Vùng đặc quyền kinh tế:

Theo quy định tại Điều 55 và Điều 57, Công ước của Liên hợp quốc về luật biển quốc tế năm 1982thì vùng đặc quyền về kinh tế là một vùng nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, đặtdưới chế độ pháp lý riêng Vùng đặc quyền về kinh tế không được mở rộng ra quá 200 hải lý kể từđường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải

Vùng đặc quyền kinh tế không là vùng biển thuộc lãnh thổ của quốc gia ven biển nên quốc gia chỉ

có những quyền tương đối rộng lớn về kinh tế và một số quyền hạn khác được quy định cụ thể Do

đó, quyền lực của quốc gia ven biển trong vùng đặc quyền về kinh tế chưa phải là quyền lực của quốcgia đối với lãnh thổ

Ngày đăng: 11/03/2022, 16:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w